Thời sự y học số 303 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ DERMATOLOGIE

1/ NGỨA : KHI GÃI TRỞ THÀNH NỖI ÁM ẢNH
Triệu chứng thường gặp nhất trong bệnh ngoài da, ngứa có thể làm cho cuộc sống không chịu nổi.
DEAMANGEAISON. Định nghĩa của nó đã có từ thế kỷ XVII, nhưng ta đã không tìm thấy tốt hơn : “ Ngứa là một cảm giác khó chịu tạo nên nhu cầu khẩn thiết phải gãi ”. Ngứa (prurit) và gãi liên kết một cách không thể tách rời. Là phản ứng sinh lý, ngứa đôi khi là triệu chứng của một căn bệnh thật sự và có thể, cũng như triệu chứng đau, làm hỏng cuộc sống, gây nên mất ngủ hay trầm uất. Bây giờ ta biết rằng ngứa không phải là một “ petite douleur ”. Trái với điều mà đã từ lâu ta hằng tưởng, những đường thần kinh của ngứa và của đau khác nhau, GS Laurent Misery, thầy thuốc chuyên khoa bệnh ngoài da (CHU Brest) đã chỉ rõ như vậy.

Sự hiện diện của các thụ thể (récepteur) riêng cho ngứa trên các tận cùng thần kinh tự do của các sợi thần kinh cảm giác đặc hiệu trong biểu bì từ nay được chấp nhận. Những sợi thần kinh cảm giác đặc hiệu được hoạt hóa một cách chọn lọc bởi histamine, chất trung gian sinh học thường gặp nhất của ngứa, đã được nhận diện. Mới đây, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã mô tả những neurone trong tủy sống mà những tận cùng biểu bì có những thụ thể nhạy cảm với những inducteur gây ngứa khác. Sự ức chế những neurone này làm biến mất ngứa nhưng không biến đổi tính nhạy cảm đối với đau đớn. Bởi vì các ngứa không histaminique thường khó điều trị, vì không có thuốc có hiệu quả, nên công trình này có thể mở đường cho những loại thuốc mới.
NHIỀU NGUYÊN NHAN
Một triệu chứng ngứa có thể có nhiều nguyên nhân, trước hết phải nhận diện những nguyên nhân này và điều trị chúng. Ngứa mãn tính (prurit chronique), keo dài hơn 6 tuần, có trong 9 trường hợp trên 10, một nguyên dân ở da. Những bệnh da chính chịu trách nhiệm ngứa mãn tính là eczéma và mày đay, cũng như bệnh vẩy nến (psoriasis), từ lâu được xem làm là không gây ngứa.
Trong eczéma, phản ứng viêm của da đứng ở hàng đầu. Vậy điều trị trước hết dựa trên các dermocorticoides. Những thuốc này làm giảm ngứa nhờ làm giảm phản ứng viêm. “ Trong chứng mày đay, chính sự phóng thích histamine bởi những tế bào của da, những dưỡng bào (mastocyte) là nguồn gốc của ngứa. Những antihistaminique anti-H1, được hướng chống lại thụ thể H1 của histamine, vậy là điều trị chuẩn, điều trị duy nhất có AMM trong bệnh mày đay ” , GS Marie-Sylvie Doutre (CHU de Bordeaux) đã chỉ rõ như vậy.
TÁI TẠO HÀNG RÀO DA.
Thường, chẩn đoán chứng mày đay, với những mảng đỏ rất ngứa, di chuyển hoặc biến mất một sớm một chiều, không gặp khó khăn. “ Nguyên nhân của một mày đay cấp tính (urticaire aigue) thường được tìm thấy, nhưng, trong 70% các mày đay mãn tính, không một yếu tố phát khởi nào đã được nhận diện ”, thầy thuốc chuyên về bệnh ngoài da đã xác nhận như vậy. Ở vài người, các dưỡng bào da (mastocytes cutanés) sản xuất histamine luôn luôn hơi được hoạt hóa, đủ để phóng thích histamine và gây ngứa, nhưng không đến mức phát khởi chứng mày đay : chính gãi làm phát khởi mày đay, dưới dạng những vạch đỏ, nơi da đã được gãi. Chứng da vẽ nổi (dermographisme) này gây bệnh cho 2 đến 3% dân chúng.
Nguyên nhân khác gây ngứa dữ dội, chấy (poux) và ghẻ (gale), được nghi ngờ ngay khi nhiều thành viên trong cùng gia đình đều gãi. Ghẻ gây ngứa quan trọng, thường giữa các ngón tay và ở cổ tay, nơi những rãnh (sillon) đôi khi có thể thấy được, biến mất sau khi trừ tiệt. Những ký sinh trùng ruột có thể là nguồn gốc của ngứa hậu môn dữ dội ở trẻ em, trong khi ngứa hậu môn-sinh dục (prurit ano-génital) ở người lớn khiến phải tìm kiếm một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục hay một nguyên nan trực tràng hậu môn. Trong dưới 10% các trường hợp ngứa mãn tính, một bệnh toàn thân là nguyên nhân. Nhiều bệnh lý gan mật, trong đó có viêm gan C, được kèm theo hoặc đôi khi được đi trước bởi một triệu chứng ngứa dữ dội, thường vào ban đêm, do sự ứ đọng các muối mật trong da, ở đây chúng gây nên sự tạo thành các opiacés endogènes có tác dụng kích hoạt các thụ thể của ngứa. Trong suy thận mãn tính, ngứa thường quan trọng, đôi khi được làm giảm bớt nhờ thẩm tích (dialyse), luôn luôn nhờ ghép thận. Nếu một ngứa đơn độc, không có dấu hiệu nào khác, trước hết phải nghĩ đến một nguyên nhân do thuốc, ngứa cũng có thể, rất hiếm, phát hiện một thời gian lâu trước những dấu hiệu khác một lymphome da như bệnh Hodgkin, luôn luôn cần được tìm kiếm. Bệnh đái đường, các bệnh tuyến giáp, sự thiếu hụt sắt, những bệnh thần kinh (xơ cứng rải rác, tai biến mạch máu não) cũng có thể gây nên ngứa, cũng như vài độc chất, trong đó có opiacés.
Vài thời kỳ của đời sống thuận lợi hơn cho sự xuất hiện một triệu chứng ngứa, như tuổi ấu thơ với dermatite atopique. Khá hiếm, ngứa thai nghén (prurit gravidique), xảy ra ở những phụ nữ cuối kỳ thai nghén, là một dạng đặc biệt của ngứa ứ mật (prurit cholestatique). Ngứa lão suy (prurit sénile), thường xảy ra ở những người già và được khuếch đại do da khô, chủ yếu do sự lão hóa của hệ thần kinh da, bởi một cơ chế tương tự những rối loạn désafférentation của những người bị cắt cụt chi. Cũng như trong mọi loại ngứa khác, những săn sóc tại chỗ để hydrater và tái tạo hàng rào da (barrière cutanée) là một bộ phận của điều trị.
Ngứa cũng có một thành phần tâm thần (composante psychique) quan trọng, thể hiện sự thay đổi trong sự cảm nhận của mỗi cá thể. Một tình trạng ngứa dai dẳng có thể khó chịu được, gây nên nhưng rối loạn trầm cảm, và, ngược lại trạng thái tâm thần ảnh hưởng lên sự cảm nhận và tiến triển của ngứa.
(LE FIGARO 11/3/2013)

2 /NGỨA : MỘT KHO VŨ KHI TRỊ LIỆU SẼ CÒN ĐƯỢC MỞ RỘNG.
Điều trị ngứa đôi khi khó và khi đó phải mò mẫm để có được những kết quả không phải luôn luôn đáp ứng mong chờ của các bệnh nhân.
Các antihistaminique được kê đơn một cách hệ thống trong mày đay (urticaire), bởi vì các antihistaminique này đặc hiệu đối với chất trung gian (médiateur) thường liên hệ nhất trong triệu chứng ngứa, histamine. “ Các antihistaminique anti-H1 có hiệu quả đối với tất cả các mày đay. Những thuốc antihistaminique xưa nhất, cũng có một hiệu quả an thần, được kê đơn ít hơn nhiều so với những histaminique thuộc thế hệ thứ hai không có bất tiện này, nhưng đôi khi hữu ích đúng lúc khi ngứa làm mất ngủ. Mặc dầu điều trị được tiến hành tốt, dưới 10% những triệu chứng ngứa của mày đay đề kháng với điều trị. Nhưng đôi khi phải thử nhiều loại thuốc để tìm ra thuốc tốt, GS Marie-Sylvie Doutre đã giải thích như vậy. Tuy nhiên, vì liều lượng được khuyến nghị dường như không luôn luôn đủ đối với tất cả các bệnh nhân, nên một công trình nghiên cứu quốc gia chẳng bao lâu sẽ được phát động để cho phép chúng ta quyết định dứt khoát. Đối với GS Laurent Mosery, các antihistaminique đôi khi được kê đơn ngay cả trong các trường hợp ngứa mà chất trung gian này không can thiệp, bởi vì tác dụng placebo có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự cải thiện của chúng ”. Các dermocorticoide cho phép dập tắc viêm khi nó hiện diện, nhưng chỉ được sử dụng một cách tạm thời.
APPROCHE MULTIDISCIPLINAIRE
Những loại thuốc khác, tác dụng cao hơn trong sự dẫn truyền của thông điệp thần kinh (message nerveux), đôi khi cũng được sử dụng, như naltrexone, một thuốc điều trị chứng nghiện rượu măn tính có hiệu quả trong các triệu chứng ngứa do gan (prurit hépatique), hay vài thuốc hướng thần (psychotropes) an thần kinh (neuroleptiques), chống trầm cảm hay giải âu (anxiolytiques), cũng tác dụng lên thành phần lo âu-trầm cảm của nỗi khổ được gây nên bởi một ngứa dữ đợi mãn tính. “ Các thuốc chống động kinh như prébagaline (Lyrica) và gabapentine (Neurontin), hay vài opiacés hoạt hóa vài thụ thể đối với opiacés dường như cũng đáng lưu ý, nhưng sự sử dụng chúng thuộc về một điền trị chuyên môn ”, thầy thuốc chuyên bệnh ngoài da đã xác nhận như vậy.
Sự điều trị bằng các tia tử ngoại (puvathérapie) có một tác dụng chống ngứa do phá hủy các tận cùng thần kinh tự do, nhưng chỉ tạm thời. Nhiều đường nghiên cứu dường như đầy hứa hẹn như các đường của các thụ thể PAR2 của các sợi thần kinh da, mà các chất trung gian đóng một vai trò còn quan trọng hơn histamine trong chứng ngứa, hay cả những thụ thể TPRV1, với những thuốc đã được phát triển.
Trong số những điều trị tại chỗ, các thuốc làm dịu (émollient) hữu ích bởi vì da khô làm dễ việc tái tạo lớp sừng ngoại biên của da. Những điều trị tại chỗ chống ngứa làm giảm ngứa và cho phép phá vỡ vòng luẩn quẩn ngứa-gãi, bằng cách dạy cho bệnh nhân thay thế động tác gãi, tấn công da và gia tăng ngứa, do dùng thuốc đắp. “ Cũng phải tránh những sản phẩm vệ sinh (produits d’hygiène) có tính chất kích thích, chọn một savon hay một gel de toilette càng dịu càng tốt, không quá xông hương cũng không gột sạch (détergent), tránh nước quá nóng ”, GS Doutre đã giải thích như vậy. Nước lạnh có một tác dụng chống ngứa. Trong ngứa lão suy (prurit sénile), talc de Venise dường như có một tác dụng làm dịu.
“ Sự xử trí ngứa, đó tính chất đa dạng của các nguyên nhân, cần nhờ đến spécialités médicales và phải có tính chất nhiều chuyên khoa. Đó là điều đã được thực hiện đối với đau, với sự thành lập những trung tâm quy chiếu (centre de référence) rất có hiệu quả. Mong rằng cùng phương pháp tiến hành, vốn đã được thực hiện ở nước ngoài, cũng được chấp nhận đối với ngứa, mà ảnh hưởng vẫn còn bị xem nhẹ trong đất nước chúng ta ”, GS Misery đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 11/3/2013)

3/ NGỨA: MỘT MỘT TẦM QUAN TRỌNG VỀ MẶT TÂM LÝ RẤT THƯỜNG HIỆN DIỆN
Cũng như đối với triệu chứng đau, điều đã trải qua đối với ngứa luôn luôn rất có tính chất cá nhân, rất thay đổi từ người này đến người khác. Cường độ của ngứa cũng thay đổi tùy theo hoạt động lúc đó. Những người bị ngứa thường đã chứng thực khuynh hướng của ngứa bộc phát vào cuối ngày hay vào ban đêm, khi những hoạt động trong ngày nhường chỗ cho sự giải lao, cho nghỉ ngơi, như thế hệ thần kinh trung ương, vì trong tình trạng sẵn sàng hơn, do đó trở nên nhạy cảm hơn đối với những tín hiệu gởi từ da.
“ Có những ngứa do tâm lý (prurit psychogène), và một nửa các trường hợp ngứa mãn tính không liên kết với một bệnh ngoài da không có nguyên nhân rõ ràng. Nhưng mặc dầu phần lớn ngứa có một nguyên nhân thực thể, phần xúc cảm vẫn luôn luôn hiện diện, ngứa sẽ luôn luôn được cảm nhận một cách dữ dội hơn trong tình huống stress hay trong một bối cảnh trầm uất. Một ngứa mãn tính dữ dội có thể khiến bệnh nhân sống khốn khổ và dễ dàng dẫn đến chứng trầm cảm. Sự điều trị các bệnh nhân phải luôn luôn toàn bộ ”, GS Misery đã đánh giá như vậy.
BS Sylvie Consoll, thầy thuốc bệnh ngoài da và nhà phân tâm học (Paris), cũng có cùng lời phát biểu : “ Phải xét đến mọi khía cạnh. Những thành phần thực thể và tâm lý của ngứa thường rất khắn khít với nhau. Ngứa càng kéo dài, thành phần tâm lý càng hiện diện. Tầm vóc tâm lý cho lẽ ít hiện diện hơn khi ngứa là dấu hiệu của một bệnh thực thể, nhưng một người suy thận gãi và bị trầm cầm lại con gãi nhiều hơn ”. Ngay cả trong một trường hợp ngứa mà thành phân tâm lý hiện diện gần như đơn độc, ta càng gãi, ta càng biến đổi da, và da bị gãi càng gây gãi nhiều hơn. Khi ngứa kéo dài đôi khi từ 10 hay 20 năm, động tác gãi có thể trở thành tự trị (autonomisé) đối với nguyên nhân của nó.
Chứng trầm cảm có thể lót đường cho ngứa, và ngay cả là yếu tố quan trọng nhất trong sự phát khởi, sự dai dẳng và sự trở thành trầm trọng của ngứa. Nhưng ngứa cũng có thể đứng hàng đầu, đến độ che khuất một chứng trầm cảm. Đối với vị thầy thuốc chuyên khoa bệnh ngoài da, “ nỗi sợ hãi to lớn của các thầy thuốc là bỏ qua một bệnh thực thể trầm trọng. Nhưng đôi khi họ cũng bị mất khả năng đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố tâm lý ”.
Sự hiện diện của một chứng trầm cảm thật sự hẳn luôn luôn khiến kê đơn những thuốc chống trầm cảm có liều đúng đắn và khá dài lâu để tránh một trầm cảm kéo dài. “ Điều trị với thuốc chống trầm cảm không được thực hiện đơn độc, mà phải luôn luôn phối hợp với một tâm lý liệu pháp. Trong ngứa, các phương pháp thân thể như thư giãn (relaxation) và xoa bóp (massage) cũng rất có lợi. Chúng cho phép những người này, vốn thường cao phản ứng (hyperréactif) va trong tình trạng cảnh giác, được nghỉ ngơi, và cũng biến đổi sự cảm nhận của họ đối với da, bằng cách chỉ cho họ thấy rằng da cùng là nguồn khoái lạc.” Dĩ nhiên điều trị này phải được liên kết với điều trị bệnh ngoài da và điều trị cosméto-émolliant.
Như BS Consoli đã giải thích, “ ngay cả khi không có chứng trầm cảm, tâm lý liệu pháp dầu có cải thiện ngứa hay không, vẫn làm giảm gãi vì gãi đôi khi cũng là một biểu hiện của tính chất hung hăng (agressivité) chống lại mình hay những kẻ khác, và cho phép ngay cả giảm vài loại thuốc như các corticoide ”.
Ở người già, mà những nguyên nhân thực thể và tâm lý rất khắn khít với nhau, ngứa cũng có thể có một vai trò kích thích giác quan hơi giống với những động tác tự tấn công mình (autoagression) ở vài trẻ em trong tình huống thiếu tình cảm nghiêm trọng. Ở trẻ em, ngứa hầu như luôn luôn có một nguyên nhân thực thể, nhưng gãi đôi khi cũng đóng một vai trò vô thức trong mối liên hệ giữa đứa bé và người mẹ của nó.
(LE FIGARO 11/3/2013)

4/ U MẠCH (ANGIOME): ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA

  LES ANGIOMES (U MẠCH) : những dị dạng do những huyết quản bị giãn một cách bất thường  
       – Thường gặp nhất : U huyết quản nhi đồng (hémangiome infantile)                           
              – Các u huyết quản nhi đồng phát triển trong những năm đầu của đời sống. Chúng có thể chất chắc và đàn hồi, hơi nóng lúc ấn chẩn và không đau.               
              – 5 đến 10% các nhũ nhi bị u huyết quản nhi đồng         
              – 2 lần nhiều hơn ở con gái   
              – 75% định vị ở đầu       
              – 80% có kích thước dưới 3 cm
              – Các u huyết quản nhi đồng tiến triển thành 3 giai đoạn
                 – gia tăng thể tích cho đến tuổi 10 tháng                 
– ổn định kích thước trong vài tháng
                 – thoái lui dần dần trong một thời gian có thể thay đổi từ hai đến 7
                       năm
              – Sự kiên nhẫn thắng các u huyết quản nhi đồng
              – 75% u huyết quản nhi đồng biến mặt không để lại dư chứng, do đó
                không cần điều trị.
       – Có một loại u mạch thứ hai : Các dị dạng huyết quản (malformations
          vasculaires)
              – Các dị dạng huyết quán có nhiều loại (tĩnh mạch, bạch huyết, tĩnh
                  mạch-bạch huyết, động-tĩnh mạch) và có thể xảy ra tất cả các phần
                  của có thể. Điều trị nhờ đến những kíp nhiều chuyên khoa xử trí theo
                  từng trường hợp một
              – Điều trị các dị dạng huyết quản cần một kíp nhiều chuyên khoa
              

DERMATOLOGIE. “ Mặc dầu cuộc họp đã không cho phép nhận diện những liệu pháp nhắm đích mới, nhưng nhiều gène đã được nhận diện và lợi ích của những thuốc chẹn beta giao cảm (beta-bloquant) để điều trị các hémangiome infantile (u huyết quản nhi đồng) đã được xác nhận, BS Christine Labrèze, dermatologie pédiatrique thuộc CHU de Bordeaux, trở về từ hội nghị thường niên về các bất thường mạch máu diễn ra tuần vừa rồi ở Malmo (Thụy Điển) đã chỉ rõ như vậy. Như thế các bước chân dần dần được vượt qua để hiểu rõ hơn những bất thường này, mà phần lớn là những maladie orpheline.”
Ngày xưa được tập hợp dưới thuật ngữ angiome (u mạch), các bất thường huyết quản này ngày nay được phân thành hai loại : các u (tumeur) và những dị dạng (malformation). Các phương cách điều trị rất khác nhau đối với tất cả những loại bệnh này và phải luôn luôn được xét đến tùy theo mỗi trường hợp.
Các u huyết quản nhi đồng (hémangiome infantile) là những u hiền tính hiện diện ở 5 đến 10% những trẻ em lúc sinh, thoái biến một cách ngẫu nhiên trong ba năm đầu. Chúng không được lầm với những dị dạng huyết quản bẩm sinh (malformation vasculaire congénitale), những dị tật này tăng trưởng cùng với bệnh nhân và những hậu quả có thể xuất hiện muộn trong suốt đời sống. Chúng có thể xảy đến một cách đặc hiệu ở các động mạch, các tĩnh mạch và/hoặc mạng bạch huyết.
U mạch phẳng (angiome plan) là một dị dạng xảy ra ở những mạch máu nhỏ nhất của cơ thể, các mao mạch, bị giãn và có các thành bị yếu đi. Chúng tạo thành một vết hồng hay đỏ đôi khi được gọi là tache lie-de-vin ở 0,3 đến 0,5% những trẻ em vùng Caucase và được tìm thấy chủ yếu ở da, nói chung ở đầu và cổ. Các u mạch phẳng (angiome plan) này thường bị lầm lẩn với những u huyết quản nhi đồng (hémangiome infantile), những các u mạch phẳng tiến triển với tuổi tác, các mạch máu tiếp tục dày lên với thời gian : chúng có thể tạo thành các nốt (nodule) và gây nên chảy máu tự nhiên.
Trong vài trường hợp, u mạch phẳng che đậy một bất thường huyết quản nằm sâu hơn có những hậu quả nghiêm trọng hơn, nhất là khi nằm gần mắt. Điều trị bằng laser, đau nhưng có thể chịu được không cần gây mê, thường được thực hiện nhất : nó cho phép làm giảm màu ở phần lớn các bệnh nhân.
Những dị dạng huyết quản khác ít được thấy rõ hơn và những hậu quả của chúng rất thay đổi tùy theo mức độ lan rộng và định vị của chúng. Tần số xuất hiện của những dị dạng huyết quản này không được biết một cách chính xác, bởi vì chúng thường được điều trị bởi các thầy thuốc chuyên khoa khác nhau, tùy theo định vị của chúng và tùy theo những cơ quan mà chúng ảnh hưởng. Chẩn đoán chúng đôi khi khó, cũng như sự lựa chọn những phương thức điều trị nhưng từ nay có 22 điểm khám bệnh nhiều chuyên môn (consultation multidisciplinaire) những dị dạng huyết quản ở Pháp mà tốt hơn là các bệnh nhân nên đến đó.
“ Có nhiều errance médicale ở các bệnh nhân , bởi vì những dị tật này hiếm xảy ra và thường không được biết rõ và các phương pháp điều trị tùy thuộc vào một sự nhận diện tốt loại bất thường huyết quản ”, BS Annick Bisdorff thầy thuốc quang tuyến thần kinh can thiệp (neruro-radiologue interventionnel) và là người điều phối consultation des angiomes thuộc bệnh viện Lariboisière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Điều trị không luôn luôn cần thiết, nhưng phải được chọn tùy theo nguy cơ mà các dị tật này gây nên trên các cơ quan lân cận đồng thời xét đến những di chứng do chính điều trị. Consultation của chúng tôi đã hiện hữu từ 35 năm nay, thăm khám bao gồm các thầy thuốc nhi khoa, các thầy thuốc bệnh ngoài da, các thầy thuốc X quang, các thầy thuốc ngoại khoa ”, BS Bisdorff đã xác nhận như vậy.
ĐIỀU TRỊ BẮNG TIÊM
Các bất thường tĩnh mạch (anomalies veineuses), giống với các giãn tĩnh mạch (varices), thường gặp nhất và có thể nhận một điều trị bằng cách tiêm một một chất gây xơ (produit sclérosant) hay bằng laser. Những bất thường bạch huyết (anomalie lymphatique) có hậu quả là sự tạo thành những bọng nước đôi khi phải loại bỏ bằng phẫu thuật hay bằng tiêm thuốc gây xơ. Những dị dạng xảy ra ở các động mạch, hay một phối hợp các động mạch và tĩnh mạch, là hiếm nhất nhưng thường điều trị phức tạp nhất.
Nguồn gốc của những bất thường này vẫn chưa được biết rõ nhưng dường như được liên kết với một sự thiếu sót oxygénation trong thời kỳ phát triển thai nhi, gây nên một phản ứng bù quá mức ở các huyết quản. Tuy nhiên không một yếu tố bên ngoài nào trong thời kỳ thai nghén (thức ăn, thuốc men, hành vi) đã được nhận diện. Vài biến dị di truyền (mutation génétique) đã được nhận diện nhưng hiện tại không đưa đến những khả năng điều trị.
(LE FIGARO 2/7/2012)

5/ U HUYẾT QUẢN NHI ĐỒNG (HEMANGIOME INFANTILE): NHỮNG HIỆU QUẢ DIỆU KỲ CỦA CÁC THUỐC BETABLOQUANT
“ Những tác dụng ngoạn mục của propanolol đã được khám phá do tình cờ trong khoa chúng tôi và bây giờ đã được xác nhận bởi nhiều kíp trên thế giớI ”, BS Christine Labreze, thầy thuốc chuyên khoa bệnh ngoài da nhi đồng thuộc CHU de Bordeaux đã kể lại như vậy. Câu chuyện bắt đầu vào mùa hè năm 2006, khi một đứa trẻ, bị u huyết quản (hémangiome) được điều trị bằng cortisone, có những rối loạn tim nghiêm trọng cần sử dụng propanolol, một thuốc chẹn beta giao cảm.
“ Khi đó chúng tôi đã thấy khối u giảm hầu như dưới mắt của chúng tôi, BS Labrèze đã nhớ lại như vậy. Vài tuần sau, một đứa trẻ khác có sức khỏe kém đến với một u huyết quản rất nặng không đáp ứng cortisone. Trước khi xét đến những điều trị rất nặng như interféron, kíp quyết định sử dụng propanolol bởi vì đứa bé cũng bị những rối loạn tim. “ Trong trường hợp này cũng thế, hiệu quả của thuốc ngoạn mục và chính như thế mà tất cả đã bắt đầu.” Phương thức mới này đã được chấp nhận một cách nhanh chóng bởi vì propanolol được sử dụng từ 50 năm nay ở trẻ em và những hiệu quả lâu dài của nó được biết rõ ở lứa tuổi này. Kíp Bordeaux đã công bố một bài báo đầu tiên trong tờ báo uy tín New England Journal of Medicine vào năm 2008 và hơn 250 tài liệu xuất bản quốc tế từ nay đã xác nhận những kết quả của nó. Trong Hội nghị thường niên về những bất thường mạch máu diễn ra ở Malmoe, Thụy Điển, nhiều kíp đã trình bày những kết quả về những thuốc chẹn beta giáo cảm khác, mặc dầu ít ngoạn mục hơn, nhưng mở ra những hướng điều trị quy mô lớn hơn.
Cách tác dụng của propanolol cũng là đối tượng của nhiều giả thuyết nhưng chưa một giả thuyết nào cho phép giải thích tác dụng của nó lên các khối u, càng nhanh khi điều trị được thực hiện càng sớm. Các thuốc chẹn beta giao cảm có thể có một tác dụng bảo vệ đối với tình trạng giảm oxy mô (hypoxie), bị nghi ngờ tạo điều kiện cho sự phát triển hỗn loạn của các mạch máu.
NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ
Propanolol cho những kết quả dương tính trong hầu hết các trường hợp và từ nay nó thay thế cortisone như là điều trị ưu tiên một đối với các u huyết quản biến chứng (hémangiome compliqué).
Hiện một dạng thuốc dành cho trẻ em (sirop) đang được hiệu chính mà các kết quả được trông chờ vào tháng 7. “ Nếu các kết quả dương tính, khi đó chúng tôi có thể xin giấy phép thương mãi hóa (AMM : autorisation de mise sur le marché). Giấy phép này có thể sẽ được cấp vào đầu năm 2014 ”, BS Labrèze đã dự kiến như vậy.
Điều trị sẽ không được kê đơn cho tất cả các trẻ em bị u huyết quản bởi vì thuốc phải được cho tối thiểu trong 6 tháng, với những tác dụng phụ không được lơ là. Để không bỏ những trường hợp ít nặng hơn, kíp nghiên cứu đã xem xét khả năng của một điều trị tại chỗ ít nặng nề hơn.
(LE FIGARO 2/7/2012)

6/ U HUYẾT QUẢN NHI ĐỒNG (HEMANGIOME INFANTILE): MỘT BÀI HỌC VỀ KIÊN NHẪN
“ Các u huyết quản nhi đồng (hémangiome infantile) không cần một điều trị nào trong hơn 80% các trường hợp ”, BS Annick Bisdoff, neuroradiologue interventionnelle và coordinatrice de la consultation des “ angiomes ” thuộc bệnh viện Lariboisière (Paris) đã nhắc lại như vậy. Những u hiền tính này hiện diện ở 5-10% những trẻ lúc sinh ra đời. Kích thước thay đổi, các u mạch này có thể tăng trưởng trong 3 tháng đầu rồi ổn định trong năm đầu. Các u mạch lớn nhất có thể tiếp tục tiến triển trong một năm. Trong tất cả các trường hợp, chúng thoái triển rồi biến mất một cách ngẫu nhiên trước năm thứ ba, đôi khi để lại một dấu vết, ít nhiều quan trọng, về sự hiện diện của chúng. Những đặc điểm này phân biệt các u huyết quản nhi đồng với những u mạch phẳng (angiome plan), với chúng các u huyết quản nhi đồng (hémangiome infantile) thường bị lẫn lộn. Nhưng các u mạch lớn lên cùng với đứa trẻ. “ Một điều trị chỉ được xét đến khi khối u ảnh hưởng chức năng của một cơ quan lân cận hay nếu các di chứng có thể tạo một nguy cơ thẩm mỹ thật sự ”, BS Bisdorff đã chỉ rõ như vậy. Một u mạch nằm gần mặt hay chiếm cả má sẽ được xem xét với nhiều chú ý để đánh giá những hậu quả.
“ Các u huyết quản (hémangiome) luôn luôn biến mất nhưng chúng đôi khi để lại những dấu vết có thể gây khó chịu, BS Christine Labrèze, thầy thuốc chuyên bệnh ngoài da nhi đồng thuộc CHU de Bordeaux đã xác nhận như vậy. Ngoài ra khi một điều trị cần thiết, nó thường hiệu quả hơn khi được thực hiện sớm ”. Khi u huyết quản có kích thước quan trọng, hay khi chẩn đoán không rõ ràng, điều hữu ích là có được một ý kiến chuyên khoa trước 2 hoặc 3 tuổi hơn là chờ đợi sự thoái biến ngẫu nhiên. Khi đó một kíp được đào tạo tốt có thể đánh giá lợi ích của một điều trị tùy theo những di chứng khả dĩ mà khối u có thể để lại và tùy theo nguy cơ mà điều trị có thể gây nên.
Thường nhất, một điều trị bằng thuốc, corticoides hay betabloquant, lúc đầu được đề nghị. Mặc dầu những kết quả đôi khi ngoạn mục, nhưng không bao giờ vô hại ở trẻ em khi sử dụng những điều trị này trong những tháng dài. Nếu một u huyết quản đè mạnh lên nhãn cầu và nếu đứa bé có nguy cơ mất thị giác, có thể cần phải mổ lấy nó đi. Thường nhất, những điều trị bằng laser và phẫu thuật tốt hơn được xét đến sau năm thứ ba, để điều chỉnh những di chứng của chính khối u.
Nguồn gốc của những khối u này, được gây nên bởi một sự tăng sinh quá mức và không kiểm soát được của các huyết quản, vẫn còn không được biết rõ. Như đối với những bất thường huyết quản khác, một sự thiếu oxy trong thời kỳ thai nghén, trước tuần lễ thứ 8, dường như là nguyên nhân nhưng những nhà nghiên cứu đã chưa nhận diện những lý do của tình trạng thiếu oxy mô này hay những cơ chế dẫn đến sự tạo thành của khối u.
Vậy điều trị tốt nhất thường vẫn là sự kiên nhẫn, một bài tập đôi khi có thể tỏ ra khó khăn đối với các bậc cha mẹ đứng trước nhiều vấn đề do con họ nêu ra.
(LE FIGARO 2/7/2012)

7 / U HẮC TỐ ÁC TÍNH: ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN LÀ MỘT ENJEU VITAL
Sự phát hiện sớm ung thư đã này cho phép một tiên lượng lâu dài tất tốt.
CANCER. “ Tỷ suất khối lượng (masse)/mức độ hung dữ (agressivité) của u hắc tố ác tính (mélanome malin) không giống với bất kỳ ung thư nào khác. Nhưng u hắc tố ác tính cũng là ung thư duy nhất có thể thấy được, điều này cho phép phát hiện sớm , GS Grob, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc bệnh viện Sainte-Catherine (Marseille) đã nhấn mạnh như vậy. Vậy phải lo ngại về tất cả những gì mới và tiến triển nhanh trên da mình và thăm khám ngay khi ta có chút ít nghi ngờ.” Thật vậy, được điều trị sớm, u hắc tố là một trong những ung thư mà tỷ lệ sống còn lúc 5 năm, 80%, thuộc loại tốt nhất. U hắc tố ác tính gây bệnh cho tất cả mọi lứa tuổi nhưng xuất hiện nhiều hơn giữa 40 và 50 tuổi. Mỗi năm, 8000 trường hợp mới được chẩn đoán ở Pháp và 1500 người chết vì bệnh này, những con số gia tăng hằng định từ những năm 1960, lúc bắt đầu mode làm rám da (bronzage).
U hắc tố ác tính là một ung thư của da và chính ở đó mà nó xuất hiện trong phần lớn các trường hợp, mặc dầu có thể thấy nó ở mắt hay niêm mạc. Công tác điều tra phát hiện đòi hỏi một khả năng chuyên môn nào đó bởi vì u hắc tố hiện diện dưới nhiều dạng. “ Phải làm quen với tất cả các dạng có thể có để nhận biết tốt u hắc tố này. Nhiều hình ảnh có trên Internet là một công cụ rất hữu ích bởi vì phần lớn các thầy thuốc không có cơ hội thấy thường xuyên trong phòng mạch của họ ”, GS Grob đã xác nhận như vậy. Nếu thương tổn được nghi ngờ, thầy thuốc bệnh ngoài da thực hiện một cắt bỏ (lấy đi vùng cần xét nghiệm bằng một can thiệp nhỏ) tức thời và gởi mẫu nghiệm để phân tích xác nhận tính chất của khối u.
Nếu đó đúng là một u hắc tố, nhiều yếu tố khác nhau được xét đến để thiết lập chiến lược điều trị. Bề dày của u hắc tố là một yếu tố quyết định bởi vì, nếu nó không vượt quá 1mm bề dày, nó thường được loại bỏ với khối u. “ Ta ước tính rằng tỷ lệ sống côn lúc 10 năm là hơn 80% trong trường hợp này và gần 100% khi bề dày dưới 0,5 mm ”, vị thầy thuốc đã nói thêm như vậy. Nếu bề dày lớn hơn 1mm, tiên lượng chủ yếu tùy thuộc vào tính hung dữ (agressivité) của ung thư và sự khuếch tán vào trong những vùng khác của có thể.
Một thăm dò các hạch tiền canh (ganglions sentinelles) đôi khi được thực hiện để phát hiện ở đó sự hiện diện của những di căn vi thể (micrométastase), chỉ rằng ung thư không giới hạn ở khối u ban đầu. “ Nếu ung thư đã đi qua trong các hạch, ngay cả ở trạng thái di căn vi thể, nó sẽ tiến triển hướng về những di căn xa (méstastase à distance) trong 30 đến 50% các trường hợp, GS Grob đã xác nhận như vậy. Khi những di căn hiện diện, những trường hợp sống sót rất kéo dài cực kỳ hiếm.”
Khối u phải được lấy đi toàn bộ, cũng như một giới hạn an toàn (marge de sécurité) da lành mạnh chung quanh khối u này và các thầy thuốc đôi khi phải thực hiện một cắt bỏ thứ hai sau khi phân tích khối u và mức độ lan rộng của nó. Sau đó, một điều trị bổ trợ (traitement adjuvant) có thể được thực hiện để phòng ngừa hay làm chậm sự xuất hiện của một tái phát khi u hắc tố chưa khuếch tán qua hạch tiền canh (ganglion sentinelle) đầu tiên nhưng tuy vậy có một nguy cơ di căn xa.
ĐÔI KHI CÓ MỘT TỔ BẨM DI TRUYỀN.
Interféron là điều trị bổ trợ duy nhất hiện được thương mãi hóa đối với mélanome, nhưng nhiều điều trị đang được đánh giá. Chúng làm dễ miễn dịch tự nhiên, đặc biệt chống với loại ung thư này nhưng có thể gây nên những tác dụng phụ thuộc loại tự miễn dịch cần một sự theo dõi rất sát các bệnh nhân.
Khi những di căn hiện diện, những điều trị có sẵn hiện nay vẫn tương đối ít vừa ý bởi vì các hóa học trị liệu cổ điển có một tác động hạn chế lên các u hắc tố ở giai đoạn này. Những loại thuốc mới đang được đánh giá như abraxane, ít độc hơn, cho phép một điều trị tích cực hơn lên ung thư. Hai hướng điều trị đầy hứa hẹn khác có thể mở đường cho những chiến lược điều trị mới (xem bài tiếp theo) nhưng, hiện nay, điều trị tốt nhất vẫn là phòng ngừa và phát hiện sớm.
Hầu hết các u hắc tố có liên quan đến một sự tiếp xúc quá mức ánh nắng mặt trời và các tia tử ngoại và nhất là những đợt trúng nắng (coup de soleil) bị trong thời kỳ thơ ấu. “ Không nên tự cấm ánh nắng mặt trời nhưng nên lợi dụng những lợi ích của nó với những dụng cụ cần thiết, GS Grob đã nhấn mạnh như vậy. Phải hạn chế những vùng bị tiếp xúc và thoa crème solaire với lớp đủ dày. ” Vài người nhạy cảm hơn những người khác : những người tóc hung (roux), những người có da màu nhạt hay những người có nhiều nốt ruồi.
Một tỷ lệ nhỏ các u hắc tố (10% các trường hợp) là do một tố bẩm di truyền (predisposition génétique) và sự việc có một người bị bệnh trong gia đình phải khiến cảnh giác nhiều hơn. Ngoài sự thận trọng này đối với ánh nắng mặt trời, không nên do dự yêu cầu một người thân hay thầy thuốc của mình một thăm khám toàn cơ thể để phát hiện mọi sự thay đổi trên da.
(LE FIGARO 5/9/2011)

8/ U HẮC TỐ ÁC TÍNH: HAI LOẠI THUỐC KÉO DÀI CUỘC SỐNG CỦA CÁC BỆNH NHÂN
“ Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ có hai cách mới để tấn công mélanome, GS Caroline Robert, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc Institut Gustave-Roussy de Villejuif đã lấy làm phấn khởi như thế. Cho đến nay không có một điều trị nào cho phép kéo dài cuộc sống của những bệnh nhân bị di căn. ” Từ nay, hai loại thuốc mới đã chứng tỏ một hiệu quả quan trọng lên tiên lượng của vài bệnh nhân bị bệnh mélanome. Mặc dầu hai công trình nghiên cứu được trình bày vào tháng sáu vừa qua ở hội nghị quốc tế ở Chicago không hứa hẹn một điều trị hiệu quả đối với tất cả các bệnh nhân, tuy nhiên chúng, lần đầu tiên, đã mang lại một niềm hy vọng thật sự trong loại ung thư khó điều trị này ngay khi nó khuếch tán.
Thuốc đầu tiên, ipilimumab, vừa được giấy phép châu Âu đưa ra thị trường. Thuốc này có khả năng phong bế những kềm hãm của đáp ứng miễn dịch tự nhiên, được điều hoà bởi thụ thể CTLA-4 để cho phép cơ thể tấn công ung thư mạnh hơn. Công trình nghiên cứu, được thực hiện trên 502 bệnh nhân, đã cho thấy một sự thuyên giảm kéo dài ở 20% những bệnh nhân sau 3 năm. Lợi ích chính của loại thuốc này, mặc dầu không có hiệu quả đối với tất cả các bệnh nhân, là hiệu quả của nó dường như kéo dài, có lẽ bởi vì thuốc vận dụng đáp ứng miễn dịch của chính bệnh nhân. Tuy nhiên, những tác dụng phụ của thuốc là đáng kể vì lẽ 56% các bệnh nhân dùng ipilimumab đã chịu những tác dụng không mong muốn nghiêm trọng.
Loại thuốc khác, vermurafenib, vừa được FDA cho phép. Thuốc nhằm một cách trực tiếp các khối u mang một bất thường di truyền trên gène B-RAF, hiện diện trong 50% các u hắc tố. Như thế thuốc này ức chế một enzyme được biểu hiện bởi một gène vì bị hỏng nên tạo điều kiện cho sự tăng sinh của các tế bào ung thư. Điều trị đã tỏ ra có hiệu quả ở hầu như một nửa những bệnh nhân được điều trị trong một công trình nghiên cứu trên 675 bệnh nhân và đã cho phép làm giảm trung bình 60%, sau 6 tháng.
Để so sánh, hóa học liệu pháp chuẩn chỉ có hiệu quả ở 5% các bệnh nhân. Tuy nhiên hiệu quả này tuy nhiên ít kéo dài hơn so với miễn dịch liệu pháp bởi vì những tế bào ung thư phát triển những đề kháng đối với loại những thuốc này. Mặt khác, vermurafenib chỉ hiệu quả trên những bệnh nhân mang biến dị và thuốc được kèm theo một trắc nghiệm di truyền để nhận diện những khối u khả dĩ đáp ứng với điều trị. Những tác dụng phụ dường như ít nghiêm trọng hơn so với hóa học liệu pháp quy ước.
Những loại thuốc mới này chưa mang lại một đáp ứng xác thực ở đa số các bệnh nhân nhưng chúng là những thuốc đầu tiên, từ những năm 1970, cho một kết quả đầy hứa hẹn trên một ung thư đề kháng với tất cả các điều trị. Những tiến bộ quan trọng này mở ra một kỷ nguyên mới đối với u hắc tố mà điều trị có thể được cách mạng hóa trong 5 năm đến. “ Những loại thuốc khác đang được nghiên cứu, vài loại nhằm những nhóm lớn hơn các bệnh nhân, GS Jean Jacques Grob, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc bệnh viện Sainte-Catherine (Marseille) đã nhấn mạnh như vậy. Có lẽ sẽ phải cần nhiều thứ thuốc bởi vì các khối u thường tìm những đường thoát và sẽ rất tốt nếu có thể phối hợp những loại thuốc này với nhau.”
(LE FIGARO 5/9/2011)

9/ U HẮC TỐ ÁC TÍNH: HÃY XÉT ĐẾN NHỮNG ẢNH HƯỞNG TÂM LÝ
“ U hắc tố ác tính là một ung thư đặc biệt bởi vì, trái với những ung thư khác, nó phát xuất từ một thương tốn rất nhỏ, có thể thấy trên da. Rất thường, ta cảm thấy tội lỗi là đã không thấy nó sớm hơn hay đã không phản ứng tức thì ”, BS Caroline Robert, phụ trách khoa bệnh ngoaì da thuộc Viện Gustave-Roussy (Villejuif) đã nhấn mạnh như vậy.
Đặc điểm này có những hậu quả tâm lý, nhất là các bệnh nhân thường có cảm tưởng rằng người ta đã loan báo với họ rằng họ sẽ chết. Bị sốc bởi lời loan báo bi ung thư này, mà tiên lượng chỉ tốt khi được phát hiện rất sớm, đôi khi khó hiểu rõ những thông tin được cho bởi thầy thuốc ngoài da thành phố, vốn rất hiến gặp chẩn đoán này.
Vai trò của thầy thuốc chuyên khoa khi đó rất quan trọng nhưng những hiệp hội các bệnh nhân cũng có thể có vai trò để đặt nhưng câu hỏi mà ta không dám ngõ với thầy thuốc. “ Các diễn dàn cũng mang lại một sự hỗ trợ quan trọng bởi vì các bệnh nhân có thể thảo luận ở đó với nhau, nhất là lúc khởi đầu của bệnh. Sau đó, ta cũng thấy ở đó sự tham dự của những người thân cận của bệnh nhân ; những người này đôi khi thấy bất lực khi đứng trước căn bệnh u hắc tố này ”, Sophie Criquillon đã nhấn mạnh như vậy. Là thầy thuốc và nhà tâm lý trị liệu, bà đã trải qua tình huống này khi người em gái của bà bị u hắc tố và đã chết vì bệnh ung thư này. Bà đề nghị từ nay những groupe de parole cho những người thân cận bệnh nhân : các thầy thuốc đôi khi đề nghị loại hỗ trợ này cho bệnh nhân nhưng hiếm khi họ nghĩ đến những người thân cận của bệnh nhân. Trong những groupe de parole, trong đó các bệnh nhân không tham dự, những người thân có thể khóc và biểu lộ sự hung hãn của họ. “ Họ thường cảm thấy bất lực trước sự khốn khổ của các bệnh nhân và không luôn luôn nghĩ đến việc tiến hành một tiến hành một vận động hỗ trợ tâm lý cá nhân bởi vì họ không cảm thấy bị bệnh ”. Đối với các bệnh nhân, một phương pháp tiến hành như vậy khiến họ an lòng bởi vì họ cảm thấy chịu trách nhiệm về nỗi lo lắng của những người bao quanh họ.
BS Criquillon đề nghị nhung groupe de paroles này qua trung gian của hiệp hội Vaincre le mélanome. Được phát động bởi BS Robert và một nhóm người đã đi kèm một người thân bị bệnh u hắc tố ác tính, hiệp hội mang lại một sự hỗ trợ tâm lý cho các bệnh nhân và những người người thân cận của bệnh nhân. Hiệp hội cùng giúp các bệnh nhân trong mối quan hệ của họ đối với thầy thuốc của mình để giúp họ hiểu hơn những thông tin mà họ nhận được. “ Các bệnh nhân thường tìm kiếm một thầy thuốc mà họ có thể có một mối liên hệ tin cậy, với người nhờ được đào tạo tốt nên sẽ biết phát hiện bệnh u hắc tố và giải thích cho bệnh nhân một cách rõ ràng ”.
(LE FIGARO 5/9/2011)

10/ CÁC CABINE DE BRONZAGE LÀM DỄ CÁC UNG THƯ
Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu quy mô lớn xác nhận nguy cơ.
Nhân hội nghị quốc tế lần thứ 10 của Hiệp hội nghiên cứu chống ung thư Hoa Kỳ ở Boston (10/2011), các nhà nghiên cứu một lần nữa đã điểm mặt những tác hại của các cabine à UV (những tia tử ngoại chịu trách nhiệm bronzage), buộc tội chúng tạo điều kiện cho sự xuất hiện những ung thư da : baso-cellulaire (thường gặp nhất), spino-cellulaire và u hắc tố ác tính.
Ở Hoa Kỳ, 10% dân số mỗi năm đến loại cabine này, trong khi Pháp có 8 triệu tín đồ. BS Ming Zhang và các đồng nghiệp của mình thuộc khoa bệnh ngoài da thuộc Massachusetts General Hospital đã khảo sát, giữa năm 1989 và 2009, những trường hợp của gần 73.500 y tá đã làm rám da (bronzer) trong những máy này trong những năm họ còn đang học trung học và đại học rồi sau này, từ 25 đến 35 tuổi. Họ đã nghiên cứu mối liên hệ giữa thực hành này với ung thư da. Những kết quả của công trình quan trọng này cho thấy một cách rõ ràng rằng các cabine de bronzage gia tăng nguy cơ bị ung thư da với một hậu quả liên kết với liều lượng. Ta càng làm cho mình rám da, mối nguy hiểm càng quan trọng. Nguy cơ phát triển một cancer baso-cellulaire và một cancer spino-cellulaire gia tăng 15% mỗi khi ta làm 4 buổi mỗi năm và nguy cơ u hắc tố gia tăng 11%. Ngoài ra các nhà nghiên cứu đã ghi nhận rằng những tia tử ngoại trên da người trẻ nguy hiểm hơn nhiều so với trên da của những người từ 25-35 tuổi.
BS Claudine Blanchert-Bardon, phó chủ tịch của Công đoàn quốc gia của các thầy thuốc da liễu, chào mừng công trình nghiên cứu này, “ nếu nó được công bố, thì đó là một quả bom thật sự ”. Một quần thể những bệnh nhân được phân tích như thế rất là quan trọng trên bình diện khoa học. Tuy nhiên còn phải xác định phototype của những bệnh nhân đã tham gia vào công trình nghiên cứu. Nếu họ tóc hoe (blond), tóc hung (roux) và nếu họ không rám da, tôi không ngạc nhiên bởi vì nguy cơ ung thư gia tăng chỉ với 4 buổi tia tử ngoại mỗi năm.” Cách nay vài ngày, Journal of Investigative Dermatology đã công bố một bài báo cho thấy rằng những tia tử ngoại được dùng nhiều nhất trong cabine, UVA, có thể đi đến một lớp sâu hơn của biểu bì, làm cho da trở nên dễ bị những tấn công ung thư.
Về phía Syndicat des professionnels du brozage en cabine, người ta cố tương đối hóa những công trình nghiên cứu này. “ Các thầy thuốc đưa ra những thông điệp xấu, Marc Boutet, chủ tịch của Công đoàn đã bào chữa như vậy. Không phải các tia tử ngoại xấu đối với sức khỏe mà sự việc lạm dụng nó. Chúng tôi trách giới hữu trách y tế chỉ nhấn mạnh những tác hại của ánh nắng mặt trời mà không nhấn mạnh những điểm dương tính.” Nếu những nhà nghề rám da (professionnels de bronzage) không do dự khi đứng lên bảo vệ, đó là vì khu vực nghề nghiệp này sử dụng 20.000 người ở Pháp cho 12.000 máy và cho một số doanh thu 240 triệu euro.
BS Claudine Blanchet-Bardon khuyên một cách chính thức không nên sử dụng cabine à UV. Đối với những người ưa rám da vô điều kiện, thì 10 buổi mỗi năm là một cực đại không được vượt qua. Một sự vấn chẩn “ người làm rám da ” (bronzeur) là điều rất được mong muốn nhằm kiểm tra rằng anh ta không bị bệnh và không dùng những thuốc làm mẫn cảm với ánh sáng (médicaments photosensibilisants) như vài kháng sinh, thuốc lợi tiểu, thuốc kháng viêm hay các crème và vài hóa học trị liệu.
Những kính bảo vệ (lunettes protectrices) được khuyến nghị cũng như mang một cache-sexe để tránh những ung thư bộ phận sinh dục nam. Ngoài ra, những người sử dụng phải ý thức rằng các bộ phận lọc của các máy tử ngoại (machine à UV) càng cũ, thì chúng càng để đi qua những tia tử ngoại.
(LE FIGARO 25/10/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(14/4/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 303 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Theodore nói:

    I’m no longer certain where you are getting your info, however great topic. I must spend a while finding out more or understanding more. Thanks for fantastic information I used to be on the lookout for this info for my mission.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s