Thời sự y học số 311 – BS Nguyễn Văn Thịnh

nguoi gia

CHUYÊN ĐỀ VỀ SỰ LÃO HÓA

1/ ĐIỀU TRỊ TỐT CHỨNG TRẦM CẢM CỦA NHỮNG NGƯỜI GIÀ.
Có nhiều phương tiện để điều trị, tuy nhiên phải chẩn đoán những chứng trầm cảm ở người già.
MORAL. Có một nghịch lý thật sự trong đất nước chúng ta (Pháp). Một mặt, quá nhiều người trưởng thành nhận những thuốc hướng thần (médicaments psychotropes) mặc dầu chúng không có ích lợi. Còn một mặt khác, những người già có một bệnh trầm cảm thật sự lại không được điều trị, hoặc bởi vì căn bệnh của họ không được công nhận, hoặc bởi vì ở lứa tuổi này sự kê đơn những thuốc chống trầm cảm làm các thầy thuốc lo sợ. Tuy vậy, khi chẩn đoán chứng trầm cảm được xác lập, những công trình nghiên cứu cho thấy rằng các thuốc chống trầm cảm có tác dụng tốt hơn placebo. Ngược lại, nếu đó không phải là trầm cảm nặng, việc kê đơn một thuốc chống trầm cảm không có một lợi ích nào được mong chờ. Chỉ có những tác dụng phụ mà thôi.

Nhưng thế thì, tại sao lại có một sự chậm trễ như vậy trong việc điều trí đúng đắn những chứng trầm cảm quan trọng của những người già ? Có nhiều lý do ” Những người thân cận của những người già này nghĩ rằng buồn rầu là chuyện bình thường vì bị đau mãn tính hay bởi vì một người thân đã ra đi. Và quả đúng như vậy, điều đó có thể giải thích một sự buồn rầu (tristesse). Nhưng khác với một chứng trầm cảm (dépression), sự buồn rầu này không hiện diện 24 giờ trên 24 giờ và 7 ngày trên 7 “, GS Jean-Philippe Boulenger, trưởng khoa tâm thần người lớn ở CHU de Montpellier đã nhấn mạnh như vậy. Như thế, một sự thay đổi tình huống mới đây (về hưu, tình trạng góa bụa, bệnh tật, cô lập xã hội, tách xa gia đình…) làm gia tăng nguy cơ trầm cảm, nhưng điều này tự nó không giải thích chứng trầm cảm. Thêm vào đó là vấn đề mất đi những nhịp sống : không còn thuc dậy và ăn vào những giờ đều đặn nữa với lý do là không còn gì phải bắt buộc phải làm như vậy khi ta đã về hưu. Điều này có tác dụng làm rối loạn sự tiết của vài hormone thần kinh (neuro-hormone) như mélatonine, rất quan trọng trong sự điều hòa khí chất (humeur). Thế mà, trong trường hợp cơn trầm cảm quan trọng, một sự rối loạn những nhịp sinh học gần như luôn luôn hiện diện.
HÃY RẤT CẢNH GIÁC
Vậy chính trong những tình huống nguy cơ này mà phải tỏ ra rất cảnh giác. Lại càng phải như vậy nhất là khi những người già hiếm khi diễn tả một cách ngẫu nhiên những điều mà họ cảm thấy. ” Những dấu hiệu của trầm cảm, đó là một nỗi buồn thường xuyên, một sự tự hạ giá chính mình (autodépréciation) và một cảm giác tội lỗi (sentiment de culpabilité), hiện hữu ở tuổi 30 cũng như ở tuổi 70. Một cách đơn giản, với tuổi tác, chúng thường kín đáo hơn (ít được biểu lộ) và khó xác định hơn do tần số những bệnh liên kết khác, BS Olivier de Ladouchette (psychogériatre, chủ tịch của Fondation pour la recherche sur l’Alzheimer) đã nhấn mạnh như vậy. Khi có chút nghi ngờ, nhất là trước sự buồn rầu liên tục của một người thân lớn tuổi, nhất là khi sự buồn rầu này đi kèm những rối loạn giấc ngủ, một sự thờ ơ đối với ăn uống, một sự biến đổi tình trạng tổng quát và/hoặc những lời tự buộc tội, một sự hạ giá chính mình, thì phải nói điều đó với thầy thuốc điều trị, với thầy thuốc chuyên bệnh tuổi già hay với thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, chứ đừng tìm kiếm những lý do để giải thích sự buồn rầu này.” Vì khó nhận biết, nên chứng trầm cảm cũng được săn sóc ít tốt hơn. ” Những người già có một vấn đề bệnh mãn tính (bệnh đái đường, cao huyết áp, vấn đề tim…) sẽ có hai hoặc ba lần nguy cơ bị một trầm cảm quan trọng hơn những người khác cùng lứa tuổi nhưng có sức khoẻ tốt. Nhưng vì ưu tiên thường dành cho khía cạnh thân thể, nên chẩn đoán trầm cảm bị coi thường”, GS Boulenger đã nhấn mạnh như vậy. Ngoài ra, đối với GS Philippe Courtet, trưởng khoa cấp cứu tâm thần Montpellier, ” ngay cả khi những người già được kê đơn thuốc, những thuốc chống trầm cảm thường được cho với những liều không đủ, do sợ những tương tác thuốc với những loại thuốc khác. Thế mà nếu những thuốc này không được cho với một liều đủ, chúng vẫn không có hiệu quả “. Vậy ta có thể (ta phải) cho các lão niên bị chứng trầm cảm quan trọng những thuốc chống trầm cảm và đề nghị với họ một hỗ trợ tâm lý.
Điều đó có khả năng và không có gì là phức tạp cả. ” Chỉ cần tôn trọng vài biện pháp thận trọng, như gia tăng từ từ những liều lượng, GS Boulenger đã xác nhận như vậy. Và trong trường hợp thất bại điều trị, cũng không nên dừng lại không điều trị bởi vì những công trình nghiên cứu cho thấy rằng sau một lần thử điều trị thứ hai, thậm chí thứ ba hoặc thứ tư với một thuốc chống trầm cảm khác, hơn 80% những bệnh nhân được thuyên giảm.” Chỉ có những phối hợp các thuốc chống trầm cảm là không nên cho ở những người trên 60 tuổi. Trong trường hợp thất bại điều trị hay chống chỉ định y khoa đối với những thuốc này, khi đó vẫn còn có giải pháp sốc điện (électrochoc) : ” Hai đến ba buổi mỗi tuần (với gây mê tống quát) trong ba hay bốn tuần thường là đủ. Ngoài vài rối loạn trí nhớ trong những tuần tiếp theo sau, không có những tác dụng phụ gây khó chịu và những kết quả là tốt. Vậy không nên sợ khi đã sử dụng tất các những giải pháp khác “. GS Boulengrer đã kết luận như vậy. Điều chủ yếu, đó là có được một kết quả tốt.
(LE FIGARO 10/12/2012)

2/ NHỮNG BIỆN PHÁP HIỆU QUẢ ĐỂ PHÒNG NGỪA NGUY CƠ TỰ TỬ
Không phải bởi vì những người già nói ít hay không nói về những ý định tự tử (intention suicidaire) của họ nên không có cách để biết và phòng ngừa sự chuyển qua hành động. Trái lại, kinh nghiệm cho thấy rằng ta rất có thể biết được điều đó. ” Những câu phát biểu ngắn có vẻ vô hại như ” tôi là một gánh nặng cho các người “, ” tôi không còn ích lợi gì hết ” phải lôi kéo sự chú ý
Cũng vậy nếu người thân lớn tuổi bỗng nhiên khẩn cấp lo đến những điều khoản di chúc của mình “, BS Philippe Courtet (CHU de Montpellier) đã nhận xét như vậy.
Ngoài ra, trái với một định kiến, sự việc đặt trực tiếp một câu hỏi cho người nào đó về những ý định tự tử không thúc đẩy người này chuyển sang hành động, trái lại là đàng khác : ” Lúc khám bệnh, sự việc hỏi một người đang bị trầm cảm quan trọng là người này có những ý nghĩ đen tối (idées noires) hay không và đã nghĩ đến việc tự tử hay không, đã tưởng tượng một kịch bản hay không, không còn là một điều cấm kỵ (tabou) nữa bởi vì việc giúp người này biểu lộ những cảm xúc của mình có thể làm thuyên giảm chứng trầm cảm. Điều đó cũng cần thiết để giúp người thầy thuốc đánh giá tốt hơn nguy cơ này”, GS Boulenger (khoa tâm thần người lớn CHU Montpellier) đã nhấn mạnh như vậy.
Nếu ý định tự tử của người già được nhận thấy đúng lúc, ta có thể hành động thật sự. ” Sự nhập viện cấp cứu trong một đơn vị chuyên môn (hay trong một khoa tâm thần bởi vì không ở khắp mọi nơi), khi sự chuyển qua hành động được đánh giá là sắp xảy ra, lúc đó cho phép đưa người già ra khỏi tình trạng cô lập và cho phép theo dõi thời gian thực hiện và kiểm tra những hiệu quả của một điều trị chống trầm cảm, một tâm lý liệu pháp và/hoặc mọi điều trị hữu ích khác”, GS Courtet đã nói tiếp như vậy.
THẦY THUỐC CÓ THỂ HÀNH ĐỘNG
Cũng không nên coi thường những vấn đề y khoa đã đẩy người bệnh vào thế cùng, thí dụ những trường hợp đau mãn tính. Ta không phải sợ là quá đáng bởi vì người ta đã chứng minh rằng sống cô đơn, không bạn bè (như thế bị cô độc), với những vấn đề sức khỏe và những triệu chứng đau kéo dài không dứt là bấy nhiêu những yếu tố nguy cơ chuyển qua hành động trong trường hợp bị chứng trầm cảm quan trọng. Sự hiện hữu của những vấn đề khác như nghiện rượu cũng đóng một vai trò. Sau cùng, đã một lần toan tính tự tử là một yếu tố nguy cơ cao tái phát. Và nếu sự hiện diện của một animal de compagnie dường như bảo vệ chống lại nguy cơ tự tử, thì ngược lại khi con vật này bị chết bởi vì sự đau khổ gây nên do sự mất đi của con vật thương yêu này.
” Phải hiểu rõ rằng khi những người già tự tử, họ muốn làm dịu đi một đau đớn vật lý và/hoặc tinh thần đã trở nên không chịu đựng nổi. Vậy đó không phải là một ý muốn đơn thuần muốn chấm dứt cuộc đời, như nhiều người nghĩ. Trước hết đó là một sự mong muốn dứt hẳn một nỗi khổ đau tinh thần hay vật lý được cho là không thể vượt qua và chính đó là điều mà thầy thuốc có thể hành động “, GS Courtet đã nhấn mạnh như vậy.
3000 NGƯỜI CHẾT MỖI NĂM
Phương tiện hiệu quả cuối cùng để phòng ngừa tự tử, mà những người thân không nghĩ đến nhiều : chỉ cần hạn chế tối đa sự tiếp cận với những phương tiện gây chết người. Thí dụ, nếu có một vũ khí và những cartouche trong nhà ở, điều này rất thường thấy ở những vùng thôn quê, là nơi người ta săn bắn, chúng nhất thiết phải được cất ở nơi khác và phải được khóa lại.
” Đó là một biện pháp đơn giản và tuy nhiên quan trọng bởi vì người già không do dự nhờ đến những phương tiện hung bạo như hỏa khí hay treo cổ, nhất nếu đó là một người đàn ông. Ta cũng ghi nhận hơn 3000 trường hợp tử vong mỗi năm do tự tử trong những lứa tuổi này, với một tỷ lệ mười lần cao hơn ở những người trên 95 tuổi so với dân thường”, GS Courtet đã ghi nhận như vậy. Những trường hợp tự tử không có gì là không thể tránh được với điều kiện gia đình, thầy thuốc điều trị và thầy thuốc tâm thần hợp nhất hơn nữa những cố gắng của mình.
(LE FIGARO 10/12/2012)

3/ CHỨNG TRẦM CẢM CỦA NHỮNG NGƯỜI GIÀ : TẦM QUAN TRỌNG CỦA MỘT CHẨN ĐOÁN CHÍNH XÁC
Trong khi các phụ nữ, trước thời kỳ mãn kinh, bị trầm cảm 2 lần thường hơn những người đàn ông, thì chứng trầm cảm của các lão niên lại không phân biệt giới tính. Cứ 10 người hưu trí thì có một bị liên hệ bởi căn bệnh này, làm họ bị mất đi mọi ham muốn tận dụng thời gian rổi của mình. Ảnh hưởng nhiều hơn những người sống cô độc, những người bệnh, những người nghèo hay những người bị tất cả loại vấn đề, chứng trầm cảm được đặc trưng bởi một sự lãnh đạm và một sự suy nhược đối với tất cả : mất cảm giác ăn ngon, thiếu hào hứng mọi chuyện, không có dự định và động cơ, hoặc những triệu chứng nhiên hậu chung cho tất cả những bệnh khác ! Và đúng đó là vấn đề.
Đối với BS de Ladouchette (chủ tịch của Cơ quan nghiên cứu bệnh Alzheimer) cũng như đối với GS Boulenger (CHU Montpellier), nguy cơ lớn nhất là xem một trầm cảm (dépression) là một sa sút trí tuệ (démence), bởi vì trong trường hợp này, ta tước mất đi người bệnh một điều trị rất hiệu quả. ” Có khả năng rằng nhiều ngàn người già được xem là bị sa sút trí tuệ (dément) trong đất nước chúng ta, trong khi họ bị một chứng trầm cảm quan trọng (dépression majeure) có thể được điều trị.”
NHỮNG TIỀN SỬ CÁ NHÂN
Lại còn đôi khi, đúng là có một trầm cảm, nhưng chứng bệnh này loan báo sự khởi đầu của một bệnh thoái hóa như bệnh Alzheimer hay Parkinson và điều này, ngay cả trước khi những căn bệnh này biểu hiện các triệu chứng. ” Ta biết rằng stress mãn tính kèm theo một sự tiết cortisol có hại đối với những cấu trúc não, GS Boulenger (CHU Montpellier) đã giải thích như vậy, nhưng khó mà nói rằng chứng trầm cảm tự nó đã có thể làm phát khởi những rối loạn hay không, hay nó chỉ là một dấu hiệu báo trước.” Vì không có gì khác nhau giữa một trầm cảm giai đoạn đầu và một trầm cảm khác (dầu được liên kết với bệnh Alzheimer hay Parkinson), do đó các thầy thuốc tâm thần chú ý đến các tiền sử cá nhân hay gia đình để đưa ra một ý kiến : ” Ở một người đã không bao giờ bị một đợt trầm cảm trong đời mình và đột ngột có những rối loạn khí chất mà không tìm thấy yếu tố phát khởi (không có tang chế cũng không bị bệnh nặng), khi đó vấn đề của một bệnh liên kết đáng được đặt ra. Tuy nhiên, rất khó có một chẩn đoán ở giai đoạn đầu, bởi vì, thí dụ, những trắc nghiệm về trí nhớ (test de mémoire) có thể bị xáo trộn trong hai tình huống, BS de Ladouchette đã đánh giánhưvậy.
Điều chắc chắn : trong bối cảnh này, không được cho những thuốc an thần và những thuốc ngủ, bởi vì chúng lại còn làm gia tăng hơn những rối loạn trí nhớ và những nguy cơ lú lẫn. ” Kinh nghiệm cho thấy rằng các thuốc chống trầm cảm cho phép trị khỏi bệnh khi chứng trầm cảm xảy ra riêng rẻ. Và mặc dầu chứng trầm cảm đánh dấu sự bắt đầu một bệnh thoái hóa, những loại thuốc này mang lại một sự cải thiện tạm thời không đáng kể “, BS de Ladoucette
đã nói như vậy.
(LEFIGARO10/12/2012)

4/ NHỮNG NGƯỜI GIÀ SỐNG CÔ LẬP CHẾT SỚM HƠN
VIEILLISEMENT. Tình trạng sống cô lập có thể làm gia tăng tỷ lệ tử vong 26% ở những người trên 50 tuổi.

    –   Các nhà nghiên cứu người Anh đã tính ảnh hưởng của tình trạng cô độc và cô   lập lên sức khỏe.
–   Những hậu quả tâm lý và thân thể được chứng minh.
– Một chứng cớ nữa đối với các chuyên gia

 Để sống già, chúng ta hãy sống cùng nhau, điều này là kết luận của một công trình nghiên cứu người Anh được công bố trong Proceedings of the National Academy of Sciences (Pnas). Thật vậy, theo công trình nghiên cứu này, những người già (bắt đầu từ 50 tuổi), bị cô lập về phương diện xã hội, chết nhanh hơn những người khác. Và điều này ngay cả khi sự cô lập này được lựa chọn.
Andrew Steptoe và kíp nghiên cứu của ông thuộc University College de Londres đã khảo sát các dữ kiện được cung cấp bởi 6.500 người Anh tuổi 50 hoặc hơn. Qua các bảng câu hỏi, những người này phải đánh giá cảm giác cô đơn của họ và cho biết sự hiện hữu và thường xuyên của những quan hệ xã hội của họ với những người bạn, gia đình, những tổ chức tôn giáo hay những tổ chức khác. Sau đó, những trường hợp tử vong trong số những người này trong suốt 7 năm sau bảng câu hỏi được liệt kê. Kết quả, những người sống cô lập nhất có đến 26% nguy cơ chết sớm hơn những người khác.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng những người sống cô lập ít cử động hơn và chăm lo mình ít tốt hơn : thí dụ ăn uống ít tốt hơn và thường quên dùng thuốc hơn. Họ cũng có nhiều nguy cơ hơn phát triển những bệnh tim mạch hay nhiễm trùng, những sa sút nhận thức (bệnh Alzheimer hay những bệnh khác) hay cả cao huyết áp. Đối với Eric Constant, thầy thuốc tâm thần ở Saint-Luc và giáo sư ở UCL, ” công trình nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng être humain với tính cách être social. Điều này phù hợp với những dữ kiện khác cho thấy rằng mối liên hệ xã hội không những chống lại bệnh trầm cảm mà cả những bệnh thân thể (maladie somatique) nữa. Thế mà, ta có quá nhiều khuynh hướng phân chia điều thuộc về tâm lý với phần còn lại trong khi chúng lai liên hệ mật thiết với nhau. Vài người dễ bị thương tổn hơn đứng trước các bệnh tật do những yếu tố sinh học hay di truyền nhưng nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng hỗ trợ xã hội có thể renverser la vapeur. Di truyền không phải là yếu tố quyết định duy nhất.”
Các nhà nghiên cứu muốn phân biệt sự cô lập xã hội (isolement social) với sự cô đơn (solitude). Yếu tố đầu tiên được đo một cách khách quan theo những quan hệ xã hội trong khi yếu tố thứ hai là một cảm tưởng và do đó có tính cách chủ quan. Công trình nghiên cứu cho thấy rằng cô độc tự nó không làm gia tăng những nguy cơ tử vong. Thật vậy, một người có thể cảm thấy cô độc nhưng đồng thời có người để có thể hướng về trong trường hợp có vấn đề. ” Đôi khi hai yếu tố ăn khớp với nhau, đôi khi không phải như vậy. Điều quan trọng là phân biệt hai yếu tố thế mà ta thường lẫn lộn chúng với nhau “, Eric Constant đã kết luận như vậy.
(LE SOIR 28/3/2013)

5/ CHƠI VIDEO KỀM HÃM SA SÚT TRÍ TUỆ CỦA NHỮNG NGƯỜI GIÀ
Chơi vidéo kềm hãm sự sa sút trí tuệ.
NEUROLOGIE. Những lão niên 50 tuổi hoặc hơn đã lợi đến 3 năm sức khỏe tâm thần.

–   jeu vidéo được trắc nghiệm trên các lão niên
–   nó đã cho phép làm chậm lại sự sa sút trí tuệ của các người già
–   nhiều hơn là chơi ô chữ.

 Các jeux vidéo kềm hãm sự sa sút trí tuệ (déclin mental) của những lão niên. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu của Đại học Iowa, được công bố trong tạp chí khoa học Plus One. Khoảng 681 người tình nguyện có sức khỏe tốt đã được phân chia thành 4 nhóm chứng. Trong những nhóm này, một sự phân biệt đã được thực hiện giữa những người từ 50-64 tuổi và những người hơn 65 tuổi.
Một trong các nhóm phải chơi ô chữ trên ordinateur, trong khi 3 nhóm khác chơi jeu Vidéo Road Tour. Những người tham dự phải ghi nhớ modèle của chiếc xe hơi hay chiếc xe tải được trình bày trên một plaque d’immatriculation. Họ cũng phải ghi nhớ vị trí của một tín hiệu đường xá (signal routier) trong một vòng tròn được cấu tạo bởi những pictogramme khác nhau. Sau đó, họ phải nhan biết, trên hình ảnh thứ hai, chiếc xe hơi đã được thấy trước đó và cliquer trên vi trí của tín hiệu đường xá bị che dấu. Dần dần, thời gian của các phase de jeu càng ngày càng ngắn và số các tín hiệu ký sinh (signal parasite) gia tăng.
Những người tham gia đã chơi khoảng một chục giờ, vài người ở phòng thí nghiệm, những người khác ở nhà. Trước khi lao mình vào trò chơi này, những người tình nguyện đã chịu những bài tập trí tuệ (exercices mentaux) nhằm trắc nghiệm hiệu năng não bộ của họ. Họ phải trải qua cùng những trắc nghiệm này một năm sau khi đã tham gia thí nghiệm. Mục đích là theo dõi tiến triển của các hiệu năng của họ.
Kết quả : sự tiến triển là tốt hơn ở những người thực hành jeu vidéo so với những người chơi ô chữ trên ordinateur. Sau đo các nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng những người đã chơi vidéo 10 giờ lợi được ba năm sức khỏe tâm thần tốt. Những người đã chơi thêm 4 giờ đã giành được ngay cả 4 năm lùi lại của sa sút trí tuệ. Trái lại sự việc chơi ở phòng thí nghiệm hay ở nhà ít có ảnh hưởng.
” Sự sử dụng những kỹ thuật mới (tablette, internet, jeux vidéo) gần như có cùng tác dụng như sự xuất hiện của truyền hình trong những năm 60. Nhờ thế mọi người đã lợi được trên bình diện não, kể cả những người già hơn, GS Christian Swine, trưởng khoa bệnh người già thuộc CHU Mont-Godinne Dinant đã giải thích như vậy. Vậy công trình nghiên cứu này rất đáng quan tâm. Nhưng cũng phải nghĩ đến khía cạnh tổng quát của những kỹ thuật mới này. Sau đó phải nhấn mạnh rằng khi ta làm việc trong một lãnh vực, ta không cải thiện những lãnh vực khác.
Vậy từ công trình nghiên cứu này không nên kết luận rằng ta sẽ giải quyết vấn đề lão hóa não bộ (viellissement cérébral) chỉ bằng cách chơi jeu vidéo này.” Những năng lực nhận thức (capacité cognitive) của một cá thể tùy thuộc vào sự dinh dưỡng, hoạt động vật lý, mối liên hệ xã hội hay ngay cả mức đạt được trên bình diện trí tuệ hay văn hóa. Ngoài ra, những hoạt động này, cũng như những jeu vidéo, phai có thể tiếp cận được “, GS Swine đã nhấn mạnh như vậy.
Ở CHU Mont-Godinne, các console de jeux đặc biệt được sử dụng bởi các kiné. Điều đó cho phép các bệnh nhân chơi tennis nhưng không chơi tennis thật sự, chơi pétanque nhưng không phải nhấc một balle de pétanque thật. Phải nhấn mạnh rằng những người già có khả năng thích ứng với những kỹ thuật mới miễn là các phím (touche) và các chữ được làm lớn hơn “. Một enjeu mà các firme de consoles et de jeux vidéos đã nắm được.
(LE SOIR 10/5/2013)

6/ TẠI SAO DA NHĂN QUA NĂM THÁNG ?
” Các cô, hãy cười để cho sau này, những nếp nhăn của các cô được đặt đúng đắn.” Madame de Maintenon, từng cưới bí mật vua Louis XIV và thành lập pensionnat de jeunes filles de Saint Cyr, đã không nghĩ rằng mình đã nói đúng như vậy : bây giờ ta biết rằng những cử động lặp lại của da là một trong những nguyên nhân của sự xuất hiện không tránh được của những nếp nhăn. Nhưng đó không phải là nguyên nhân duy nhất. Bởi vì những năm tháng trôi qua và làm nhăn những đường nét thanh tú nhất, có thể cậy vào một bạn đồng mình tầm cỡ khác : sức hút của quả đất (trọng lực). Như thế, trong suốt cả cuộc đời da không những chỉ chịu những nụ cười, những cau mày và những nét mặt diễn cảm (mimique expressive) khác, mà còn phải chịu khối lượng của chính mình, làm nó bị kéo xuống dưới vào mỗi giây phút.
Trọng lượng và những cử động lặp đi lặp lại của các cơ bám vào da đòi hỏi hai loại sợi (fibres), lần lượt được cấu tạo bởi collagène và élastine. Những sợi collagène mang lại cho da tính chất chắc chắn, những sợi élastine mang lại sự mềm dẻo. Chính trong lớp bì (derme), cái nền vô hình nhưng thiết yếu nuôi dưỡng lớp biểu bì (épiderme) và dùng làm nền tảng, mà các sợi collagène và élastine lần lượt sinh ra và chết di. Thường thường, trong khi những tế bào bị hư mòn nhất của biểu bì bị phá hủy bởi các enzyme, những tế bào biệt hóa, được gọi là những nguyên bào sợi (fibroblaste), tạo ra những tế bào thay thế. Nhưng với thời gian, chu kỳ tiêu hủy/đổi mới bị hỏng..
Vậy với tuổi tác sẽ đến một ngày, khi đó những nguyên bào sợi thua cuộc trước những enzyme phá hủy. Vì số lượng ít hơn và có chất lượng tồi, các sợi collagène và élastine không còn đóng vai trò của mình nữa. Và, ở interface của bì và biểu bì, là nơi chúng phân nhánh thành rất nhiều những sợi con (fibrille) mảnh, khi đó là sự tán loạn. Bì và biểu bì có khuynh hướng không còn gắn bó nữa, đôi khi đi đến chỗ vỡ. Khi đó biểu bì bắt đầu trượt một cách tự do, theo nhịp của các yêu cầu.
CHÚ Ý NHỮNG TIA NẮNG MẶT TRỜI.
Như thể ” sự buông trôi ” này không đủ, chỗ nối bì-biểu bì, bình thường nhấp nhô một cách tinh tế, có khuynh hướng phẳng đi. Da dần dần bắt đầu tạo nên những sillon, những nếp nhăn ở cổ, những quầng quanh mắt và những pattes-d’oie khác. Một hiện tượng không tránh được, mà những crème hydratante chỉ làm mờ nhạt trên bề mặt, chủ yếu làm phồng lên những tế bào của những lớp trên của biểu bì. Dầu sao, như Madame de Maintenon gợi ý, thà cười còn hơn mang một bộ mặt buồn rầu, để không cho sự cay đắng làm nhăn da. Và tắm nắng mặt trời với hết sức thận trọng. Bởi vì, ngay cả nồng độ thấp, những tia tử ngoại cung voi với tuổi tác để tạo ở da những vết nhăn sâu bằng cách làm hỏng những tế bào của biểu bì, cũng như các nguyên bào sợi (fibroblaste), và bằng cách làm thoái biến các sợi.
(SCIENCE &VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

7/ ĐIỀU GÌ LÀM CHO NHỮNG NGƯỜI GIÀ NGỦ ÍT HƠN
Nhiều công trình nghiên cứu đã xác lập điều đó : mặc dầu những người già quả là ngủ ít hơn vào ban đêm, nhưng họ bổ sung thời gian ngủ bằng những giấc ngủ trưa, do đó trong 24 giờ, những người già không ngủ ít hơn những người khác. Tuy vậy cứ 5 người thì có hơn một lão niên (22%) bị những rối loạn về giấc ngủ. ” Ở tuổi 66 và hơn, những thời kỳ tỉnh dậy ban đêm trở lại thường xuyên hơn”, Sylvie Royant-Parola, thầy thuốc và chủ tịch của réseau Morphée vùng Paris, một mạng dành cho điều trị những rối loạn giấc ngủ, đã chỉ rõ như vậy. Vào ban đêm, giấc ngủ sâu (sommeil profond) xen kẽ với những giai đoạn tỉnh dậy (phase d’éveil). Vì xảy ra trong một thời gian ngắn ngủi, nên những giai đoạn tỉnh dậy này nói chung không được nhận thấy ở người trẻ.
MỘT GIẤC NGỦ ÍT ĐƯỢC ĐIỀU HÒA TỐT HƠN
Nhưng không còn như thế nữa khi những giai đoạn tỉnh dậy kéo dài ra với tuổi tác. Bởi vì lúc về già, sự tiết của vài chất điều hòa sự luân phiên tỉnh/ngủ bị yếu đi. Nhất đó là trường hợp của adénosine, có chức năng ức chế sự sản xuất của các phân tử duy trì sự thức tỉnh. ” Sự hạ của những yếu tố này làm cho giấc ngủ ít sâu hơn và những giai đoạn tỉnh dậy xảy ra thường xuyên hơn”, Sylvie Royant-Parola đã tóm tắt như vậy. Thường xuyên hơn, nhưng những giai đoạn này cũng được đánh dấu bởi những đau đón, những khó chịu và những mối quan tâm khác liên kết với tuổi già. ” Tuy nhiên, một tình trạng vật lý và tâm thần tốt bảo đảm cho một giấc ngủ có chất lượng tốt hơn”, vị thầy thuốc đã đảm bảo như vậy.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

8/ PHẢI CHĂNG PHẢI GIÀ MỚI BỊ BỆNH ALZHEIMER ?
Những con số tự nói lên điều đó ! Theo một báo cáo của Inserm được công bố năm 2007, những người trên 85 tuổi chiếm hơn một nửa những người bị bệnh Alzheimer. Đối với lứa tuổi này, cứ 5 phụ nữ thì có một bị bệnh Alzheimer và cứ 4 người dàn ông thì có một bị chứng bệnh này. Và ngay ở tuổi 65, 6% những người già bị chứng bệnh này. Tuy vậy phải chăng bệnh Alzheimer được liên kết với quá trình lão hóa (vieillissement) ? Thật vậy tất cả tùy thuộc vào điều mà ta hiểu về bệnh Alzheimer. Bởi vì bệnh lý là phức tạp và định nghĩa hiện nay càng ngày càng xa rời với định nghĩa đầu tiên được xác lập vào năm 1906 bởi Alois Alzheimer. Những quan sát của ông lúc đó hướng về những người “trẻ” và không tập trung vào những rối loạn trí nhớ. Bệnh nhân nữ đầu tiên của ông, được nghiên cứu năm 1906, Auguste D., được 51 tuổi. Johannes F., bệnh nhân thứ hai, có 54 tuổi. Nhưng đứng trước những dạng của căn bệnh mà ngày này ta xác định là sớm (précoce), thầy thuốc thần kinh khi đó đã không chắc chắn là đã phát hiện một quá trình bệnh lý đặc biệt khác biệt với chứng sa sút trí tuệ lão suy (démence sénile), một bệnh lý khác liên kết với sự lão hóa.
MỘT CHẤN ĐOÁN ” HƠI QUÁ RỘNG “
Định nghĩa hiện nay xích bệnh Alzheimer lại gần với chứng sa sút trí tuệ lão suy, đặc biệt nhấn mạnh vào một trong những rối loạn nhận thức (trouble cognitif) được liên kết thật sự với sự lão hóa não bộ : sự lão hóa của trí nhớ. Ngày nay ta cho rằng bệnh Alzheimer là một sự thoái hóa não bộ ảnh hưởng lên những chức năng trí tuệ cao cấp, trong đó trí nhớ là một bộ phận. Dần dần, những người bị bệnh mất năng lực nhớ những biến cố mới xảy ra, mất khả năng học những điều mới, không thể thực hiện nhiều công việc cùng lúc. Thế thì xảy ra điều gì trong não bộ ?
Căn bệnh được thể hiện bởi hai loại thương tổn, phần lớn nằm trong thùy hải mã (hippocampe), ở trung tâm của não bộ, ở trong vỏ não, một loại vỏ đầy những hồi não (circonvolution), bọc nhân trung ương của não. Đối với loại thương tổn thứ nhất, ta nói sự tạo thành những plaque amyloide. Những mảng này là do sự tích tụ của một mảnh protéine giữa những tế bào thần kinh của não (các neurone) : peptide beta-amyloide. Loại thương tổn đặc trưng thứ hai tương ứng với điều mà ta gọi là những thoái hóa của những sợi con thần kinh (dégénérescence neurofibrillaire). Đó là sự ngưng kết (agrégation) bất thường của những protéine trong các neurone, những protéine Tau, và cuối cùng dẫn đến sự chết của những tế bào này. Nhưng vấn đề quan trọng là hai loại thương tổn đặc trưng của bệnh Alzheimer này, và do đó cho phép phân biệt với chứng sa sút trí tuệ lão suy (démence sénile), chỉ có thể thấy được lúc giải phẫu tử thi, mặc dầu, trong những phòng thí nghiệm, chụp hình ảnh y khoa thực hiện nhiều tiến bộ.
Thật vậy, từ những năm 1960, các thầy thuốc hợp nhất hai bệnh lý, bệnh Alzheimer và chứng sa sút trí tuệ lão suy, vì lẽ sự tương tự của những triệu chứng lâm sàng liên kết. ” Có lẽ ngày nay chẩn đoán bệnh Alzheimer hơi rộng, Catherine Thomas-Antérion, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh và tâm lý thần kinh (neuropsychologue) thuộc trung tâm bệnh viện Saint-Etienne đã quan sát như vậy. Nhưng thà điều trị hơi quá rộng hơn là không điều trị gì cả ? Cuối cùng, để có thể chẩn đoán bệnh Alzheimer, trên phương diện lâm sàng, bệnh nhân phải có vài rối loạn nhận thức (trouble cognitif) : bị một chứng sa sút trí tuệ (démence), nghĩa là có những rối loạn trí nhớ được liên kết với những rối loạn của ít nhất một chức năng nhận thức cao cấp khác, như ngôn ngữ hay sự nhận biết các đồ vật. Ngoài ra những rối loạn này phải diễn ra từ từ và khá nghiêm trọng để ảnh hưởng lên những hoạt động của cuộc sống hàng ngày. Những thăm dò khác có thể làm vững chẩn đoán này, như sự quan sát lúc chụp cộng hưởng từ (IRM) một sự teo dần dần của thùy hải mã, vùng não đóng một vai trò chủ chốt trong trí nhớ.
Nhưng các chuyên gia đều nhất trí : khi chẩn đoán, việc liên kết chứng sa sút trí tuệ lão suy và bệnh Alzheimer chẳng khác nào gieo mối nghi ngờ lên khái niệm của chính bệnh Alzheimer… Một điều chắc chắn, và những neurobiologiste sẵn sàng chấp nhận, đó là ” những bệnh nhân trẻ và già không hề có cùng bệnh cảnh bệnh lý và lâm sàng “, như Lúc Buée trưởng kíp Maladies neurodégénératives et mort neuronale ở centre Jean-Pierre-Aubert (Lille) đã xác nhận như vậy
DƯỚI 0,05% NHỮNG TRƯỜNG HỢP RẤT SỚM
Những thầy thuốc thực hành phân biệt bệnh Alzheimer có khởi đầu sớm với bệnh Alzheimer có khởi đầu muộn. Cần biết rằng, ở những bệnh nhân trẻ nhất, những rối loạn ngôn ngữ, những rối loạn trong thực hiện những động tác và trong việc nhận biết những đồ vật và những gương mặt là đặc trưng ; trong khi ở những bệnh nhân già hơn, chính nhưng rối loạn trí nhớ là nổi bật. Tuy vậy hiện giờ, những khác nhau này không đủ để đặt lại vấn để sự hiện hữu của hai thế bệnh này.Và mặc dầu bệnh Alzheimer hầu như chỉ xảy ra ở những người già, thậm chí rất già, tuy nhiên Viện y tế và nghiên cứu y khoa quốc gia báo cáo vài trường hợp bệnh Alzheimer xảy ra rất sớm. Ở Pháp, 0,041% những người được chẩn đoán dưới 60 tuổi, mặc dầu mức độ đáng tin cậy của những tiêu chuẩn chẩn đoán vẫn bị tranh cãi đều đều.
(SCIENCES ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

9/ CÁC NEURONE CỦA CHÚNG TA HÓA GIÀ NHƯ THẾ NÀO ?
Quả đúng là chúng ta thường nói rằng não bộ của chúng ta mềm ra với thời gian. Đó là cách nói bóng bảy rằng vị vua của các cơ quan sẽ thoái hóa với tuổi tác, qua sự suy tàn và sự biến mất ồ ạt của những neurone của chúng ta, đã trở nên quá già nua để có thể làm tròn một cách đúng đắn chức năng của mình..Và thật vậy, cho đến cuối những năm 1990, các nhà khoa học gán những rối loạn trí nhớ xuất hiện lúc về già cho một sự giảm dần dần số lượng của các neurone. Thế mà, ngày nay họ biết rằng sự mất mát này, xảy ra từ năm 20 đến 90 tuổi, không vượt quá 10 và 20%. Thế mà, theo họ, đó là một một lượng hoàn toàn không đáng kể ! Bởi vì những năng lực não bộ chủ yếu tùy thuộc vào chất lượng những nối kết giữa các neurone, chứ không phải lượng của chúng. Thật vậy những chụp hình ảnh não bộ phát hiện rằng những rối loạn thần kinh liên kết với sự lão hóa là do mot sự giảm lượng của mạng neurone. Những kích thích não (như sự rèn luyện trí nhớ) cho phép duy trì những nối kết này. Và đôi khi ngay cả dẫn đến điều mà từ lâu ta đã tin là không có thể : sự sinh ra những tế bào thần kinh mới. Sự đổi mới này chấm hết ý tưởng cho rằng thời gian chỉ làm biến đổi những neurone của chúng ta và làm giảm số lượng của chúng.
(SCIENCE ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

10/ MỘT NGÀY NÀO ĐÓ TA SẼ CÓ THỂ TRẺ LẠI ?
Từ thuốc trường sinh (élixir de longue vie) đến những máy đi ngược về quá khứ (machine à remonter dans le passé), những phương pháp nhằm làm thất bại điều không đảo ngược được với thời gian đã là những chủ đề lớn của khoa học viễn tưởng…không bao giờ ngừng ám ảnh những nhà khoa học. Huyền thoại suối nước cải lão hoàn đồng (fontaine de jouvence) đã là nguồn cảm hứng cho nhiều người. Nhưng chỉ cho đến gần đây, các nhà nghiên cứu nhiều lắm chỉ mới thành công làm chậm lại sự lão hóa của những động vật phòng thí nghiệm. Thí dụ, bằng cách sử dụng những chế độ ăn uống với rất ít calorie, họ đã thành công làm gia tăng 40% thời gian sống của các con chuột. Đó là chưa kể đến sự kiên trì của một nhóm nghiên cứu của Trường Y Havard (Boston), vào cuối năm 2010, đã thu được một thành tích vừa khó tin vừa chưa từng có : làm trẻ lại một chú chuột !
Phương pháp ? Đơn giản : trong số nhiều chục những yếu tố sinh học được biết có liên hệ với sự lão hóa, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào sự biến đổi của những nhiễm sắc thể, những sợi dài ADN hiện diện trong mỗi tế bào ; những nhiễm sắc thể này chứa các gène. Mỗi lần các tế bào phân chia, các nhiễm sắc bị tổn hại một tí chút. Nói một cách chính xác hơn, những đầu mút của các nhiễm sắc thể, được gọi là télomère, được dùng như những “nắp bảo vệ” (capuchons protecteurs) bị thu ngắn lại. Cho đến một point de non-retour, cuối cùng, báo hiệu sự chết của tế bào và sự lão hóa. Vâng, nhưng có thể chống lại quá trình này, ít nhất chừng nào cá thể đã không hoàn thành sứ mạng sinh sản loài của mình… Bằng cách nào ? Nhờ một protéine ” sửa chữa”, télomérase, làm kéo dài các capuchons de télomère vào mỗi lần phân chia tế bào.
ĐẶT CUỘC VÀO TELOMERASE
Qua tuổi sung mãn sinh dục, những lượng télomérase được sản xuất bắt đầu giảm, và sự lão hóa tế bào gia tăng. Do đó các nhà nghiên cứu có ý nghĩ đặt cuộc vào télomérase này. Một cách cụ thể, các nhà khoa học đã sử dụng những con chuột, ở chúng họ ức chế sự sản xuất protéine. Kết quả, những động vật gặm nhấm này già đi rất nhanh chóng : ít có khả năng sinh sản, chúng bị bệnh loãng xương sớm, bệnh đái đường và bị thoái hóa thần kinh não. ..Nhưng đã chỉ cần kích hoạt trở lại những télomérase của những con vật này thì những télomère bị ăn mòn bởi thời gian được sửa chữa. Đối với các động vật, sự tái kích hoạt protéine này ngay cả có tác dụng của một liều cải lão hoàn đồng (cure de jouvence) thật sự. Kích thước của các cơ quan của chúng đã gia tăng, những tinh hoàn đã bắt đầu hoạt động lại và những dấu hiệu thoái biến thấy được ở ruột hay gan đã thoái triển, ” Đó đúng là lần đầu tiên mà ta đảo ngược được hiện tượng lão hóa “, Mariela Jaskelioff, một trong những tác giả của thí nghiệm đã lấy làm phấn khởi như vậy.
MỘT THUỐC TRƯỜNG SINH CÒN XA VỜI.
Kết quả đầu tiên này phải chăng đang mở ra những cánh cửa của y khoa tái sinh (médecine régénérative) ? Những giấc mơ, nếu không phải là về sự bất tử (immortalité), thì ít nhất về sự trẻ hoá (rajeunissement) là điều khả dĩ, nhưng cộng đồng khoa học kêu gọi cần thận trọng. Trước hết, bởi vì phương pháp của các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đặt ra một số vấn đề nào đó. Những kết quả có được này ở những con chuột chịu một sự lão hóa nhân tạo (viellissement artificiel) phải chăng có thể áp dụng cho những sinh vật bị một quá trình lão hóa bình thường ? Không có gì là chắc chắn. Ngoài ra, hoạt tính gia tăng của télomérase được liên kết với nhiều ung thư bởi vì nó góp phần vào sự sống còn của những tế bào ung thư. Không có sự phát triển ung thư nào ở các con chuột, nhưng nếu ta đã để cho chúng sống khá lâu thì sao ? Sau cùng, sự thu ngắn của các nhiễm sắc thể chỉ là một trong những hiện tượng sinh học : có thể sẽ phản ứng lại như thế nào với một liều cải lão hoàn đồng (cure de jouvence) chỉ tấn công một triệu chứng duy nhất của sự lão hóa ,
Dầu vậy, những kết quả này van gây ngạc nhiên… ” Năng lực tái sinh của hệ thần kinh sau khi phục hồi hoạt tính của télomérase là ly kỳ “, Arturo LondonoVallejo, chuyên gia về các télomère thuộc Viện Curie (Paris) đã phát biểu như vậy. Nhất là télomérase không chỉ tác động lên các télomère. ” Enzyme này điều hòa những hiện tượng phân tử khác, trong đó một vài có liên hệ trong sự huy động của những tế bào gốc (những tế bào có khả năng sinh ra đủ loại những tế bào trưởng thành), điều này có thể giải thích một phần những hiện tượng được quan sát. ” Con đường tiến về thuốc cải lão hoàn đồng (elixir de jouvence) là đầy hứa hẹn, nhưng con dài : phải chăng ta sẽ sống đủ già để có cơ hội bắt đầu trẻ lại ?
(SCIENCE ET VIE, QUESTIONS ET REPONSES)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(21/6/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s