Thời sự y học số 299 – BS Nguyễn Văn Thịnh

tsyh299CHUYÊN ĐỀ RHUMATOLOGIE

1/ CỔ : NẠN NHÂN ĐẦU TIÊN CỦA ĐỜI SỐNG VĂN PHÒNG.

NHỮNG RỐI LOẠN LIÊN KẾT VỚI TÌNH TRẠNG BẤT HOẠT ĐỘNG Ở VĂN PHÒNG

– Trạng thái căng cơ cổ (tension cervicale) : Đau ở cổ (cervicalgie) có thể lan xuống hai vai.
– Viêm gân của các các cơ xoay của vai (Tendinite de la coiffe des rotateurs de l’épaule) : Viêm nhiều dây gân của vai gây đau và làm giảm biên độ của các cử động.
– Epotrochléite /Epicondylite : Viêm các dây gân gấp và duỗi của bàn tay và các ngón tay.
– Viêm gân (các bàn tay và ngón tay) : viêm của các dây gân hay các bao gân, gây đau trong cổ tay và/hoặc cánh tay.
– Syndrome de la loge de Guyon : đè ép dây thần kinh trụ, có thể gây tê cóng hai ngón cuối.
– Syndrome du canal carpien : đè ép dây thần kinh giữa trong canal carpien, gây tê cóng hay đau ở 3 ngón tay đầu.
– Đau lưng (Lombalgie) : đau cơ-xương khu trú trong cột sống thắt lưng.
– Hygroma du genou : sưng bao hoạt dịch (bourse séreuse) gây đau và sưng mặt trước của đầu gối.

Để tránh những rối loạn cơ xương (TMS : trouble musculo-squelettique) lúc lao động, điều quan trọng là biết tổ chức những lúc nghỉ ngắn.
POSTURE. “ Ở văn phòng, trái với điều ta hằng nghĩ, những rối loạn cơ- xương là do tình trạng không hoạt động (inactivité) ”, Yves Roquelauren giáo sư y khoa lao động thuộc CHU d’Angers và giám đốc của Laboratoire d’ergonomie et d’épidémiologie về y tế lao động đã nhấn mạnh như vậy. Thí dụ khi nhìn chằm chằm trên một màn ảnh, những căng cơ (tensions musculaires) xuất hiện trong cổ, bị bất động quá lâu, và gây triệu chứng đau cổ (cervicalgie), đứng hàng đầu của những rối loạn cơ-xương ở văn phòng. Ở Pháp những rối loạn cơ- xương là những bệnh nghề nghiệp được indemnisé nhất bởi Sécurité sociale. Viện theo dõi y tế (Institut de veille sanitaire) chỉ rằng con số những trường hợp rối loạn cơ xương được nhân lên 10 lần trong 10 năm qua, đồng thời ghi nhận một tỷ lệ quan trọng những trường hợp không được khai báo. Có ít con số détaillé ở quy mô quốc gia, nhưng những nghiên cứu vùng cho phép có một hình ảnh chính xác hơn về những rối loạn này, ảnh hưởng chủ yếu các nam nữ công nhân, nhưng đứng hàng hai là những nhân viên (employé), và chủ yếu, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện trong Bouches-du-Rhône, những nhân viên của Administration publique.
Ở văn phòng, những rối loạn cơ-xương chủ yếu ảnh hưởng lên cổ, vai, cổ tay và bàn tay. “ Vị trí của đôi mắt xác định tư thế của mặt và cổ, GS Roquelaure đã nhắc lại như vậy. Nếu công việc cần dùng nhiều thị giác để được chính xác, ta bất động cổ, đôi khi nhiều giờ liên tiếp.” Vậy đau cổ thường gặp ở những nghề nghiệp đòi hỏi sự chính xác như ngoại khoa hay may trên máy, nhưng cũng khi lao động cần sự sử dụng một écran.
Một phần tư trong số những người có một việc làm ở văn phòng như thế kêu đau ở cổ. Việc sử dụng những điện thoại “ thông minh ” (smartphone) và những tablette numérique với những écran có kích thước nhỏ, dường như làm gia tăng tần số loại đau cổ này, nhất là những loại máy này cũng thường được sử dụng ở nhà. Các nhà nghiên cứu đã có thể quan sát rằng không phải cường độ của sự gắng sức được đòi hỏi lên các sợi cơ khiến làm dễ sự xuất hiện những rối loạn này mà là sự thiếu nghỉ : các sợi cơ bị kích thích một cách thường trực. Những bảng câu hỏi cũng cho thấy rằng đau được cải thiện vào cuối tuần hay khi ta thay đổi hoạt động.
Mặt khác, vài người dễ bị những rối loạn này hơn, khi cơ của họ không co lại một cách đồng nhất. “ Trong vài trường hợp, chỉ một số nhỏ các sợi cơ bị kích thích khi tư thế không thay đổi. Khi đó những sợi cơ này đóng vai trò những sợi “cendrillon” : chúng bắt đầu làm việc sớm và dừng lại muộn ”, GS Roquelaure đã xác nhận như vậy. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, những sợi cơ này không còn giãn nữa và chịu trách nhiệm những co cứng (contracture) và đau quan trọng. Stress cũng là yếu tố gia trọng đối với những triệu chứng đau cổ này, bởi vì nó làm dễ sự căng cơ vùng cổ và vai, điều này đôi khi mang lại một dimension psychologique cho những rối loạn này, không đủ giải thích chúng hay điều trị chúng.
BIẾN ĐỔI TƯ THẾ LÚC LAO ĐỘNG.
Chỉ cần những ngừng nghỉ ngắn, hoạt động, 5 phút mỗi giờ cũng đủ cho phép các sợi cơ “ bắt đầu lại từ số không ”. Đứng dậy, bước vài bước để thay đổi tư thế có thể đủ. Khi không thể thực hiện những ngừng nghỉ thật sự, phải nghĩ đến việc biến đổi tư thế lao động (posture de travail) : làm việc đứng, định hướng écran một cách khác nhau để thay đổi vị trí của đôi mắt, của cổ và của đôi vai hay để luân phiên những cử động của các cánh tay bằng cách sử dụng con chuột và những raccourcis claviers.Vài logiciel (RSIGuard, MUSKA TMS) cho phép phòng ngừa những rối loạn cơ xương bằng cách nhắc nhở người sử dụng thay đổi tư thế, bằng cách chỉ những bài tập để huy động các cơ hay những mẹo để làm thay đổi những động tác được thực hiện tại nơi làm việc.
Khi các triệu chứng đau xuất hiện, và khi những sợi cơ mất đi khả năng giãn, các rối loạn có thể khuếch tán trong khắp các chi trên. Việc săn đuổi những thời gian chết, càng ngày càng hiện diện trong tất cả các loại công việc là một yếu tố quan trọng làm gia tăng những bệnh lý này, GS Roquelaure giải thích như vậy. Người ta càng ngày càng cảm thấy tội lỗi khi họ sử dụng thời gian nghỉ.” Tuy vậy đó không phải là thời gian vô ích, và những rối loạn cơ-xương có những hậu quả lên lao động và là một phí tổn quan trọng đối với xí nghiệp và tập thể. Vậy sự phòng ngừa nhằm thiết đặt những chiến lược tập thể, được tổ chức ở quy mô xí nghiệp.
(LE FIGARO 11/2/2013)

2/ THAY ĐỔI TƯ THẾ ĐỂ BẢO VỆ LƯNG
“ Phải nghĩ đến việc bảo vệ lưng mình ở văn phòng, tư thế ngồi kéo dài có thể gây nên những triệu chứng đau lưng (lombalgie) đôi khi trầm trọng ”, BS Charles Msika, thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình ở Paris, hội viên của Société française de chirurgie orthopédique et traumatologique, đã nhắc lại như vậy. Một công trình nghiên cứu được thực hiện ở những người ăn lương của Pays de la Loire cho thấy rằng hơn một nửa những người này kêu đau lưng do làm việc.
Cũng như đối với những triệu chứng đau cổ (cervicalgie), lao động ở nhà máy là nguyên nhân hàng đầu nhưng những nghề văn phòng là nguồn gốc của một phần lớn những đau lưng (lombalgie) được khai báo. Tư thế ngồi bất động gây nên những đè ép cột sống, với những hậu quả lên các đĩa đốt sống.
Mặt khác, tình trạng bất động làm mất vận động (démobiliser) các cơ của lưng, chuyển những chức năng nâng đỡ lên cột sống và làm cho lưng nhạy cảm hơn đối với các chấn thương. Dimension psychosociale mặt khác không được xem nhẹ, những điều kiện lao động có một ảnh hưởng quan trọng lên các triệu chứng đau trên toàn bộ cột sống.
Vậy điều đặc biệt quan trọng là thay đổi một cách đều đặn tư thế sau bureau của mình, đứng dậy để vận động toàn cơ thể và tổ chức poste de travail để làm dễ sự vận động (mobilité). Thay đổi và một cách đều đặn vị trí của imprimante có thể, thí dụ, tránh xoay thân mình theo cùng một hướng, điều này có thể gây nên những co rút đau đớn (contracture douloureuse). Thực hiện một cách đều đặn những động tác kéo giãn (étirements) cũng cho phép chống lại khuynh hướng tự nhiên co rúm lại của cơ thể nếu không được đòi hỏi sử dụng.
THỰC HÀNH THỂ THAO
“ Con người là một người thợ săn (chasseur), không chịu đựng được tình trạng bất động hiện đại, GS Yves Roquelaure, giáo sư y khoa lao động thuộc CHU d’Angers đã nhắc lại như vậy. Sự thực hành một sport d’entretien mang lại một câu trả lời cho nhiều vấn đề, ngay cả trước khi nhìn tư thế lúc lao động. ” Thật vậy tình trạng nhàn rỗi không hoạt động có nhiều hậu quả lên toàn bộ cơ thể, nhiều công trình nghiên cứu từ nay đã cho thấy rằng hoạt động vật lý có lợi để ngăn ngừa rất nhiều bệnh lý. Hoạt động vật lý cho phép duy trì những chức năng nâng đỡ của khung xương và các cơ, đặc biệt chung quanh cột sống. “ Sự nhàn rỗi không hoạt động ngăn cản culture posturale và không cho phép tạo những thói quen tư thế tự nhiên nhằm bảo vệ lưng ”, BS Msika đã nhắc lại như vậy.
Từ nay những con số dường như khá không thay đổi đối với những chứng đau lưng (lombalgie) do lao động, nhưng trong những năm qua, các công trình nghiên cứu đã cho phép chứng thực một sự gia tăng của các biến chứng của lombalgie, với những hậu quả lên đời sống nghề nghiệp của các bệnh nhân. Tuy vậy một cách nghịch lý, sự gia trọng này thường là do sự kiện rằng các bệnh nhân kêu vang ngày càng chậm, do sợ mất việc, với những tình huống đã thành hình mà hậu quả đầu tiên là phải nghỉ việc ngày càng nhiều và ngày càng kéo dài. Sự phòng ngừa do đó vẫn là công cụ hiệu quả nhất để phòng ngừa những hậu quả cá nhân và tập thể của những lombalgie này.
(LE FIGARO 11/2/2013)

3/ SYNDROME DU CANAL CARPIEN : LAO ĐỘNG HIẾM KHI LÀ NGUYÊN NHÂN
Những cảm giác kiến bò trong bàn tay và một sự mất cảm giác của các ngón tay đánh thức bệnh nhân vào lúc giữa đêm : đó là những triệu chứng đầu tiên của syndrome du canal carpien, gây bệnh cho khoảng 3 phụ nữ trên một ngàn và một người đàn ông trên một ngàn người. Khi canal carpien hẹp lại, nó có thể đè ép và kích thích dây thần kinh giữa (nerf médian) nằm trong đó và gây nên những triệu chứng như thế, có thể gia trọng nếu dây thần kinh mất tất cả các chức năng.
Vậy đó là một bệnh thường xảy ra mà không có một nguyên nhân nào được biết rõ trong đại đa số các trường hợp. Tuy nhiên vài yêu tố có thể làm dễ hay làm gia tốc sự xuất hiện của hội chứng này, như bệnh đái đường, vài bệnh lý hay vài động tác lặp đi lặp lại, thường nhất do lao động. Đó là lý do tại sao đôi khi thầy thuốc khiến phải đánh giá ảnh hưởng của poste de travail lên sự xuất hiện của hội chứng.
Những thay đổi kích thích tố đóng một vai trò quan trọng và nhiều trường hợp syndrome de canal carpien tạm thời xảy ra trong thai nghén và biến mất một cách ngẫu nhiên sau khi sinh.
Như Bộ Y Tế đã chỉ rõ, trong đại đa số các trường hợp chẩn đoán chỉ dựa vào thăm khám lâm sàng. “ Trong 9 trường hợp trên 10, sự sử dụng điện cơ đồ (électroneuromyogramme), mặc dầu được thực hiện rộng rãi, nhưng không cần thiết ”, GS Christophe Oberlin, thầy thuốc chuyên khoa ngoại bàn tay thuộc bệnh viện Bichat (Paris) đã xác nhận như vậy và tố cáo những tốn kém vô ích của hệ thống y tế của chúng ta.
NHỮNG ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN.
Những trường hợp chữa lành ngẫu nhiên xảy ra trong khoảng 30% các trường hợp, điều này giải thích tại sao, đối với những trường hợp ít nghiêm trọng nhất, nên bắt đầu bằng những điều trị bảo tồn : tiêm ngấm (infiltration) corticoides và/hoặc orthèse có thể đủ để làm thuyên giảm các bệnh nhân. Những phương pháp này cũng cho phép giúp các bệnh nhân trong khi mang thai, trong trường hợp hoạt động gia tăng tạm thời khi làm việc hay khi chờ đợi một can thiệp ngoại khoa.
Điều trị ngoại khoa của syndrome du canal carpien là một can thiệp thường gặp ở Pháp, đã phát triển rộng rãi cuối những năm 1990, chuyển từ 9537 trường hợp mổ năm 1995 lên 142.405 vào năm 2005. Phẫu thuật nhằm cắt một dây chằng nằm dưới da, nhờ thế giải phóng các cấu trúc trong canal carpien. “ Đó là một can thiệp đơn giản, kéo dài khoảng 5 phút ”, GS Oberlin đã nhấn mạnh như vậy. Ông nói thêm rằng một gây tê tại chỗ cũng đủ và rằng, rất thường, một gây tê tại chỗ-vùng (anesthésie loco-régionale), tốn kém hơn và cần sự can thiệp của một thầy thuốc chuyên khoa gây mê, được thực hiện.
Can thiệp làm thuyên giảm bệnh nhân nhưng sự thành công lâu dài tùy thuộc vào tình trạng dây thần kinh lúc can thiệp, nhưng cũng tùy thuộc vào chất lượng của sự phục hồi. Nếu dây thần kinh vẫn còn hoạt động, sự phục hồi chức năng cho phép tìm lại một cách nhanh chóng một chức năng bình thường của một bàn tay không triệu chứng. Vậy bàn tay phải được cử động một cách rất nhanh chóng và các phẫu thuật viên thường phải lựa chọn can thiệp cùng lúc trên cả hai bàn tay để ngăn cản bệnh nhân có khuynh hướng chỉ sử dụng bàn tay valide !
(LE FIGARO 11/2/2013)

4/ CÓ NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI CHO BỆNH VIÊM GÂN ?
Docteur Patrick Le Goux
Rhumatologue
Service de rhumatologie et de chirurgie orthopédique
Hôpital Ambroise-Paré Boulogne-Billancourt

Các dây gân (tendon) là courroie mécanique de transmission nối cơ với những khớp khác nhau của khung xương, như thế cho phép những khớp này cử động. Sự xuất hiện một viêm gân (tendinite), đau một dây gân với sự hiện diện của những thương tổn do những vi chấn thương liên tiếp khi thực hành thể thao (tennis, chạy bộ) hay những động tác của đời sống hàng ngày, là thường gặp. Có những yếu tố khác như sự lão hóa, và chúng có thể ảnh hưởng mọi cá nhân sau 50 tuổi, đôi khi trước đó. Những dây gân bị thương tổn nhất là những dây gân của vai (coiffe) đôi khi với sự hiện diện của những vôi hóa (calcifications), các cùi chõ, đầu gối hay cả chân sau (arrière-pied) (dây gân Achille). Hiếm hơn, một viêm gân có thể đi kèm một phong thấp viêm (rhumatisme inflammatoire) (thí dụ sưng bao gân của các bàn tay trong viêm đa khớp dạng thấp).
Sự xử trí điều trị các viêm gân đã tiến bộ trong những năm qua, nhờ những tiến bộ trong lãnh vực thăm dò chụp hình ảnh như siêu âm hay chụp cộng hưởng từ (IRM). IRM, được thực hiện trong những thể kéo dài (từ hai đến 3 tháng) mặc dầu được cho nghỉ ngơi, cho phép không những đánh giá những thương tổn dây gân mà còn tình trạng xương và khớp kế cận nơi bám của dây gân. Về siêu âm, được thực hiện sớm hơn bởi vì dễ tiếp cận hơn, nó cho phép hiểu tốt hơn bản chất của thương tổn được gợi lên bởi thăm khám lâm sàng và xác nhận tính chất mới xảy hay mãn tính của viêm gân.
Hai thăm dò này sẽ xác định, thi dụ : ở cùi chõ, một sự dày lên đơn thuần của tendon épicondylien, hay một vết rách chứng tỏ một giai đoạn tiến triển hơn ; ở gót chân, hoặc là một viêm quanh gân (péritendinite) của dây gân Achille, hoặc là những thương tổn dạng hòn (lésions nodulaires), hoặc là những thương tổn của chỗ bám của dây gân trên xương gót chân.
Siêu âm cho phép thấy thương tổn tiến triển và được sửa chữa như thế nào bằng cách tìm kiếm một sự gia tăng của nhiệt tại chỗ (hyperémie), tín hiệu được tìm thấy ở Doppler chứng tỏ sự hiện diện của một néovascularisation trong lòng của dây gân.
Như thế, trong mục đích làm dễ sự hóa sẹo của các thương tổn của các đây gân, trên thực hành hiện nay ta nhận dạng 3 loại điều trị đổi mới có ảnh hưởng tại chỗ : thứ nhất, vài kỹ thuật phục hồi chức năng với những bài tập nhắm đích (exercices ciblées) có một hiệu quả cơ học dương tính lên dây gân bằng cách làm khởi phát vascularisation ở nơi thương tổn. Protocole của Stanish, được biết từ nhiều năm qua, cho những kết quả rất tốt. Đó là những bài tập kéo giãn (exercce d’étirement) phối hợp với một reforcement musculaire cho phép dây gân tìm lại một chức năng bình thường lúc gắng sức, thí dụ dây gân Achille liên quan trực tiếp với bắp chân.
Điều trị đổi mới thứ hai, những onde de choc cũng có một tác động vật lý cơ học với hiệu quả thuận lợi lên sự phân bố mạch (vascularisation) và sự hóa sẹo của các dây gân. Trong rhumatologie và médecine de sport, ta sử dụng những onde de choc radiale, phát tại chỗ và có năng lượng trung bình, để điều trị những dây gân của vai và cùi chõ nhưng chủ yếu là các dây gân Achille và các chứng đau do cân lòng bàn chân (aponévrose plantaire). Những onde de choc này được sinh ra bởi những xung động (impulsions) kế tiếp nhau, được truyền vào dây gân được điều trị qua trung gian một pièce được đặt tiếp xúc với da ở chỗ thương tổn : khoảng 2000 cú được phát ra trong vài phút cho mỗi séance (tối đa 6 séances). Tại chỗ một sự phóng thích các chất chống đau được phát khởi, cũng như một cơ chế sửa chữa dây gân.
Sau cùng, cái rất mới là thực hiện những mũi tiêm huyết thanh giàu tiểu cầu hay PRP (plasma riche en plaquettes), trích chất của máu lấy trên chính bệnh nhân và sau khi quay ly tâm, được tiêm trở lại trong dây gân bị thương tổn. Những mũi tiêm này, được thực hiện trong môi trường chuyên môn dưới sự kiểm soát của siêu âm, có một tính vô hại thật sự và gây nên một quá trình sửa chữa thỏa mãn các dây gân bị thương tổn nhờ các yếu tố tăng trưởng được chứa trong các tiểu cầu. Những đánh giá luôn luôn đang được tiến hành để chuẩn nhận những điều trị này, đặc biệt với một công trình nghiên cứu được kiểm chứng : tiêm PRP so với tiêm huyết thanh sinh lý.
Nguyên tắc tiêm PRP trong các trường hợp viêm gân cấp tính hay mãn tính là một giải pháp thay thế cho những tiêm ngấm corticoides ; những infiltration này mặc dầu có một tác dụng giảm đau nhất thời nhưng không đảm bảo một sự hóa sẹo tốt các thương tổn và do đó chữa lành chúng.
Tuy nhiên những câu hỏi được đặt ra về tính biến thiên của các phương pháp làm phong phú các tiểu cầu của huyết thanh (enrichissement en plaquettes du plasma), dung lượng và nồng độ tối ưu các yếu tố tăng trưởng, số lý tưởng những lần tiêm phải được thực hiện (2 đến 3) cũng như kỹ thuật được theo : criblage du tendon hay tiêm một lần duy nhất (“ one-shot ”).
Sau cùng, vài sản phẩm như acide hyaluronique, đã được sử dụng rộng rãi bằng cách tiêm vào khớp để điều trị hư khớp, bắt đầu được trắc nghiệm bằng cách tiêm vào dây gân trong những trường hợp viêm gân.
(LE FIGARO 18/2/2013)

5/ NGHĨ GÌ VỀ NHỮNG ĐIỀU TRỊ NỀN CHỐNG HƯ KHỚP NĂM 2013 ?
Professeur Francis Berenbaum
Chef du Service de Rhumatologie
Hôpital Saint-Antoine

Mặc dầu bệnh hư khớp (arthrose) là một bệnh ảnh hưởng lên hàng triệu người ở Pháp, nhưng bất hạnh thay ngày nay bệnh vẫn không thể chữa lành được. Ta thường biểu hiện bệnh hư khớp dưới dạng một bà rất già, co rúm lại trên chiếc gậy của mình trong khi đó ngày nay gương mặt của bệnh hư khớp đã thay đổi nhiều. Sự gia tăng đáng sợ của thể trọng và do đó của chứng béo phì trong những quần thể thuộc mọi lứa tuổi đã làm trẻ hóa một cách đáng kể căn bệnh này. Ngoài ra sự gia tăng thời gian rổi trong những xã hội hiện đạicủa chúng ta gây nên một sự quan tâm trở lại những hoạt động vui chơi và thể thao có nguy cơ gây chấn thương khớp, trực tiếp hay gián tiếp bởi những ngoại khoa khớp mà chúng mang lại, lót đường cho bệnh hư khớp. Ngày nay không phải là hiếm quan sát những hư khớp tiến triển của đầu gối ngay ở tuổi 40 !
Vậy những trông chờ của một điều trị hiệu quả không hề giống như trước đây vì lẽ căn bệnh này từ nay gây bệnh một cách đều đặn cho những bệnh nhân đang trong thời kỳ hoạt động nghề nghiệp hay những người về hưu còn trẻ háo hức lợi dụng du lịch hay bắt đầu những hoạt động vật lý mới. Bất hạnh thay chúng ta không có (chưa có) những điều trị thuốc có khả năng làm chậm lại sự phá hủy khớp, nhưng may mắn thay chúng ta có một palette những điều trị có khả năng làm giảm đau và sự trở ngại chức năng do căn bệnh này. Điều đó sẽ cho phép trì hoãn việc đặt toàn bộ khớp giả (prothèse totale articulaire), thường được xem như là giải pháp nhiệm màu nhưng tuy vậy có những hạn chế của nó vì lẽ trong 10 đến 20% các trường hợp triệu chứng đau vẫn dai dẳng, mà nguyên nhân vẫn chưa được hiểu rõ.
Do đó mục tiêu của điều trị hiện nay là làm giảm tối đa những triệu chứng đau và sự trở ngại cơ năng. Để đạt mục tiêu này ta có nhiều điều trị thuốc. Một vài được dùng bằng đường miệng, những loại thuốc khác được tiêm vào trong khớp. Vài loại thuốc tác dụng một cách nhanh chóng nhưng với một tính hiệu quả ngừng lại vài giờ sau khi sử dụng. Đó là trường hợp của paracétamol, những thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) (cũng có thể được sử dụng dưới dạng crème, gel hay patch) và những dẫn xuất opioide mạnh hay nhẹ (thí dụ tramadol). Đó cũng là trường hợp của các corticoides được tiêm vào trong khớp, rất có hiệu quả trong trường hợp bộc phát viêm nhưng tác dụng chỉ kéo dài vài ngày đến vài tuần. Những điều trị triệu chứng khác tác dụng chậm hơn với một hiệu quả có thể kéo dài nhiều ngày sau khi dùng. Đó là lý do tại sao những điều trị này được gọi là những “ điều trị nền ” (traitements de fond). Họ thuốc này gồm những biệt dược có chất cơ bản là glucosamine, chondroitine, những insaponifiables d’avocat et de soja, diacerhéine. Đó là những điều trị có tác dụng chậm, tác động duy nhất lên các triệu chứng vì lẽ ngày nay không có đủ bằng cớ để cho rằng chúng làm chậm sự phá hủy sụn liên kết với bệnh hư khớp. Tính hiệu quả của những điều trị triệu chứng có tác dụng chậm này vẫn được tranh luận trong y liệu. Chúng có ưu điểm chỉ gây nên ít hoặc không có những tác dụng phụ
Acide hyaluronique tiêm vào khớp cũng là một bộ phận của những điều trị triệu chứng được gọi là “ nền ” này, lại nữa không được chứng minh về tính hiệu quả lên một sự làm chậm lại lên sự hủy hoại khớp. Điều trị này được thực hiện bằng một hay 3 mũi tiêm cách nhau một tuần. Hiệu quả có thể kéo dài 6 tháng thậm chí một năm.
GIÁO DỤC TRỊ LIỆU
Nhưng không nên quên rằng những điều trị thuốc này thường chỉ có một tính hiệu quả hạn chế và chỉ có ít lợi ích nếu chúng không được phối hợp với những điều trị được gọi là “ không dược lý ”, nghĩa là không dựa vào thuốc. Ngày nay ta nhấn mạnh nhiều vào sự thực hiện một hoạt động vật lý đều đặn. Hoạt động này có ưu điểm hạn chế những cứng khớp. Ngoài ra, những chương trình hoạt động vật lý này cũng làm dễ sự mất cân, từ nay là một yếu tố nguy cơ được biết rõ của hư khớp gối, và trong một mức độ ít hơn, của hư khớp háng và của các bàn tay.Những chương trình hoạt động vật lý này có thể được bắt đầu bởi một kinésithérapeute. Việc mang những orthèse (semelles plantaires, genouillère, orthèse của ngón cái…), một canne (trong trường hợp cơn bộc phát của hư khớp gối hay háng), vật lý trị liệu (physiothérapie) và crénothérapie (cures thermales) cũng có thể giúp làm thuyên giảm đau và cứng khớp.
Như thế, trong lúc chờ đợi sự xuất hiện của những điều trị nền thật sự (nghĩa là có khả năng làm chậm lại sự thoái biến khớp), có lẽ sinh ra từ những nghiên cứu thí nghiệm đang được tiến hành, phải khuyến khích giáo dục trị liệu những bệnh nhân để giải thích rõ với họ làm sao phối hợp những biện pháp dược lý và không được lý này.
(LE FIGARO 15/2/2013)

6/ NHỮNG GIẢI PHÁP NÀO ĐỐI VỚI HƯ KHỚP CỔ
– Professeur Jean-Louis Husson
Service de chirurgie orthopédique et traumatologique
CHU Rennes
Membre de l’Académie nationale de chirurgie.
– Docteur Florian Cueff
Service de chirurgie orthopédique et traumatologique
CHU Rennes

Hư khớp cổ (cervicarthrose hay arthrose cervicale) là một bệnh lý thoái hóa (pathologie dégénérative), do đó được liên kết với sự lão hóa. Bệnh hư khớp cổ là nguyên nhân của triệu chứng đau cổ (cervicalgie) riêng rẻ hay kết hợp với đau cánh tay (douleurs brachiales) (névralgie cervico-brachialgie).
Mọi thương tổn khớp cổ gây nên một sự co cứng cơ (contracture musculaire) sinh đau và là nguồn duy trì thương tổn ban đầu. Chẩn đoán dựa vào một sự hỏi bệnh chi tiết. Ta cố gắng khiến bệnh nhân xác định những dấu hiệu quan trọng cho phép loại bỏ những chẩn đoán đau cổ nghiêm trọng hơn, thứ phát một bệnh lý viêm hay u.
Thăm khám vật lý được thực hiện thành nhiều giai đoạn. Một thăm khám ấn chẩn cột sống cổ và sự phân tích những cử động của nó là cần thiết. Bắt buộc liên kết một thăm khám vật lý các vai, cột sống ngực và thần kinh của các chi trên. Những thăm khám phụ được hướng dẫn bởi sự nghi ngờ lâm sàng, nhưng thường trước hết thực hiện chụp X quang chuẩn (mặt, nghiêng và ¾). Trong trường hợp nghi ngờ đau cổ thứ phát (cervicalgie secondaire), một thăm khám sinh học có thể thực hiện. Phải luôn luôn loại bỏ chẩn đoán đau cổ thứ phát (cervicalgie secondaire) trước khi kết luận đó là một đau cổ thông thường (cervicalgie commune).
Điều trị nhờ đến những biện pháp đơn giản và bảo thủ trong hầu hết các trường hợp. Giai đoạn đau ban đầu có thể được làm giảm bởi những thuốc giảm đau có mức thích ứng với đánh giá thị giác của triệu chứng đau. Những thuốc giảm đau này sẽ được liên kết, nếu không có chống chỉ định, với một thuốc kháng viêm stéroide và với một thuốc giãn cơ (myorelaxant). Mang một collier mousse có thể làm bệnh nhân thuyên giảm.
Những biện pháp vật lý có thể đến bổ sung điều trị. Mésothérapie và châm cứu điều trị một cách hiệu quả những đau quy chiếu (douleurs référées) trong vùng được chi phối bởi những nhánh thần kinh sau (branches nerveuses postérieures). Sự nhờ đến vật lý trị liệu (kinésithérapie) thường được phối hợp ưu tiên với điều trị thuốc.
Một điều trị nền (traitement de fond) cho phép tránh những tái phát sớm. Điều trị này dựa vào sự phục hồi chức năng cơ (rééducation musculaire) và những vận động dưới ngưỡng đau (mobilisations infradouloureuses). Bệnh nhân phải lợi dụng giai đoạn này để học những động tác nhằm tiết kiệm (économie) cột sống cổ, phòng ngừa những tái phát và duy trì hàng ngày (entretien quotidien).
ĐAU DÂY THẦN KINH CỐ-CÁNH TAY
Về những đau dây thần kinh cổ-cánh tay (névralgie cervico-brachiale), chính đau phát xuất từ cổ và lan theo một vùng nhất định trong chi hay các chi trên. Ở cổ ta phân biệt hai nguyên nhân đè ép thần kinh nguồn gốc thoái hóa : thoát vị đĩa đốt sống mềm (hernie discale molle) và đè ép bởi ostéophyte.
Một cách cổ điển, bệnh cảnh lâm sàng liên kết một sự giảm các cử động của cổ và đau theo một trajet rễ dây thần kinh nhất định, tận cùng trong các ngón tay. Thường đau có một horaire inflammatoire. Bilan bổ sung liên kết những chụp X quang chuẩn được thực hiện ưu tiên một, nhưng thăm dò cơ bản là chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ (IRM). Điện cơ đồ cho phép một phưong pháp về chất và lượng của thương tổn rễ thần kinh, nhưng, chủ yếu cho phép phân biệt những đau dây thần kinh cổ-cánh tay với những syndrome canalaire, thí dụ như syndrome du canal carpien.
Điều trị bảo tồn luôn luôn là ưu tiên một ngoài những tình huống cấp cứu như một thiếu sót vận động. Liên kết với điều trị thuốc, y hệt điều trị đau cổ (cervicalgie), là sự phục hội chứng năng bằng cách kéo theo trục (rééducation par traction axiale) và vật lý trị liệu giảm đau (physiothérapie antalgique) được chỉ định. Gần 80% những đau dây thần kinh nguồn gốc cổ được chữa lành bằng một điều trị bảo tồn trong 6 tuần.
Trong trường hợp thất bại ta có thể để nghị một điều trị ngoại khoa. Những chỉ định ngoại khoa được biện minh trong trường hợp thiếu sót vận động, thất bại điều trị bảo tồn mặc dầu được thực hiện tốt và nhất là có một tương quan tốt quang tuyến-lâm sàng. Những kỹ thuật ngoại khoa thay đổi tùy theo những thói quen của phẫu thuật viên và mức độ lan rộng của các thương tổn. Phần lớn các vấn đề có thể được giải quyết bằng đường mổ trước. Chỉ định thay đổi giữa arthrodèse intersomatique (par cage et greffon osseux) và prothèse totale de disque cervical. Kỹ thuật thứ nhất nhằm thay thế đĩa bị bệnh bằng một cage dùng làm hợp nhất hai thân đốt sống. Kỹ thuật thứ hai có cùng mục tiêu, nhưng đồng thời bảo tồn tính cử động liên đốt sống.
(LE FIGARO 17/12/2012)

7/ NHỮNG THƯƠNG TỔN SỤN : NHỮNG HY VỌNG CỦA NHỮNG YẾU TỐ TĂNG TRƯỞNG
BS Marc Bouvard, giám đốc của centre de biologe et médecine de sport de Pau giải thích tác dụng sửa chữa của điều trị mới này.
Hỏi : Những thương tổn sụn thường gặp nhất là gì ?
BS Marc Bouvard. Những thương tổn của đầu gối, của háng và của mắt cá chân. Những thương tổn này có thể do những nguyên nhân khác nhau, như một chấn thương, một sự hao mòn của sụn (hư khớp : arthrose), một sự tăng hoạt động của khớp, một hình thái khớp không hoàn chỉnh. Nguyên nhân dẫn đầu thường gặp nhất : bệnh hư khớp (arthrose) gây bệnh cho 1 triệu người ở Pháp.
Hỏi : Những triệu chứng nào đặc trưng cho những thương tổn này ?
BS Marc Bouvard.
1. Đau ở khớp gây nên bởi hoạt động : mạnh hơn trong khi hoạt động, giảm hay ngừng khi nghỉ ngơi.
2. Sưng khớp, luôn luôn ở nơi thương tổn, biến thiên theo cùng cách.
3. Khớp bị thương tổn gây nên những craquement lúc thực hiện vài cử động, nhất là khi đi xuống (một mặt dốc hay một cầu thang). Sau một thăm khám lâm sàng, chẩn đoán được xác nhận bởi chụp hình ảnh ; chụp X quang, rồi nếu cần, chụp cắt lớp vi tính khớp (arthroscanner), thăm dò này cho phép thấy được một bất thường dưới 1 milimet !
Hỏi : Sự xử trí cổ điển của những thương tổn sụn này là gì ?
BS Marc Bouvard. Ở những thiếu niên, những thương tổn này được gọi là “ ostéochondrite ”, trong đó sụn có thể được tái tạo một cách tự nhiên, đôi khi chữa lành một cách ngẫu nhiên. Đối với tất cả những trường hợp khác, có nhiều phương pháp. Một sự làm chậm hoạt động khớp luôn luôn được chỉ định để có được một sự ổn định của thương tổn, (thí dụ một người chạy marathon mà ta đã phát hiện một hư khớp giai đoạn đầu, sẽ được hướng về môn xe đạp). Trong cùng lúc, khi những thuốc chống đau không có hiệu quả, ta thường kê đơn những thuốc kháng viêm. Ở vài bệnh nhân, cần thực hiện những tiêm tại chỗ acide hyaluronique vào trong khớp. Nhưng những điều trị này, mặc dầu chúng làm thuyên giảm tạm thời nhưng không tái tạo lại sụn. Mặt khác, chúng cần được tiêm nhắc lại một cách đều đặn, do đó phải nghiên cứu một phương thức mới.
Hỏi : Ta gọi “ những yếu tố tăng trưởng ” là gì ?
BS Marc Bouvard. Vài yếu tố trong các tiểu cầu máu làm dễ sự tạo thành một cục máu đông sẽ làm dừng sự xuất huyết (hémostase : cầm máu). Nhưng trong những tiểu cầu cũng có những protéine được gọi là “ những yếu tố tăng trưởng ” có tính chất làm phát khởi và tổ chức sự sửa chữa các mô bị thương tổn.
Hỏi : Điều trị với những yếu tố tăng trưởng để làm gì ?
BS Marc Bouvard. Điều trị được thực hiện thành nhiều giai đoạn : ta tiến hành lấy vài tube máu, mà ta sẽ quay ly tâm để trích lấy huyết thanh giàu các tiểu cầu (PRP : plasma riche en plaquettes). Sau đó, trong những điều kiện vô trùng, ta tiêm huyết thanh này vào trở lại trong khớp. Những yếu tố tăng trưởng gắn vào màng của những tế bào sụn và phát khởi một chuỗi các biến cố sẽ dẫn đến một sự sửa chữa rồi sự hóa sẹo của thương tổn. Khi liệu pháp cổ điển thất bại, ta có thể dùng điều trị này như ưu tiên hai. 3 mũi tiêm cách nhau từ một đến hai tuần nói chung là cần để có được một kết quả đáng kể.
Hỏi : Cho đến hiện nay làm sao ta đã đo được tính hiệu quả trên sụn của phương pháp mới nhất này ?
BS Marc Bouvard. Những công trình nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trong nhiều nước : ở Ý, Tây Ban Nha, ở Slovaquie… trên hàng trăm bệnh nhân. Những kết quả này, tất cả đều dương tính, được công bố trong các tạp chí khoa học “Arthroscopy ”, “ Rheumatology ”, “The American Journal of Sports Medicine ”, đã được căn cứ trên sự giảm thậm chí sự biến mất của đau và sự cải thiện của chất lượng sống. Với thời gian nhìn lại một năm, những kết luận đều phù hợp và mức độ dung nap đều tốt. Thí dụ trong những trường hợp thương tổn sụn của đầu gối, điều trị mới nhất này đã tỏ ra (sau 3 tháng) hiệu quả hơn điều trị được thực hiện do tiêm acide hyaluronique. Những công trình nghiên cứu này được tiếp tục, những công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành. Chúng tôi chờ đợi những kết quả lâu dài hơn.
Hỏi : Đối với những thương tổn khác nào ta hy vọng có thể sử dụng những yếu tố tăng trưởng này ?
BS Marc Bouvard. Cơ sở của những hy vọng quan trọng là những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để đánh giá tính hiệu quả của chúng trên những thương tổn gân đề kháng và những thương tổn cơ nghiêm trọng.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với những liệu pháp này không ?
BS Marc Bouvard. Có ba chống chỉ định : những rối loạn đông máu do một căn bệnh hay một điều trị. Sự hiện diện của những nhiễm trùng hay các khối u bên cạnh. Sự kế cận của một huyết quản lớn hay của một dây thần kinh.
(PARIS MATCH 24/1-30/1/2013)

8/ BỆNH THỐNG PHONG : SỰ XUẤT HIỆN CỦA CÁC THUỐC SINH HỌC
Rất thông thường, điều trị bệnh thống phong được giới hạn vào điều trị cơn thống phong, duy nhất gây đau đớn. Đó là tấn công vào những triệu chứng của bệnh nhưng không vào nguyên nhân của nó.
Hạn chế tăng axit uric-huyết (hyperuricémie) và ngăn ngừa một cơn thứ hai khi bệnh thống phong đã xuất hiện trước hết dựa vào sự loại bỏ những thức ăn làm dễ căn bệnh này. “Tệ hại nhất, đó là bia, ngay cả không có cồn, bởi vì bia chứa rất nhiều purine, tiền chất của axit uric (acide urique), GS Thomas Bardin (bệnh viện Lariboisière, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Cũng phải tránh các loại rượu mạnh và hạn chế sự tiêu thụ thịt, cá và fruit de mer, chứa nhiều purine. Nguy hiểm khác, các soda đường và các nước vắt trái cây công nghiệp (jus industriel). Chúng chứa nhiều fructose. Thế mà sự biến đổi fructose thành glucose tiêu thụ nhiều ATP, một phân tử mà sự sản xuất làm gia tăng mạnh uricémie. Một chế độ ăn uống rất nhiều calo cũng có hại bởi vì sinh béo phì, làm gia tăng tăng axit uric-huyết.”
Thuốc chuẩn trong điều trị cơn thống phong là colchicine, làm giảm viêm và đau. Loại thuốc này không phải luôn luôn được dung nạp tốt trên bình diện tiêu hóa, và có thể gây nhiễm độc : vậy không bao giờ được gia tăng liều lượng. “ Ta cũng có thể sử dụng các thuốc kháng viêm và các corticoides, nhất là bằng tiêm ngấm vào trong khớp ”, vị thầy thuốc đã nói thêm như vậy. Vài bệnh nhân bị bệnh thống phong không đáp ứng với điều trị hay có những chống chỉ định vì suy thận, đái đường hay cao huyết áp. “ Sự khám phá vai trò của một interkeukine (IL1) trong quá trình viêm đã mở đường cho những điều trị sinh học (traitement biologique) bằng kháng thể chống IL-1 (anticorps anti-IL1). Những thuốc này chưa được phép thương mãi hóa ở Pháp nhưng đã được sử dụng ở bệnh viện trong những thử nghiệm để điều trị những trường hợp khó này ”, GS Richette (bệnh viện Lariboisière) đã chỉ rõ như vậy.
Đối với thầy thuốc chuyên khoa khớp, “ điều trị nền của tăng axit uric-huyết trở nên cần thiết khi bệnh thống phong trở nên nghiêm trọng, nghĩa là khi nó được kèm theo bởi một thương tổn thận (sỏi thận), khi các tophus có thể sờ được hay khi chúng làm hỏng xương, hay sau một cơn thống phong thứ hai ”. Đó là một điều trị kéo dài (traitement au long cours). “ Điều trị này nhằm làm giảm sự tạo thành axit uric, nhờ hai loại thuốc, allopurinol hay fébuxostat. Allopurinol đôi khi gây những dị ứng ở da. Vậy trước hết nó phải được cho với liều lượng rất thấp. Mạnh hơn, fébuxostat cho phép điều trị tốt hơn những bệnh nhân bị suy thận ”. Vào lúc đầu điều trị, một sự hạ đột ngột axit uric-huyết (uricémie) có thể làm phát khởi một cơn thống phong. “ Để tránh điều đó, ta bắt đầu điều trị cách xa một cơn, bằng cách cũng cho một ít colchicine để phòng ngừa nó.”
Một điều trị khác, pégloticase, đã được sử dụng ở nước ngoài và trong môi trường bệnh viện. Đó là một uricase tổng hợp cho phép làm thoái biến acide urique, nhưng thuốc này chưa được cho phép thương mãi hóa. Những loại thuốc khác, nhằm làm giảm sự tạo thành hay làm gia tăng sự loại bỏ acide urique, đang được phát triển.
Sự phối hợp điều trị nền (traitement de fond), sự loại bỏ những thức ăn làm dễ tăng axit uric-huyết và sự điều trị những bệnh liên kết khác cho phép bình thường hóa axit uric-huyết (uricémie), làm thoái triển các tophus, và đôi khi ngay cả làm giảm các thương tổn xương. Đối tất cả các chuyên gia, sự giáo dục điều trị bệnh nhân là quan trọng trong sự thành công của điều trị bệnh thống phong và đáng được phát triển.
(LE FIGARO 10/9/2012)

9/ ĐAU LƯNG : MỘT CĂN BỆNH DO NHIỀU YẾU TỐ
“ ĐAU LƯNG ” liên quan đến từ 50 đến 70% dân số. Đó là một trong những nguyên nhân đầu tiên gây nghỉ việc trong lao động. Nếu 95% những trường hợp đau lưng thông thường (lombalgie commune) này được chữa lành trong vài ngày, 5% tiến triển thành đau lưng mãn tính (lombalgie chronique), đau đôi khi ngăn cản trong nhiều tháng sự tái tục công việc. Những yếu tố vật lý, tâm lý và xã hội, thay đổi với mỗi bệnh nhân, khi đó thường phối hợp với nhau : các đĩa đốt sống đôi khi bị hỏng, nhưng cũng có sự thiếu vắng hoạt động vật lý, những khó khăn trong nghề nghiệp, bệnh trầm cảm, ly dị, con ốm..Đối với GS Legrand, “ ngay cả trong trường hợp dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa, những yếu tố tâm lý xã hội này có thể được nghi ngờ khi triệu chứng đau dai dẳng trong khi những dấu hiệu vật lý khách quan của dây thần kinh tọa đã biến mất hay đang biến mất ”.
Điều mà BS Rozenberg diễn tả một cách khác : “ Chúng ta không điều trị một scanner hay một IRM, mà là điều trị một cá thể trong toàn bộ của nó. Một người đang bị tai nạn lao động với một đau dây thần kinh tọa thật sự và một thoát vị đĩa đốt sống, một người cũng đang tranh chấp với ông chủ của mình vì tai nạn lao động này, sẽ lành đau dây thần kinh tọa của mình ít nhanh hơn so với một người không phải sống một xung đột như thế. Đó là tầm quan trọng biết nhận diện những yếu tố tâm lý xã hội liên quan.”
Các lombalgie có một ảnh hưởng mạnh hơn ở thợ thuyền và công nhân viên so với những nghề nghiệp trung gian và các cán bộ. “ Ít có những công trình nghiên cứu đặc biệt dành cho những đau dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa, nhưng chúng chỉ rõ một một nguy cơ hơi cao hơn đối với những hoạt động đòi hỏi những tư thế vẹo (posture de torsion) hay chịu những chấn rung (vibration) như những người lái các engins de chantier, GS Yves Roquelaure, chuyên gia về y tế công cộng (CHU d’Angers) đã giải thích như vậy. Giai đoạn tiền phong của một công trình nghiên cứu đang được tiến hành trong Pays de la Loire cho thấy một tỷ lệ những trường hợp thoát vị đĩa được mổ cao hơn ở các y tá, những tài xế xe tải và những manutentionnaire. Công trình nghiên cứu sẽ xác nhận một sự tập trung các rối loạn này trên các loại nghề nghiệp chịu những công việc khó nhọc.”
Đối với vị thầy thuốc, tính chất đại diện xã hội của tình trạng khó nhọc trong công việc cũng đóng vai trò : “ Thoát vị đĩa của vận động viên tennis nghề nghiệp thường xuyên chịu những lực xoắn và uốn (forces de torsion et d’extension) không làm ai ngạc nhiên. Nhưng xã hội lại ít công nhận hơn rằng một manutentionnaire bị những contrainte physique cũng mạnh như thế.”
Mặc dầu 20% những tai nạn lao động có nguyên nhân là một lombalgie, nhưng chỉ những trường hợp đau dây thần kinh tọa với, khi làm IRM hay scanner, một thoát vị đĩa phù hợp với những triệu chứng, mới có thể được công nhận là bệnh nghề nghiệp, với điều kiện thực hiện một hoạt động có nguy cơ. những hạn chế này giải thích chỉ 2000 trường hợp được công nhận mỗi năm mặc dầu sức nặng của các trường hợp lombalgie trong y tế lao động.
ĐIỀU KIỆN TÂM LÝ.
Trong khi tính khó nhọc của nghề nghiệp có lẽ là một yếu tố nguyên nhân một phần của đau dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa, tính chất vất vã này cũng có thể ảnh hưởng lên tiên lượng tiến triển. “ Ngược lại, cùng bệnh lý như nhau, những người sống tốt hoạt động nghề nghiệp của mình chịu đựng tốt hơn chứng đau lưng của mình, trở nên trầm trọng ít hơn so với những bệnh nhân mà những điều kiện tâm lý hay vật lý lao động bị suy thoái. Sự tái tục nhanh chóng công việc cũng là một yếu tố chữa lành và bao hàm sự công tác của tất cả các acteur liên hệ ”, GS Roquelaure đã đánh giá như vậy.
Một sự bố trí poste de travail phải được xét đến nếu có thể. “ Sự giúp đỡ chuyển nghề (reconversion professionnelle) đôi khi không thể tránh được của các công nhân viên bị ảnh hưởng nhất bởi những lombalgie mãn tính này, cũng phải được cải thiện.
(LE FIGARO 29/8/2011)

10/ CHỨNG VẸO CỘT SỐNG : THỂ THAO VÀ VẬT LÝ TRỊ LIỆU
“ Tôi có những bệnh nhân en sport études, làm 30 giờ thể thao mỗi tuần hay trong những giờ thể thao chúng được quyền không mang corset orthopédique ”, GS Raphael Vialle, trưởng khoa ngoại chỉnh hình và sửa chữa (chirurgie orthopédique et réparatrice) trẻ em thuộc bệnh viện Armand-Trousseau (Paris), đã nhấn mạnh như vậy. Vậy không có vấn đề cấp một giấy chứng nhận không đủ khả năng chơi thể thao đứng trước một trường hợp vẹo cột sống (scoliose), trái lại là đằng khác : cỡi ngựa (équitation), tennis, cầu lông và danse đều được khuyến nghị cũng như bơi lội.
Thật vậy, tất cả những hoạt động thể thao đều được khuyến khích, ngay cả ở trình độ cao. Những hoạt động này tạo điều kiện cho một musculature lành mạnh và mềm dẻo, có khả năng bảo vệ lưng và giúp hỗ trợ cho tình trạng không thoải mái của corset. Ngoài ra thể thao có thể tránh phần lớn những triệu chứng đau mà những đứa bé có thể cảm nhận trong lưng, và chỉ rất hiếm khi liên hệ với vẹo cột sống, nhưng đúng hơn là do một tư thế ngồi xấu kéo dài, nhất là vào những giờ trước máy vi tính.
Thật vậy không có một comportement nào có thể làm gia trọng một vẹo cột sống : tư thế xấu, cartable quá nặng cũng như hoạt động thể thao.Chứng vẹo cột sống chỉ liên quan với sự tăng trưởng của cột sống và, ngoài một điều trị chỉnh hình hay ngoại khoa, không gì có thể làm biến đổi tiến triển của bệnh. Tuy nhiên phải duy trì cơ thể cử động, nhất là trong khi mang một corset : kinésithérapie có thể mang lại một sự hỗ trợ đáng kể cho điều đó.
“ Tuy nhiên không thể điều chỉnh một vẹo cột sống bằng những buổi kinésithérapie hay những đế chỉnh hình (semelle orthopédique), GS Vialle đã tha thiết nhắc lại như vậy. Chúng tôi thấy những bệnh nhân đến sau hàng trăm buổi vật lý trị liệu, không nhưng đã không có hiệu quả mà còn đã cho phép chứng vẹo cột sống nặng thêm với thời gian ”.
Như thế các kinésithérapeute có một vai trò quan trọng trong suốt thời gian điều trị, để kèm cặp việc mang corset. “ Chúng tôi biết lưng của những đứa trẻ và chúng tôi có thể tham gia ở việc theo dõi, nhất là để phát hiện tiến triển của chứng vẹo cột sống, Yves Tourjnaski, tổng thư ký của liên đoàn các masseurs kinésithérapeutes rééducateurs đã chỉ rõ những vậy. Chúng tôi cũng giúp đỡ các đứa trẻ bằng những động tác làm dẻo (assouplissements) và kéo giãn (étirements), cho phép tránh không để cho vài vùng bị cứng trong khi những vùng khác lại mềm dẻo, điều này có thể dẫn đến những tình trạng mất cân bằng.”
(LE FIGARO 24/9/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/3/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 299 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 509 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 520 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s