Thời sự y học số 308 – BS Nguyễn Văn Thịnh

neurone

CHUYÊN ĐỀ VỀ THẦN KINH HỌC

1/ NHỮNG DẤU HIỆU CHO PHÉP PHÁT HIỆN MỘT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

                     Những tai biến mạch máu não thoáng qua
                     AIT : Accidents ischémiques transitoires
                                  Bằng những con số
30.000
trường hợp tai biến mạch máu não thoáng qua xảy ra mỗi năm ở Pháp
15
Đó là con số phải gọi (ở Pháp) trong trường hợp có những dấu hiệu của tai biến mạch máu não thoáng qua
60 đến 70 %
các tai biến mạch máu não thoáng qua là do một cục máu đông phát xuất từ một mảng xơ vữa (plaque d’athérome) dính vào chĩa của các động mạch cảnh (bifurcation des artères carotidiennes).

2 cơ chế nguồn gốc của thiếu máu cục bộ tạm thời (ischémie transitoire)
      1. Xơ vữa động mạch (Athérosclérose) 
             Sự lắng đọng của một mảng xơ vữa (mỡ do cholestérol) gây tắc một mạch máu nhỏ.
      2. Những nghẽn mạch (embolies) phát xuất từ tim
            Chúng cũng có thể gây tắc một động mạch ngoại biên.
Những triệu chứng
          – Mù tạm thời
          – Mất thị trường
          – Bại liệt một phần
          – Những rối loạn ngôn ngữ
          – Chóng mặt
          – Xảy ra trong một thời gian ngắn (<1 giờ)
          – Phục hồi hoàn toàn.
 Tình trạng nghiêm trọng tiềm tàng
         Mặc dầu tai biến xảy ra trong một thời gian ngắn và không để lại di chứng nhưng khả năng nghiêm trọng không được xem nhẹ. Nguy cơ tai biến mạch máu não là 10% lúc 7 ngày.

Những tai biến mạch máu não thoáng qua (AIT : accidents ischémiques transitoires) không được lơ là, bởi vì chúng có thể báo hiệu những rối loạn trầm trọng hơn.
CERVEAU. ” Những sự cố có vẻ không trầm trọng này, bởi vì chúng biến mất rất nhanh, không được phớt lờ, GS Didier Leys, trưởng khoa của đơn vị mạch máu thần kinh (unité neurovasculaire của CHU de Lille, đã nhắc lại như vậy. Trái lại chúng phải được xem trọng bởi vì những tai biến tạm thời này thường báo hiệu một tai biến mạch máu với những hậu quả có tiềm năng rất nặng, mà ta có thể tránh được bằng một điều trị cấp cứu.” Thật vậy, những tai biến thiếu máu não thoáng qua (AIT) dẫn đến một tai biến mạch máu não (AVC : accident vasculaire cérébral) hay nhồi máu não (infarctus cérébral) trong tuần lễ tiếp theo sau đối với 10% các bệnh nhân, và đối với một nửa trong số những bệnh nhân này, trong vòng 48 giờ. Vậy phải can thiệp rất nhanh để tránh tai biến mạch máu não, có thể gây chết người hay để lại những di chứng trầm trọng.
Nước Pháp đã thiết đặt một protocole can thiệp cấp cứu để các bệnh nhân có thể tiếp cận càng nhanh càng tốt một khoa chuyên môn. Mặc dầu việc xử trí 30.000 tai biến mạch máu não thoáng qua mỗi năm từ nay nhìn toàn bộ là thỏa mãn, nhưng vài vùng vẫn còn bị một sự tiếp cận IRM không đủ, mặc dầu thiết yếu trong tình huống này. Tai biến mạch máu não thoáng qua được định nghĩa như là một rối loạn thần kinh có nguồn gốc thiếu máu cục bộ (ischémique), kéo dài trong một thời gian ngắn, nói chung dưới một giờ, không cho thấy lúc chụp hình ảnh thương tổn não thiếu máu cục bộ.
Tai biến mạch máu não thoáng qua xảy ra khi một cục máu đông được phóng thích đi đến tận não bộ và phong bế trong chốc lát tuần hoàn máu. Sự thiếu máu tạm thời này gây nên những dấu hiệu thần kinh, thoái biến khi cục máu đông biến mất không để lại di chứng trong não bộ. Khi một tai biến mạch máu não đã được cấu thành (AVC constitué), cục máu đông vẫn ở tại chỗ và tuần hoàn máu bị gián đoạn đủ lâu để gây nên những thiếu sót thần kinh (déficit neurologique) dài lâu hơn, đôi khi vĩnh viễn. Có một tình huống trung gian, trong đó những dấu hiệu thần kinh dường như đã biến mất nhưng chụp hình ảnh não phát hiện một thương tổn thiếu máu cục bộ nhỏ trong não bộ : đó là một tai biến mạch máu não nhẹ (AVC mineur), sẽ được điều trị như một tai biến mạch máu não đã được cấu thành (AVC constitué).
Những dấu hiệu thần kinh báo động các bệnh nhân và những người chung quanh được phân biệt bởi hai tiêu chuẩn quan trọng : chúng xuất hiện một cách đột ngột và biến mất một cách nhanh chóng. Đó có thể là một sự khó cử động một chi hay hai chi ở cùng phía và/hoặc một phía của mặt, khó phát ngôn hay tìm ra chữ, mất thị giác chỉ một mắt, những cảm giác kiến bò, tê cóng (engourdissement) chỉ trên một phía cơ thể, chóng mặt.
” Thí dụ, thức dậy với một cánh tay tê cóng do một tư thế xấu không giống với tình huống này (AIT), GS Vincent Larrue, trưởng khoa mạch máu thần kinh (service neurovasculaire) thuộc bệnh viện Rangueil của CHU de Toulouse, đã nhấn mạnh như vậy. Chính tính chất đột ngột của các dấu hiệu, và sự thoái biến nhanh của chúng phải khiến các bệnh nhân phản ứng rất nhanh.” Phản xạ xấu : tự bảo rằng những dấu hiệu đã biến mất, rằng không có gì trầm trọng, chỉ cần gọi thầy thuốc gia đình của mình trong những ngày đến. Phản xạ tốt : gọi tức thời 15 để được đưa đến khoa cấp cứu thần kinh mạch máu (urgences neurovasculaires) gần nhất hay một khoa thần kinh (service neurologique) chuyên môn và được trang bị cho những trường hợp cấp cứu.Vả lại gọi 15 là điều mà thầy thuốc đa khoa sẽ khuyến nghị nếu vị thầy thuốc này được báo trước tiên. Điều đặc biệt hữu ích là có thể mô tả những dấu hiệu, lúc chúng xuất hiện và lúc chúng biến mất, như thế cho phép các thầy thuốc hướng định rất nhanh chóng các bệnh nhân.
Lúc bệnh nhân đến khoa chuyên môn, nếu những dấu hiệu tương ứng rõ ràng với một tai biến mạch máu não thoáng qua (AIT), các thầy thuốc trước tiên sẽ kiểm tra nhờ một chụp hình ảnh điện từ (IRM) xem sự cố đã đúng là chấm dứt chưa và biến cố này có liên kết với một xuất huyết não hay không. ” Nếu không có IRM, một chụp cắt lớp vi tính (scanner) cho phép kiểm tra không có sự hiện diện của xuất huyết, một thông tin cần thiết trước khi thiết đặt tức thời yếu tố đầu tiên của điều trị : aspirine”, GS Didier Dormont, trưởng khoa thần kinh chẩn đoán và chức năng thuộc bệnh viện la Pitié-Salpêtrière (Paris), đã nhắc lại như vậy. Aspirine, hay trong vài trường hợp một thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiagrégant) khác, cho phép phòng ngừa tức thời và dài lâu một tai biến mạch máu não thật sự.
Những thăm dò khác khi đó sẽ được tiến hành để xác định nguồn gốc của cục máu đông và tránh những tai biến mới xảy ra sau này. Trong 60 đến 70% các trường hợp, đó là một hẹp động mạch cảnh (xem TSYH số 300) phải được điều trị. Những rối loạn nhịp tim (xem TSYH số 291) cũng có thể là nguyên nhân, nhất là ở những bệnh nhân già nhất (xem bài dưới đây). Trong tất cả các trường hợp, sự xuất hiện một tai biến mạch máu não thoáng qua là cơ hội để làm bilan tim mạch và nhận diện tất cả những yếu tố nguy cơ để một điều trị hiệu quả lâu dài.
(LE FIGARO 13/5/2013)

2/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO Ở NGƯỜI GIÀ : NHỮNG DẤU HIỆU ÍT RÕ RÀNG HƠN.
Nguy cơ bị tai biến mạch máu não thoáng qua (AIT) gia tăng với tuổi tác, đại đa số các trường hợp xảy ra sau 65 tuổi. Sau 80 tuổi, những dấu hiệu thần kinh có thể rất khác với những dấu hiệu mà tai biến mạch máu não thoáng qua gây ra ở những bệnh nhân ít già hơn. Vậy phải rất đặc biệt cảnh giác để nhận diện những dấu hiệu này, đôi khi rất ít đặc hiệu đối với tai biến mạch máu não thoáng qua : chính tính chất xuất hiện đột ngột của các triệu chứng được phát hiện là có ý nghĩa nhất.
” Ở những người rất già, một tai biến mạch máu não thoáng qua có thể gây nên những khó khăn trong việc định hướng trong thời gian, trong không gian, những rối loạn tập trung, một tình trạng lú lẩn nào đó, thậm chí ngay cả những rối loạn nuốt như avaler de travers “, GS Marc Verny, thầy thuốc chuyên lão khoa và thần kinh, trưởng khoa bênh người già thuộc bệnh viện La Pitié-Salpetrière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Thêm vào những dấu hiệu ít đặc hiệu này là thái độ ngập ngừng của các người già không muốn xét đến một sự biến không để lại một dấu vết nào và, một cách tổng quát, không muốn đi khám bệnh.
Nguy cơ chủ yếu là không biết những dấu hiệu này và bỏ qua trình trạng cấp cứu mặc dầu khả năng có một tai biến nghiêm trọng khác đặc biệt cao vì lẽ khả năng này gia tăng với tuổi tác. Những di chứng do một tai biến mạch máu não thật sự để lại, xảy ra trong một thời hạn ngắn hay trung bình, có thể có những hậu quả quan trọng trên chất lượng sống của bệnh nhân và những người chung quanh, nhất là sự hồi phục nó sau một tai biến mạch máu não thường khó hơn ở những người rất già.
” Những người chung quanh bệnh nhân dĩ nhiên phải cảnh giác nhưng những người già lại thường sống đơn độc, GS Verny đã nhắc lại như vậy. Vậy những người già phải được đả thông về những dấu hiệu có thể xảy ra và phải có tức thời những phản xạ tốt.” Như vậy vai trò của thầy thuốc đa khoa có tính chất quyết định để đào tạo những bệnh nhân già và nhắc lại với họ rằng gọi số 15 cho phép điều trị cấp cứu tốt hơn.
NHỮNG CỤC MÁU ĐÔNG NHỎ
Chẩn đoán sẽ được xác nhận bởi chụp hình ảnh trước khi bắt đầu điều trị với aspirine và, như đối với tất cả các bệnh nhân, những thăm dò sẽ cho phép nhận diện nguồn gốc của cục máu đông. Những rối loạn nhịp tim thường hơn chịu trách nhiệm những tai biến mạch máu não thoáng qua trong loại quần thể bệnh nhân này. Thật vậy những cục máu đông nhỏ có thể được tạo thành trong các tâm nhĩ của tim, là nơi máu ứ đọng lâu hơn khi chúng co bóp ít tốt hơn. Khi đó điều trị sẽ được thích ứng tùy theo những bệnh lý khác, thường gặp hơn ở những người rất già.
Cũng như đối với những bệnh nhân khác, sự xuất hiện của một tai biến mạch máu não thoáng qua (AIT) cho phép phòng ngừa một AVC constitué nhưng đôi khi cũng cho phép khám phá một rối loạn nhịp mà cho đến khi đó không được thấy rõ và cho phép phòng ngừa những biến cố tim mạch khác. Bấy nhiêu yếu tố tốt để không cho rằng những rối loạn thần kinh nhỏ này, vì biến mất trong chốc lát, nên không quan trọng.
(LE FIGARO 13/5/2013)

3/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : NHẬN DIỆN VÀ ĐIỀU TRỊ NGUYÊN NHÂN
” Điều rất là quan trọng là phải ghi giờ khởi đầu của những rối loạn thần kinh bởi vì, mặc dầu chúng dường như biến mất, nhưng có thể đó là hậu quả của một tai biến mạch máu não nhẹ (AVC mineur) cần phải được điều trị như một tai biến mạch máu não thật sự “, Didier Leys, trưởng khoa của đơn vị mạch máu thần kinh của CHU de Lille, đã nhắc lại như vậy. Trong trường hợp này, nếu những rối loạn đã bắt đầu dưới 4 giờ 30 phút trước khi xử trí, một điều trị tan huyết khối (traitement thrombolytique) sẽ được thực hiện tức thời để làm tan cục máu đông và tái lập tuần hoàn máu trong não bộ.
Tuy nhiên, nếu những thăm khám ban đầu xác nhận rằng không có thuơng tổn và rằng cục máu đông đã được loại bỏ, chẩn đoán tai biến thiếu máu não thoáng qua (AIT : accident ischémique transitoire ) được xác nhận. Bệnh nhân tức thời nhận aspirine (trừ phi bị chống chỉ định) để tránh sự tạo thành những cục máu đông mới. Giai đoạn đầu tiên này có mục đích làm giảm nguy cơ xuất hiện một tai biến mạch máu não thật sự trong lúc chờ đợi những kết quả của những thăm dò nhằm nhận diện nguồn gốc của cục máu đông đã gây nên tai biến thiếu máu não thoáng qua.
Những thăm dò này cũng sẽ cho phép loại bỏ những bệnh lý khác có khả năng cho những triệu chứng tương tự với tai biến thiếu máu não thoáng qua : thí dụ migraine với tiền triệu (aura), cơn hạ đường huyết (hypoglycémie), những cơn động kinh cục bộ (crises d’épilepsie focale). ” Trong 10 đến 15% các trường hợp, bệnh nhân có những vấn đề khác với một vấn đề mạch máu não, GS Larrue đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên trong tình huống này quá thận trọng hơn là khá thận trọng bởi vì những hậu quả của một tai biến mạch máu não có thể khủng khiếp đối với bệnh nhân.” Trong trường hợp một tai biến thiếu máu não thoáng qua, điều trị sẽ được thích ứng với nguyên nhân của tai biến và sẽ nhằm ngăn ngừa một tai biến thiếu máu cục bộ mới hay một tai biến tim.
Nguồn gốc thường gặp nhất của các tai biến thiếu máu não thoáng qua, trong 60 đến 70% các trường hợp, là một cục máu đông phát xuất từ một mảng xơ vữa (plaque d’athérome) được dính vào chĩa của các động mạch cảnh (bifurcation des artères carotidiennes). Tùy theo mức độ nghiêm trọng của hẹp động mạch cảnh, nhiều điều trị khác nhau có thể được đề nghị để làm sạch động mạch. Những rối loạn nhịp cũng có thể là nguồn gốc của một tai biến thiếu máu não thoáng qua, nhất là ở người già, và sẽ phải được điều trị, thường nhất bằng thuốc và trong vài trường hợp, nhờ một implant.
NGUY CƠ NHỒI MÁU NÃO
Sau cùng, trong những trường hợp hiếm hơn và nhất là ở những bệnh nhân trẻ, những thăm dò phát hiện một tách thành động mạch chủ (dissection aortique), sẽ được điều trị cấp cứu bằng thuốc, và trong vài trường hợp, bằng can thiệp ngoại khoa. Đôi khi, không có một nguyên nhân nào có thể được nhận diện nhưng bởi vì tai biến mạch máu não thoáng qua là một chỉ dấu nguy cơ tim mạch, nên thầy thuốc sẽ áp dụng một điều trị chống ngưng kết tiểu cầu lâu dài và sẽ cố sức làm giảm toàn bộ những yếu tố nguy cơ.
Thật vậy những bệnh nhân đã bị một tai biến mạch máu não thoáng qua có một nguy cơ bị nhồi máu não được nhân lên 50 lần và một nguy cơ được nhân lên 7 lần bị một tai biến tim. Nguy cơ cao này cần, trong tất cả các trường hợp, thiết đặt những biện pháp phòng ngừa nhằm làm giảm tất cả những yêu tố nguy cơ tim mạch : thuốc lá, cao huyết áp, bệnh đái đường và nhàn rổi không hoạt động ở hàng đầu. Vậy sự xuất hiện một tai biến mạch máu não thoáng qua không để lại di chứng là một cơ may thật sự để tránh những tai biến nghiêm trọng hơn nhiều, với điều kiện áp dụng nghiêm túc những biện pháp phòng ngừa thứ phát.
(LE FIGARO 13/5/2013)

4/ CHOLESTEROL TỐT ĐIỀU TRỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
CIRCULATION. Những nguy cơ biến chứng được giảm 90%

– Để chống lại cục máu đông gây tai biến mạch máu não, ta có nguy cơ gây xuất huyết.
– Những cholestréol tốt cho phép làm giảm một cách quan trọng nguy cơ này.
– Một thử nghiệm trên người chẳng bao lâu nữa sẽ bắt đầu.

Làm giảm 90% những biến chứng có tiềm năng gây chết người của một điều trị rất có hiệu quả chống lại tai biến mạch máu não, đó là hy vọng của một điều trị mới, được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu của Inserm, vừa công bố những kết quả trong tạp chí quy chiếu Stroke.
Giải thích : trong trường hợp một tai biến mạch máu não bị gây nên bởi một động mạch bị bít, ngày nay các thầy thuốc có thể sử dụng một loại thuốc có thể khai thông cục máu đông này trước khi những neurone do bị thiếu oxy bị phá hủy một cách không thể hồi phục được, điều này có thể dẫn đến nhung di chứng nặng nề hay tử vong. Thế mà, 19.000 người Bỉ là nạn nhân mỗi năm của một tai biến mạch máu não. Đó là nguyên nhân thứ ba gây tử vong và nhất là nguyên nhân đầu tiên gây phế tật ở người lớn, đại đa số những bệnh nhân sống sót bị mất khả năng cử động hay bị những vấn, đề về nhận thức.
Trong số các loại thuốc được sử dụng để làm tan cục máu đông này, từ nay có một “activateur tissulaire du plasminogène”, mà ta gọi là altéplase. Chất kích hoạt này, thường được các thầy thuốc chuyên khoa công nhận như là một ” thuốc màu nhiệm ” (un faiseur de miracles), cho phép chữa lành bệnh nhân trong 40 % các trường hợp, nhưng chỉ với điều kiện thuốc được cho trong vòng dưới 4 giờ 30 phút sau những triệu chứng đầu tiên. Điều này hàm ý rằng những secours có thể can thiệp khi một người bị mất tri giác một cách đột ngột. Nhưng bất hạnh thấy có một chướng ngại quan trọng đối với sự sử dụng thuốc làm tan cục máu đông này : biến chứng đáng sợ của thuốc này là sự xuất hiện một xuất huyết não. Sự xuất huyết não này có thể gây nên một sự trầm trọng thần kinh có thể dẫn đến tử vong trong 6% các trường hợp. Một nguy cơ, cho mãi đến hôm nay, làm kềm hãm sự sử dụng thuốc khi phải yêu cầu một sự chọn lọc nghiêm túc các bệnh nhân, nhất là căn cứ trên chụp hình ảnh cấp cứu.
Chính vì thế các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm một điều trị bổ sung, cho phép sử dụng rộng rãi hơn loại thuốc này…đồng thời làm giảm những nguy cơ. Thế mà, một cách rất đáng ngạc nhiên, kíp điều trị do GS Pierre Amarenco thuộc bệnh viện Bichat (Paris), dường như đã tìm ra nó với sự sử dụng…choleslérol.
Thuốc dùng điều trị thí nghiệm này gồm có những lipoprotéine de haute densité tạo nên HDL, cũng được gọi là “cholestérol tốt”, đối lại với LDL, mà nồng độ được theo dõi ở nhiều bệnh nhân, sự thặng dư của “cholestérol xấu” này tạo một nguy cơ tim mạch cao hơn. Những lipoprotéine này được phân lập từ huyết thanh người.
Nhung particule de HDL này có nhiệm vụ bài xuất “cholestérol xấu” (LDL) từ bên trong động mạch đến tận gan, ở đây nó được loại bỏ. Nhưng HDL có những tác dụng thuận lợi khác : chúng kháng viêm, chống oxy hóa, anti-protéase, tránh sự thâm nhập của những tế bào bạch cầu trong vùng hoại tử…
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng, do tác dụng bảo vệ của chúng lên hàng rào tự nhiên (barrière naturelle) giữa máu và não, cholestérol tốt (HDL) này như thế có thể bảo vệ chống lại những nguy cơ xuất huyết mà altéplase gây nên. Các nhà nghiên cứu đã cho sản phẩm này ở các con chuột sau khi đã bít một động mạch não bằng một filament hay bằng một cục máu đông, để modéliser hai nguyên nhân chính của tai biến mạch máu não ở người.
Một sự xuất huyết đã có được ở 62% các con chuột sau khi rút đi filament và ở 46% các con chuột có các động mạch bị bịt bởi cục máu đông. Nhưng khi cholestérol tốt đã được tiêm vào đồng thời với thuốc, các nhà nghiên cứu đã quan sát 90% biến chứng xuất huyết ít hơn. Sự việc tìm thấy cùng loại kết quả tăng cường tính xác thực của hiệu quả của các HDL”, các nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.
Dĩ nhiên, hiện nay, điều đó chỉ cứu… các con chuột. Nhưng những kết quả đầy hứa hẹn đến độ các nhà nghiên cứu tự xem là có thể xin phep tiến hành một thử nghiệm trên người. ” Khám phá này có thể cách mạng hóa việc điều trị tai biến mạch máu não và cải thiện một cách quan trọng dù chữa lành những bệnh nhân nạn nhân của tai biến mạch máu não. ” Các nhà nghiên cứu ngay cả tưởng tượng trong tương lai sự sản xuất bằng génie thérapeutique những hạt giống với những hạt tự nhiên HDL, mà không phải tổng hợp chúng từ máu người.
ĐIỀU ĐÓ ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM Ở NGƯỜI (Ý KIẾN CHUYÊN GIA)
Đối với Jean Ducobu, chuyên gia về các lipide thuộc bệnh viện đại học Erasme (ULB) và giáo sư Đại học Mons (Bỉ), ” thử nghiệm này ở động vật chứng minh những quan sát đã được thực hiện in vitro, cho thấy tính chất bảo vệ của cholestérol tốt chống lại tác dụng có tiềm năng nghiêm trọng của các protéine được sử dụng để hủy bỏ cục máu đông của động mạch bị bít. Dường như HDL này bảo vệ hàng rào giữa tuần hoàn máu và não. Hàng rào này có thể vỡ nếu vi thương tổn bởi thuốc được sử dụng chống lại cục máu động và gây nên một sự xuất huyết mà những hậu quả có thể rất là nghiêm trọng.”.
Đối với chuyên gia, chất lượng của nghiên cứu này nhưng cũng những kết quả đồng thời khác chứng minh đủ lợi ích tiềm tàng của kỹ thuật để biện minh cho việc bắt đầu một thử nghiệm ở người. Mục tiêu ? Hy vọng sử dụng kỹ thuật này chống lại tai biến mạch máu não một cach rộng rãi hơn nhiều.
” Ngày nay, quyết định sử dụng hay không một activateur tissulaire du plasminogène để làm tan cục máu đông được căn cứ trên những dữ kiện của chụp hình ảnh. Nếu các thương tổn được phát hiện lúc chụp cắt lớp vi tính, ta không thể dùng kỹ thuật này. Vài chỉ dấu như cao huyết áp hay bệnh đái đường hẳn phải khiến cần thận trọng hơn đối với những thương tổn có thể xảy ra trước đó. Mặt khác chính chúng có thể đã phát khởi tai biến mạch máu não”. Nếu HDL làm mạnh hơn thành trong của động mạch người, như đã được làm đối với chuột, thì nhiều bệnh nhân hơn có thể được điều trị với ít nguy cơ hơn. ” Dĩ nhiên trước hết phải thực hiện một thử nghiêm trong nhiều bệnh viện trước khi phát triển đại trà. Ngoài ra đó không phải là hy vọng duy nhất. Apolipoprotéine A1, yếu tố HDL khác, cũng có một tính chất bảo vệ và tăng cường các thành nội mạc. Sau một năm, ta chứng thực một sự thụt lùi của các thương tổn nhưng không thay đổi nồng độ cholestérolo toàn thể, điều này có thể là một điều bất tiện.” Thầy thuốc chuyên khoa cũng nhấn mạnh thời gian giành được nếu ta chú ý đến những tín hiệu báo động : ” Tình trạng khó ở, nhịn đói, á khẩu, khó phát âm, đau ngực. Thời gian lợi được, đó là não bộ được gìn giữ.”
(LE SOIR 22/3/2013)

5/ KÍCH THÍCH ĐIỆN CÁC NEURONE CHỐNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
NEUROLOGIE. Một kíp nghiên cứu của Mont-Godine (Bỉ) chứng tỏ rằng sự kích thích điện nhân lên gấp mười sự phục hồi cơ năng.

– Những điện cực khuếch tán dòng điện trong não bộ bị thương tổn.
– Mục tiêu : cải thiện sự phục hồi chức năng của một chi, bị bại liệt do tai biến mạch máu não.
– Những kết quả đầy hứa hẹn : kỹ thuật nhân lên gấp mười lần những kết quả sau một tuần.

Tác dụng chỉ mới được chứng minh trên một số lượng nhỏ những bệnh nhân nhưng rất mạnh : bằng cách sử dụng một kích thích não bộ bằng điện từ (stimulation magnétique) trong khi phục hồi cơ năng của một bệnh nhân bị một tai biến mạch máu não, các thầy thuốc thần kinh của bệnh viện Mont-Godine (UCL) (Bỉ) đã thành công nhân lên 10 lần chất lượng của sự phục hồi này.
Cứ sáu người thì có một người một ngày nào đó sẽ bị một tai biến mạch máu não. Không phải tất cả các tai biến mạch máu não đều gây chết người. Nhưng, bởi vì các neurone, do bị tuớc mất oxy, nên bị phá hủy vĩnh viễn, vì vậy phần lớn các bệnh nhân sống sót đều chịu sự mất năng lực thực hiện những cử động với cánh tay, bàn tay hay cẳng chân. ” Sự mất năng lực này hay sự khó khăn này tạo nên một phế tật quan trọng và làm giảm khả năng độc lập (autonomie) của các bệnh nhân. Một hiện tượng, ngoài sự tác động lên bệnh nhân, còn gây nên một phí tổn nặng nề đối với xã hội “, giáo sư Yves Vandermeeren, chef de clinique của Khoa thần kinh của CHU Mont-Godine (UCL) đã giải thích như vậy.
” May mắn thay não bộ có một mécanisme de plasticité (tính dẻo của não bộ) cho phép, trong một chừng mực nào đó, các neurone thay thế những neurone bị phá hủy để đảm bảo một chức năng. Như thực hiện một cử động. Khả năng này phải được phát triển nhờ một sự phục hồi chức năng thần kinh (neuro-revalidation) bằng kinésithérapie (vật lý trị liệu) và ergothérapie. Nhưng đó là một công tác cần đòi hỏi một sự hỗ trợ bên ngoài và chiếm thời gian. Vì lý do này mọi phương pháp cho phép cải thiện hay gia tăng capacité d’apprentissage này đều đáng quan tâm.
Trong số những phương pháp khả dĩ, sự kích thích điện các neurone là điều có thể thực hiện. ” Những công trình nghiên cứu tiền phong đã chứng minh rằng sự kích thích bằng dòng điện trực tiếp qua sọ, một phương pháp kích thích não bộ hoàn toàn không xâm nhập và không gây một đau đớn nào, có thể khuếch đại những hiệu năng vận động của bàn tay bị liệt ở những bệnh nhân bị một tai biến mạch máu não. Bất hạnh thay, sự cải thiện này đã chỉ có tính chất tạm thời. Vậy chúng ta đã trắc nghiệm giả thuyết cho rằng sự kích thích điện có thể khuếch đại apprentissage moteur và mémoire motrice về lâu về dài “, Yves Vandermeeren đã giải thích như vậy.
Thế mà điều đó có hiệu quả ! 18 bệnh nhân được điều trị ở bệnh viện sau một tai biến mạch máu não đã nhận được điều trị thí nghiệm (traitement expérimental) này. Trong khi trung bình năng lực của họ chỉ gia tăng 4% sau luyện tập, năng lực này được tăng đến 44% nếu ta sử dụng kích thích điện trong apprentissage.
” Những kết quả, được công bố trong Frontiers in human neurosciences, cho thấy rằng điều đó không những đã cải thiện apprentissage moteur về lượng mà cả về chất nữa, Yves Vandermeeren đã giải thích như vậy. Những kết quả này càng đáng phấn khởi khi chúng liên quan không phải những bệnh nhân được chọn lọc theo một tiêu chuẩn cho một kết quả tốt hơn một cách nhân tạo, mà là những bệnh nhân thật sự, với những thương tổn khác nhau, như khi họ đến bệnh viện và cần sự phục hồi chức năng (revalidation).”
Vẫn còn một nghi vấn : apprentissage này có còn tồn tại sau một tuần hay giảm dần đi ? ” Có khả năng giảm đi một phần. Nhưng những thử nghiệm ở Hoa Kỳ cho thấy rằng 3 hay 6 tháng sau, một lợi ích vẫn còn được chứng tỏ. Chỉ có một thử nghiệm trên một số lượng bệnh nhân nhiều hơn và được tiến hành lâu dài hơn mới có thể đưa đến những khuyến nghị kết hợp mọi revalidation với một kích thích điện như thế.
(LE SOIR 23/1/2013)

6/ XƠ CỨNG RẢI RÁC : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐỂ TIẾP TỤC BƯỚC.
BS Caroline Papeix, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc bệnh viện la Pitié-Salpêtrière và ICM (Institut du cerveau et de la moelle), tác giả của ” Sclérose en plaques. S’informer pour mieux se soigner “, giải thích tác dụng của loại thuốc đầu tiên có hiệu quả lên khả năng cử động của các bệnh nhân.
Hỏi: Những cơ chế nào là nguyên nhân của căn bệnh thần kinh này ?
BS Caroline Papeix : Bệnh lý viêm này là do một sự tăng hoạt của hệ miễn dịch. Sự loạn năng này gây nên một sự phá hủy dần dần myéline, vỏ bảo vệ bao quanh prolongement của các neurone. Những thương tổn được phân bố thành các mảng (plaques) trong hệ thyan kinh trung ương (não, tủy sống, dây thần kinh thị giác…). Hiện nay, ở Pháp, 70.000 người bị bệnh này.
Hỏi : Những triệu chứng của bệnh là gì ?
BS Caroline Papeix : Những dấu hiệu đầu tiên rất thay đổi : những cảm giác kiến bò trong bốn chi, những rối loạn cân bằng, những rối loạn thị giác, tiểu tiện…?
Hỏi : Ở phần lớn các bệnh nhân, một xơ cứng rải rác tiến triển như thế nào ?
BS Caroline Papeix : Bệnh mãn tính gây phế tật này gây bệnh cho những người trưởng thành trẻ tuổi : ngay ở lứa tuổi 30 (ở những tuổi này, nguyên nhân thứ hai gây phế tật). Trong phần lớn các trường hợp (80%), bệnh tiến triển thành những cơn bộc phát kế tiếp nhau, được đánh dấu bởi sự xuất hiện của những triệu chứng mới có thể để lại những di chứng. Khoảng sau 30 tuổi, phế tật quan trọng là một sự khó bước, có thể trong vài trường hợp buộc phải dùng xe lăn.
Hỏi : Phế tật này được sống như thế nào ?
BS Caroline Papeix : Bệnh nhân rất là đau khổ. Mặc dầu trí tuệ hoàn toàn mạnh khỏe, nhưng họ mất dần khả năng độc lập (autonomie) và dần dần trở nên phụ thuộc vào những người khác. Ở giai đoạn này, họ có thể cảm thấy đau lúc bước trong hai cẳng chân. Đôi khi ngay cả lúc nghỉ ngơi.
Hỏi : Cho đến nay, sự điều trị đối với những bệnh nhân bị bệnh xơ cứng rải rác này là gì ?
BS Caroline Papeix : Mục đích của các điều trị hiện nay là làm chậm lại càng nhiều càng tốt tiến triển của bệnh. Từ nay ta thừa nhận rằng điều trị bắt đầu càng sớm thì càng có hiệu quả. Điều trị gồm có : 1. Những loại thuốc có mục đích phòng ngừa, các chất điều biến miễn dịch (immunomodulateur) hay những chất làm suy giảm miễn dịch (immunosuppresseur). 2. Những buổi phục hồi chức năng (séances de rééducation). 3. Những thuốc giảm đau hay, với những liều thấp, những thuốc chống động kinh hay những thuốc chống trầm cảm. Với protocole này, các kết quả biến thiên từ cá nhân này qua cá nhân khác.
Hỏi : Điều trị mới hằng được mong chờ là gì ?
BS Caroline Papeix : Đó là fampridine, một loại thuốc, lần đầu tiên cải thiện năng lực bước. Nó tác động trực tiếp lên các neurone đồng thời duy trì sự dẫn truyền thần kinh trong những vùng démyélinisé. Đó là một bước tiến quan trọng, sẽ cho phép nhiều bệnh nhân bảo tồn khả năng bước độc lập càng lâu càng tốt. Thuốc này chỉ được kê đơn nhằm mục đích phòng ngừa nhưng chỉ dành cho những bệnh nhân đã có một phế tật trong giai đoạn đầu. Trong tiếng lóng của chúng tôi, chúng tôi nói là điều trị triệu chứng.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những lợi ích thật sự của fampridine đối với bệnh xơ cứng rải rác ?
BS Caroline Papeix : Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế đã được tiến hành trên hàng trăm bệnh nhân tuổi trung bình 50 tuổi (trong đó một đại đa số các phụ nữ). Điều trị này đã tỏ ra có hiệu quả ở trên 1/3 những bệnh nhân (cả hai giới tính), và đặc biệt trên phế tật bước. Mức độ dung nạp là tốt : ta đã không ghi nhận những tác dụng phụ. Thuốc này đã được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ, ở Canada và nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Đan Mạch, Na Uy…). Những hy vọng của chúng tôi bây giờ hướng về những kết quả của những công trình nghiên cứu đang được tiến hành ở Institut du cerveau et de la moelle (ICM) về những cơ chế sữa chữa và kích thích myéline.
(PARIS MATCH 26/6-4/7/2012)

7/ LASEGUE VÀ DẤU HIỆU ĐAU DÂY THẦN KINH TỌA
Ernest-Charles Lasègue sinh ở Paris vào năm 1816, trong một gia đình bình dân. Sau một quá trình theo học xuất sắc ở lycée Louis-le-Grand, ông mò mẫm để tìm kiếm đường đi của mình. Vào năm 22 tuổi, tình trạng nghèo túng, và với văn bằng cử nhân văn chương, khiến ông trở thành thầy dạy kèm môn triết học trong trường trung học mà ông đã từng theo học lúc còn trẻ, ở đó Charles Beaudelaire là học trò của ông. Trong khu Quartier Latin, ông ở chung phòng với Claude Bernard và cùng nhau góp tiền, để trả tiền thuê phòng cũng như để mua những con heo Ấn độ (cochons d’Inde) hay các chú thỏ được dùng cho những cuộc thí nghiệm của người bạn của mình là Claude Bernard. Ông phát giác khoa tâm thần (service de médecine mentale) của bệnh viện Salpêtrière, nơi Bernard đang làm nội trú, và đó là một tiếng sét. Để có thể chuyên tâm vào môn y học tâm thần này, vào năm 23 tuổi ông ghi tên vào đại học y khoa. 7 năm sau, ông bảo vệ luận án tiến sĩ y khoa dưới sự chủ tọa của Trousseau.
THẦY THUỐC THẦN KINH HAY CHUYÊN GIA TÂM THẦN ?
Vào năm 32 tuổi, ông được gởi đi công tác ở Nga nhằm nghiên cứu ở đó trận dịch choléra, nhưng ông lại lợi dụng chuyến đi này để quan sát những nhà thương điên (asile d’aliénés). Lúc trở về, ông được bổ nhiệm làm phó tổng thanh tra các cơ sở bệnh tâm thần, mà ông sẽ thăm viếng trong toàn nước Pháp. Hai năm sau, ông là một trong những thầy thuốc có nhiệm vụ thăm khám những bệnh nhân tâm thần (aliénés) ở sở cảnh sát và, 20 năm sau, ông là người đầu tiên được bổ nhiệm làm y sĩ trưởng của bệnh xá đặc biệt (infirmerie spéciale). Vào năm 37 tuổi, ông thi kỳ thi thạc sĩ và bảo vệ một luận án về sự bại liệt toàn thể (paralysie générale) và cũng năm đó, ông được chọn làm biên tập viên cho phần y khoa của những Archives générales de la Médecine, đồng thời ông lần lượt hành nghề ở bệnh viện Lourcine, ở bệnh viện Salpêtrière, ở Saint-Antoine, ở Bệnh viện Necker, nơi đây ông là người bạn thân và cộng sự viên của Trousseau, và ở le Pitié. Ở bệnh viện Necker, ông giảng dạy lâm sàng các bệnh tâm thần trong khi ở bệnh viện là Pitié ông là giáo sư bệnh lý và điều trị tổng quát. Chống lại trào lưu organiciste (thuyết duy cơ quan) trong tâm thần học, ông chủ trương kết hợp quan sát lâm sàng và thí nghiệm.
DẤU HIỆU VÀ LÂM SÀNG.
Ngay ở tuổi 40, Lasègue là một người rất thông thạo các bệnh của não bộ và của các dây thần kinh. Ông để lại tên mình không những cho dấu hiệu xác nhận thương tổn của dây thần kinh tọa (nerf sciatique) (signe de Lasègue) mà còn cho một hội chứng, một căn bệnh và một dạng hoại thư (gangrène) của một phế quản. Hội chứng Lasègue, được gặp trong hystérie de conversion, giờ đây đã bị quên lãng : bệnh nhân không thể thực hiện một cử động của chi bị ảnh hưởng nếu không nhìn, trong khi những cử động được ám thị có thể được thực hiện mà không cần thị giác. Còn về bệnh Lasègue, đó là điều mà ta từng gọi délire de persécution (hoang tưởng bị truy hại) trước khi thuật ngữ paranoia thay thế nó. Điều mà ta biết ít hơn, đó là ông mô tả bệnh chán ăn tâm thần (anorexie mentale) một cách bệnh học tâm thần (psychopathologique) đến độ ông được xem như là người khám phá thật sự nguồn gốc tâm thần của bệnh này. Tiếng tăm của ông không ngừng gia tăng và vào năm 55 tuổi ông được thưởng Bắc đẩu bội tinh (Chevalier de la Légion d’ honneur).
MỘT NGƯỜI ĐỀU ĐƯỢC MỌI NGƯỜI ĐÁNH GIÁ
Lasègue là một giáo sư rất được thương mến và tác giả của rất nhiều tác phẩm y khoa, bao trùm một phổ rộng lớn các đề tài, từ exhibitionnisme (chứng phô bày) đến hoang tưởng rượu (délire alcoolique) hay vol à l’étalage, mặc dầu tâm thần học (psychiatrie) là con chủ bài của ông và mối quan tâm chính của ông, bệnh tâm thần thân thể (maladie psychosomatique). Đa tài trong hầu hết các lãnh vực của y khoa, ông không những là một “spécialiste universel” mà còn là một con người đầy dí dỏm, một người bạn của nghệ thuật và một con người không bị ràng buộc bởi các quy ước. Ông dùng thời gian để hiểu những người bệnh của mình và bệnh sử của họ, và ông chủ trương một sự giảng dạy nhân bản (enseignement humaniste). Theo công thức của ông, thời gian dành cho việc nghiên cứu con người cùng giống với ” thời gian mà người lính dùng để lau bóng khẩu súng của mình “. Đứng trước một bệnh nhân loạn tâm thần (psychotique), Lasègue khuyên các sinh viên của mình ” Hãy trở về trong những tiền sử của bệnh nhân, và nếu các anh tìm kiếm, các anh sẽ tìm thấy ictus (cơn vật) đã đột ngột phá hủy cân bằng tâm thần của bệnh nhân. Từ đó, não bộ giống như cây đàn piano trong đó vài phiếm đàn (touche) đã bị lấy đi và gây nên những âm thanh không hoàn hảo và lạc điệu “. Chính ông mà ta chịu ơn câu châm ngôn mà tất cả chúng ta đã từng học : ” Bệnh phong thấp khớp cấp tính liếm các khớp nhưng cắn trái tim ” (Le rhumatisme articulaire aigu lèche les articulations, mais mord le coeur). Lúc 67 tuổi Lasègue qua đời vì những biến chứng của bệnh đái đường và an nghỉ ở nghĩa trang Chatillon-sous-Bangneux.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 11/12/2012)
Ghi chú dịch giả :
– Exhibitionisme : khuynh hướng phô bày những cơ quan sinh dục, do một rối loạn tâm thần sinh dục hay toàn thân (thí dụ bệnh sa sút trí tuệ)
– Organicisme : Học thuyết chủ trương rằng mỗi căn bệnh đều có liên hệ với một thương tổn của một cơ quan.
– Conversion : Sự thể hiện một xung đột tâm thần (conflit psychique) thành những triệu chứng thân thể (symptôme somatique)
– Ictus : triệu chứng thần kinh (bại liệt, quên…) xảy ra một cách đột ngột

8/ PARKINSON : NHỮNG BỆNH NHÂN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BỞI LIỆU PHÁP GENE.
Các nhà nghiên cứu Pháp đã có được những kết quả đáng lưu ý trên 12 bệnh nhân được điều trị ở Pháp và 3 ở Vương quốc Anh.
NEUROLOGIE. 15 bệnh nhân, bị một thể tiến triển của bệnh Parkinson, đã được điều trị ở Pháp và những nơi khác ở châu Âu bằng một liệu pháp gène (thérapie génique), nhờ những nghiên cứu được tiến hành bởi kip của Stéphane Palfi, giáo sư ngoại thần kinh thuốc bệnh viện Henri-Mondor (Créteil) và những nhà nghiên cứu CEA/Inserm. Những kết quả sơ khởi của điều trị này đã được trình bày ở Paris, nhân hội nghị châu Âu lần thứ 20 về liệu pháp gène và tế bào (thérapie génique et cellulaire). Mặc dầu toàn bộ những dữ kiện của các thử nghiệm điều trị này chỉ có thể được tiết lộ hoàn toàn trong khoảng 3 tháng nữa, với sự công bố chúng trong một tạp chí khoa học quy chiếu, nhưng những yếu tố đầu tiên được tiết lộ qua những nét lớn, nhưng không chi tiết, mở ra những triển vọng mới cho tương lai. Theo chính giáo sư Stéphane Palfi, nếu tính vô hại về lâu về dài được xác nhận, cũng như những kết quả thuận lợi, một kỹ thuật như thế dầu sao cũng sẽ chưa có để sử dụng cho các bệnh nhân trước 8 hay 10 năm nữa.
Bệnh Parkinson gây bệnh cho hơn 100.000 người ở Pháp. Bệnh do một sự thoái hóa của locus niger, một vùng não bộ trong đó các neurone chế tạo dopamine. Sự bất túc của chất dẫn truyền thần kinh này gây nên những triệu chứng rất gây phế tật ; run lúc nghỉ ngơi (tremblement de repos), cứng (rigidité), khó khởi động những cử động. ..Điều trị chuẩn, L Dopa, được sử dụng từ hơn 50 năm nay, bằng đường miệng, cho phép kích thích sự sản xuất dopamine. Nhưng sau một thời kỳ được gọi là ” trăng mật” (lune de miel), L Dopa có bất tiện chính là gây nên những cử động bất thường (dyskinésie) cũng gây trở ngại như căn bệnh và là do một sự kích thích sản xuất dopamine không đều đặn. Do đó Stéphane và kíp nghiên cứu đã quyết định trắc nghiệm cấy gène (implantation de gènes) trong não bộ, cho phép có một sự kích thích sản xuất dopamine liên tục và tại chỗ.
Kíp nghiên cứu đã bắt tay vào sự thành hình ý niệm này ngay năm 2003. Sau một loạt thí nghiệm ở động vật, những trắc nghiệm đầu tiên ở người đã bắt đầu năm 2008 trong khung cảnh một thử nghiệm giai đoạn 1 nhằm đánh giá sự dung nạp của thủ thuật trên 15 bệnh nhân bị một dạng tiến triển của bệnh. Về mặt kỹ thuật, các bệnh nhân đã nhận một mũi tiêm duy nhất, với gây mê tổng quát, ở striatum (một vùng của não bộ có liên hệ trong căn bệnh), của một lentivirus (hoàn toàn vô hại) trong đó 3 gène mã hóa cho những enzyme cần thiết cho sự tiết dopamine đã được đưa vào. Cocktail này được sản xuất bởi một công ty của Anh, Oxford BioMedica. Mục đích là có được một sự tiết dopamine liên tục và tại chỗ. Nhiều liệu khác nhau của lentivirus bị biến đổi đã được trắc nghiệm. ” Chúng tôi có thể nói rằng điều trị này đã được dung nạp tốt, GS Palfi đã xác nhận như vậy. Trên phương diện điều trị, những kết quả của chúng tôi ở người rất là đáng phấn khởi, nhất là với liều cao hơn. Nhưng thời gian nghiên cứu không phải là thời gian của truyền thống. Chúng tôi phải tiến bước, dừng lại, suy nghĩ. Đó là một nghiên cứu điều trị dài lâu.”
NHỮNG THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG MỚI
Trong khi chờ đợi những kết quả chi tiết, cần phải biết rằng thí nghiệm trên một nhom18 con khỉ macaque, được làm cho bị bệnh Parkinson bằng cách tiêm một độc tố, được thực hiện bởi cùng kíp nghiên cứu và được công bố trong tạp chí Translational Medicine tháng 10 năm 2009, đã là rất đáng phấn khởi. Sau một thời hạn 4 đến 6 tuần, những con vật được điều trị đã có một sự cải thiện 80% về mặt vận động, được đánh giá một cách khách quan. Kết quả này vẫn ổn định trong 12 tháng thí nghiệm. Ngoài ra, trái với điều trị với L-Dopa, liệu pháp gène đã không gây nên những cử động bất thường, cũng như những tác dụng phụ khác. Các nhà nghiên cứu đã có thể kiểm tra rằng sự cải thiện của những dấu hiệu lâm sàng tương ứng với một sự gia tăng nồng độ của dopamine trong vùng đã tiêm các gène điều trị. Họ cũng đã có thể xác lập rằng chiến lược này có thể hiệu quả ở những động vật đã được điều trị với L-Dopa, điều này cho phép hy vọng một sự giảm các liều lượng của L-Dopa.
Chẳng bao lâu nữa một thử nghiệm mới giai đoạn 2 sẽ được phát động trên một số lượng nhiều hon các bệnh nhân. Sẽ phải chờ đợi sự chuẩn nhận chiến lược bởi những thử nghiệm lâm sàng khác trước khi nghiên cứu này trở nên một điều trị thật sự trong thế giới hiện thực.
(LE FIGARO 30/10/2012)

9/ MỘT KHÁM PHÁ ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH ALZHEIMER
NEUROLOGIE. Một protéine kiểm soát sự loại bỏ cholestérol bởi các neurone.

            – Một sự quân bình tốt của cholestérol là cần thiết cho một hoạt động tối ưu của các neurone.
            – Các nhà nghiên cứu của UCL đã trỏ vào một protéine kiểm soát sự cân bằng này.
            – Những loại thuốc cho thấy những kết quả đầy hứa hẹn.

Mặc dầu vốn có tiếng xấu, tuy vậy cholestérol cần thiết cho cơ thể của chúng ta. Ta thường tưởng tượng cholestérol dưới dạng lắng đọng mỡ (dépôt graisseux) trong các động mạch nhưng nó cũng tham dự và nhất là vào cấu trúc của các thành của những tế bào của chúng ta hay vào sự chế tạo vài trong số hormone của chúng ta. Về mặt tỷ lệ, não bộ là cơ quan chứa nhiều cholestérol nhất. Ta tìm thấy ở đó khoảng 20% của cholestérol toàn thể trong khi nó chỉ chiếm 2% thể trọng của chúng ta. Não bộ tổng hợp cholestérol của mình, nhất là nhờ hoạt động của các neurone.
BẢO TỒN SỨC KHOẺ CỦA CÁC NEURONE
Từ hai mươi năm qua, các nhà khoa học biết rằng có một mối liên hệ giữa cholestérol và bệnh Alzheimer. Thật vậy, một công trình nghien cứu được công bố năm 1993 đã trỏ vào một yếu tố nguy cơ di truyền đối với bệnh Alzheimer : sự việc mang một allèle nào đó của protéine ApoE4, có nhiệm vụ vận chuyển cholestérol trong não bộ, làm tăng gấp 10 những cơ may phát triển căn bệnh thoái hóa thần kinh này. Những công trình nghiên cứu khác cũng đã chứng minh sự liên hệ của protéine précurseur d’amyloide (APP) trong sự xuất hiện của những thương tổn đặc trưng của bệnh Alzheimer, được gọi là những plaque sénile hay plaque d’amyloide.
Hôm nay, các nhà nghiên cứu của Université catholique de (UCL) công bố một công trình nghiên cứu trong tạp chí EMBO Molecular medicine tiết lộ rằng cũng protéine APP này kiểm soát sự tổng hợp và thải bỏ cholestérol bởi các neurone. Thế mà một turnover tốt của cholestérol ở các neurone cho phép giữ chúng trong ” tình trạng sức khoẻ tốt “.
Do đó, Giáo sư Jean-Noel Octave và Nathalie Pierrot, phụ trách nghiên cứu FNRS, gợi ý rằng một chuyển hóa bất thường của protéine này là nguyên nhân của một sự quân bình kém giữa sự tổng hợp và bài xuất cholestérol ở các neurone, và do đó , ảnh hưởng lên hoạt tính của những tế bào thần kinh này.
Khám phá này mở ra những hướng điều trị mới bệnh Alzheimer căn cứ trên không phải những anti-amyloide mà là những loại thuốc cho phép tái lập sự quân bình giữa tổng hợp và bài xuất cholestérol bởi các neurone.
” MỘT PHUƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI “
” Tính độc đạo của công trình nghiên cứu của chúng tôi đó không phải là thêm vào một phương pháp chống amyloide, Jena Noel Octave, giáo sư của Institut de neuroscience thuộc UCL đã giải thích như vậy. Điều trị có thể xuất phát từ sự khám phá vai trò của APP trong việc kiểm soát sự tổng hợp và bài xuất cholestérol, căn cứ trên những cơ chế khác nhau “, ông đã nói tiếp như vậy.
Lợi ích khác không phải là không đáng kể ; đã có những loại thuốc cho phép tái kích thích turnover của cholestérol ở các neurone. ” Những loại thuốc này đã được nghiên cứu trong một bối cảnh khác thí dụ trong những nghiên cứu lâm sàng về ung thư da.”
Những thí nghiệm được tiền hành trong phòng thí nghiệm trên các canh cấy neurone và trên các con chuột mô hình (souris modèles) của bệnh Alzheimer đã cho phép trắc nghiệm tính hiệu quả của loại thuốc này trong khung cảnh mới này. Những kết quả là đầy hứa hẹn vì lẽ trong hai trường hợp, việc cho hai loại thuốc này đã cho phép kích thích hoạt tính neuron in vivo và in vitro.
” Ở chuột, ta quan sát nhất là sự phục hồi một chức năng thiết yếu cho trí nhớ (mémorisation) “, Jean Noel Octave đã nêu rõ như vậy. Tuy nhiên ông xác nhận rằng bệnh Alzheimer vi là một căn bệnh phức tạp, nên cần phải có một liệu pháp nhiều yếu tố (thérapie multifactorielle) và một loại thuốc nhằm vào một cơ chế tự nó không thể giải quyết được vấn đề.
” Một công trình nghiên cứu lâm sàng trắc nghiệm các loại thuốc để kích thích sự tổng hợp và loại bỏ cholestérol bởi các neurone sắp được bắt đầu ở Cleveland ở Hoa Kỳ, Jean Noel Octave đã giải thích như vậy. Những nghiên cứu của các nhà khoa học Hoa Kỳ đã khiến họ quan sát thấy một sự cải thiện của các test comportemental và một sự giảm những plaque sénile khi họ nhờ đến những loại thuốc này ở những người bị bệnh Alzheimer. Do đó họ có ý định bắt đầu một nghiên cứu lâm sàng, GS Octave đã xác nhận như vậy. Điều mà họ đã không biết cho đến nay và điều mà họ sẽ khám phá với sự công bố những công trình của chúng tôi, đó là những kết quả của họ có lẽ liên quan den sự kích thích sự tổng hợp và loại bỏ cholestérol bởi các neurone “, vị giáo sư đã kết luận như vậy.
(LE SOIR 12/4/2013)

10/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG TÁC ĐỘNG LÊN NÃO BỘ
NEUROLOGIE. Sự dinh dưỡng có một vai trò trực tiếp lên sự phòng ngừa vài căn bệnh.

– Chocolat làm giảm 20% nguy cơ tai biến mạch máu não.
– Những thuốc trừ sâu có thể gây nên bệnh Parkinson
– Sau cùng, những nutricament có thể giúp làm thuyên giảm vài căn bệnh.

Tác dụng có lợi của rượu vang hay có hại của muối trên bình diện tim mạch đã được biết rõ. Nhưng quý vị có biết rằng chế độ ăn uống của chúng ta cũng có thể có một tác dụng lên não bộ của chúng ta và những căn bệnh của nó ? Đó là đề tài được đề nghị, trong khung cảnh tuần lễ quốc tế não bộ (semaine internationale du cerveau), bởi Đại học Liège (Bỉ).
” Sự tiêu thụ chocolat làm giảm 20% nguy cơ bị một tai biến mạch máu não”, BS Jean Schoenen, giáo sư thực thụ thuộc Đại học Liège về cơ thể học chức năng và thần kinh học và giám đốc của Đơn vị nghiên cứu về đau đầu, đã giải thích như vậy. Điều này được giải thích chủ yếu bởi sự hiện diện trong chocolat những flavonoide có một tác dụng bảo vệ và chống viêm.
Những phân tử này cũng hiện diện trong vài loại thức ăn và rau xanh, trong trà hay cả trong rượu vang. Một sự tiêu thụ đều đặn cà phê cũng đảm bảo tác dụng bảo vệ này.
Trái lại, vài sản phẩm hiện diện trong chế độ ăn uống của chúng ta có thể có một tác dụng có hại đối với não bộ của chúng ta. Sự liên quan của các thuốc diệt cỏ (herbicide) và những thuốc trừ sâu (pesticide) đã được chứng minh trong bệnh Parkinson. ” Điều đó không có nghĩa rằng tất cả những người thao tác các thuốc diệt cỏ đều sẽ phát triển bệnh Parkinson “, GS Jean Schoenen đã nói rõ như vậy. Nhưng điều đó có thể góp phần làm xuất hiện căn bệnh ở những người có một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique).
Sau cùng, vài nutricament (nghĩa là những chất bổ sung thức ăn, những dẫn xuất của các vitamine) có thể tỏ ra có hiệu quả trong điều trị những bệnh thần kinh.
Như thế, các oméga 3 có một tác dụng lên vài triệu chứng của bệnh Alzheimer (nhất là trên những năng lực ngôn ngữ). ” Cũng vậy, vitamine D đóng một vai trò trên bệnh xơ cứng rải rác. Còn về bệnh migraine, vitamine B2 liều mạnh hay coenzyme Q10 có thể giúp các bệnh nhân”, nhà chuyên khoa thần kinh đã nói tiếp như vậy.
Nhưng chú ý, nếu dinh dưỡng đóng một vai trò chủ chốt trên não bộ của chúng ta, ” đó chỉ là một khía cạnh của vấn đề “, GD Schoenen đã cảnh báo như vậy. Thí dụ, chế độ ăn uống thường bị cáo buộc trong bệnh migraine. Thế mà thầy thuốc chuyên gia kể lại rằng những công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên những bệnh nhân bị migraine bằng cách yêu cầu họ ghi chú tất cả những gì mà họ ăn nhằm xem điều gì có thể làm phát khởi các cơn. Kết quả ?
Những thức ăn bị quy kết hiếm khi được liên kết với các cơn. ” Rượu rõ ràng có liên quan trong các cơn migraine. Sau đó, có những người dị ứng đối với vài loại thức ăn hay với aspartame và điều đó làm phát khởi migraine. Nhưng điều đó khá ngoại lệ. Phần còn lại, đó là quy tắc, sự việc bỏ qua một bữa ăn, thiếu ngủ… chịu trách nhiệm migraine”, GS Schoenen đã tuyên bố như vậy.
Sau cùng, cũng có yếu tố di truyền : ” Từ hen phế quan đến cao huyet áp, qua commotion cérébrale, tất cả các căn bệnh có một nền tố bẩm di truyền (un fond de prédiposition génétique). Điều đó muốn nói rằng vài người có khuynh hướng phát triển một căn bệnh nào đó “, GS Jean Schoenen đã kết luận như vậy
(LE SOIR 12/3/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(26/5/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 308 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 495 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s