Thời sự y học số 301 – BS Nguyễn Văn Thịnh

cancer du seinCHUYÊN ĐỀ UNG THƯ

1/ UNG THƯ VÚ : NHỮNG VŨ KHÍ MỚI
LE CHOC DE L’ANNONCE
Những thuốc cải tiến, kỹ thuật bức xạ liệu pháp một buổi trong khi mổ, chẩn đoán trong một ngày. Những điều trị của ung thư vú không ngừng tiến triển. 5 chuyên gia nhiều kinh nghiệm, các thầy thuốc chuyên khoa ung thư (cancérologue), các thầy thuốc ngoại khoa, thầy thuốc X quang trị liệu (radiothérapeute) mô tả cho chúng ta những tiến bộ này.

Đối với một phụ nữ, tin bị ung thư vú được nhận như một cú sét đánh trong một bầu trời quang đãng. “ Sao lại là tôi ? Điều gì sẽ xảy đến cho tôi ?.. ” . Người phụ nữ này tức thời lo sợ cho cuộc sống của mình, cho nữ tính của mình và, đôi khi, cho sự quân bình của lứa đôi. Thế mà, rất thường, tout bascule. Tuy vậy, ngày nay, căn bệnh thường xảy ra này, trung bình gây bệnh cho một phụ nữ trên 9 trong sự hiện hữu của mình, về mặt thống kê, trong những trường hợp được chẩn đoán sớm, có nhiều cơ may nhiều chữa lành bởi vì y khoa đã không ngừng tiến bộ từ hai chục năm qua. “ Mỗi ngày, BS Marc Spielmann (thầy thuốc chuyên khoa ung thư vú thuộc Institut Gustave-Roussy de Villejuif) đã giải thích như vậy, những tế bào ung thư nảy sinh trong cơ thể của chúng ta nhưng bị tiêu diệt bởi hệ miễn dịch của chúng ta ; tuy nhiên, nếu hệ miễn dịch này bị suy yếu và không thể làm tròn chức năng của mình nữa, tế bào ung thư sẽ tăng sinh, cho đến khi tạo một khối u (phải cần từ 6 đến 9 năm mới có thể sờ thấy được). Chính sự giảm sút trong việc nhận biết kẻ thù là nguồn gốc của sự tăng sinh. Hiện nay, ở Pháp ta thống kê 55.000 trường hợp mới mỗi năm, hai lần nhiều hơn vào đầu những năm 80. Tại sao có một sự gia tăng như vậy ? Một mặt, các phụ nữ càng ngày càng sống lâu hơn và, với tuổi tác, hệ miễn dịch trở nên ít hiệu năng hơn. Mặt khác, những chiến dịch phát hiện ung thư, với những tiến bộ lớn của chụp hình ảnh từ những năm 2000, cho phép phát hiện nhiều khối u có kích thước rất nhỏ hơn.
ĐỂ XÁC NHẬN MỘT CHẨN ĐOÁN : MACROBIOPSIE
Nếu chụp tuyến vú (mammographie) và siêu âm phát hiện những hình ảnh đáng ngờ, chúng không thể xác lập một nguồn gốc ác tính hay hiền tính. Trong vài trường hợp, một IRM (chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ) là hữu ích để bổ sung những thăm dò đầu tiên này. Nhất là khi có nhiều khối u hoặc những thể với nhiều vôi hóa vi thể (microcalcifications). Nhưng để được một chẩn đoán đáng tin cậy, BS Céline Bourgrier (radiothérapeute thuộc Viện Gustave-Roussy de Villejuif) đã đảm bảo như vậy, hai kỹ thuật stéréotaxique được hiệu chính trong những năm qua, cho phép lấy mô tuyến vú (tissu mammaire) : sinh thiết vi thể (microbiopsie), và mới hơn sinh thiết đại thể (macrobiopsie). Bệnh nhân được đặt nằm trên một mặt phẳng bàn gồm có một lỗ, là nơi vú được đặt vào. Phía dưới, một máy chụp hình tuyến vú cặp với một máy vi tính (ordinateur), cho phép hướng dẫn can thiệp. Sau một gây tê tại chỗ, thầy thuốc quang tuyến đưa vào một aiguille creuse được trang bị một cái khoan quay (fraise rotative), rút ra nhiều mẫu nghiệm từ một nodule để phân tích chúng trong phòng xét nghiệm. Đối với macrobiopsie (chủ yếu được sử dụng trong những vôi hóa vi thể), thầy thuốc thực hành sử dụng một loại panier à bords coupants, thu nhận một thể tích mô quan trọng hơn. Với hệ thống Intact mới nhất, từ nay ta có thể lấy toàn bộ các những vôi hóa vi thể hay một khối u kích thước nhỏ (10-15 mm). Kỹ thuật này là một bước tiến rất lớn bởi vì nó cho phép trong nhiều trường hợp tránh mổ cắt bỏ (exérèse chirurgicale), với một mức độ tin cậy rất tuyệt vời.
CHẨN ĐOÁN TRONG MỘT NGÀY : UN REMEDE A L’ANGOISSE
“ Institut Gustave-Roussy, BS Céline và Marc Spielmann đã giải thích như vậy, là trung tâm chống ung thư đầu tiên đã thiết lập một điều trị mới cho phép các phụ nữ thực hiện toàn bộ các thăm dò trong cùng một cơ sở bệnh viện. Các kết quả được thông báo trong ngày cho các thầy thuốc chuyên khoa của một kíp nhiều chuyên khoa (équipe pluridisciplinaire) (thầy thuốc quang tuyến, thầy thuốc chuyên về ung thư, thầy thuốc ngoại khoa, thầy thuốc cơ thể bệnh lý) cùng phối hợp để quyết định một protocole điều trị. Trong trường hợp ung thư, bệnh nhân trở về nhà buổi chiều và lấy hẹn cho một consultation đầu tiên.
QUYẾT ĐỊNH ĐIỀU TRỊ : MỘT CÔNG VIỆC EQUIPE.
“ Có hai loại khối u ác tính lớn : những ung thư khu trú và những ung thư đã di căn, BS Spielmann đã giải thích như vậy. Trong trường hợp đầu, có thể có một hay nhiều khối u, liên kết hay không với một sự xâm nhập của một hay nhiều hạch của nách. Trong những ung thư di căn, các tế bào ung thư đã thành công xâm nhập những cơ quan khác qua các huyết quản hay mạch bạch huyết : xương, phổi, gan Các điều trị sẽ được thích ứng với loại ung thư và với giai đoạn tiến triển của nó. Quyết định về protocole điều trị thích ứng nhất phải luôn luôn được thực hiện bởi kíp nhiều chuyên khoa (thầy thuốc ngoại khoa, thầy thuốc nội ung thư, thầy thuốc phóng xạ liệu pháp, thầy thuốc cơ thể bệnh lý). Công việc này, trong cùng một buổi họp, là cái bảo đảm tốt nhất để xác lập một điều trị thích ứng theo từng cá thể (traitement sur mesure). Trong những trường hợp ung thư khu trú, thường nhất ta quyết định lấy đi bằng phẫu thuật (tumorectomie) nếu nó không vượt quá 3 đến 4 cm. Nhưng đối với một khối u lớn hơn, trước hết ta bắt đầu bằng một hóa học liệu pháp để làm thu nhỏ nó nhằm sau đó có thể lấy đi mà không cần phải cắt bỏ vú. Cách nay hơn 10 năm, đều phải cắt bỏ (ablation). Ngày này ta chỉ thực hiện cắt bỏ tuyến vú (mastectomie) khi có nhiều thương tổn ung thư trong vú hay trong vài chỉ định không thể tránh được.”
NHỮNG KỸ THUẬT PHỤC HỒI : TÍNH CHẤT TOÀN VẸN CƠ THỂ.
“ Các bệnh nhân, BS Daniel Zarca (chirurgien, spécialiste du cancer du sein), từ nay hưởng được một tiến bộ lớn : trong khi mổ, người ta đã quan tâm đến khía cạnh thẩm mỹ. Cuộc mổ được diễn ra theo équipe với sự cộng tác của một thầy thuốc ngoại ung thư (chirurgien cancérologue) và một thầy thuốc tạo hình (plasticien). Mối bận tâm của chúng tôi, ngoài sự lo lắng chữa lành bệnh, là làm bệnh nhân nhẹ nhõm bằng cách trình bày với người được mổ những tiến bộ sẽ cho phép bệnh nhân tìm lại được sự toàn vẹn cơ thể của mình, nữ tính của mình ”. “ Để tránh tối đa những di chứng sẹo, BS David Benjoar (chirurgien plasticien, hôpital Georges-Pompidou) nói tiếp, trong phần lớn các trường hợp, thầy thuốc ngoại ung thư lấy khối u hay toàn bộ tuyên vú qua quầng vú (aréole). 1. Đối với những ung thư khu trú, sau khi lấy đi khối u (tumorectomie), một kỹ thuật mới được gọi là oncoplastie cho phép điều biến vú (remodeler) để mang lại cho nó một dạng tự nhiên. Phương thức nhắm làm di chuyển một phần của mô vú để, thí dụ, lấp đầy chỗ hõm. Thường cần điều chỉnh vú kia để tái lập sự hài hòa và sự đối xứng của nửa thân trên (buste). 2. Khi vú không thể được bảo tồn, trong vài trường hợp ta có khả năng thực hiện một sự tái tạo tức thời, nhất là khi một phóng xa liệu pháp không được hoạch định. Trong một thì đầu, sự cắt bỏ được thực hiện với một kỹ thuật nhằm bảo tồn da và đôi khi ngay cả quầng vú (aréole) và núm vú (mmaelon). Sau thủ thuật cắt bỏ tuyến vú (mastectomie), thể tích thiếu hụt được thay thế hoặc bởi một implant de silicon, hoặc bởi mô mỡ có mạch máu được lấy ở bụng (kỹ thuật DIEP) hay bởi một đoạn cơ (thầy thuốc ngoại khoa di chuyển về phía vú một phần của của cơ lưng có mạch máu). Trong thì hai, thể tích được làm gia tăng và hình thể được làm rõ nét đường dáng bằng những mũi tiêm mô được làm tinh khiết (kỹ thuật chủ yếu được sử dụng đối với các phụ nữ gầy hay có da quá mỏng). Những thủ thuật tái tạo autologue này (được thực hiện bằng chính mô của bệnh nhân) tránh những nhược điểm của một prothèse (nguy cơ tạo coque, tình trạng cứng) Với thời gian các vú tiến triển một cách y hệt.”
Sau phẫu thuật, tùy theo sự xác lập của protocole, một điều trị cá thể hóa (traitement sur mesure) được thực hiện : phóng xạ liệu pháp, hormone liệu pháp, hóa học liệu pháp (đơn độc hay phối hợp) : tất cả đã hưởng từ hai thập niên qua những tiến bộ đáng kể !
BỨC XẠ LIỆU PHÁP : LÀM GIẢM TỪ 65 ĐẾ ? 80% NHỮNG TÁI PHÁT TẠI CHỖ-VÙNG.
Kỹ thuật này, BS Céline Bourgrier đã giải thích như vậy, nhằm chiếu phóng xạ vào vú với một appareil à accélérateurs linéaires phát ra những tia có năng lượng cao, những chùm rất chính xác đặt sâu trong vùng được nhắm đích bằng cách làm vỡ ADN của những tế bào ung thư để phá hủy chúng. Trong những trường hợp ngoại khoa đã có thể bảo tồn, ta chiếu xạ toàn bộ vú để loại bỏ những tế bào ung thư còn sót, rồi một liều bổ sung được cho ở nơi u hiện diện. Từ năm năm nay, nhờ một sự hoạch định điều trị bằng chụp cắt lớp vi tính cực kỳ chính xác, ta tránh mối nguy cơ đụng vào một cơ quan lân cận (tim hay phổi).
Tiến bộ khác : phóng xạ trị liệu thích ứng theo từng cá thể (radiothérapie sur mesure) cho phép thích ứng phóng xạ được phát ra theo thể tích của vú. Sau phẫu thuật cắt bộ tuyến vú (mamectomie), những chỉ định phóng xạ liệu pháp khác nhau tùy theo kích thước khối u hay sự xâm nhập các hạch. Điều trị, diễn ra thành nhiều buổi (4 hay 5 quotidienne trong một thời kỳ từ năm đến bảy tuần), nói chung được chịu tốt hơn một hóa học liệu pháp có những tác dụng phụ nặng nề hơn. Một protocole phóng xạ liệu pháp mới, ít gò bó hơn, mới đây đã được hiệu chính. Protocole này liên quan đến những phụ nữ hơn 60 tuổi có khối u không vượt quá 2 cm. Điều trị, gồm 10 buổi (hai quotidienne 20 phút trong 5 ngày), chỉ nhắm những vùng được mổ. Hiệu quả remarquable.
ĐỐI VỚI VÀI UNG THƯ NHỎ : ĐIỀU TRỊ TRONG KHI MỔ
Những protocole phóng xạ liệu pháp không ngừng được cải thiện và, trong những năm đến, những bệnh nhân trên 60 tuổi bị một ung thư dưới 2 cm không có di căn hạch và tiên lượng tốt có lẽ sẽ là những bệnh nhân sẽ được hưởng những kỹ thuật mới nhất. Ở những bệnh nhân này, một điều trị trong cùng một cuộc mổ, liên kết ngoại khoa và phóng xạ liệu pháp, đã được sử dụng trong vài trung tâm chuyên môn. “ Thủ thuật (còn đang được nghiên cứu), BS Céline Bourgier đã giải thích như vậy, nhằm, ngay sau khi cắt bỏ khối u, thiết đặt trong vùng mô một applicateur (hinh boule) nối với một máy accélérateurs đặc hiệu. Trong vòng 20 phút, máy này chiếu phóng xạ các mô bao quanh ung thư. Vậy điều trị tại chỗ được thực hiện cùng ngày.”
MỘT BƯỚC TIẾN LỚN ĐỂ PHÁ VỠ SỰ ĐỂ KHÁNG ĐỐI VỚI HORMONE LIỆU PHÁP
“ Trong các trường hợp ung thư phụ thuộc kích thích tố (cancer hormonodépendant), trong đó những tế bào ung thư nhạy cảm với các œstrogène (kích hoạt sự tăng sinh của chúng), GS Martine Piccart (trưởng khoa nội thuộc Viện Jules Bordet de Bruxelles, chủ tịch của Breast International Group) đã giải thích như vậy, hormone liệu pháp là điều trị nhắm đích đầu tiên của ung thư vú. Nó có hai mục đích : phong bế những lối vào (các thụ thể) của các œstrogène trong những tế bào ung thư hay làm giảm một cách rõ rệt sự tiết chúng trong cơ thể. Có nhiều loại thuốc có hiệu quả để ngăn cản những tái phát hay kiểm soát sự tiến triển của một bệnh đã rất là tiến triển, trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, nhờ những điều trị kế tiếp nhau trong trường hợp mất tính hiệu quả. Thường ta “ đông lạnh” được quá trình ung thư ; quá trình này như bị tê liệt. Bất hạnh thay, một ngày nào đó, những tế bào ác tính có thể trở nên đề kháng với hormone liệu pháp và đó là sự chuyển qua hóa học liệu pháp. Cho đến nay, để tránh vấn đề này, tất cả các toan tính đều đã thất bại. Nhưng cách nay vài tháng, ta đã có thể chứng minh rằng một protocole mới liên kết hai loại thuốc, exemestane (một kháng hormone) và một thuốc nhắm đích, everolimus (một anti-MTOR), có khả năng bẻ gãy một cách tạm thời sự đề kháng đối với hormone liệu pháp.”
“ Mỗi tế bào, BS Marc Spielmann nói tiếp, đều mang một đường phát tín hiệu (voie de signalisation) (MTOR) nhằm kiểm soát sự phân chia tế bào.Nhưng, trong vài trường hợp, đường này bị rối loạn và sự phân chia tế bào gia tốc, gây nên một sự tăng sinh hỗn loạn. Các anti-MTOR có thể phong bế tình trạng rối loạn của đường phát tín hiệu này.” Một công trình nghiên cứu quốc tế, “bolero-2 ”, được tiến hành trên 700 phụ nữ được chia thành hai nhóm, một nhóm được điều trị hormone (exemestane) cộng placebo, nhóm kia được điều trị bởi exemestane phối hợp với anti-MTOR, đã cho thấy những kết quả đáng phấn khởi.Với protocole này, các bệnh nhân phải chịu nhiều những tác dụng phụ hơn những tác dụng của một hormone liệu pháp quy ước. “ Nhưng, BS Spielmann đã nói rõ như vậy, những tác dụng độc này có thể kiểm soát được.” Đó là một bước tiến đáng kể mở ra một con đường nghiên cứu mới cho những loại thuốc nhắm đích khác còn hiệu năng hơn.
HÓA HỌC LIỆU PHÁP NHẮM ĐÍCH : CÁC PHI ĐẠN CÓ ĐẦU TÌM (MISSILES A TÊTE CHERCHEUSE).
Những loại thuốc hóa học liệu pháp được cho bằng đường tĩnh mạch nhằm phong bế sự tăng trưởng của những tế bào ung thư hay giết chết chúng. “Trong phần lớn các trường hợp, BS Sielmann đã giải thích như vậy, ta cho một hóa học liệu pháp trong một mục đích phòng ngừa sau khi đã cắt bỏ khối u. Trong những năm qua, một giai đoạn quan trọng đã được vượt qua với sự xuất hiện những liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée), tấn công một cách đặc hiệu những tế bào ác tính nhờ những thuốc được thích ứng đối với mỗi loại ung thư.” Đối với ông cũng như đối với GS Picart, một trong những tiến bộ lớn nhất là sự khám phá những loại thuốc hướng một cách đặc hiệu lên các khối u mang thụ thể HER2. “ Chef de file của các liệu pháp nhắm đích chống lại thụ thể này, nhà chuyên môn đã xác nhận như vậy, là trastuzumab, khi được cho sớm liên kết với một hóa học liệu pháp, làm giảm một nửa nguy cơ tái phát và làm gia tăng nhưng cơ may chữa lành. Một “ phi đạn ” (missile) thứ hai nhắm vào HER2 ở một nơi khác là pertuzumab, đã tỏ ra đầy hứa hẹn (được kê đơn với trastuzumab và hóa học liệu pháp). Một công trình nghiên cứu quốc tế lớn “Aphinity ”, được điều phối bởi Viện Jules-Bordet của chúng tôi ở Bruxelles, sẽ chứng minh tính ưu việt của protocole này. Nhưng những tiến bộ không dừng lại đó. Một loại thuốc mới, T-DM1, được chế tạo một cách rất thông minh, xử sự như một con ngựa thành Troie : nó dùng trastuzumab để bám vào các tế bào ung thư mang HER2 và đưa vào đó một sản phẩm của hóa học liệu pháp để tiêu diệt chúng. Kết quả thật tuyệt vời : đặc biệt có hiệu quả, thuốc tác dụng mà không làm thương tổn những tế bào lành mạnh, như thế tránh nhiều tác dụng phụ. Loại thuốc này sẽ bổ sung kho trị liệu của các thầy thuốc ung thư vào năm 2013-2014. Một bước lớn tiến về phía trước khác trong cuộc đấu tranh chống ung thư, BS Marc Spielmann đã giải thích như vậy, đã được thực hiện trong những năm qua với sự hiệu chính một chiến lược mới chống sinh mạch máu (stratégie anti-angiogenèse). Để cấu tạo và tăng trưởng, các khối u cần được nuôi dưỡng. Để đạt điều đó, chúng chế tạo và lôi kéo về phía chúng những huyết quản riêng của mình để cho phép chúng tự nuôi dưỡng. Vậy ta đã chế tạo những loại thuốc nhắm đích (médicaments ciblés) có khả năng tiêu diệt những huyết quản này nhằm bỏ đói và làm hoại tử khối u. Những công trình nghiên cứu quốc tế đã chứng minh tính hiệu quả của chiến lược này với một loại thuốc cải tiến, bevacizumab. Những công trình khác đang được tiến hành để hiệu chính những thuốc mới chống sinh huyết quản, một đường nghiên cứu đầy hứa hẹn
(PARIS MATCH 15/11-21/11/2012)

2/ NHỮNG Ý TƯỞNG SAI LẠC VỀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA UNG THƯ.
Nguy cơ liên kết với lối sống được cho ít quan trọng hơn nguồn gốc di truyền.
PREVENTION. Mang đồ lót quá chật gây ung thư ? Điện thoại cầm tay cũng vậy ? Ăn OGM ? Còn những prothèse mammaire ? Nhiều người châu Âu tin chắc rằng những hoạt động này gây một sự gia tăng nguy cơ ung thư mặc dầu sự chứng minh đã không bao giờ được thực hiện. Ngược lại, họ hoàn toàn giảm thiểu tác động của rượu, của chứng béo phì và của ánh nắng mặt trời trong sự phát sinh của các khối u ác tính. Đó là điều được phát hiện bởi một điều tra được tiến hành ở Ái Nhĩ Lan (Irlande) và được trình bày ngày 30/9/2012 ở Vienne nhân hội nghị của Société européenne d’oncologie médicale. Để phòng ngừa ung thư, cần phải biết rõ những yếu tố nguy cơ. Nhiều ý nghĩ sai lạc về vấn đề này lưu hành ở châu Âu, điều mà nhiều công trình nghiên cứu được trình bày nhân hội nghị này ở Vienne đã xác nhận.
“ Một bộ phần lớn dân chúng châu Âu đặc biệt không thích ý tưởng trách nhiệm cá nhân trong phòng ngừa ung thư, bởi vì điều đó cũng có nghĩa thay đổi những thói quen và lối sống của mình. Họ ưa thích chê trách yếu tố di truyền hay xã hội, GS Hans-Jorg Senn (Thụy Sĩ), chủ tịch chaire de prévention du cancer thuộc Société européenne d’oncologie đã xác nhận như vậy. Tuy nhiên, làm cho những người châu Âu nhận thức tầm quan trọng của phòng ngừa nguyên phát ung thư (prévention primaire du cancer) vẫn là một thách thức to lớn phải nhận lấy cho tương lai. Nguồn gốc của tất cả các ung thư không hẳn đã được xác lập. Nhưng vai trò của thuốc lá là rõ ràng trong 85% các trường hợp ung thư phổi, và cũng trong ung thư bàng quang. Vai trò của rượu đã được xác lập phần lớn đối với một tỷ lệ đáng kể của ung thư họng và thực quản. Tác động của chứng béo phì và của tình trạng nhàn rỗi không hoạt động có một ảnh hưởng quan trọng lên các ung thư vú, tiền liệt tuyến, đại tràng…
Trong điều tra được tiến hành ở Ái Nhĩ lan (Irlande), 90% những người được hỏi cho rằng những yếu tố di truyền đóng một vai trò quan trọng trong sự xuất hiện của một ung thư. Một bộ phận lớn dân chúng đánh giá quá cao phần ung thư có thể quy cho di truyền, Derek Power, thầy thuốc chuyên về ung thư thuộc hôpital universitaire Mercy et Cork (Irlande) và đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã phàn nàn như vậy. Nhiều huyền thoại chung quanh ung thư luôn luôn rất phổ biến. Thí dụ, nhiều người được hỏi nghĩ rằng một prothèse mammaire, sự sử dụng khí dung khử mùi (aérosols de déodorants), sự việc mang quần áo lót quá chật, những điện thoại cầm tay và những OGM, đều là những yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư.” Điều tra được thực hiện trên 750 người trong đó 126 là những người hành nghề y tế (các y tá, các aide-soignantes). “ Phải thực hiện những chiến dịch thông tin để làm hiểu rằng chế độ ăn uống, lối sống, rượu và thuốc lá có một tác động lên 90 đến 95% các ung thư, Derek power đã nói thêm như vậy. Chỉ 5 đến 8% những trường hợp ung thư có một nguồn gốc di truyền.”
VỚI LƯỢNG RƯỢU NÀO ?
Đối với rượu, 42% những người được hỏi (46% những người hành nghề y tế) đều ý thức rằng đó là một yếu ở nguy cơ. Tuy nhiên một đa số cho rằng vài loại nước uống nguy hiểm hơn những loại khác và 39% tin chắc rằng rượu vang có một tác dụng bảo vệ ! Những thông điệp y tế công cộng bị hiểu sai bởi vì điều chủ yếu, đó là lượng rượu được hấp thụ. Mặt khác, rượu vang đỏ, và chỉ với những liều lượng rất thấp, có một tác dụng bảo vệ, nhưng chỉ trên nguy cơ tim mạch. Với liều lượng bằng nhau, đó là một yếu tố nguy cơ ung thư tương tự với những loại rượu khác. Không có ngưỡng dưới đó rượu không nguy hiểm, mặc dầu nguy cơ gia tăng với lượng được uống vào.
Điều tra cũng hướng về cách làm giảm nguy cơ. Với mục tiêu này, 27% những người được hỏi trả lời bằng một chế độ “ détox ”, 64% tin chắc rằng ăn bio là một yếu tố bảo vệ. “ Các nhà nghiên cứu đã không bao giờ chứng minh rằng những chiến lược này là có hiệu quả, BS Derek đã trả lời với họ như vậy. Phải tìm những phương pháp truyền đạt khác để làm biết tốt hơn những chiến lược thật sự có hiệu quả trong việc làm giảm nguy cơ ung thư. ”
(LE FIGARO 2/10/2012)

3/ LỢI ÍCH NÀO CỦA CÔNG TÁC PHÁT HIỆN UNG THƯ PHỔI ?
Docteur Didier Debieuvre
Service de Pneumologie
Centre hospitalier de Mulhouse.

Nguyên tắc của điều tra phát hiện một căn bệnh là làm giảm tỷ lệ tử vong liên kết với căn bệnh này. Sự phát hiện nhằm vào những căn bệnh thường gặp và nghiêm trọng, có thể phát hiện sớm bằng một phương tiện chẩn đoán đáng tin cậy và ít tốn kém mà một điều trị hiệu quả có thể được đề nghị ở một giai đoạn “ im lặng ” của bệnh. Sự điều tra phát hiện không được gây hại và tính hữu ích của nó phải dựa trên những lợi ích được mang lại cho bệnh nhân so với những nguy cơ của tác dụng phụ và độc tính của nó.
Ung thư phổi là một ứng viên tốt cho việc phát hiện. Thật vậy, ung thư phổi thường xảy ra (khoảng 40.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp), là bệnh nghiêm trọng (nguyên nhân đầu tiên gây tử vong do ung thư trên thế giới), liên hệ chặt chẽ với một quần thể có nguy cơ và, sau cùng, có thể chữa lành ở giai đoạn khởi đầu và thường gây tử vong trong những thể lan rộng.
Những công trình nghiên cứu KEP-2000 và KBP-2010, được thực hiện bởi Collège des pneumologues của các bệnh viện toàn khoa (CPHG) trong hơn 100 trung tâm bệnh viện ở Pháp, đã xác nhận tần số, mức độ nghiêm trọng của ung thư phổi, mặc dầu vài tiến bộ gần đây, và mối liên hệ mạnh với thuốc lá mặc dầu số những trường hợp gia tăng ở những người không hút. Những thử nghiệm cũ về việc điều tra phát hiện bằng chụp X quang phổi đơn thuần và bằng sự tìm kiếm những tế bào ung thư trong đờm đã không cho thấy rằng những kỹ thuật này hữu ích cho công tác phát hiện bệnh.
Sự ra đời của chụp cắt lớp vi tính liều thấp (scanner faiblement dosé) vào đầu những năm 1990 đã dẫn đến những nghiên cứu lâm sàng mới. Đó là một kỹ thuật phát hiện mới những bất thường X quang có kích thước nhỏ (hay nodule) bằng scanner nhanh hơn, ít bức xạ hơn so với scanner cổ điển và không tiêm chất cản quang.
HẠ TỶ LỆ TỬ VONG.
Công trình nghiên cứu NLST được tiến hành ở Hoa Kỳ, được công bố năm 2011, đã mang lại bằng cớ về lợi ích của scanner faiblement dosé với một sự giảm tỷ lệ tử vong do ung thư phổi. Hơn 50.000 bệnh nhân hút thuốc hay từng hút thuốc hội đủ những tiêu chuẩn chính xác về tuổi tác và nghiện thuốc lá đã chấp nhận được rút thăm giữa chụp X quang và scanner faiblement dosé, được thực hiện mỗi năm trong 3 năm. Cứ 4 người thì có một bị một bất thường nhưng không phải là ung thư (dương tính giả). Thường nhất, những bất thường này được theo dõi nhưng, vài lần, những thăm dò phụ đã tỏ ra cần thiết với, may mắn thay một tỷ lệ thấp các biến chứng bởi vì được thực hiện theo những quy tắc chính xác bởi các kíp được huấn luyện. Công trình nghiên cứu này đã cho thấy rằng sự thực hiện scanner, so sánh với chup X quang đơn thuần, làm giảm 20% tỷ lệ tử vong liên kết với ung thư phổi và 6,7% tỷ lệ tử vong chung.
Những kết luận này có được trong một công trình nghiên cứu được thực hiện rất tốt, bởi những thầy thuốc được đào tạo trên một quần thể những người tình nguyện được chọn lọc trước, chỉ được áp dụng đối với quần thể này. Tuy nhiên, điều chắc chắn là những kết quả này sẽ thay đổi những thực hành của chúng ta, nhất là ít có khả năng rằng những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành hay đã thực hiện mang lại những yếu tố mâu thuẫn bởi vì không một công trình nào có hay sẽ có trong những năm đến những sĩ số và do đó sức mạnh thống kê của NLST.
NHỮNG ĐIỀU KIỆN NGHIÊM TÚC.
Theo sáng kiến của Intergroupe francophone de cancérologie thoracique (IFCT) và của Groupe d’oncologie của Société de pneumologie de langue française (Goff), một ủy ban gồm các chuyên gia Pháp (các thầy thuốc chuyên về phổi, các thầy thuốc chuyên về ung thư, các thầy thuốc chuyên về quang tuyến, các thầy thuốc ngoại khoa và các thầy thuốc đa khoa) đã được triệu tập để thực hiện một ph chuyên n tích phê phán tư liệu y học mới đ chuyên y về chủ đề này. Ủy ban này xét là có thể đề nghị một điều tra phát hiện cá nhân trong sự tôn trọng những tiêu chuẩn rất nghiêm túc : những người liên quan phải có cùng lứa tuổi và cùng chứng nghiện thuốc lá như những người đã được đưa vào trong công trình nghiên cứu NLST, những người này phải được đả thông đầy đủ về những lợi ích và những nguy cơ và chủ yếu họ phải chấp nhận thực hiện cai thuốc lá.
Scanner phải được thực hiện và được giải thích theo một kỹ thuật chính xác và không tiêm chất cản quang bởi một thầy thuốc X quang được đào tạo. Tất cả công trình tập thể này đã được công bố trong tạp chí lớn nhất của châu Âu Annals of Oncology. Cũng ủy ban này bây giờ làm việc trong IFCT để đề nghị Institut national du cancer những công trình nghiên cứu lâm sàng bổ sung nhằm trả lời nhiều câu hỏi vẫn còn được đặt ra hôm nay.
(LE FIGARO 29/1/2013)

4/ BÁO ĐỘNG ĐỐI VỚI NHỮNG PHỤ NỮ HÚT THUỐC : UNG THƯ PHỔI GIA TĂNG.
BS Béatrice Le Maitre, tabacologue thuộc CHU de Caen bình luận công trình nghiên cứu của “ New England Journal of Medicine ” chứng minh một sự gia tăng của những trường hợp ung thư và tử vong ở những phụ nữ hút thuốc.
Hỏi : Ảnh hưởng của những chiến dịch chống thuốc lá ở các phụ nữ như thế nào ?
BS Béatrice Le Maitre : Ở Pháp, các chiến dịch chống thuốc lá một cách nhắm đích không hiện hữu ! Các phụ nữ hút thuốc ngày càng nhiều và ngày càng trẻ tuổi. Trong khi cách nay 20 hay 30 năm nghiện thuốc lá thường gặp ở đàn ông, còn ngày nay lại là điều ngược lại. Hậu quả, ta thống kê ở các phụ nữ một sự gia tăng đáng lo ngại của những trường hợp ung thư phổi.
Hỏi : Hiện nay tần số của các ung thư phổi này ở các phụ nữ hút thuốc như thế nào ?
BS Béatrice Le Maitre : Trung bình ta đếm được 10.016 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp, trong đó 7724 trường hợp tử vong. Các khối u ung thư phổi đã trở nên nguyên nhân đứng thứ hai gây tử vong bởi ung thư sau ung thư vú, và sẽ là nguyên nhân đầu tiên trong những năm đến, cũng như ở Hoa Kỳ.
Hỏi : Ngày nay bắt đầu từ lứa tuổi nào các thiếu nữ bắt đầu hút thuốc ?
BS Béatrice Le Maitre : Sự bước chân vào tình trạng nghiện thuốc lá diễn ra ngày càng trẻ tuổi : ngay ở lứa tuổi 13 ! Ở lứa tuổi này vì phổi chưa được chín mùi, tính dễ thương tổn (vulnérabilité) lớn hơn ở các mô phổi. Khi ta càng hút thuốc ta càng làm gia tăng nguy cơ biến đổi. Những tổn hại càng quan trọng nếu có sự tiêu thụ liên kết cannabis : chỉ cần một joint cũng đủ gây nên cũng độc tính của 20 điếu thuốc.
Hỏi : Bà nói gì với các bệnh nhân của bà để ngăn ngừa họ khỏi bị nguy hiểm ?
BS Béatrice Le Maitre : Tôi làm cho họ nhận thức rằng khói thuốc của chỉ một điều thuốc mà thôi chứa hơn 45000 sản phẩm hóa học khác nhau, một quả bom nổ chậm thật sự. Lúc khởi đầu, điếu thuốc đã chứa 2500 thành phần hóa học. Chỉ cần thắp điếu thuốc cũng đủ tạo ra một khói thuốc chứa nhiều độc chất : monoxyde de carbone, những chất kích thích phế quản, những kim loại nặng, hơn 50 chất gây ung thư và những độc chất khác. Chỉ với một điếu thuốc mỗi ngày, ta đã quan sát thấy một sự biến đổi của lớp niêm mạc phế quản. Những phụ nữ bất đầu hút khi còn trẻ sẽ “ thanh toán hóa đơn sớm hơn ” : 20 đến 30 năm sau đợt hút đầu tiên. Nguy cơ bị ung thư liên kết với thời gian nhiều hơn là liều lượng.
Hỏi : Lạc thú nào liên kết với thuốc lá giải thích sự phụ thuộc này ?
BS Béatrice Le Maitre : Thuốc lá là một chất ma túy, chúng ta hãy đừng quên điều đó, mặc dầu thuốc lá được bán tự do. Ngay lần hít đầu tiên, trong vòng chưa được 10 giây, nicotine đến não bộ ở những đích rất chính xác, những cảm thụ thể nằm ở đáy não ở vùng được gọi là “ khen thưởng ” (zone de récompense). Khi đó sự đến dữ dội và nhanh chóng này làm phát khởi một sự sản xuất dopamine và các chất điều hòa tính khí (humeur), mang lại một cảm giác khoái lạc, có thể cho cảm tưởng giúp quản lý stress. Dần dần, những cảm thụ thể này trở nên “ háu ăn ” và gây nên một tình trạng cai (état de manque) nếu ta không cung cấp cho chúng một cách đều đặn.
Hỏi : Ngoài nguy hiểm bị ung thư phổi, những nguy cơ khác mà những người đàn bà hút thuốc gặp phải là gì ?
BS Béatrice Le Maitre : Cùng những nguy cơ như đối với đàn ông, mà không ai nói đến : suy hô hấp (khí phế thủng, viêm phổi mãn tính), nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não..
Hỏi : Sau khi ngừng thuốc lá, những nguy cơ này có giảm một cách nhanh chóng không ?
BS Béatrice Le Maitre : Những nguy cơ này càng được giảm khi thời gian nghiện thuốc lá đã không kéo dài. Theo OMS, ngừng hút trước 40 tuổi làm giảm 90% nguy cơ phát triển một ung thư phổi : trước 30 tuổi, giảm 97%.
Hỏi : Sau khi đã thành công cai nghiện, ngay cả không triệu chứng, ta có phải thực hiện một cách đều đặn một bilan phổi không ?
BS Béatrice Le Maitre : Vâng, nếu ta đã hút trong một thời gian lâu. Không phải bởi vì ta ngừng hút thuốc mà ta loại bỏ vĩnh viễn nguy cơ liên kết với những năm nghiện thuốc lá. Ung thư phổi là một căn bệnh tiến triển âm thầm và cần nhiều năm để phát triển.
Hỏi : Những điếu thuốc lá nhẹ (cigarettes light) có làm giảm những nguy hiểm không ?
BS Béatrice Le Maitre : Chúng làm an lòng một cách giả tạo. Để có đủ “ liều lượng ”, người hút thuốc phải rít nhiều hơn vào điếu thuốc. Do đó, người hút hít vào sâu hơn những sản phẩm gây ung thư. Trong những năm 80, ta đã chứng thực một sự bùng nổ thật sự của những ung thư phổi có tế bào nhỏ (cancer pulmonaire à petites cellules) ở những phụ nữ hút những điếu thuốc có mùi menthol.
(PARIS MATCH 21/7 – 27/2/2013)

5/ ĐẾN LỨA TUỔI NÀO TA PHẢI TIẾN HÀNH ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN UNG THƯ ?
Professeur JACQUES ROUESSE
Cancérologue
Membre de l’Académie nationale de médecine.

Chúng ta hãy nhắc lại rằng dépistage hướng về những người có sức khỏe tot và không kêu ca gì cả, trong khi chẩn đoán phát xuất từ bệnh nhân đã chứng thực một bất thường. Còn về ung thư, một dépistage chỉ được biện minh đối với một loại ung thư khá thường gặp, có thể nhận một điều trị có hiệu quả, được chứng minh bởi một sự giảm tỷ lệ tử vong, cùng với điều kiện rằng test de dépistage đơn giản và đáng tin cậy.
Chúng ta hãy đặt qua một bên vấn đề phát hiện ở những người mà bệnh sử cá nhân hay gia đình được đánh dấu bằng sự xuất hiện của một ung thư hay những tình trạng tiền ung thư của một cơ quan nào đó và là những trường hợp đặc biệt cần được giải quyết với sự giúp đỡ của thầy thuốc điều trị. Ở những người khác, nhiều hơn nhất, lợi ích của điều tra phát hiện đã được chứng minh đối với 3 ung thư : ung thư của cổ tử cung, ung thư của đại tràng và trực tràng và ung thư vú. Đối với lợi ích điều tra phát hiện của ung thư tiền liệt tuyến, không gì được chứng tỏ và luôn luôn chịu những tranh luận quan trọng. Về các ung thư da, chúng đặt ra những vấn đề đặt biệt khi chúng liên quan đến những người mang những thương tổn da, cần phải được theo dõi.
Công tác phát hiện ung thư cổ tử cung được khuyến nghị bởi Viện quốc gia ung thư (Inca) đối với tất cả các phụ nữ giữa 25 và 65 tuổi, với hai frottis đầu tiên cách nhau một năm, rồi, nếu không có vấn đề, cứ mỗi 3 năm. Trước hết, phải xét đến hoạt động sinh dục ; sau 65 tuổi, lợi ích bị hạn chế và tùy thuộc vào thăm khám phụ khoa. Từ mấy năm nay, một vaccin cho phép, trong khoảng 70% các trường hợp, phòng ngừa ung thư này : vậy tiêm chủng không hề miễn sự cần thiết phải điều tra phát hiện.
Sự điều tra phát hiện ung thư đại trực tràng được đề nghị giữa 50 và 74 tuổi. Căn cứ trên sự tìm kiếm chảy máu ẩn trong phân, thật vậy công tác phát hiện này cho phép trong lứa tuổi này một sự giảm tỷ lệ tử vong khoảng 30%. Trên lứa tuổi kể trên, lợi ích này rất là không chắc chắn. Thật vậy, nếu tỷ lệ mắc phải các polype là cao hơn ở những người trên 74 tuổi, thì thời gian để những polype này thoái hóa thành ung thư xâm nhập vì tuơng đối dài, nên có thể rằng các bệnh nhân chết vì một bệnh khác trước khi ung thư này bộc phát.
Chụp tuyến vú (mammographie) là công cụ thiết yếu để điều tra phát hiện ung thư vú. Thăm dò này được đề nghị từ 50 đến 74 tuổi. Theo những công trình nghiên cứu, việc điều tra phát hiện ung thư vú làm giảm từ 16 đến 30% tỷ lệ tử vong do ung thư này. Mặc dầu tỷ lệ tử vong thay đổi tùy theo lứa tuổi, nó không được chứng tỏ trước 50 tuổi.
Còn về ung thư tiền liệt tuyến, ngoài những tiền sử gia đình, lợi ích của công tác phát hiện không được chứng minh. Thật vậy, mặc dầu ít có tính hung dữ (agressif) nhưng tương đối thường gặp, đó là một ung thư mà tần số gia tăng với tuổi tác, do đó có một nguy cơ quan trọng bị chẩn đoán quá mức (surdiagnostic), càng có hại khi điều trị, khi đó vô ích, có thể là nguồn của các biến chứng. Ở Hoa Kỳ, ta khuyên không điều tra phát hiện sau 75 tuổi ; vậy đó là một công tác phát hiện cần được bàn bạc tùy theo từng trường hợp với thầy thuốc điều trị.
Sự điều tra phát hiện không chỉ có những ưu điểm, nhất là ở một lứa tuổi nào đó. Mặc dầu bệnh nhân sẽ được điều trị sớm hơn, điều này làm gia tăng những cơ may chữa lành. Nhưng với một một điều bù lại : bệnh nhân sẽ phải sống sớm hơn với ung thư của mình, mối lo âu mà điều này có thể gây nên và những điều trị thường nhất có tính chất gò bó. Thế mà, tuổi lúc ta phát hiện ung thư càng cao, nguy cơ tiền triển của bệnh càng giảm, và bệnh có thể ngay cả không phát ra lúc bệnh nhân còn sống, điều này càng làm vô ích những điều trị thường nặng nề. Mặt khác, khi ta càng già, nguy cơ bị nhiều bệnh liên kết càng gia tăng, và sẽ là vô lý khi điều tra phát hiện một ung thư ở một người 75 tuổi vốn đã bị một bệnh Alzheimer và một suy tim nặng. Chính vì vậy công tác phát hiện không phải là quy tắc sau 75 tuổi.
Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, vậy không có lý do gì không tôn trọng những tuổi tác mà giới hữu trách y tế đề nghị để thực hiện công tác điều tra phát hiện, phải tính đến những dữ kiện như hy vọng sống và thời gian còn sống không bị phụ thuộc cũng như thời sự y học. Như thế, trước khi được mở rộng vào năm 2004, sự điều tra phát hiện ung thư vú chỉ được đề nghị cho đến năm 69 tuổi. Tuy nhiên không phải là phi lý khi cho thực hiện một bilan vú giữa 40 và 50 tuổi, hay trên 74 tuổi, tùy theo tình trạng tổng quát. Cũng không phải là phi lý khi vẫn tiếp tục trong vài năm việc điều tra phát hiện ung thư vú hay ung thư đại tràng sau khi đã tham khảo ý kiến của thầy thuốc gia đình.
Nhung, ở phía kia của tính chất có căn cứ của việc điều tra phát hiện đối với những người lớn tuổi nhất, điều thiết yếu trước hết là gia tăng tỷ lệ tham dự những chiến dịch hiện nay, nhất là ở những người đàn ông, thường hay xao lãng vấn đề này, và tấn công vào những yếu tố nguy cơ được xác nhận như tình trạng tăng thể trọng, chứng nghiện rượu hay chứng nghiện thuốc lá, đồng thời nhấn mạnh vào những quy tắc vệ sinh đời sống đơn giản. Những quy tắc này được chứng tỏ và là thành lũy tốt nhất chống lại ung thư.
(LE FIGARO 10/9/2012)

6/ CÁC UNG THƯ RUỘT : NHỮNG KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN VI XÂM NHẬP MỚI NHẤT.
GS Christophe Cellier, trưởng khoa hépato-gastro-entérologie và nội soi thuộc bệnh viện Georges-Pompidou, trình bày những tiến bộ để phát hiện sớm hơn những thương tổn tiền ung thư.
Hỏi : Ở Pháp, hiện nay tần số của các ung thư đại tràng là gì ?
GS Christophe Cellier : Ta liệt kê 35.000 trường hợp mỗi năm (thật là to lớn !) gây nên 17.000 trường hợp tử vong. Những ung thư này thường nhất phát triển từ những polype hiền tính, bị biến hóa thành ung thư trong 5 đến 10 năm. Do đó lợi ích của một chẩn đoán sớm và một điều trị phòng ngừa.
Hỏi : Tại sao vẫn còn có nhiều tử vong như vậy ?
GS Christophe Cellier : Quá nhiều người sợ thăm dò quy ước là soi đại tràng (colonoscopie), vũ khí tuyệt đối để điều trị phòng ngừa ung thư đại tràng ; ung thư này có “ tiếng tăm xấu ”. Các chiến dịch điều tra phát hiện đã không đạt mục đích. Trắc nghiệm Hemoccult để tìm kiếm máu trong phân, chương trình quốc gia phải thực hiện mỗi hai năm, không được theo đầy đủ và không đáng tin cậy 100%.
Hỏi : Tại sao soi đại tràng cổ điển gây những trường hợp do dự ?
GS Christophe Cellier : Ý nghĩa phải uống thuốc xổ hôm trước không luôn luôn được chấp nhận tốt. Vài người đặc biệt lo âu sợ một cách sai lầm sự đưa vào trong ruột của họ tube nhỏ mềm được trang bị bởi một caméra cho phép thấy bên trong của đại tràng và lấy đi một polype để phân tích. Có những chống chỉ định hiếm hoi ngăn cản được hưởng thăm dò rất ích lợi này, như những vấn đề đông máu..Soi đại tràng ảo (colonoscopie virtuelle), là một scanner, có thể là một giải pháp thay thế để chẩn đoán một polype lớn, nhưng trong trường hợp này, ta không thể thực hiện prélèvement. Chính vì vậy, theo Bộ Y Tế, scanner chỉ được thực hiện trong trường hợp chống chỉ định hay thất bại của soi đại tràng cổ điển.
Hỏi : Những kỹ thuật vi xâm nhập và đáng tin cậy gần đây nào có thể mang lại một sự phát hiện tốt hơn ?
GS Christophe Cellier : Đối với những người không thể hưởng một soi đại tràng, một phương thức rất đơn giản đã được hiệu chính : một vidéo-capsule colique mang một caméra nhỏ (có thể chụp đến 30 hình ảnh trong mỗi giây), được nuốt vào như một viên thuốc lớn. Viên thuốc vidéo đại tràng này đi qua ruột, đồng thời chụp các hình ảnh, được truyền đến một boitier (được bệnh nhân mang quanh taille) và được phân tích trên ordinateur. Mức độ đáng tin cậy của thăm dò này là từ 80 đến 90%.
Hỏi : Ông hay mô tả thăm dò cho phép chẩn đoán trực tiếp, không cần sinh thiết, một thương tổn tiền ung thư..
GS Christophe Cellier : Bây giờ chúng ta có một loại máy được một hãng của Pháp chế tạo, gồm một fibre miniaturisée được trang bị bởi một kính hiển vi (nhỏ nhất thế giới en temps réel), được chuồi vào trong ống nội soi và được đưa vào trong đại tràng. Kính hiển vi này phóng đại nghìn lần hình ảnh, cho phép một chẩn đoán tức thời có thể được so sánh với chẩn đoán của một phòng xét nghiệm phân tích (laboratoire d’analyse), và tiến hành nhanh chóng một điều trị (thí dụ cắt bỏ khối u). Mức độ đáng tin cậy của thăm dò này là 90%.
Hỏi : Những tiến bộ mới nhất để lấy đi các u ung thư là gì ?
GS Christophe Cellier : Khi ta khám phá một khối u ruột hơn 3 cm, một ngoại khoa cổ điển thường được đề nghị : sau khi mở bụng ta lấy phần ruột bị thương tổn. Đối với những khối u khu trú ở những lớp nông của thành ruột, một kỹ thuật vi xâm nhập được gọi là “ phẫu tích dưới niêm mạc ” (dissection sous muqueuse) mới đây đã được hiệu chính bởi những người Nhật để tránh phẫu thuật nặng nề. Cũng như đối với soi đại tràng, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa đưa vào một ống nội soi được trang bị bởi một caméra vidéo và một dao mổ thu nhỏ (bistouri miniaturisé), sẽ cho phép lấy đi polype hay u nằm ở nông. Kỹ thuật bụng kín (technique à ventre fermé) này, với nó ta thu được 95% những kết quả tốt, không chỉ dành cho các khối u đại tràng, ta cũng sử dụng nó đối với dạ dày và thực quản.
Hỏi : Những lời khuyên của ông để phòng ngừa các ung thư đại tràng là gì ?
GS Christophe Cellier : Những người có nguy cơ : những người có một người thân đã bị một ung thư đại tràng trước 60 tuổi hay những người đã bị một bệnh như bệnh loét đại trực tràng chảy máu (rectocolite hémoragique) phải tức thì chịu một soi đại tràng ở khoảng 45 tuổi. Đối với toàn dân, chúng tôi khuyên, tối thiểu một Hemoccult mỗi hai năm ngay ở lứa tuổi 50.
(LE FIGARO 26/2-6/3/2013)

7/ NHỮNG UNG THƯ DẠ DÀY PHẢI CHĂNG CÓ THỂ LÀ DO MỘT VI KHUẨN
Docteur Hilde de Reuse
Chef de laboratoire à l’Institut Pasteur
Responsable de l’unité de recherche
Pathogenèse de Helicobacter

Các ung thư dạ dày (cancer gastrique) trong 90% các trường hợp là những adénocarcinome. Đó là những khối u ác tính phát triển ở các tuyến của niêm mạc dạ dày.
Trên quy mô quốc tế, ung thư dạ dày rất thường gặp và vẫn là nguyên nhân gây tử vong thứ hai do ung thư. Trên thế giới, ta ước tính mỗi năm có 990.000 trường hợp mới gây nên khoảng 800.000 trường hợp tử vong. Trong các nước công nghiệp tỷ lệ mắc phải các ung thư dạ dày đang trên đà giảm. Tuy nhiên, ở Pháp ta ước tính từ 6000 đến 8000 trường hợp mới mỗi năm và 4400 trường hợp tử vong đã được ghi nhận năm 2011. Khi ung thư dạ dày đã được chẩn đoán, nói chung ở những người trên 65 tuổi và thường hơn ở những người đàn ông, tỷ lệ tử vong lúc 5 năm đạt con số quan trọng 75%.
Nhiễm trùng dạ dày bởi vi khuẩn Helicobacter pylori là yếu tố nguy cơ quan trọng để phát triển ung thư dạ dày. Vi khuẩn này, được khám cách nay đúng 30 năm, định cư (coloniser) ở dạ dày của gần ½ dân số thế giới và của khoảng 30% những người Pháp. Tỷ lệ mắc phải nhiễm trùng Helicobacter pylori đang giảm trong các nước công nghiệp hóa. Ngay năm 1994, Helicobacter pylori đã được Cơ quan quốc tế nghiên cứu về ung thư xếp loại như là chất gây ung thư classe I, nghĩa là liên kết một cách trực tiếp với sự phát triển của ung thư dạ dày ở người. Người ta ước tính rằng nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori chịu trách nhiệm từ 60 đến 90% những trường hợp ung thư dạ dày. Nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori bị mắc phải trong thời thơ ấu và nhiễm trùng này vẫn tồn tại trong nhiều thập niên, thậm chí suốt đời. Mặc dầu nhiễm trùng này gây nên một viêm dạ dày mãn tính, nhưng nó không gây triệu chứng trong phần lớn các trường hợp. Trong số những người bị nhiễm Helicobacter pylori, khoảng 10% sẽ phát triển một loét dạ dày-tá tràng. Ung thư dạ dày sẽ chỉ phát khởi ở 1 đến 3% những người bị nhiễm trùng sau một thời kỳ tiến triển chậm trong nhiều thập niên của những thương tổn niêm mạc dạ dày. Những yếu tố nguy cơ làm dễ sự tiến triển về phía một ung thư dạ dày là những tố bẩm gia đình (prédisposition familiale), những yếu tố môi trường như thuốc lá hay sự tiêu thụ quá nhiều muối và nhiễm trùng bởi một giống gốc độc lực hơn của Helicobacter pylori.
STRATEGIE DE CAMOUFLAGE
Nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori có thể được điều trị bằng một sự phối hợp các kháng sinh và một inhibiteur de la pompe à protons. Sự loại bỏ nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori phải chăng có thể ngăn ngừa sự xuất hiện của ung thư dạ dày ? Vâng, nhưng chỉ ở những giai đoạn sớm của tiến triển hướng về ung thư, nghĩa là ở những bệnh nhân có những thương tổn tiền ung thư của niêm mạc dạ dày. Những người cần theo dõi và điều trị phòng ngừa đối với Helicobacter pylori là những bệnh nhân đã bị một cắt bỏ dạ dày một phần vì nguyên nhân ung thư ; những người bà con thế hệ thứ nhất của những người bệnh đã bị một ung thư dạ dày ; những bệnh nhân có những thương tổn tiền ung thư (viêm dạ dày teo : gastrite atrophique) và những bệnh nhân xuất phát từ những vùng có tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày cao (châu Á).
Kết luận, Helicobacter pylori là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với sự phát triển của ung thư dạ dày, vẫn là một bệnh lý nghiêm trọng bởi vì thường được phát hiện ở một giai đoạn tiến triển. Những nghiên cứu trong lãnh vực này có mục tiêu hiểu tốt hơn Helicobacter pylori gây nên ung thư này như thế nào, điều trị nó ra sao và tiệt trừ tốt hơn vi khuẩn này và làm sao phát hiện sớm ung thư dạ dày.
Hai nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur chuyên môn trong nghiên cứu vi trùng Helicobacter pylori và vai trò của nó trong sự phát triển của những bệnh lý dạ dày. Unité de Pathogenèse de Helicobacter, được điều khiển bởi Hilde De Reuse, tìm cách hiểu nhưng cơ chế phân tử cho phép vi khuẩn này tồn tại trong môi trường thù địch của dạ dày và duy trì ở đó trong nhiều năm, đồng thời gây nên những thương tổn. Trong lúc giải mã những cơ chế về sự vận hành chức năng của vi khuẩn này, cùng lúc nhóm nghiên cứu nhắm vào những đích mới cho các loại thuốc. Ngoài ra, trong kíp này, Eliette Touati nghiên cứu những yếu tố và cơ chế chịu trách nhiệm những bất ổn định di truyền của các tế bào dạ dày, xảy ra khi nhiễm trùng bởi H.pylori, những biến cố có tiềm năng can dự vào trong những giai đoạn sớm của quá trình ung thư hóa.
Unité Biologie et génétique de la paroi bactérienne, được điều khiển bởi Ivo Gomperts Boneca, tìm cách hiểu bằng cách nào Helicobacter pylori xây dựng thành (paroi) của nó, lớp vỏ năm ngoài nhất của vi khuẩn. Thành này, thiết yếu cho các vi khuẩn, tạo nên một đích điều trị rất tốt, như được chứng tỏ bởi tính hiệu quả của những kháng sinh như pénicilline. Kíp nghiên cứu tìm cách đào sâu kiến thức về sự xây dựng thành vi khuẩn để phát triển những kháng sinh mới. Ngoài ra, thành này, độc nhất ở các vi khuẩn, được sử dụng bởi những sinh vật đa bào để phát hiện những vi khuẩn này và xác lập một phản ứng miễn dịch thích đáng. Nhóm này cũng nghiên cứu những chiến lược ngụy trang thành được thiết đặt bởi các vi khuẩn, và đặc biệt bởi Helicobacter pylori để thoát khỏi sự phát hiện chúng ở ký chủ và cho phép chúng tồn tại.
(LE FIGARO 11/3/2013)

8/ DIESEL LÀM DỄ SỰ XUẤT HIỆN CÁC UNG THƯ
OMS vừa xếp diesel trong số những chất gây ung thư. Sự đánh giá tỷ lệ tử vong do chất gây ô nhiễm này vẫn không rõ.
SANTE PUBLIQUE. Không còn một chút nghi ngờ nào nữa đối với các chuyên gia của Centre international de recherche sur le cancer của OMS : các khí thải của các động cơ Diesel đóng một vai trò nào đó trong sự phát triển của các ung thư phổi và có lẽ của bàng quang. Chịu trách nhiệm sự phát ra những hạt monoxyde d’azote nhỏ, các động cơ Diesel từ năm 1989 đã được xếp loại với những “ carcinogènes probables ”.
Để đi đến kết luận này, các chuyên gia đã họp trong một tuần để xem lại tất cả những công trình nghiên cứu được công bố về chủ đề này. Đó không phải là một ngạc nhiên đối với GS William Dab, trưởng bộ môn vệ sinh và an toàn của Conservatoire national des arts et métiers : “ Đó là kết quả hợp lý của một công trình khoa học lâu dài. Vào cuối những năm 1990, đã có một sự tích lũy các luận cứ đối với tính chất gây ung thư (carcinogénicité) của những hạt nhỏ, nhưng ta đã không có nhiều giải thích về cơ chế tác dụng. ” Ngay năm 2001, ông đã viết với các đồng nghiệp của mình trong một tạp chí quốc tế : “ Áp dụng tất cả những biện pháp khả dĩ để làm giảm mức độ tiếp xúc của dân chúng thành thị đối với các hạt nhỏ là điều được biện minh, bởi vì không có ngưỡng cho sự tác động lên sức khỏe.”
CẦN THIẾT HÀNH ĐỘNG.
Từ đó, những dữ kiện thống kê đã không ngừng cho các nhà dịch tễ học Pháp là có lý. Kể cả để chứng tỏ những lợi ích của một hành động tích cực về mặt y tế cộng đồng. Vào tháng giêng năm 2009, các nhà nghiên cứu của Harvard công bố bảng phân tích 51 thành phố lớn của Hoa Kỳ. Họ đã kết luận rằng mỗi khi một thành phố đã thành công làm giảm 10 mcg trên một mètre cub tỷ lệ trung bình hàng năm của các hạt nhỏ trong không khí, người dân đã hưởng được 7 tháng kèo dài tuổi thọ. Không có khác nhau tùy theo mức ô nhiễm ban đầu trong thành phố, và tất cả dân chúng đều hưởng lợi đều đó.
Sự cần thiết phải hành động là rõ ràng. Vào năm 2005, một công trình nghiên cứu được tiến hành trên 25 thành phố lớn, trong đó, đối với Pháp, Paris, Lyon, Lille, Marseille, Bordeaux, Strasbourg, Rouen, Le Havre, Toulous, trong khung cảnh của chương trình Aphekom, đánh giá mỗi năm 19.000 trường hợp tử vong do các hạt nhỏ hiện diện quá mức trong không khí của những thành phố châu Âu này. Nhất quán, nhưng dầu sao cũng xa với con số hàng năm thường được nêu lên 42.000 tử vong đối với Phap. Một con số “ sai lệch và bị đánh giá quá mức ”, theo GS Dab. Ngoài ra, tác dụng có hại của các hạt nhỏ lên cơ thể không chỉ liên quan đến ung thư : “ Hậu quả chủ yếu lên sức khỏe liên quan những bệnh tim mạch, đứng xa trước các viêm phổi mãn tính và cả ung thư ”, Denis Zmirou, giáo sư của đại học Lorraine và giám đốc của Trường cao đẳng khoa học xã hội, đã giải thích như vậy.
Các chuyên gia của Aphekom đã tính toán rằng, nếu ta thành công không vượt quá ngưỡng ô nhiễm 10 mcg mỗi mètre cube trong thành phố, hy vọng sống có thể kéo dài một cách rõ rệt : 3 tháng ở Toulouse, thành phố ít bị ô nhiễm nhất, 7 tháng đối với Marseille, thành phố bị ô nhiễm nhất. Ta vẫn còn xa, vì lẽ theo báo cáo mới nhất của Haut Conseil de la santé publique (HCSP), căn cứ trên những bản sao kê (relevés) trong 120 thành phố ở Pháp, những tỷ lệ trung bình hàng năm đúng hơn khoảng 16 đến 24 mcg trên mỗi mètre cube, tùy theo nơi ta hiện diện (gare routière, traffic). HCSP khuyến nghị làm giảm sự phát phát ra các hạt nhỏ để ở dưới mức 15 mcg đối với mỗi mètre cube vào năm 2015.
Đối với GS Zmirou : “ Từ nay phải phát triển dần dần một chính sách giảm sự vận chuyển hàng hóa bằng những utilitaires Diesel nhỏ và trung bình trong thành phố và một sự giảm phần vận chuyển cơ giới trong những di chuyển cá nhân, ưu tiên cho nhưng véhicule hybride hay électrique và những vận chuyển tập thể.” Những sự giao thông không chỉ duy nhất chịu trách nhiệm, ông đã nói thêm như vậy : “ Cũng phải làm giảm sự sử dụng gazole như là nguồn nhiên liệu của chauffage.” Một nguồn gây ô nhiễm thành thị quan trọng
(LE FIGARO 14/6/2012)

9/ U HẮC TỐ ÁC TÍNH (MELANOME) : NHỮNG ĐIỀU TRỊ ĐẦY HỨA HẸN
BS Caroline Robert, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc Viện Gustave-Roussy de Villejuif, trình bày những kết quả đáng phấn khởi của những chiến lược mới đối với những ung thư da.
Hỏi : Tại sao ta đặc biệt sợ những vết nâu nổi cộm này trên da ?
BS Caroline Robert : Bởi vì những thương tổn này có thể là những u hắc tố ác tính (mélanome), những ung thư có nguy cơ di căn. Phần lớn các trường hợp không phải là như vậy.
Hỏi : Những đặc điểm của những ung thư này là gì ?
BS Caroline Robert : Điều phải báo động là sự biến đổi của chúng. Chúng tiến triển về kích thước, màu sắc và bề dày. Những u hắc tố ác tính thường có những đường viền không đều, nhiều sắc màu và một chỗ nổi (relief) nào đó. Nhưng, trong vài trường hợp, chúng có màu hồng hay không màu, điều này làm cho chẩn đoán khó. Số trường hợp những ung thư này đang gia tăng một cách hằng định. Ở Pháp, trung bình ta thống kê được 8000 trường hợp mỗi năm trong đó 1500 trường hợp tử vong.
Hỏi : Cơ chế nào gây nên sự tạo thành một mélanome ?
BS Caroline Robert : Khoảng 50% những u đã này mang một bất thường (biến dị) của một gène được gọi là “ Braf ”. Gène này chế tạo một protéine, trong trường hợp loạn năng, trở nên nguy hiểm và phát khởi một chuỗi các biến cố ở các tế bào, khiến chúng bị tăng sinh, nghĩa là một quá trình sinh ung thư. Trong những trường hợp khu trú, ta thực hiện một cắt bỏ ngoại khoa u. Bệnh nhân sau đó chịu một sự theo dõi đều đặn ; 80% những người được mổ không bị tái phát.
Hỏi : Khi u hắc tố ác tính đã di căn, ta điều trị các bệnh nhân như thế nào ?
BS Caroline Robert : Cho đến cách nay khoảng 18 tháng, ta thực hiện một hóa học liệu pháp với dacarbazine, bất hạnh thay hiếm khi có hiệu quả (dưới 10% đáp ứng). Ngày nay ta có hai loại thuốc mới : một, vemurafenib, tác động bằng cách ức chế tác dụng của gène Braf bất thường. Với điều trị này, ta có được, trong khoảng 50% các trường hợp, một sự giảm nhanh kích thước của các di căn, nhưng trong đại đa số các bệnh nhân căn bệnh lại thắng thế trong thời hạn 6 đến 12 tháng. Loại thuốc kia, ipilimumab, là một sản phẩm miễn dịch trị liệu. Nó kích thích các phòng ngự miễn dịch, sẽ giết chết những tê bào ung thư. Với liệu pháp này, trong gần 15% các trường hợp ta kiểm soát được các di căn, với những lợi ích có thể kéo dài đến 5 năm, thậm chí hơn
Hỏi : Những tác dụng phụ của những loại thuốc này là gì ?
BS Caroline Robert :Vermurafenib có thể gây nên sự xuất hiện những ung thư da khác ít nguy hiểm hơn (những carcinome) và một nhạy cảm rất lớn với ánh nắng mặt trời. Với ipilimumab, có một nguy cơ bộc phát của hệ miễn dịch có thể gây nên những triệu chứng nghiêm trọng, nhất là ở ống tiêu hóa.
Hỏi : Những điều trị đang được phát triển là gì ?
BS Caroline Robert : Hai chiến lược mang hy vọng. Một liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) liên quan đến những u hắc tố ác tính do bất thường của gène Braf. Điều trị đang được nghiên cứu ở giai đoạn III phối hợp hai chất ức chế : chất đầu tiên sẽ tác động chống lại protéine bất thường được chế tạo bởi gène, chất thứ hai chống lại protéine nguy hiểm MEK chịu trách nhiệm sự tăng sinh tế bào. Điều trị nhằm khóa lại sự phát khởi của quá trình ung thư hóa. Chiến lược thứ hai sử dụng một miễn dịch liệu pháp, có thể áp dụng cho những bệnh nhân mang hay không một bất thường của gène Braf.
Hỏi : Một cách chính xác cách tác dụng của liệu pháp miễn dịch mới này là gì ?
BS Caroline Robert : Để cho chúng không bị lồng lên, bình thường những tế bào miễn dịch của chúng ta được điều hoà bởi vài phân tử như thụ thể PD-1. Điều trị mới sử dụng một kháng thể sẽ phong bế sự kềm hãm này nhằm có được một tác dụng ngược lại : kích thích những phòng vệ.
Hỏi : Ta thu được những kết quả nào với những chiến lược này ?
BS Caroline Robert : Những công trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện từ hai năm nay trên nhiều trăm bệnh nhân. Kíp của chúng tôi, với phụ tá của tôi, BS Christine Mateus, tham gia một cách tích cực vào sự phát triển những loại thuốc mới này. Với điều trị nhắm đích (thérapie ciblée), ta quan sát một sự giảm kích thước của các khối u, nhưng lần này không xuất hiện những ung thư da khác và những tái phát xảy ra chậm hơn nhiều. Với miễn dịch liệu pháp mới, những kết quả rất là đầy hứa hẹn ! Những kết luận báo cáo một sự giảm các di căn ở khoảng 40% những bệnh nhân và những thuyên giảm hoàn toàn từ hơn một năm nay. Trong vòng vài năm, ta đã vượt qua một giai đoạn rất quan trọng trong việc chống lại u hắc tố ác tính. Ta hiếm khi đã chứng kiến những tiến bộ nhanh như thế trong những điều trị một ung thư hung dữ như thế.
(PARIS MATCH 7/3-13/3/2013)

10/ LÀM SAO BIẾT MỘT UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN LÀ HUNG DỮ
PSA, Score de Gleason…các thầy thuốc tiết niệu có nhiều công cụ.
UROLOGIE. Đó là ung thư nam giới thường gặp nhất : 71.000 trường hợp được khám phá mỗi năm (8700 tử vong mỗi năm). “ Ung thư là một bộ phận của quá trình lão hóa bình thường của tuyến tiền liệt, GS Emmanuel Chartier-Kastler, giáo sư tiết niệu thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière (Paris), đã nhắc lại như vậy, nhưng, ông vội nói thêm, “ Ở vài người đàn ông điều đó tiến triển thành một bệnh và đối với những người đàn ông khác sẽ không bao giờ tiến triển.” Như thế sự phát hiện một ung thư ở giai đoạn sớm chỉ là khởi đầu của một lịch sử bênh. Một chặng đường có thể bắt đầu bằng một xét nghiệm máu cho thấy một tỷ lệ tăng cao của PSA (antigène spécifique de la prostate) và/hoặc do sờ thấy một hòn (nodule) khi thấy thuốc thăm khám trực tràng.
Sự khám phá một ung thư tiền liệt tuyến không nhất thiết hàm ý một điều trị, cũng như sự khám phá một PSA tăng cao không đồng nghĩa với ung thư. “ Hãy tránh những con đường tắc ”, Hiệp hội tiết niệu Pháp đã nhấn mạnh như thế, tháng vừa rồi , trong khẩu hiệu chiến dịch cho Journée nationale de la prostate. “ Một PSA tăng cao chỉ có nghĩa giản đơn rằng xảy ra một điều gì đó trong tuyến tiền liệt. Một ung thư hay một cái gì khác ”, GS Laurent Salomon, thầy thuốc ngoại tiết niệu (bệnh viện Henri-Mondor, Paris) đã giải thích như vậy. Phải chăng ít nhất ta có thể kết luận rằng sự tăng cao PSA là một điều kiện cần thiết nhưng không đủ để chẩn đoán một ung thư ? “ Ngay cả không phải vậy, thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu đã chỉnh lại như thế, ta ước tính rằng trong 5 đến 10% những ung thư tuyến tiền liệt, có một tỷ lệ PSA bình thường.” Mặc dầu những nhược điểm của nó, PSA hôm nay vẫn là phương tiện duy nhất, cùng với thăm khám trực tràng, phát hiện một ung thư tuyến tiền liệt ở giai đoạn sớm, và do đó chữa lành nó. Bởi vì khi ung thư không còn khu trú nữa trong tuyến và cho di căn, ta không nói chữa lành, mà thuyên giảm (rémission). Nhưng trong vài trường hợp ta có thể làm chậm lại căn bệnh. Ở đây cũng vậy những tiến bộ mới nhất đã cải thiện sự sống còn của các bệnh nhân.
Nếu ung thư này thường gặp nhất ở Pháp, đó cũng bởi vì điều đó hầu như không thể tránh được : “ Vào lúc 80 tuổi, 80% những người đàn ông có những tế bào ung thư trong tiền liệt tuyến, GS Salomon đã nói thêm như vậy, nhưng điều đó không có nghĩa rằng tất cả đều sẽ chết vì ung thư.” Theo thống kê, ngay cả có nhiều cơ may họ chết vì chuyện khác ! Tình huống dĩ nhiên khác khi bệnh nhân 50 hay 60 tuổi. Nhưng, trong tất cả các trường hợp, chính bệnh nhân, sau khi được đả thông rõ, quyết định sự điều trị thích hợp nhất với mình. “ Cái khó khăn lớn khi ta tìm thấy những tế bào ung thư lúc làm một sinh thiết của tuyến tiền liệt, GS Charlier-Kastler đã giải thích như vậy, đó là không biết các tế bào ung thư này đang tiến triển và cần một điều trị (thường nhất ngoại khoa hay phóng xạ liệu pháp hay siêu âm hội tụ trong vài trường hợp) hay trái lại, không biết ta có thể để chúng yên chỉ cần theo dõi tích cực.”
Bởi vì sinh thiết tuyến tiền liệt, đó là lấy những mảnh của tuyến nhờ một chiếc kim được đưa ở trong trực tràng, không những là thăm dò chủ chốt để xác lập chẩn đoán, mà còn là thăm dò góp phần nhất vào việc xác định mức độ trầm trọng của ung thu được phát hiện. “ Có nhiều yếu tố phải xét đến, nhưng yếu tố chủ yếu là score de Gleason. Nhà giải phẫu bệnh lý xác định điều đó bằng cách xem xét dưới kinh hiển vi những mảnh mô tiền liệt tuyến được lấy bằng sinh thiết. Nhà cơ thể bệnh lý xếp loại các ung thư thành ít hung dữ (peu agressive), hung dữ trung bình (moyennement aggressive) hay rất hung dữ (tres agressive). “ Những sinh thiết không luôn được thực hiện một cách hệ thống, GS Chartier-Kastler đã nhận xét như vậy : “ Ta chỉ sinh thiết khi cần thiết, nghĩa là khi ta đã tích lũy những yếu tố khiến nghĩ rằng có một sự nghi ngờ ung thư với nguy cơ tiến triển gây phương hại cho bệnh nhân. Nhất là sinh thiết là một động tác y khoa xâm nhập (acte médical invasif) hàm chứa một nguy cơ không phải là không đáng kể gây những nhiễm trùng nặng, cần phải nhập viện.”
Đôi khi ung thư được phát hiện khi nó đã cho những di căn, vậy thì quá muộn để được chữa lành. Nhưng, ngay cả ở giai đoạn này, vẫn có những điều trị để làm chậm lại sự tiến triển của bệnh. Chủ yếu là những hormone, những antiandrogène, gây nên một thiến hóa học (castration chimique). Bất hạnh thay, cuối cùng, một sự đề kháng xuất hiện và khi đó câu hỏi được đặt ra là không biết bệnh nhân nào có thể hưởng một hóa học liệu pháp. Tuần qua, hai công trình nghiên cứu được công bố đồng thời trong tạp chí quốc tế The Lancet đã xác lập những profil di truyền có thể giúp thực hiện lựa chọn này. “ Có nhiều công trình theo chiều hướng này, GS Marc Zerbib, trưởng khoa tiết niệu thuộc bệnh viện Cochon (Paris) đã giải thích như vậy. Lợi ích đồng thời là trong tiên lượng, để xác định những bệnh nhân nào có thể hưởng được điều trị, và trong khả năng mở ra những hướng điều trị mới, do hiểu tốt hơn nhưng cơ chế sâu kín của sự đề kháng đối với thiến hóa học.
(LE FIGARO 15/10/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(26/3/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s