Thời sự y học số 302 – BS Nguyễn Văn Thịnh

Hémorroïde

1/ LÀM SAO PHÒNG NGỪA BỆNH TRĨ

Les hémorroides : đó là những huyết quản (động mạch và tĩnh mạch) lót thành của hậu môn và phần thấp của trực tràng.
La maladie hémorroidaire : tương ứng với sự giãn của các hémorroides, có thể bắt đầu chảy máu, gây ngứa và đi ra khỏi hậu môn. Bệnh trĩ gây bệnh cho đàn ông ngang với đàn bà và chủ yếu xuất hiện ở lứa tuổi 30.
Trĩ nội (hémorroides internes) : giãn những mạch máu bên trong hậu môn
Trĩ ngoại ( hémorroides externe) : giãn các mạch máu của rìa hậu môn

Cứ 5 người thì có một bị liên hệ bởi bệnh này. Trước khi xét đến phẫu thuật, có nhiều điều trị khác.
PROCTOLOGIE. “ Bệnh trĩ gây nên những rối loạn hiền tính và hay gặp cần phải điều trị khi chúng trở nên gây khó chịu, nhưng những triệu chứng của trĩ có thể phát hiện những bệnh lý nghiêm trọng khác ”, GS Laurent Siprouhis, trưởng khoa dạ dày-ruột thuộc CHU de Rennes đã nhắc lại như vậy. Ở Pháp khó biết được mức độ lưu hành của bệnh trĩ : 2/3 các bệnh nhân không đến khám thầy thuốc và tự dùng thuốc nếu cần. Vậy những con số dựa trên những điều tra qua bảng câu hỏi, ở Pháp chỉ rằng cứ năm người thì có một khai đã bị những rối loạn do bệnh trĩ gây nên trong năm qua.
Mọi người đều có hémorroides, chúng là một bộ phận của cấu trúc bình thường của trực tràng và đóng một vài trò chủ yếu trong tính kín (étanchéité) của hậu môn. Chúng được cấu tạo bởi một tập hợp các huyết quản được tổ chức thành bó (paquet hémorroidaire) nằm chung quanh đầu mút (extrémité) của ống hậu môn và phồng lên để cho phép kiểm soát sự thoát khí. Những vấn đề nảy sinh khi hémorroides trở nên bị viêm hay khi các mô nâng đỡ chúng bị lơi giãn. Khi đó chúng có thể giãn ra và/hoặc đi xuống đến tận hậu môn và bị kích thích khi phân đi qua, đôi khi gây chảy máu. Các bó trĩ (paquet d’hémorroides) đôi khi có thể đi ra ngoài và khi chúng bi giãn quá mức, dẫn đến sự tạo thành một cục máu đông gây đau dữ dội : đó là cơn trĩ (crise hémorroidaire), có thể kéo dài vài ngày. Nhiều yếu tố có thể tạo điều kiện cho sự xuất hiện bệnh trĩ (maladie hémorroidaire), nhưng sự sinh đẻ và những rối loạn transit chịu trách nhiệm phần lớn các trường hợp. Rặn quá mức để tống phân ra có hại, điều này khiến chứng bón nằm ở hàng đầu những yếu tố nguy cơ. Trong trường hợp bón, sự gắng sức có thể làm dễ sự xuất hiện những rối loạn của hémorroides. Khi chúng được gây nên bởi những cơn rặn khi đẻ, thường chúng chỉ có tính chất tạm thời.
Chẩn đoán chỉ có thể được thực hiện bằng cách thăm khám hậu môn hay quan sát bằng một ống soi hậu môn (anuscope). Đó là một thăm khám khó chịu, đối với thầy thuốc và đối với bệnh nhân, nhưng một trong hai phải yêu cầu. “ Những triệu chứng của các rối loại trĩ (troubles hémorroidaires) : đau, xuất huyết và tràn dịch có thể báo hiệu những bệnh lý khác ”, BS Philippe Godeberge, hépato-gastro-entérologue thuộc Institut mutualiste Montsouri (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Sự hiện diện của máu trong phân phải luôn luôn khiến phải đi thăm khám để phát hiện một ung thư đại trực tràng có thể xảy ra.
Khi chẩn đoán được xác nhận, sự điều hòa của transit tạo nên trọng tâm của điều trị : gia tăng lượng các sợi trong chế độ ăn uống bằng cách tiêu thụ nhiều trái cây và rau xanh hơn, sống cũng như được nấu chín, và uống đủ là những cách tránh cần thiết. Hoạt động vật lý, ngay cả vừa phải và đều đặn, cũng làm dễ một transit điều hòa. Trong trường hợp bón dai dẳng, có thể sử dụng các thuốc nhuận trường nhẹ hay gia tăng tỷ lệ sợi bằng những chất bổ sung thức ăn đặc hiệu. Những biện pháp này cũng đủ trong 40% các trường hợp.
Trong trường hợp bị bón, những điều trị tại chỗ, như crème và những thuộc nhét đít có thể mang lại một sự thuyên giảm. Những thuốc giảm đau và vài loại thuốc chống viêm phải được sử dụng để chống lại đau. “ Từ nay có những công trình nghiên cứu xác nhận lợi ích của các chất bổ tĩnh mạch (veinotonique) với đợt điều trị ngắn ngày vào lúc xảy ra các cơn,” GS Godeberge đã nói thêm như vậy.Tuy nhiên những điều trị này không có hiệu quả để phòng ngừa sự xuất hiện những rối loạn mới nếu những quy tắc vệ sinh-dinh dưỡng không đủ. Khi bệnh trĩ tiến triển hơn, người thầy thuốc sẽ khuyến nghị một can thiệp trực tiếp. Bệnh trĩ là một bệnh cơ năng, không có hậu quả tai hại nào đối với sức khỏe của bệnh nhân cả : không một quyết định nào phải được thực hiện cấp cứu. Như thế thầy thuốc và bệnh nhân có thể cùng nhau quyết định phương thức được sử dụng đồng thời tính đến giai đoạn tiến triển của bệnh, dạng vẻ của các hémorroides, nhưng cũng xét đến điều có thể được chấp nhận hơn đối với bệnh nhân.
NGOẠI KHOA LÀ BIỆN PHÁP CUỐI CÙNG
Sự thực hành của thầy thuốc, nhằm có được những kết quả tốt nhất với những kỹ thuật mà ông ta quen, cũng là một yếu tố quan trọng. Trước hết người thầy thuốc sẽ đề nghị những kỹ thuật dụng cụ (techniques instrumentales) nhằm điều chỉnh sự sa xuống của các mô. Trong một tỷ lệ nhỏ các trường hợp nghiêm trọng nhất (giữa 3 đến 8 những bệnh nhân khám bệnh vì những rối loạn trĩ), ngoại khoa sẽ cần thiết để lấy đi tất cả hay một phần các hémorroides. Trong tất cả các trường hợp, những biện pháp phòng ngừa lâu dài và những điều trị càng ít xâm nhập và càng hiệu quả hơn khi chúng được thực hiện ngay từ khởi đầu của những rối loạn lập lại liên kết với các hémorroides.
(LE FIGARO 25/3/2013)

2/ BỆNH TRĨ : HÃY LẤY MỘT Ý KIẾN THỨ HAI TRƯỚC KHI CHỊU MỔ.
Giáo sư Paul-Antoine Lehur, trưởng khoa ngoại tiêu hóa của CHU de Nantes, ở đây ông cũng cộng tác với Viện các bệnh của bộ máy tiêu hóa, đã thẳng thừng : “ Không nên hấp tấp nhờ đến ngoại khoa để lấy đi những yếu tố continence anale cuối cùng là các hémorroides.” Ngay cả ông khuyên tham khảo một ý kiến thứ hai nếu ngoại khoa đã được đề nghị tức thời. Thật vậy, sự phát triển những kỹ thuật mới, ít xâm nhập hơn, ít gây đau đớn hơn và bảo tồn hơn, cho phép chọn một phương thức thích ứng cho mỗi bệnh nhân. Mỗi chiến lược có những ưu điểm và những bất lợi cần phải biết.
Ống hậu môn (canal anal) là một vùng rất được phân bố thần kinh và rất nhạy cảm : can thiệp trong vùng này có thể tỏ ra đặc biệt đau đớn. Các thầy thuốc ngoại khoa cố phát triển những kỹ thuật ảnh hưởng lên những vùng nhạy cảm càng ít càng tốt. Sự cắt bỏ hoàn toàn hay một phần các hémorroides, phương thức triệt căn nhất, cho phép điều chỉnh tất cả các triệu chứng liên kết với bệnh trĩ nhưng không phải là không có hậu quả.
Mặc dầu những tiến bộ kỹ thuật, sự cắt bỏ dẫn đến những đau hậu phẫu quan trọng, một thời gian lành sẹo kéo dài (từ 4 đến 6 tuần) và những biến chứng hay những khó khăn về chức năng có thể xảy ra sau này. Phương pháp này phải được dành cho những trường hợp nghiêm trọng nhất, khi những cách can thiệp khác không mang lại kết quả.
Từ một chục năm nay, một kỹ thuật mới được gọi là “ vi xâm nhập ” (mini-invasive) cho phép bảo tồn những hémorroides bằng một “ lifting ”. Người thầy thuốc ngoại khoa lấy đi một collerette vòng tròn ở đỉnh của các hémorroides rồi trong cùng động tác ông gắn chúng lại ở ống hậu môn bằng một vòng agrafe. Anopexie circulaire, hay kỹ thuật Longo, được thực hiện trong một vùng ít nhạy cảm của ống hậu môn và những đau hậu phẫu ít quan trọng hơn. Sự hóa sẹo cũng nhanh hơn và bệnh nhân có thể tái tục công việc trung bình sau một tuần.
Tuy nhiên đó không phải là một can thiệp không gây hậu quả : những biến chứng và những di chứng lâu dài cũng có thể xảy ra. “ Những tái phát thường xảy ra hơn so với ngoại khoa truyền thống, nhưng động tác này có thể được lập lại hay được bổ sung bởi một kỹ thuật dụng cụ (technique instrumentale) sau nhiều năm ”, GS Laurent Siproudhis, trưởng khoa dạ dày ruột của CHU de Rennes đã nhắc lại như vậy.
Những thầy thuốc ngoại khoa Pháp hiện đang nghiên cứu một kỹ thuật mới. Phương pháp ligaLongo nhằm buộc các động mạch trĩ (artères hémorroidaires) được nhận diện nhờ Doppler, đôi khi liên kết, như trong Longo, voi một cắt bỏ một phần niêm mạc của các hémorroides. Một công trình nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn vừa được bắt đầu trong nhiều bệnh viện ở Pháp mà mục tiêu là, lần đầu tiên, so sánh phương pháp này với kỹ thuật Longo.
Những biến chứng dường như ít quan trọng hơn nhiều so với những kỹ thuật khác và động tác có thể được thực hiện ngoại trú, điều này đáp ứng với áp lực hiện nay muốn làm giảm tối đa thời gian nhập viện. Tuy nhiên tính hiệu quả lâu dài có thể thấp hơn tính hiệu quả của kỹ thuật Longo. Những kết quả được chờ đợi trong một năm nữa.
(LE FIGARO 25/3/2013)

3/ MỘT SỐ CÁC KỸ THUẬT ÍT XÂM NHẬP ĐỂ LÀM THUYÊN GIẢM BỆNH NHÂN.
Trong những giai đoạn tiến triển đầu tiên hết của bệnh trĩ, những hémorroides có khuynh hướng đi xuống trong ống hậu môn hay ngay cả hơi đi ra ngoài vào lúc đại tiện để rồi sau đó thu vào lại một cách ngẫu nhiên. Những mô giữ chúng ép sát vào đỉnh của ống hậu môn bị lơi giãn và phải can thiệp trực tiếp để làm căng trở lại những cấu trúc nâng đỡ này. Vào những giai đoạn sớm này, chiếm phần lớn các trường hợp, nhiều kỹ thuật dụng cụ (technique instrumentale) ít xâm nhập có thể được thực hiện ở phòng mạch của thầy thuốc dạ dày-ruột mà không cần gây mê. Những kỹ thuật này có ưu điểm gìn giữ chính các hémorroides vì chúng đóng một vai trò cơ năng quan trọng và phải được làm dễ. Ngoại khoa chỉ là một biện pháp cuối cùng, dành cho những tình huống đặc biệt đề kháng với những phương pháp khác.
“ Cuộc chiến giữa các thầy thuốc dạ dày ruột và các thầy thuốc ngoại khoa nhằm giành nhau những bệnh nhân bị trĩ từ nay không còn hợp thời nữa, đặc biệt nhờ những cố gắng của Société nationale française de colo-proctologie (SNFCP), nhằm tạo những mạng hợp tác giữa những mức can thiệp khác nhau ”, GS Jean-Luc Faucheron, trưởng khoa ngoại đại trực tràng (chirurgie colorectale) của CHU de Grenoble đã nhấn mạnh như vậy. Bệnh nhân như thế hưởng được sự giám định tập thể của các chuyên gia để có được sự điều trị thích ứng tốt nhất với bệnh lý của bệnh nhân.
Tất cả các kỹ thuật dụng cụ nhằm tạo một vết sẹo để tăng sức và căng lại mô ở đỉnh của các hémorroides, trong phần cao của ống hậu môn vốn không hoặc ít nhạy cảm. Vết sẹo có thể được tạo thành bằng cách tiêm một chất gây xơ (produit sclérosant), một kỹ thuật cần ít dụng cụ, nhưng càng ngày càng ít được sử dụng bởi vì hơi gây đau hơn so với những phương pháp khác.
NHỮNG HIỆU QUẢ GIẢM VỚI THỜI GIAN
Nếu được trang bị, người thầy thuốc sẽ có thể đề nghị một quang đông bằng hồng ngoại (photocoagulation par infrarouge), ít gây đau đớn nhất trong số những kỹ thuật dụng cụ, đặc biệt có hiệu quả lên sự chảy máu. Cũng như đối với kỹ thuật tiêm các chất gây xơ (injections sclérosantes), nhưng hiệu quả của kỹ thuật quang đông này giảm khá nhanh với thời gian.
Kỹ thuật thắt bằng vong cao su (ligature élastique) là hiệu quả nhất, nhưng cũng gây đau nhất và có một nguy cơ gây nhiễm trùng (mặc dầu thấp) cần một điều trị kháng sinh trong một thời gian ngắn. Kỹ thuật nhằm tạo một suçon trên phần cao của ống hậu môn, sau đó được bao quanh bởi một vòng đàn hồi. Mô bị giam giữ như thế bị phá hủy và được thay thế bằng một vết sẹo sau 1 đến 2 tuần. Cũng như đối với những kỹ thuật khác, động tác đôi khi phải được lập lại 3 hay 4 lần, cách nhau vài tuần. Kỹ thuật thắt bằng vong cao su vẫn khá đau đớn và các bệnh nhân thường sợ buổi cuối cùng, mặc dầu quan trọng đối với kết quả của thủ thuật.
Tất cả những kỹ thuật này đều cho những kết quả tốt : các bệnh nhân thỏa mãn trong 80% các trường hợp (90% đối với thắt đàn hồi), nhưng tính hiệu quả giảm với thời gian và trong 40% (25% đối với thắt đàn hồi) các trường hợp, các bệnh nhân buộc phải xét đến một can thiệp mới sau 3 năm.
Khi đó có thể làm lại cùng loại động tác điều chỉnh hay chuyển qua ngoại khoa nếu bệnh đã tiến triển nhiều.
(LE FIGARO 25/3/2013)

4/ VÀO THỜI KỲ ĐẦU THAI NGHÉN : GIẢM NHỮNG NGUY CƠ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME)
Một kíp nghiên cứu của Viện Y tế công cộng Na Uy chứng minh rằng nguy cơ này có thể được giảm 40% nếu các phụ nữ sử dụng acide folique (vitamine B9) 4 tuần trước và 8 tuần sau khi bắt đầu một thai nghén. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu đã theo dõi trong ba đến mười năm, sau khi sinh, 85.176 trẻ em được sinh giữa năm 2002 và 2008, trong đó 270 đã bị bệnh tự kỷ (autisme). Công trình nghiên cứu tiết lộ rằng mặc dầu ngày nay 85% các phụ nữ dùng vitamine B9 với liều đúng đắn (0,4mg/ngày), nhưng chỉ một nửa dùng chúng đúng lúc. Vào giữa thời kỳ thai nghén vitmaine B9 không có một tác dụng phòng ngừa nào. Acide folique đóng một vai trò chủ yếu trong diễn biến tốt của các phân chia tế bào trong thời kỳ tăng trưởng (phôi thai, thai nhi) và trong sự sửa chữa các bất thường di truyền. Sự cung cấp acide folique trong thời kỳ thai nghén làm giảm một nửa nguy cơ phát triển chậm ngôn ngữ và những rối loạn phát triển não bộ.
(PARIS MATCH 73-13/3/2013)

5/ GÂY MÊ TẠI CHỖ-VÙNG (ANESTHESIE LOC-REGIONALE) CÓ ÍT NGUY CƠ HƠN MỘT GÂY MÊ TỔNG QUÁT ?
Gây mê là một động tác y khoa-kỹ thuật (acte médico-technique) cho phép đặt bệnh nhân trong những điều kiện tối ưu để bệnh nhân có thể được hưởng một can thiệp ngoại khoa hay một acte médical invasif (fibroscopie, thông tim, chọc dò-sinh thiết)
Gây mê tổng quát nhằm “ làm ngủ ” (endormir) hoàn toàn bệnh nhân, nói một cách khác tiêm vào tĩnh mạch bệnh nhân những loại thuốc cho phép có được một sommeil pharmacologique (những thuốc ngủ mà nổi tiếng nhất là Propofol), một tình trạng mất cảm giác đối với đau đớn gây nên bởi phẫu thuật hay giảm đau chu mổ (analgésie péri-opératoire) (các morphiniques), một sự vắng mặt co cơ tự ý hay phản xạ để tạo điều kiện cho phẫu thuật (các thuốc thư giãn cơ hay curares). Sự duy trì gây mê này trong suốt cuộc mổ có thể được thực hiện bằng tiêm tĩnh mạch hay qua đường phổi, trong không khí được thổi vào trong hai lá phổi của bệnh nhân bằng một máy thở (ventilateur) trong khi mổ (khi gây mê hay gaz halogéné).
Gây tê tại chỗ-vùng (anesthésie loco-régionale) (ALR) cho phép làm mất cảm giác và làm bất động một phần của thân thể, từ rất nhiều năm nay là một bộ phận của bộ vũ khí của các thầy thuốc gây mê để gây mê các bệnh nhân. Gây tê tại chỗ (anesthésie locale : tiêm các mép của một vết thương bằng một thuốc được sử dụng một cách đặc hiệu trong trường hợp này, thuốc gây tê tại chỗ (anesthésique local), những tiêm ngấm giảm đau (infiltration antalgique) (tiêm ngấm thuốc tê tại chỗ bằng một mũi kim hay một cathéter trong một vùng vừa được mổ), rachiansthésie (tiêm một thuốc gây tê tại chỗ vào trong dịch não tủy bao quanh tủy sống), péridurale (tiêm một thuốc gây tê tại chỗ vào trong khoảng chung quanh các vỏ bao quanh tủy sống và các rễ thần kinh) và các phong bế các dây thần kinh ngoại biên (tiêm một thuốc gây tê tại chỗ tiếp xúc với một thân thần kinh hay một rễ thần kinh) là những kỹ thuật được sử dụng hàng ngày.
Thật là ảo tưởng và không có căn cứ khi đối chiếu những kỹ thuật gây tê tại chỗ-vùng với những kỹ thuật gây mê tổng quát. Sự sử dụng chúng một cách có ý thức tùy thuộc những chỉ định phẫu thuật, những bệnh lý liên kết của bệnh nhân được mổ, cũng như những điều trị và sự thực hiện chúng đặc hiệu dành cho ngoại khoa hay điều trị đau hậu phẫu. Tỷ suất nguy cơ/lợi ích được đánh giá bởi thầy thuốc gây mê đối với bệnh nhân khi khám bệnh hay khi visite tiền mê. Chúng thường có tính chất bổ sung.
Gây tê tại chỗ-vùng (ALR) đã phát triển nhiều trong những năm qua, nhất là những phong bế thần kinh (thầy thuốc “ làm tê ” một cánh tay hay một cẳng chân). Thủ thuật gây tê tại chỗ-vùng là một tiến bộ chắc chắn đối với những can thiệp được thực hiện ngoại trú và đặc biệt là đối với những bệnh nhân bị những rối loạn về những chức năng trí tuệ hay hành vi. Trong những chỉ định này, gây tê tại chỗ-vùng phải được ưu tiên so với gây mê tổng quát. Nó cải thiện một cách rất đáng kể những hậu phẫu (suites opératoires). Về ý niệm nguy cơ do gây mê, gây tê tại chỗ-vùng cho phép hạn chế vài nguy cơ (ngừng hô hấp, hạ huyết áp) hay những tác dụng không được mong muốn (nôn, mửa, chóng mặt…) liên kết với gây mê tổng quát. Tuy nhiên những nguy cơ do thực hành ALR, như những thương tổn thần kinh hay độc tính của những thuốc gây tê tại chỗ trong trường hợp tiêm không cố ý vào tĩnh mạch, mặc dầu vô cùng hiếm, nhưng phải được nêu lên.
AMELIORATION DU VECU.
Gây tê tại chỗ-vùng (ALR) đã không phải đợi sự xuất hiện của siêu âm rồi mới hiện hữu, nhưng sự xác định vị trí nhờ siêu âm mang lại một tiến bộ chắc chắn đối với thầy thuốc, đối với bệnh nhân và đối với cơ sỡ điều trị. Những tiến bộ kỹ thuật, sự tiểu hình hóa các máy móc và sự cải thiện chức năng của các ống thăm dò siêu âm (sonde d’échographie) đã cho phép một sự phát triển nhanh chóng của sự sử dụng nó dành cho ALR. Người thao tác, nhờ siêu âm, có thể thấy dây thần kinh, những cấu trúc lân cận, mạch máu và cơ-gân, và đường đi của chiếc kim. Ngoài sự chính xác, siêu âm cho phép, một mặt, khi điều đó cần thiết, thực hiện nhiều chọc dò và, mặt khác, tiên đoán tính hiệu quả của gây mê. Tính chất có thể tiên đoán này cũng có thể có một lợi điểm trên bình diện tổ chức của khu mổ bằng cách cho phép tổ chức tốt hơn planning của các can thiệp.
Gây tê tại chỗ-vùng (ALR) sẽ không thay thế gây mê toàn thân trong tất cả các trường hợp. Tuy nhiên nó phải được đề nghị cho bệnh nhân trong một số rất lớn các phẫu thuật vì nó cho phép một sự cải thiện đáng kể điều bệnh nhân phải trải qua với cuộc mổ và chất lượng của giảm đau hậu phẫu. Sự sử dụng siêu âm trong thủ thuật gây tê tại chỗ vững chắc chắn sẽ cho phép sự phát triển quan trọng của kỹ thuật này.
(FIGARO 22/10/2012)

6/ ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU BẰNG LẠNH HẠN CHẾ NHỮNG DI CHỨNG CỦA TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Bảo vệ não bộ các nạn nhân của một tai biến mạch máu não bằng lạnh. Một điều trị cấp cứu được trắc nghiệm trên 1500 bệnh nhân châu Âu. Ngoài những điều trị cổ điển, sự làm lạnh tạm thời có thể cho phép làm giảm những di chứng của một tai biến mạch máu não (mất trí nhớ, khó cử động). Hiện nay, thử nghiệm chỉ giới hạn vào những trường hợp nhồi máu não (những tai biến mạch máu não được gây nên do sự tạo thành một cục máu đông trong máu). Làm chậm lại những quá trình phá hủy các neurone, được khởi phát khi máu đến không đủ trong một vùng của não bộ. Theo những thử nghiệm sơ khởi, nhiệt độ có thể phải được duy trì ở mức 34 độ C trong vài chục giờ, để hy vọng có được những lợi ích. Các thầy thuốc tiến hành như thế nào ? “ Chúng tôi sử dụng mền hay những ống thông làm lạnh (couvertures ou sondes réfrigérantes), Charlotte Cordonnier, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHRU de Lille đã giải thích như vậy. Để tránh sự khó chịu, các bệnh nhân nhận những thuốc làm hạn chế những run lạnh. “ Mặc dầu đáng ngạc nhiên, phương pháp này tuy vậy không phải là mới. “ Những đặc tính bảo vệ thần kinh của lạnh đã được công nhận sau một ngừng tim, thầy thuốc thần kinh nói tiếp. Chúng tôi sẽ thử chứng minh chúng trong trường hợp những tai biến mạch máu não này ” Ở Pháp, 500.000 người bị những di chứng của một tai biến mạch máu não.
(SCIENCE ET VIE 3/2013)

7/ CALCIUM : NHỮNG NGUY CƠ CỦA SỰ CUNG CẤP QUÁ MỨC.
Như một công trình nghiên cứu của Thụy Điển mới đây chứng tỏ, tim không thích quá nhiều calcium. Hơn 61.000 phụ nữ, sinh ra giữa năm 1914 và 1948, đã được kiểm tra trong gần 20 năm. Sự tiêu thụ calcium của các phụ nữ này, đã được kiểm tra bằng bảng câu hỏi hai lần, vào năm 1987 và 1997, thay đổi, tùy theo những người tham dự, từ 572 mg đến 2137 mg mỗi ngày. Trong thời kỳ theo dõi, 11.944 người đã chết, trong đó 3862 vì những nguyên nhân tim mạch (1932 vì bệnh tim, 1100 vì bệnh não và 830 vì những cơ quan khác). Ở những phụ nữ đã tiêu thụ hơn 1400 mg calcium mỗi ngày, tỷ lệ tử vong toàn bộ đã bị gia tăng 40% so với những phụ nữ mà sự tiêu thụ từ 600 đến 1000mg (tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành ở những người tiêu thụ nhiều nhất đã gia tăng 50% !). Các tác giả khuyến nghị cần đánh giá một cách chính xác những thói quen về ăn uống trước khi cung cấp bổ sung calcium.
(PARIS MATCH 28/2-6/3/2013)

8/ CẮT BỎ TỬ CUNG : NGOẠI KHOA NỘI SOI CÓ ROBOT HỖ TRỢ (CHIRURGIE COELIOSCOPIE ROBOTISEE)
GS Jean-Marc Ayoubi, trưởng khoa ngoạI-sản của bệnh viện Foch (Suresnes), giải thích những phương thức và những lợi ích của tiến bộ này.
Hỏi : Các phụ nữ thường phản ứng như thế nào khi được loan báo một phẫu thuật cắt bỏ tử cung.
GS Jean-Marc-Ayoubi. Từ thời Hippocrate, tử cung đã luôn luôn là một cơ quan tích chứa symbole, sự cắt bỏ nó là một quyết định không được xem nhẹ. Trong trường hợp bệnh hiền tính, cắt bỏ tử cung hiếm khi được quyết định trong một lần thăm khám đầu tiên. Trước hết ta tìm kiếm một điều trị không cần phải mổ. Nhưng khi nghe loan báo một phẫu thuật cắt bỏ tử cung, phần lớn các bệnh nhân sợ những biến chứng và những hậu quả tâm lý-sinh dục.
Hỏi : Khi nào ta đề nghị một cắt bỏ tử cung ?
GS Jean-Marc-Ayoubi. Những chỉ định cắt bỏ tử cung có nhiều và tiến triển hằng định. 1. Chúng bao gồm những bệnh lý ác tính như ung thư cổ và của thân tử cung, của buồng trứng …2. Những bệnh hiền tính, thí dụ như các u xơ tử cung, nguyên nhân của xuất huyết, thiếu máu, đau bụng hay sa các cơ quan (descente d’organe) (prolapsus), gây nên một sự khó chịu quan trọng và một sự suy sụp chất lượng sống.
Hỏi : Những kỹ thuật ngoại khoa nào được sử dụng để thực hiện sự cắt bỏ này ?
GS Jean-Marc-Ayoubi. Kỹ thuật đầu tiên là mở bụng (laparotomie) được thực hiện bằng cách mở thành bụng. Một kỹ thuật thứ hai nhằm lấy tử cung bằng đường âm đạo, không để lại sẹo có thể thấy được. Một kỹ thuật thứ ba cho phép thực hiện cắt bỏ bằng nội soi, xuyên qua các lỗ nhỏ không phải mở thành bụng (tử cung luôn luôn được lấy ra bằng đường âm đạo). Mới đây nhất, sự xuất hiện của ngoại khoa robot được hỗ trợ bằng máy vi tính (chirurgie robotique assistée par ordinateur) cho phép thực hiện can thiệp này.
Hỏi : Vậy thủ thuật cắt bỏ tử cung với sự hỗ trợ của robot (hystérectomie par robotisation) là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi. Những động tác giải phẫu cũng giống như đối với soi ổ bụng (coelioscopie), nhưng những dụng cụ được mang và được thao tác bởi những cánh tay articulé của một robot, được nối với một console mà sau đó thầy thuốc ngoại khoa ngồi, gương mặt dán vào màn ảnh. Phẫu trường được truyền lại theo ba chiều không gian.
Hỏi : Tại sao ta chọn một kỹ thuật này hơn là một kỹ thuật khác ?
GS Jean-Marc-Ayoubi. Tất cả tùy thuộc vào căn bệnh. Mở bụng (laparotomie) giữ vai trò trong những bệnh lý quan trọng. Nó cho phép tiếp cận dễ dàng với những vùng cơ thể học khác nhau, bằng cái giá phải trả là những đau bụng hậu phẫu mạnh hơn, một thời gian nhập viện từ 5 đến 7 ngày và một tháng dưỡng bệnh. Đường âm đạo phức tạp hơn vì đường vào hẹp và không mang lại một cái nhìn hoàn toàn ổ bụng. Những đau hậu phẫu ít quan trọng hơn và cho phép giảm thời gian nhập viện và hồi sức. Với nội soi, thầy thuốc ngoại khoa có một thị trường tốt, nhưng những động tác có thể bị hạn chế bởi vì sự tiếp cận vài bộ phận cơ thể học có nguy cơ tỏ ra tế nhị. Những đau hậu phẫu vừa phải, và phải tính hai đến ba tuần thời gian dưỡng bệnh.
Hỏi : Đối với thầy thuốc ngoại khoa, những ưu điểm của kỹ thuật với robot hỗ trợ (technique robotisée) là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi. Có 4 ưu điểm 1. Phẫu trường có thể thấy rõ hơn nhờ được phóng đại trên màn ảnh và thị giác 3 chiều (vision tridimensionnellle). 2. Sự tiểu hình hóa các dụng cụ cho phép những động tác phẫu thuật vi xâm nhập có một độ chính xác lớn hơn. 3. Những xuất huyết ít quan trọng hơn. 4. Thầy thuốc có thể can thiệp trong những vùng khó có thể tiếp cận với một kỹ thuật khác.
Hỏi : Và đối với bệnh nhân, những lợi ích của can thiệp được robot hỗ trợ này là gì ?
GS Jean-Marc-Ayoubi. Các hậu phẫu dường như đơn giản hơn, đau hậu phẫu ít dữ dội hơn, cần ít thuốc nha phiến hơn. Thời gian nhập viện ngắn hơn (một đến hai ngày) và thời kỳ dưỡng bệnh ít dài hơn (hiếm khi hơn 15 ngày).
Hỏi : Hiện nay, ở đâu (Pháp) ta có thể hưởng được một thủ thuật cắt bỏ tử cung với robot hỗ trợ ?
GS Jean-Marc-Ayoubi. Ở Pháp, trong 15 đến 20 services hospitaliers hay privé, trong đó có service của chúng tôi ở Bệnh Viện Foch de Suresnes. Từ năm 2010, chúng tôi đã thực hiện hơn 150 cắt bỏ tử cung với robot hỗ trợ. Chúng tôi thấy những kết quả đầu tiên rất đáng lưu ý, kỹ thuật này là một tiến bộ thật sự.
(PARIS MATCH 21/3-27/3/2013)

9/ NGỪNG THUỐC LÁ : GIẢM CHẾT SỚM.
Một hay 4 điếu thuốc mỗi ngày trong 30 năm nhân lên gấp ba nguy cơ chết sớm vì một bệnh tim mạch hay một bệnh ung thư. Nhân Journées européennes lần thứ XXIII mới đây của Société française de cardiologie, GS Daniel Thomas (Bệnh viện Salpêtrière, Paris) đã bình luận những kết luận của một phân tích méta Đức được tiến hành bởi những nhà dịch tễ học thuộc đại học Heidelberg, đã tập hợp những kết quả của 17 công trình nghiên cứu được thực hiện trong 7 nước và trên hơn 160.000 người. Sự ngừng thuốc lá đối với những người hút thuốc 60 tuổi và hơn cho phép làm giảm 25% nguy cơ tử vong (tất cả các nguyên nhân), điều này tương ứng với 6 hoặc 7 năm sống thêm với sức khoẻ tốt. Thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính gây nhồi máu cơ tim, gây nên những huyết khối do sự ngưng kết quá mức của các tiểu cầu trong máu. Sau khi ngừng hút, sự ngưng kết này bình thường hóa trong 15 ngày. Phổi phục hồi lại trong 6 đến 9 tháng, nguy cơ bệnh động mạch vành được giảm một nửa sau một năm, nguy cơ bị ung thư được giảm một nửa sau 10 năm !
(PARIS MATCH 21/3 – 27/3/2013)

10/ NHỮNG TẾ BÀO GỐC ĐƯỢC TẠO RA TỪ NƯỚC TIỂU.
Chế tạo những tế bào gốc từ những mẫu nghiệm nước tiểu, đó là điều có thể thực hiện ! Các nhà sinh học Trung Hoa của Institut de Biomedicine and Health de Canton đã công bố ý niệm năm 2011 ; hôm nay, họ tiết lộ chi tiết của phương pháp trong Nature.
Kíp nghiên cứu đã trích trong nước tiểu của ba người cho những tế bào biểu mô của niệu đạo và thận. Rồi, sau khi đã cấy chúng trong hai tuần, kíp nghiên cứu đã gây nhiễm chúng với những rétrovirus có nhiệm vụ tái lập chương trình những tế bào này. Các nhà nghiên cứu dựa theo những công trình của người Nhật Shinya Yamanaka, giải Nobel sinh lý-y khoa nằm 2012. Khi đó các tế bào bị “ mất biệt hóa ” (dédifférencié) để trở thành những tế bào gốc đa năng iPSc (induced Pluripotent Stem cells), có khả năng cho tất cả những tế bào. Nhóm nghiên cứu Trung Quốc sau đó đã chứng minh rằng những iPSc này có thể được biến hóa thành những tê bào của hệ thần kinh, của gan hay của tim. “ Lợi ích của phương pháp này là không có tính cách xâm nhập (invasive), Mathilde Girand, phụ trách nghiên cứu của Viện các tế bào gốc (Evry) đã bình luận như thế. Phương pháp được thực hiện đơn giản hơn những phương pháp hiện nay (lấy da, máu hay tóc..)”
Vấn đề là còn phải kiểm tra rằng những tế bào này, để được sử dụng trong y khoa, phải không có những bất thường. “ Những bất thường này có thể là nhiễm sắc thế, épigénétique hay tạm thời. Cũng như những phương pháp tái lập chương trình (méthode de reprogrammation) cũ (bằng rétrovirus) sinh nhiều bất thường hơn những kỹ thuật gần đây hơn.” Các nhà nghiên cứu phải mang lại bằng cớ về tính vô hại của phương pháp tái lập chương trình.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(01/04/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 302 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 579 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s