Thời sự y học số 306 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG CHIẾN LƯỢC HIỆU QUẢ CHỐNG BỆNH SÓN TIỂU.

       CHỨNG SÓN TIỀU
       (INCONTINENCE URINAIRE)                                             
                        Bằng các con số :
25% các phụ nữ bị liên hệ, nhất là sau thời kỳ mãn kinh
10% các người đàn ông cũng bị ảnh hưởng
10 đến 15 buổi phục hồi cơ năng đáy chậu (rééducation du périnée) có thể đủ để cải thiện một cách đáng kể chất lượng sống hàng ngày của những người bị bệnh.

Điều trị đầu tiên là phục hồi chức năng và tăng sức các cơ của vùng đáy chậu (périnée).
UROLOGIE. ” Gần một nửa các phụ nữ bị chứng són tiểu không đi khám bệnh, trong khi có nhiều giải pháp đơn giản”, GS Franois Haab, trưởng khoa niệu học của Bệnh viện Tenon, Paris, đã nhấn mạnh như vậy. Sự ngượng nghịu, ý thức số mệnh thêm vào sự không hay biết về các điều trị và sự sợ hãi bị mổ khiến bệnh nhân phải lùi bước. Thật vậy các phụ nữ là những đôi tượng đầu tiên bị nhắm đến vì lẽ 25% trong số họ bị bệnh này, chủ yếu sau thời kỳ mãn kinh, trong khi chỉ 10% những người đàn ông bị liên hệ mà thôi. Chứng són tiểu được định nghĩa như là một sự rò nước tiểu không tự ý (fuite involontaire d’ urine) : điều trị nhằm làm giảm sự khó chịu này ở một mức độ thỏa mãn đối với bệnh nhân.
Khi thăm khám lần đầu, các thầy thuốc sẽ cố gắng nhận diện nguồn gốc của chứng són tiểu, thường nhất là nhờ một bảng câu hỏi và một thăm khám lâm sàng đơn giản khi không một yếu tố nào cho phép nghi ngờ một bệnh lý liên kết.
” Điều quan trọng là xác lập được một catalogue mictionnel ngay trước lần thăm khám đầu tiên này “, BS Loic Le Normand, thầy thuốc niệu khoa thuộc CHU de Nantes và người phụ trách comité d’urologie et périnéologie de la femme trong Hiệp hội niệu học Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Chứng són tiểu lúc gắng sức (incontinence d’effort) thường gặp nhất, xuất hiện khi các phương tiện cầm giữ nước tiểu bị yếu đi, ở cơ vòng của cổ bàng quang và/hay các cơ của đáy chậu. Những gắng sức lập lại trên những yếu tố này giải thích chứng són tiểu : những lần sinh đẻ, tình trạng táo bón, chứng béo phì, sự lão hóa tự nhiên của các mô, áp lực của các cơ bụng. “Vậy yếu tố đầu tiên là làm mạnh các cơ bằng phục hồi chức năng vùng đáy chậu (rééducation du périné)”, GS Gérard Amarenco, trưởng khoa thần kinh thuộc bệnh viện Tenon (Paris) và chuyên gia phục hồi chức năng đã nhắc lại như vậy. Đó không phải là để cho máy thực hiện musculation thụ động mà học cách sử dụng các cơ đáy chậu để ngăn ngừa rò tiểu, bằng một thực tập (apprentissage) với một người chuyên nghiệp. Sự phục hồi chức năng đáy chậu (rééducation périnéale) đủ để giải quyết dài lâu phần lớn những trường hợp són tiểu, với điều kiện duy trì trương lực (tonicité) của đáy chậu bằng những luyện tập đều đặn. Sự phục hồi chức năng một bàng quang bị căng cũng có thể hữu ích đối với những phụ nữ uống quá nhiều và không có thời gian đi tiểu.” Phải uống và đi tiểu khoảng 1,5 l nước mỗi ngày, không nhiều hơn”, BS Le Normand đã nhắc lại như vậy.
Nếu một phục hồi chức năng đáy chậu được thực hiện tốt nhưng không mang lại hiệu quả sau 10 đến 15 buổi, có thể xét đến phẫu thuật đặt một bandelette, được đặt dưới niệu đạo (urèthre) để nâng đỡ nó khi tăng cường độ poussée abdominale khi gắng sức. Từ nay những dải dưới niệu đạo (bandelette sous uréthrale) này có thể được đặt trong ngày, bằng một đường xẻ duy nhất trong âm đạo và không có sẹo bên ngoài. Nếu cơ thắt (sphincter) là nguồn gốc của vấn đề, các kíp chuyên khoa có thể xét đến việc đặt những prothèse sphinctérienne hay những bóng nhỏ có thể điều chỉnh (ballonnet ajustable), những phương pháp này đang còn trong vòng nghiên cứu. Một thử nghiệm liệu pháp tế bào đầy hứa hẹn cũng vừa mới chấm dứt ở Pháp. ” Chúng tôi đã có thể quan sát những hiệu quả lâm sàng trên 5 bệnh nhân đã tham gia công trình nghiên cứu”, GS René Yiou, giám đốc trung tâm nghiên cứu ngoại khoa ở bệnh viện Henri-Mondor đã nhấn mạnh như vậy.
Chứng són tiểu do buồn tiểu khẩn thiết (incontinence par impériosité), mặc dầu hiếm xảy ra hơn, nhưng đặc biệt gây khốn khổ. Liên kết với những rối loạn thần kinh-cơ của bàng quang, chứng bệnh này dẫn đến một nhu cầu khẩn thiết muốn đi tiểu, không thể kềm chế được. Khi đó những rò tiểu quan trọng và khiến bệnh nhân phải tổ chức cuộc sống mình quanh thời gian an toàn cần thiết để có thể đến nơi đi tiểu. Những loại thuốc kháng choline (médicaments anticholinergiques) cho phép làm dịu bàng quang để gia tăng thời hạn an toàn. Mặc dầu có hiệu quả, những loại thuốc này có bất tiện là thường gây khô miệng và táo bón. Một loại thuốc mới, đặc hiệu hơn, tác dụng lên bàng quang và không gây tác dụng phụ, vừa mới được hiệu chính ở Nhật Bản. Loại thuốc này đã có bán ở nhiều nước châu Âu và ở Pháp từ nay đến vài tháng nữa sẽ nhận giấy phép đưa ra thị trường. Các chuyên gia Pháp cũng đang chờ đợi sự chấp thuận cua Sécurité sociale để thương mãi hóa toxine botulique vì độc chất này cho phép, trong vài trường hợp, tái lập sự tiểu tiện tự ý không bị rò tiểu. Sự kích thích điện những dây thần kinh kiểm soát cơ bàng quang cũng có thể mang lại một giải pháp cho vài bệnh nhân.
Việc xử trí chứng són tiểu có tính chất cơ năng : nó chỉ có thể được tiến hành khi xuất hiện những rò tiểu gây trở ngại. Để tránh sự xuất hiện của những triệu chứng này, những bài tập đơn giản cho phép duy trì trong suốt cuộc đời, như đối với tất cả các cơ của cơ thể, trương lực của các cơ đáy chậu.
(LE FIGARO 22/4/2013)

2/ CHỨNG ỈA ĐÙN VẪN LÀ MỘT CHỦ ĐỀ CẤM KỴ
Chứng són ỉa (ỉa đùn) (incontinence fécale) ảnh hưởng lên từ 2 đến 10% dân số, một con số khó có thể đánh giá bởi vì phần lớn người bị bệnh không bao giờ nói với thầy thuốc của mình và thường ngay cả với gia đình mình.” Đó là một chủ đề mà chính các thầy thuốc có thể có khuynh hướng không biết, vì cho rằng chứng bệnh này thuộc về những hậu quả của quá trình lão hóa”, GS Paul- Antoine Lehur, thuộc khoa ngoại tiêu hóa của CHU de Nantes đã lấy làm tiếc như vậy.
Trái với chứng són tiểu (đái dầm), chứng ỉa đùn vẫn là một chủ đề cấm kỵ, mặc dầu việc điều trị nó có thể biến đổi một cách triệt để chất lượng sống của các bệnh nhân. Chứng bệnh này xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng thường xảy ra hơn ở phụ nữ, nhất là ở những người có nhiều con với ít nhất một lần đẻ khó. Những kích thích tố và hoạt động vật lý có thể che khuất tình trạng yếu của các mô đáy chậu cho đến tuổi mãn kinh. Ở đàn ông, chứng ỉa đùn có thể xuất hiện sau một can thiệp trong hậu môn (bệnh trĩ, rò hậu môn) hay ở vùng kế cận (tuyến tiền liệt).
Chứng ỉa đùn có thể là do những rối loạn của cơ thắt, do một thiếu sót của thể tích trực tràng (volume rectal) gây nên những nhu cầu đại tiện cấp thiết (impériosités), những rối loạn tiêu hóa hay những thói quen xấu khi tống phân.
Cũng như đối với chứng són tiểu, sự phục hồi các cơ đáy chậu là yếu tố chống lại đầu tiên, liên kết với một vệ sinh ăn uống nhằm tránh những rò phân đôi khi do một ỉa chảy thường trực cũng như sự thiết đặt một nhịp độ đi cầu đều đặn, không rặn quá mức. Sự phục hồi chức năng có thể được thực hiện bằng tự thực hiện những bài tập đơn giản hay, trong vài trường hợp, ở những thầy thuốc vật lý trị liệu (kinésithérapeute) được đào tạo chuyên khoa trong lãnh vực này.
Khi những biện pháp này không đủ hay khi cơ thắt đã mất quá nhiều năng lực co bóp, khi đó có thể làm mạnh hơn sự đóng hậu môn bằng những kỹ thuật khác nhau. Kỹ thuật điều biến thần kinh (neuro-modulation) nhằm kích thích những racine sacrée của những dây thần kinh có liên quan, ở gần hậu môn hay bằng một phương pháp mới hơn, ở một nơi xa như mắt cá chân, cho những kết quả thỏa mãn đối với nhiều bệnh nhân.
HƠN MỘT TRIỆU TRƯỜNG HỢP
” Công tác nghiên cứu rất tích cực trong lãnh vực này, bởi vì ta ước tính rằng hơn một triệu người bị liên hệ ở Pháp”, GS Lehur đã xác nhận như vậy. Một sphincter pneumatique được cấu tạo bởi các ballonnet đã được phát triển, không thành công lắm bởi sự thực hiện phức tạp. Được xuất hiện mới đây, một vòng (anneau) được cấu tạo bởi nhiều bille magnétique dường như là một tăng cường đủ để mang lại cho các bệnh nhân một sự thoải mái nào đó. Sau cùng, những thử nghiệm liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) với những tế bào gốc cơ (cellules souches musculaires) có thể mang lại những giải đáp mới.
Vậy nhiều giải pháp, đôi khi đơn giản, có thể cải thiện tình huống một cách thỏa mãn trong đại đa số các trường hợp, thường chỉ cần thăm khám trực tràng, dĩ nhiên là không thoải mái. Một sự khó chịu ban đầu mà các thầy thuốc và bệnh nhân cần khắc phục vì các lợi ích được trông chờ.
(LE FIGARO 22/4/2013)

3/ ỈA ĐÙN : MỘT TIẾN BỘ BẰNG ĐIỀU BIẾN THẦN KINH (NEUROMODULATION)
BS Jerome Loriau, trưởng khoa ngoại tiêu hóa của nhóm bệnh viện Paris Saint-Joseph, giải thích tiến bộ to lớn này biến đổi đời sống của các bệnh nhân.
Hỏi : Ông hay nói với chúng tôi về chủ đề cấm kỵ này : chứng ỉa đùn (incontinence anale).
BS Jérome Loriau : Vì nhiều người bị bệnh không dám nói cũng như không đi khám bệnh, nên khó mà biết được một cách chính xác tần số của bệnh. Nhưng những điều tra ở Pháp đã cho thấy rằng ít nhất 6% dân số bị chứng bệnh này. Tuy nhiên đó chỉ là một phần của thực tế. Những bệnh nhân này bị một phế tật khủng khiếp : họ không có khả năng kiểm soát sự ỉa đùn, điều này hạn chế đời sống riêng tư, xã hội và nghề nghiệp của họ. Họ sợ không thể đi đại tiện đúng lúc. Trong những trường hợp nghiêm trọng, loạn năng này có thể dẫn đến chứng trầm cảm.
Hỏi : Những nguyên nhân của chứng ỉa đùn này là gì ?
BS Jérome Loriau : Có nhiều nguyên nhân. Chúng có thể do một biến chứng ngoại khoa ở hậu môn, do rách cơ thắt vì sinh đẻ liên tiếp và khó, do một phẫu thuật nặng nề để lấy đi một khối u, do lớn tuổi khi các cơ thắt bị giãn, do vài bệnh thần kinh như bệnh xơ cứng rải rác.
Hỏi : Cho mãi đến nay, ta điều trị những bệnh nhân bị ỉa đùn như thế nào ?
BS Jérome Loriau : Trước hết ta sử dụng những phương tiện đơn giản bằng cách kê đơn một chế độ ăn uống không résidu nhằm làm đặc bol alimentaire và những buổi phục hồi chức năng appareil sphinctérien. Bằng những biện pháp này, ta đã cải thiện chất lượng sống của hơn 50% những bệnh nhân, nhưng dĩ nhiên không chữa lành họ. Trong trường hợp thất bại, ta xét đến những kỹ thuật ngoại khoa phức tạp, nhưng ở đây những chỉ định rất hạn chế bởi vì sự loạn năng của cơ vòng không được quá quan trọng. Những kết quả vẫn còn ít thỏa mãn. Cho đến nay vài bệnh nhân vẫn còn không có những giải pháp điều trị.
Hỏi : Ông hãy giải thích cho chúng tôi kỹ thuật mới nhất được gọi là “điều biến thần kinh ” (neuromodulation) này ?
BS Jérome Loriau : Thầy thuốc ngoại khoa cắm một điện cực vào các rễ thần kinh phân bố vùng tiểu khung (petit bassin). Điện cực được nối với một một máy kích thích ngoài (stimulateur externe) (một hộp có kích thước 4 đến 5 cm) được đặt ở nịt quần hay được chuồi vào trong một túi quần. Máy kích thích này khi phát những xung động điện sẽ kích thích sự co của cơ thắt hậu môn, đồng thời tác động vào chức năng vận động của trực tràng và đại tràng. Thật vậy điện cực này đóng vai trò của một pacemaker (máy tạo nhịp) đối với sự tháo phân. Sau khoảng 15 ngày, khi hệ thống đã tỏ ra hoàn toàn có hiệu quả, ta cắm vĩnh viễn máy kích thích dưới da (ở phần cao của mông).
Hỏi : Cần những thăm dò nào trước khi xét đến can thiệp này ?
BS Jérome Loriau : Để tìm nguyên nhân khởi đầu của sự loạn năng cơ thắt hậu môn và kiểm tra rằng những giải pháp khác không thể thực hiện, ta thực hiện nhiều thăm dò : một siêu âm trong hậu môn (échographie endo-anale), đo áp lực của cơ thắt (manométrie anorectale), tìm kiếm vị trí sai (malposition) của các cơ quan của khung chậu (défécographie dynamique) và có thể một bilan dẫn truyền thần kinh (bilan électrophysiologique).
Hỏi : Việc cắm điện cực này phải chăng được thực hiện trong một trung tâm chuyên khoa ?
BS Jérome Loriau : Vâng, thế nhưng số lượng những trung tâm này ở Pháp vẫn còn được giới hạn vào khoảng một chục. Quyết định phải được thực hiện bởi một kíp nhiều chuyên khoa bao gồm một thầy thuốc chuyên bệnh hậu môn trực tràng (proctologue), một thầy thuốc ngoại khoa tiêu hóa, một thầy thuốc chuyên tiết niệu và đối với các phụ nữ, một thầy thuốc phụ khoa.
Hỏi : Ta thu được những kết quả nào với phương pháp điều biến thần kinh này ?
BS Jérome Loriau : Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế được thực hiện trên hàng ngàn bệnh nhân đã cho thấy, với một thời gian nhìn lại 5 năm, tính hiệu quả của điều trị và mức độ dung nạp tốt của nó. Một bất tiện duy nhất : implant phải được thay thế sau nhiều năm (như một pacemaker). Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng tính hiệu quả này tồn tại dài lâu ; 90% các bệnh nhận được cắm điện cực thấy chất lượng sống của mình được cải thiện một cách đáng kể.
(PARIS MATCH 8/5-15/5/2013)

4/ Ở ĐÀN ÔNG, TUYẾN TIỀN LIỆT LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA CHỨNG SÓN TIỂU
” Ở đàn ông, chứng són tiểu (incontinence urinaire) thường là do một can thiệp trong vùng đáy chậu, đặc biệt liên kết với một ung thư của tuyến tiền liệt”, BS Loic Le Normand, thầy thuốc niệu khoa thuộc CHU de Nantes đã nhấn mạnh như vậy. Di chứng này của điều trị, thường gặp, phải được điều trị nếu nó đã không biến mất 6 tháng sau khi phẫu thuật. Sự phục hồi chức năng đáy chậu (rééducation périnéale) là điều trị đầu tiên hữu ích trong trường hợp này. Cũng như đối với phụ nữ, sự phục hồi chức năng này phải được thực hiện ở một thầy thuốc chuyên khoa vật lý trị liệu. Vị thầy thuốc này sẽ dùng thời gian để làm cho bệnh nhân hiểu sự vận hành chức năng của các cơ đáy chậu và dạy cho bệnh nhân những bài tập cần lặp lại ở nhà để duy trì những hiệu quả của công tác phục hồi.
Nếu chứng són tiểu vẫn tồn tại sau 10 đến 15 buổi phục hồi chức năng, những điều trị khác có thể được xét đến. Những dải dưới niệu đạo (bande sous urétrale) có thể được đặt ở đàn ông, với một cơ chế vận hành khác với ở phụ nữ : trong trường hợp này, chúng dùng để đè lên niệu đạo chứ không nâng đỡ nó. Cơ thắt có thể đã bị thương tổn trong khi phẫu thuật, gây một sự són tiểu trầm trọng. Các prothèse sphinctérienne khi đó có thể được đặt, dễ dàng hơn so với ở phụ nữ. Các ballonnet ajustable, có tác dụng đè niệu đạo, hiện đang được đánh giá đối với những són tiểu hơi ít nghiêm trọng hơn hay, bởi vì chúng có thể được lấy đi, nên chúng có thể được đặt như là giai đoạn đầu tiên trước khi quyết định đặt một prothèse vĩnh viễn. Những phương pháp này thỏa mãn đối với 60 đến 70% các bệnh nhân.
Những người đàn ông cũng có thể bị những bệnh lý thần kinh-cơ của bàng quang, gây nên triệu chứng buồn tiểu cấp thiết, được điều trị như ở phụ nữ. Loại són tiểu này vì hiếm ở đàn ông, nên các thầy thuốc càng chú tâm loại bỏ sự hiện diện của một khối u, các sỏi đường tiểu hay một nhiễm trùng đường tiểu có thể gây són tiểu. Chẩn đoán dựa vào một vấn chẩn hoàn chỉnh để nhận diện những nguồn gốc khả dĩ bằng cách phân tích những thói quen tiểu tiện và ăn uống của bệnh nhân.
MỘT LỚP THUỐC MỚI.
Vậy tuyến tiền liệt có thể là nguyên nhân của chứng són tiểu khi sự phì đại ngăn cản bàng quan tháo hoàn toàn nước tiểu. Đôi khi tuyến tiền liệt bị cáo buộc nhầm là nguyên nhân của són tiểu khi những bệnh nhân già bắt buộc đứng dậy nhiều lần trong đêm để đi tiểu. ” Tuyệt đối phải xét đến việc sản xuất nhiều nước tiểu nhưng bình thường, trong đêm, khi ta già đi, trước khi xét đến việc cắt bỏ tuyến tiền liệt để điều trị những triệu chứng này”, GS François Haab, trưởng khoa niệu học của bệnh viện Tenon (Paris) đã chỉ rõ như vậy. Thật vậy những người già thích ăn những thức ăn ẩm ướt (aliments humides) vào buổi chiều : soupe, fromage trắng, tisane
Những phù nề do bất túc tĩnh mạch cũng tan đi trong đêm. Sau cùng, kích thích tố chống lợi tiểu (hormone antidiurétique), làm gia tăng sự sản xuất nước tiểu trong ngày có khuynh hướng mất tác dụng điều hòa này khi cao tuổi. Đo thể tích các lần tiểu tiện trong đêm cũng đủ xác nhận những tác dụng được dự kiến này.
Khi sự tăng hoạt tính bàng quang hay những rối loạn thần kinh được xác nhận, các thuốc kháng choline (anticholinergique) và phương pháp điều biến các dây thần kinh (neuromodulation des nerfs) là những điều trị thường được thực hiện nhất, trong lúc chờ đợi sự chấp thuận của một lớp thuốc mới và của toxine botulique.
(LE FIGARO 22/4/2013)

5/ JACQUES LISFRANC
Tên tuổi của vị thầy thuốc ngoại khoa này vẫn gắn liền với hai phương thức phẫu thuật do ông phát minh, một để tháo khớp vai trong vài giây đồng hồ, và một để cắt cụt chân ở articulation tarsométatarsienne. Tuy vậy ông sẽ phải chờ đến thế kỷ 20 mới được các đồng nghiệp công nhận.
Jacques Lisfranc de Saint-Martin sinh tháng tư năm 1787 ở Saint-Paul-en- Jarez (Loire). Cha ông là hậu duệ của 3 thế hệ thầy thuốc ngoại khoa và trả tiền cho ông để có một gia sư ở nhà. Jacques học văn chương và say mê kiếm thuật, khiêu vũ, bơi lội và tiện gỗ (tournage du bois) để mài dũa sự khéo léo của đôi bàn tay của mình.
Ông đi Lyon, ở đây sau nhiều năm học ở trung học, ông bắt đầu học y khoa ở Hôtel-Dieu. Sau hai năm, ông lên Paris, ở đây ông đậu thứ tám vào nội trú (internat), nhưng một năm sau, ông trở lại Lyon để làm sinh viên ngoại khoa (élève-chirurgien) ở Hôtel-Dieu lúc 23 tuổi. Tuy nhiên ông bắt buộc lên Paris để trình luận án trước Dupuytren nổi tiếng.
Nhưng Lisfranc bị trưng tập với tư cách thầy thuốc cho các quân đoàn đóng ở Đức. Ở đó, các bệnh viện trong tình trạng hoàn toàn thiếu thốn, không có mọi thứ đến độ chúng trở thành các nơi chất các xác chết (charnier). Lisfranc đã thực hành nhiều phẫu thuật cắt cụt và tháo khớp một cách xuất sắc và nhanh chóng.
SỰ THÀNH CÔNG VÀ NHỮNG TRANH ĐUA.
Sau khi hòa bình được lập lại, Lisfranc ở hẳn Paris và tham gia vào những công trình của Dupuytren, nhất là về các polype của các hố mũi. Chính vào năm 27 tuổi ông trình bày hai báo cáo về những thủ thuật tháo khớp vai và chân sẽ mang tên ông. Ông được bổ nhiệm làm thầy thuốc ngoại khoa của Bureau Central des Hôpitaux nhưng thi hỏng các kỳ thi tuyển vào ghế giáo sư Bệnh lý ngoại khoa, vì thiếu thế lực. Ông hy vọng một lá thư tiến cử của Duypuytren, sẽ trao cho ông một thư riêng cho ngài bộ trưởng nhưng đó chỉ là một vỏ chuối dưới đôi bàn chân của ông này bởi vì Lisfranc được mô tả như là “một thầy thuốc ngoại khoa tầm thường và ổn ào, một tay xúi giục cách mạng (un boutefeu révolutionnaire), một loại Brutus xin xỏ”.
Bị gạt ra khỏi chức vụ, Lisfranc được bổ nhiệm làm chirurgien en second ở Saint-Louis, rồi ông nạp đơn xin vào chỗ trống trưởng khoa ở bệnh viện La Pitié, ở đây lần nữa ông gặp phải sự thù địch của Dupuytren, nhưng lần này không thể ngăn cản sự bổ nhiệm của ông. Lisfranc đã thắng nhưng tuy vậy không được làm Giáo sư đại học y khoa. Ông tự ban cho mình tước hiệu không chính thức ” giáo sư ngoại khoa và y khoa phẫu thuật” và thực hiện những phẫu thuật trên xác chết.
Vào năm 1830, lúc 43 tuổi, ông đã dám cắt bỏ các cổ tử cung và là người đầu tiên trên thế giới công bố một phương pháp cắt cụt phần thấp của trực tràng vì ung thư, 16 năm trước khi phát minh gây mê tổng quát !
XUỐNG ĐỊA NGỤC
Lisfranc đã từ chối con đường vào đại học y khoa nhưng không từ chối con đường dẫn đến Institut de France. Nhưng cuộc đời được hướng định để sau 4 lần thất bại, ông còn được xếp thứ hai khi chức vụ của Dupuytren được bỏ trống sau khi ông này mất. Một chiến dịch bôi nhọ một lần nữa được tiến hành chống lại ông.
Vì mãi bị chống đối, Jacques Lisfranc trở thành paranoiaque. Trong khi lên lớp, ông không ngừng nói về ” những kẻ bẩn thỉu của đại học y khoa ” (les cochons de la faculté) đồng thời những kẻ chống lại cho ông là ” bị syncrasie colériconévralgique” ! Các sinh viên ngày xưa đã từng hoan hô ông nay bỏ những bài giảng của ông và hội trường hầu như vắng bóng khiến ông từ bỏ lúc 53 tuổi các buổi lên lớp ở hội trường để dành thời gian biên soạn những tác phẩm giảng dạy. Đó là 3 bộ sách ” De la clinique chirurgicale de La Pitié”, rồi những tập (fascicule) của ” Traité de médecine opératoire”.
MỘT KẾT THÚC SỚM
Sau Dupuytren, địch thủ của ông, Velpeau, giờ đây được bổ nhiệm. Cách nay 10 năm, ông này chỉ là phụ tá ở La Pitié và cũng như ông cho những bài giảng tư và đạt đến chức vụ mà Lisfranc bị từ chối. Nhưng cũng không bao lâu Velpeau cũng chịu nhiều cay đắng và nhiều người không còn chịu nổi tính chua cay của ông này.
Lisfranc liệt giường ngày 11 tháng tư năm 1847, lúc 60 tuổi, và chết một tháng sau, bị bệnh sốt từng cơn do một “viêm họng màng giả” (angine couenneuse).Thi hài ông được đưa đến nhà thờ Saint-Sulpice rồi đến nghĩa địa Montparnasse, được bao quanh bởi rất nhiều nhân vật khoa học, văn chương và chính trị nhưng chỉ vài đồng nghiệp hiếm hoi của ông.
Tuy nhiên các học trò của ông cho xây dựng một bas-relief trên mộ ông, ở đó ta có thể đọc được một trích đoạn của y khoa giải phẫu : ” Mặc dầu ngoại khoa là xuất sắc khi mổ xẻ, tuy nhiên nó lại còn xuất sắc hơn khi, mặc dầu không gây máu chảy và không cắt xẻo, vẫn chữa lành được bệnh nhân ” (Si la chirurgie est brillante quand elle opère, elle l’est encore bien davantage lorsque, sans faire couler de sang et et sans mutilation, elle obtient la guérison des malades).
(LE JOURNAL DU MEDECIN 22/3/2013)

6/ POTASSIUM BẢO VỆ CÁC ĐỘNG MẠCH VÀ NÃO BỘ.
Tổ chức y tế thế giới đã tiến hành một công trình phân tích méta rộng lớn, quy tụ 33 công trình nghiên cứu trên hơn 128.000 người để đánh giá những lợi ích của một sự cung cấp potassium và ảnh hưởng của nó lên những tác dụng có hại của sodium do một sự thặng dư muối. Ở Pháp sự tiêu thụ muối trung bình là từ 10 đến 12 g mỗi ngày. Mặc dầu những khuyến nghị là 3 lần ít hơn. Sự tiêu thụ quá mức này là nguyên nhân của 25.000 trường hợp tử vong và của 75.000 những trường hợp mới bệnh lý tim mạch. Phân tích méta xác nhận rằng liều lượng tối ưu của potassium phải nằm giữa 3,5 và 4,7 g. Liều này làm hạ rất rõ rệt huyết áp ở những người cao huyết áp và làm giảm ở họ 24% nguy cơ bị tai biến mạch máu não. Trong số những thức ăn nhiều potassium nhất là : các petits pois, các rau xanh, cà chua, bí rợ, chuối, chà là (datte).
(LE PARIS MATCH 2/5-7/5/2013)

7/ SỰ HAM MUỐN NHỤC DỤC CÓ THỂ ĐỌC ĐƯỢC TRONG NÃO BỘ
Theo một công trình nghiên cứu của Inserm, sự kích thích nhục dục (excitation sexuelle) được thể hiện bởi sự kích hoạt hay bất hoạt những vùng não bộ, nhìn chung đều như nhau dầu bản năng giới tính và định hướng nhục dục của những người liên hệ như thế nào. Những kiến thức mới này có thể cho phép hiểu rõ hơn những rối loạn về tình dục.
Não bộ, từng là đối tượng từ nhiều năm qua của nhiều nghiên cứu nhằm khám phá những điều bí mật, đang được phát hiện dần dần.
Bằng cách quan sát những vùng não bộ bị kích hoạt, từ nay có thể đoán điều mà một người cảm thấy hay đang thực hiện. Và dường như tính nhục dục (sexualité) của chúng ta không thoát được quy luật đó. Đó ít nhất là điều được xác nhận bởi BS Serge Stoloéru (Inserm) và các đồng nghiệp của ông thuộc nhóm nghiên cứu duy nhất ở Pháp chuyên về ham muốn nhục dục (désir sexuel). Nhân dịp Semaine du cerveau, họ đã tiết lộ một phần công trình của họ, gợi ý rằng ham muốn nhục dục, cũng như kích thích tình dục có thể được đọc thấy trong não bộ.
NHỮNG KỸ THUẬT CHỤP HÌNH ẢNH.
Những nghi vấn về những động lực của lòng ham muốn nhục dục, cái hiện tượng phức tạp được làm tăng thêm bởi biết bao bí ẩn, dần dần tìm thấy giải đáp nhờ những tiến bộ chụp hình ảnh cho phép quan sát trực tiếp sự vận hành chức năng của não bộ.
” Với tomographie à émission de positons hay IRM fonctionnelle, ngày nay ta có thể nhìn được não bộ và hoạt động của nó theo ba chiều không gian (vues en 3 dimensions)” BS Stoléru đã chứng thực như vậy. ” Điều này cho phép nghiên cứu một cách chính xác hơn những quá trình và những kích hoạt xảy ra trong não bộ. Ta không thể thấy một xung năng dục tính (pulsion sexuelle) nhưng ta có thể quan sát những biến đổi xảy ra trong não bộ vào lúc kích dục (excitation sexuelle).
Công trình nghiên cứu nhằm phân tích những phản ứng sinh lý, nói một cách khác sự cương (érection), và những đáp ứng não bộ của những người đàn ông trong lúc nhìn, trong IRM, một kích thích thị giác gợi dục như những hình ảnh hay những đoạn phim. Mục đích là nhận diện những vùng được kích hoạt do ham muốn nhục dục.
NHỮNG VÙNG CÓ LIÊN QUAN KHÁC NHAU
Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, tất cả những con người, dầu bản năng giới tính là gì, đều phản ứng cùng cách như nhau. Nói một cách khác, chính cùng những vùng não bộ được kích hoạt đối với mỗi cá thể. Chỉ có những kích thích thị giác gây những phản ứng tình dục là thay đổi (những phim gợi dục về những người khác phái hay đồng giới tính, tùy theo các sở thích) và tất cả những phản ứng này không xảy ra cùng lúc.
” Dầu những tiêu chuẩn hấp dẫn hay ghê tởm là gì, cơ chế của não bộ luôn luôn liên quan đến một vùng nằm trên các hốc mắt, vùng hốc mắt-trán (région orbito-frontale) của vỏ não”, Serge Stoléru đã nhấn mạnh như vậy. ” Chính vùng này bị kích thích khi ta nhìn một hình ảnh khiêu dâm.”
Tuy nhiên, trái với điều mà ta có thể nghĩ, lòng ham muốn nhục dục không hẳn là một thực thể đơn thuần và đồng nhất. Can thiệp vào sự ham muốn này có nhiều thành phần, đi từ những quá trình nhận thức (processif cognitif) đến những cảm xúc, nhưng cũng động cơ và những phản ứng vật lý. Và mỗi trong những thành phần này sẽ kích hoạt những vùng đặc biệt và góp phần theo cách của mỗi cá nhân vào sự phát sinh lòng ham muốn nhục dục.
Nếu như đó là tưởng tượng những động tác khiêu dâm, chính những thùy trán sẽ bị kích hoạt. Cảm xúc tình dục (émotion sexuelle) xảy ra ở hai hạnh nhân (amygdale), những vùng não bộ cho phép cảm thấy hay nhận thức những xúc cảm.
XÁC ĐỊNH TỐT HƠN NHỮNG RỐI LOẠN TÌNH DỤC
Ngoài những vùng của não bộ bị kích thích bởi sự ham muốn, nhà tâm thần học Pháp cũng đã quan sát những phần khác của não bộ bị tắt đi dưới tác dụng của kích dục và sau đó lại bùng lên.
Dầu thường xuyên bị tắt ngấm, những vùng này dùng để duy trì sự kích dục (excitation sexuelle), điều xảy ra trong vài bệnh lý như những khối u của thùy trán hay khi một cơn động kinh phát xuất trong những vùng này. Khi đó ta chứng kiến những hiện tượng tăng dục tính (hypersexualité), như những khoái lạc cực độ xảy ra tự nhiên (orgasme spontané). Ngược lại khi những vùng này thường xuyên bị kích hoạt, chúng dẫn đến một sự giảm mạnh hay biên mất của dục tính (libido).
Những kiến thức mới này không những cho biết nhiều hơn về những quá trình có liên quan trong bản năng giới tính. Theo BS Stoléru, chúng cũng có thể cho phép xác định tốt hơn những rối loạn dục tính, đặc biệt là ở những délinquant sexuel, như những pédophile. Hiện nay có những công trình nghiên cứu hiếm hoi gợi ý rằng lúc nhìn những hình ảnh trẻ em, não bộ của các pédophile đáp ứng bằng một sự kích hoạt của cùng những vùng não bộ xảy ra ở một người bị lôi cuốn bởi một người trưởng thành, và rằng đó là những đáp ứng não tự động, không cố ý.
(LE JOURNAL DU MDECIN 3/5/2013)

8/ CORONAVIRUS : 3 TRƯỜNG HỢP NGHI NGỜ Ở MIỀN BẮC NƯỚC PHÁP
Hai nhân viên y tế và một bệnh nhân đã bị tiếp xúc với một bệnh nhân bị lây nhiễm ở Cộng hòa ả rập thống nhất.
EPIDEMIE. Loại conavirus mới NCoV phải chăng đang thắng thế ở Pháp ? Câu trả lời phải được biết sáng nay. Hôm qua, một trường hợp nghi ngờ thứ ba đã được khai báo trong số đã bị tiếp xúc với bệnh nhân người Pháp đầu tiên, bị mắc phải loại virus tương cận với virus của SRAS. Agence régionale pour la santé (ARS) của Bắc Pas-de-Calais đã loan báo rằng một nữ y tá của bệnh viện Douai, nơi bệnh nhân người Pháp đã nằm viện từ 29 tháng tư và 8 tháng 5, đã có những triệu chứng sốt và hô hấp khiến phải thực hiện những thăm dò kiểm tra. Hôm trước, một thầy thuốc và một bệnh nhân của bệnh viện Valenciennes, cơ sở bệnh viện đầu tiên đã tiếp nhận bệnh nhân bị bệnh, cũng đã được xem như là có khả năng bị lây nhiễm. Chính ARS sẽ thông báo những kết quả của các phân tích.
Hiện nay, trường hợp duy nhất được xác nhận là một người đàn ông 65 tuổi, đã lưu trú ở Dubai từ 9 đến 17 tháng tư. Những trường hợp lây nhiễm đầu tiên ở người đã phát ra trong năm 2012 ở Arabie Saoudite, một quốc gia tiếp giáp với Emirats arabes unis. Bệnh nhân, vốn đã bị một bệnh mãn tính, trước hết đã được nhập viện ngày 22 tháng tư ở bệnh viện Valenciennes vì những rối loạn tiêu hóa. Sau đó ông ta đã được chuyển vào khoa hồi sức của bệnh viện Douai, ở đây xuất hiện nhưng rối loạn hô hấp dẫn đến cách ly ngày 2 tháng 5, rồi chuyển đến CHRU de Lille trong đêm thứ tư sáng thứ năm khi tình trạng bệnh nhân cần một hỗ trợ ngoài cơ thể (assisance extracorporelle) mà chỉ ở đây mới có thể có được. Được đặt trong phòng cách ly, hôm qua bệnh nhân ở trong một “tình trạng rất nghiêm trọng nhưng ổn định”, theo ARS.
Những người được theo dõi là một thầy thuốc của trung tâm bệnh viện Valenciennes, 35 tuổi, người nằm cạnh phòng của bệnh nhân trong bệnh viện này, một người đàn ông khoảng 50 tuổi, và một nữ y tá của trung tâm bệnh viện Douai. 3 bệnh nhân này có những triệu chứng hô hấp tương đối nhẹ và vì không có điều trị hiệu quả nên đã không nhận những loại thuốc đặc biệt. Nhưng xét vì khả năng truyền virus từ người sang người nên họ đã được đặt cách ly ở khoa truyền nhiễm của bệnh viện Tourcoing đối với thầy thuốc, và ở CHRU de Lille đối với bệnh nhân kia và nữ y tá.
THEO DÕI MỖI GIỜ
Coronavirus được thể hiện bởi một nhiễm trùng hô hấp cấp tính gây nên sốt, ho, khó thở. Vài bệnh nhân bị nhiễm cũng đã phát triển một suy thận cấp tính và những thương tổn tạng khác loại viêm ngoại tâm mạc, bộ y tế đã chỉ rõ như vậy.
Toàn bộ, khoảng 100 người bị tiếp xúc với người bệnh đã được giới hữu trách y tế Pháp nhận diện, theo dõi họ từng giờ, theo bà phó giám đốc của ARS của Bắc Pas-de-Calais, Sandrine Segovia-Keuny. Thời gian tiềm phục được đánh giá là 10 ngày, nhưng những thông tin về virus này vẫn còn rất tản mạn. Như thế hiện nay không thể nói là tỷ lệ tử vong có sẽ vẫn trên 50% hay không, như cho thấy 18 trường hợp tử vong trên 33 trường hợp hiện đếm được trên thế giới. SRAS (syndrome respiratoire aigu sévère), mà nCoV là một biến thể, cách nay 10 năm đã gây khoảng 800 trường hợp tử vong trên thế giới.
Bộ y tế đã thiệt dặt một numéro vert (0800.13.00.00) từ thứ hai đến thứ bảy, từ 9 giờ đến 19 giờ) để trả lời những câu hỏi của công chúng. Trong trường hợp nhiễm trùng hô hấp sau một chuyến du lịch trong bán đảo Ả rập, bộ y tế khuyên thăm khám thầy thuốc gia đình của mình hay gọi centre 15 đồng thời báo cáo chuyến du lịch của mình
(LE FIGARO 11/5-12/5/2013)

9/ MỘT VIRUS GIẾT NGƯỜI MỚI ĐỂ LỘ CÁCH TÁC DỤNG
VIROLOGIE. Các nhà nghiên cứu Hòa Lan đã tìm thấy một chỉ dấu quan trọng để giải thích sự lan truyền của một virus mới và đáng sợ, hCoV-EMC. Được khám phá vào cuối năm 1912 ở một bệnh nhân bị chết ở Arabie saoudite, coronavirus này là một ” cousin” (anh em họ) của virus gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SRAS : syndrome respiratoire aigu sévère), từng hoành hành ở Hồng Kông năm 2003. Cũng như nó, virus hCoV-EMC gây nên những biến chứng hô hấp quan trọng, thậm chí những suy của vài cơ quan (thận). Cuối tháng ba, virus này đã chỉ được phát hiện ở 15 bệnh nhân, nhưng 9 bệnh nhân bị chết vì nó. Mặc dầu ta còn xa quy mô dịch bệnh toàn cầu, nhưng cách truyền của virus này gây lo ngại : mặc dầu nguồn gốc của virus là động vật (dơi), nhưng từ nay nó có thể lan truyền từ người qua người. Thật vậy những trường hợp mới đã được xác nhận ở Anh vào tháng hai, ở những người sau khi đã đi du lịch…Kíp nghiên cứu của trung tâm y tế Erasmus (Rotterdam) đã khám phá rằng đường vào của virus để gây nhiễm nơi người là một thụ thể được gọi là DPP4, nằm ở màng của các tế bào của đường hô hấp hay của thận. Thế mà protéine này hiện diện ở nhiều loài, trong đó có loài dơi. ” Chúng tôi tìm cách phong bế sự tương tác giữa virus và protéine DPP74 này, và tìm cách khám phá xem loài người có thể bị lây nhiễm bởi một loài khác hay không. Virus có thể quá cảnh qua heo, chó hay khỉ “, Bart Haagmans, đồng tác giả của các công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.
(SCIENCE ET VIE 5/2013)

9/ CÓ NÊN SỢ MỘT ĐẠI DỊCH TOÀN CẦU MỚI ?
Phải chăng chúng ta đang ở giai đoạn đầu của một đại dịch toàn cầu mới như trận dịch SRAS, chịu trách nhiệm năm 2003 hơn 8000 trường hợp trên thế giới và gần 800 trường hợp tử vong ? Cho đến hôm nay có những yêu tố gây lo ngại bằng với những tín hiệu trấn an về sự xuất hiện của coronavirus mới (NCoV) vào năm 2012 ở vùng Trung Đông. Ngay hôm thứ tư, BS Françoise Weber, nữ giám đốc của Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire) nhắc lại rằng ” Cho đến hôm nay, sự lan truyền giữa người với người dường như rất giới hạn “, điều này thuận lợi cho khả năng kiểm soát tình hình. Ngoài ra vào tháng hai vừa qua, chỉ có hai trường hợp bị nhiễm (trong đó một trường hợp tử vong) được phát hiện ở Anh quanh một bệnh nhân, chính bệnh nhân này bị nhiễm khi lưu trú ở Qatar, mặc dầu 160 người đã bị tiếp xúc với bệnh nhân này. Mặt khác, mặc dầu coronavirus là một họ virus to lớn, vẫn còn khó xác định một cách chính xác tiềm năng độc hại của virus này trên quy mô toàn thế giới. Tỷ lệ tử vong dường như cao, trên 50% trong trường hợp bị nhiễm, nhưng có thể những trường hợp lành tính xảy ra không được nhận biết. Nhất là những thông tin phát xuất từ Arabie saoudite rất là tản mạn.
Một tình trạng mù mờ khiến gợi lại khởi đầu của trận dịch SRAS năm 2003. Là tác giả của một cuốn sách về những kíp di động nhanh của CDC (Centre pour le controle et la prévention des maladies) ở Atlanta, nữ phóng viên phàn nàn về sự thiếu thông tin đối với những trường hợp ở Arabie saoudite, đặc biệt trong môi trường bệnh viện, cũng như trường hợp xảy ra đối với Trung Quốc. Một sự mờ mịt làm chậm lại sự hiểu biết về virus : ” Đó là một mối ưu tư quan trọng bởi vì các bệnh viện đã đóng một vai trò chủ chốt trong khởi đầu của sự bành trướng của SRAS. Ngoài ra, vì tính chất nhanh chóng của các chuyến du hành, nên có thể là virus đến trong những nước mới, nhất là trong các hệ thống điều trị, trước khi sự hiện hữu của virus được nhận biết. Điều này có nghĩa là những biện pháp thận trọng thích đáng để tránh sự truyền của virus từ bệnh viện này qua bệnh viện khác có nguy cơ không được áp dụng đúng lúc.”
BS Ali Moh Zaki, chuyên gia về virus đầu tiên nghi ngờ coronavirus ở một bệnh nhân saoudien 60 tuổi, được nhập viện ở Djeddah (Arabie saoudite), đã bị gạt bỏ nhanh chóng và bị đuổi về nước của mình, Ai Cập, vì đã báo cáo trường hợp này cho một mạng theo dõi quốc tế. Tuy nhiên thái độ của giới hữu trách Arabie Saoudite dường như đã thay đổi trong những tuần qua với một sự trong sáng lớn hơn về những trường hợp mới được phát hiện. Các kíp chuyên gia đã được chờ đợi tại chỗ.
Đáng quản ngại là sự mô tả của BS Ali Moh Zaki về bệnh nhân đầu tiên trong New England Journal of Medicine ngày 8 tháng 11 năm 2012. Bài báo này xác nhận những điểm tương tự với SRAS, nhất là khả năng gây nên những thương tổn hô hấp quan trọng và một sự suy của những cơ quan khác nhau, điều này gây phức tạp sự thông khí nhân tạo khi cần thiết. Coronavirus dường như chúng còn nguy hiểm hơn khi trước đó đã có một tình trạng sức khỏe kém. Thí dụ, trong hai anh em bị lây nhiễm bởi người bệnh được nhập viện ở Manchester sau một thời gian lưu trú ở Trung đông, chỉ có cậu con trai, vốn đã bị bệnh nặng và đang được điều trị suy giảm miễn dịch là bị tử vong.
Như mỗi khi đối với virus, thật khó mà nói trước được. Rằng coronavirus mới này có được một năng lực truyền bệnh giữa người với người và rồi khả năng đó sẽ bị thay đổi đột ngột. Do đó sự cảnh giác là biện pháp thích đáng.
(LE FIGARO 11/5-12/5/2013)

10/ SỰ THIẾU NGỦ TÁC ĐỘNG LÊN CÁC GENE
Vài gène được biểu hiện một cách khác nhau tùy theo ta đã ngủ đủ hay ta thiếu ngủ : đó là kết luận của các nhà nghiên cứu của đại học Surrey (Anh). Những người tình nguyện trẻ, bị buộc ngủ 6 giờ mỗi đêm trong một tuần, đã được so sánh với một nhóm chứng, được cho phép ngủ 9 giờ mỗi đêm. Rồi, ARN máu của họ (chỉ dấu của sự thể hiện của ADN của chúng) đã được phân tích trong 48 giờ sau, trong đó những người tham gia được giữ tỉnh ngủ. Các kết quả : các gène có liên quan trong nhịp ngày đêm (rythme circadien) và sự chuyển hóa bị ức chế do sự hạn chế giấc ngủ, trong khi những gène liên kết với sự đáp ứng với tình trạng stress, với những khả năng phòng vệ miễn dịch và với quá trình viêm thấy biểu hiện được khuếch đại. Một cơ chế sinh học giải thích, ít nhất một phần, những vấn đề sức khỏe mà những người không ngủ đủ gặp phải : chứng béo phì, các bệnh tim mạch, sự sụt giảm các khả năng phòng vệ miễn dịch, hay sự thiếu sót nhận thức (déficit cognitif).
(SCIENCES ET VIE 58/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/5/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 306 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 530 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s