Cuộc “thánh chiến” chống viêm gan C, sát thủ thầm lặng

Có từ 150 đến 200 triệu người bị nhiễm virus viêm gan C trên toàn thế giới, không kể một số lượng rất lớn chưa được phát hiện. Chỉ riêng tại Pháp đã có khoảng 220.000 người bị nhiễm virus này. Mặc dù Pháp là một trong những nước theo dõi bệnh này sát sao nhất nhưng 40% trong số này vẫn không biết mình mắc bệnh. Vì vậy, các chuyên gia đã gọi bệnh viêm gan C là “sát thủ thầm lặng”. Bởi vì bệnh tiến triển rất chậm và khoảng từ 20 đến 30 năm sau khi bị nhiễm virus viêm gan C, bệnh mới chuyển sang xơ gan hay ung thư.

LỊCH SỬ CĂN BỆNH
Câu chuyện về viêm gan C khởi đầu từ năm 1976. Một nhà nghiên cứu người Mỹ, tên là Harvey Alter, đã cho thấy phần lớn các trường hợp viêm gan sau khi truyền máu không do virut viêm gan A hay B mà liên quan đến một loại virut khác, được đặt tên là virut “NonA-NonB”. Sau cùng, vào năm 1986, virut “NonA-NonB” được đặt tên chính thức là virut viêm gan C. Nhờ phát hiện ra virut viêm gan C (VGC) mà nhịp độ lây nhiễm điên cuồng của bệnh đã giảm đi đáng kể nhờ các biện pháp phòng ngừa trong truyền máu và tiêm chích, nhất là đối với các đối tượng tiêm chích ma túy.Thành quả đầu tiên của các nhà nghiên cứu là thu thập được các dữ liệu về virut, nhờ đó mà có thể phân loại virus VGC thành 4 nhóm chính là genotyp 1, 2, 3 và 4. Đó là bước đầu cho cuộc “thánh chiến” chống viêm gan C. Giống như các loại viêm gan khác, virut VGC cũng tấn công vào tế bào gan. Tại đây tổn thương đã tăng lên gấp bội lần, không phải chỉ do virut trực tiếp gây ra mà còn do hệ miễn dịch của người bệnh. Thật vậy, hệ miễn dịch đã hủy diệt tế bào gan bị nhiễm virut. Với mục đích hạn chế sự lan truyền của virut, hệ miễn dịch đã tạo ra các vết sẹo trên gan và ngăn chận sự hồi phục của tế bào gan. Đó chính là tiền đề của sự hình thành xơ gan mà chúng ta cần đánh giá độ xơ của tế bào gan để theo dõi sự tiến triển của bệnh. Tiến trình này diễn ra rất âm thầm trong một thời gian dài vài chục năm, rồi biểu hiện trên lâm sàng bằng sự rối loạn chức năng gan như vàng da, nổi mề đay, suy nhược… Các triệu chứng có thể tiềm ẩn trong 5-10% trường hợp rồi sau đó phát triển thành xơ gan hoặc ung thư gan.Từ lâu nay, liệu pháp kinh điển chữa trị viêm gan C không đem lại hiệu quả mấy. Liệu pháp thường kết hợp 2 loại thuốc kích thích hệ miễn dịch bao gồm: Ribavirin (uống 2 lần mỗi ngày) và Interferon (tiêm hàng tuần). Tuy nhiên, thuốc gây ra nhiều tác dụng phụ như rối loạn hành vi, thiếu máu, hội chứng cảm cúm, mệt mõi… và hiệu quả cũng rất khiêm tốn, chỉ khoảng 30-50%.

BƯỚC TIẾN THẦN KỲ
Tất cả những chuyện trên chỉ còn là một kỷ niệm đáng quên theo đánh giá của các chuyên gia mà đại diện là TS Jean-Michel Pawlotsky, giám đốc Trung tâm quốc gia nghiên cứu viêm gan thuộc Bệnh viện Henri-Mondor de Creteil, Pháp.
Từ năm 2009, có sự tiến bộ đáng kể về việc khắc phục các tác dụng phụ, không gây hiện tượng kháng thuốc, nhờ đó đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu đã công bố sự thành công mới trong điều trị viêm gan C, rút ngắn liệu trình điều trị xuống còn 2-3 năm.Tương tự như trong điều trị HIV, các phân tử kháng virut VGC cũng nhắm vào các giai đoạn nhân bản của virut, chủ yếu là 3 men: protease (men cần thiết trong sự biến dưỡng protein để tăng trưởng), Polymerase (không có men này thì virut không thể tạo ra nguyên liệu gen ở tế bào bị lây nhiễm) và cuối cùng là phức hợp protein NS5A (một trong những trung tâm điều hòa men polymerase). Các loại khác nhau của các phân tử này có khả năng chấp nhận đa liệu pháp tấn công virut trên nhiều mặt trận cùng một lúc. Để điều trị khẩn cấp các dạng genotyp mà liệu pháp cổ điển không mấy hiệu quả, các nhà nghiên cứu đã cho ra đời 2 loại thuốc kháng protease đầu tiên vào cuối năm 2011, đó là Boceprevir và Telaprevir. Kết hợp với liệu pháp 2 loại thuốc cổ điển, các phân tử này đã gia tăng đáng kể hiệu quả chống virut lên 80%. Tuy nhiên, thật đáng tiếc vì cái giá phải trả cho phản ứng phụ quá cao!Các hãng bào chế thuốc thuộc hạng đại gia cũng đã xảy ra cuộc chiến “khốc liệt” để sớm đưa ra loại thuốc hiệu quả nhất, dễ dung nạp nhất và ít tác dụng phụ nhất. Một vài phân tử đã được thử nghiệm hàng loạt trên bệnh nhân đã gặt hái được kết quả thần kỳ mà cách đây 5 năm các nhà nghiên cứu cho là hoang tưởng: virut đã bị tiêu diệt chỉ trong vài ngày! Trong số các phân tử đầy hứa hẹn này, nổi bật nhất là Daclatasvir (anti-NS5A) và Asunaprevir (kháng-protease) có khả năng điều trị lành bệnh đến 90% những bệnh nhân chưa hề điều trị, cũng như không cần dùng đến interferon lẫn ribavirin. Có cùng hiệu quả đó là 2 loại phân tử Danoprevir (kháng-protease) và Mericitabin (kháng-polymerase). Chữa lành bệnh 100% không còn là một ảo tưởng nữa. Trong vòng 3 năm nữa chuyện đó sẽ thành hiện thực! Một câu chuyện thần kỳ!
(Theo Science&Vie, 9/2012)

BS NGUYỄN VĂN THÔNG
DrThong007@gmail.com

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s