Thời sự y học số 297 – BS Nguyễn Văn Thịnh

sua chua thi giac1/ SỬA CHỮA THỊ GIÁC : NHỮNG GIẢI PHÁP MỚI
Cận thị, viễn thị, loạn thị, các implant correcteur mang lại những triễn vọng mới.
VISION. Nếu ta so sánh mắt với một máy ảnh, giác mạc (cornée) của chúng ta (màng trong suốt và nông của mắt) đóng vai trò của thấu kính (lentille) của một vật kính (objectif). Mống mắt (iris), vai trò của cửa điều sáng (diaphragme), mở ra và đóng lại trong phút chốc để ánh sáng đi qua. Về thủy tinh thể, đó là một zoom nhỏ, cần thiết để hiệu chính : thật vậy, lúc nghỉ ngơi, thủy tinh thể được kéo dài ra và được điều chỉnh để nhìn xa. Để cho phép nhìn gần, thủy tinh thể phải co lại nhưng với tuổi tác, nó mất tính đàn hồi. Những hình ảnh được hiệu chính như thế đến võng mạc trước khi được gởi đến vùng thị giác của não bộ, qua dây thần kinh thị giác.

“ Nhưng khác với một máy ảnh, mắt là một cơ quan phức tạp đến độ chưa bao giờ một kip nghiên cứu nào đã thành công tái sinh hoàn toàn thủy tinh thể một cách nhân tạo. Chỉ vài trong những “ thành phần ” của nó ngày nay có thể thay thế được. Những cải thiện rất quan trọng được đều đặn báo cáo và những người được hưởng nhiều là những người lứa tuổi 60 (hay hơn) bởi vì sớm hay muộn họ phải chịu một thủy tinh thể bị mờ đục (đục thủy tinh thể) ”, BS Laurent Benzacken (trưởng khoa mắt của bệnh viện Robert-Ballanger, Seine Saint-Denis) và GS Paul Dighiero (cựu trưởng khoa mắt ở CHU de Poitiers), đã ghi nhận như vậy.
Ý tưởng thay thế một bộ phận trong mắt không phải là mới. Tất cả phát xưa từ điều chứng thực, vào lúc Đệ Nhị Thế Chiến, rằng những phi công của Royal Air Force, sau khi đã nhận những mảnh kính vỡ từ cockpit vào trong mắt, đã không bị hiện tượng thải bỏ (rejet) của vật liệu này, được dung nạp rất tốt. Điều chứng thực này đã dẫn đến ý nghĩ rằng phía trong của mắt có khả năng dung nạp những thấu kính hiệu chỉnh (lentille correctrice). Và qua nhiều năm tháng, những tiến bộ đáng kể đã được thực hiện : sau những implant có khả năng điều chỉnh thị giác nhìn xa mà những người sau khi được mổ đục thủy tinh thể đã từng biết đến từ nhiều năm nay, đã xuất hiện những implant điều chỉnh hai tiêu cự (implant correcteur bifocal) (tương đương với những verre à double foyer), rồi những implant nhiều tiêu cự (implant multifocal). Trên 450.000 phẫu thuật thay thế thủy tinh thể được thực hiện mỗi năm, 1/3 ngày nay được thay thế bởi những thấu kính nhiều tiêu cự (lentille multifocale) ”, GS Dighiero đã ghi nhận như vậy.
Nhưng thế chỗ cho một thủy tinh thể đã bị đục (cataracte), những implant thế hệ mới này cho phép đồng thời giải quyết vấn đề đục thủy tinh thể và tìm lại một thị giác tốt nhìn gần, trung gian và xa. Thật vậy, những rối loạn thị giác khác (cận thị, loạn thị và viễn thị) cũng được điều chỉnh.
“ Nhờ những tiến bộ này, một người 60 tuổi ngày nay có thể tìm lại một thị giác có chất lượng rất tốt, không phải đeo kính hay lentille, và điều này nhờ một can thiệp keo dài trong ¼ gió, được thực hiện ngoại trú, với một đường xẻ dưới 2 mm. Vậy ta có thể nói đó là một kỳ công ! ” GS Dighiero đã đánh giá như vậy. Và nếu, trong lãnh vực lấy thủy tinh thể ra, những tiến bộ to lớn nhất đã đạt được, ta còn có thể trông vào một kỹ thuật học để làm tiến triển khả năng của các implant mang lại tối đa thị giác thoải mái.
Điều bất tiện duy nhất của cải tiến này : “ Thủy tinh thể chỉ có thể được thay thế, nhất là ở người cận thị nặng, khi đã có một khởi đầu cataracte. Bởi vì nếu nó được lấy đi quá sớm, nguy cơ bong võng mạc không phải là số không ”, BS Benzacken đã xác nhận như vậy. Chính vì vậy, vài thầy thuốc nhãn khoa đề nghị, ở người cận thị nặng còn trẻ có giác mạc quá mảnh để có thể hưởng được một ngoại khoa khúc xạ (chirurgie réfractaire) bằng laser, đặt trước thủy tinh thể (và không thay thế nó) một thấu kính hiệu chỉnh (lentille correctrice) để bệnh nhân không cần phải đeo kính và lentille
ANNEAU PERCE
Giải pháp này không thể xét đến ở những người viễn thị có nhãn cầu quá nhỏ. Và nó chỉ được đề nghị như là biện pháp cuối cùng ở người cận thị nặng, bởi vì sự đặt một implant trước thủy tinh thế không phải là không có nguy cơ gây đục thủy tinh thể (do cọ xát), gây glaucome (do gia tăng áp lực trong nhãn cầu), thậm chí nhiễm trùng.
“ Sau cùng có thể đặt một lentille nhỏ điều chỉnh chứng lão thị vào trong một giác mạc lành mạnh, hay một vòng nhỏ được chọc thủng ở trung tâm (như thể đồng tử được co lại thường xuyên) để làm gia tăng bề sâu. Những thiết bị nội giác mạc này có thể được đề nghị thay thế cho ngoại khoa khúc xạ bằng laser (chirurgie réfractaire au laser). Ưu điểm : kỹ thuật có thể đảo ngược được. Điều bất lợi : can thiệp này còn confidentielle (được dành cho những người lão thị không thể được điều trị bằng laser) và do đó ta thiếu thời gian nhìn lại về kết quả lâu dài. Vài trường hợp hiếm các thương tổn sẹo đã gây nên một sự sụt giảm thị giác đã được mô tả. Vậy cần một sự đánh giá lâu dài hơn ”, GS Marc Muraine, trưởng khoa mắt của CHU de Rouen, đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 4/2/2013)

2/ NHỮNG BỘ PHẬN THAY THẾ ĐỂ ĐIỀU TRỊ GIÁC MẠC
Khi giác mạc (cornée) (màng nông và trong suốt của mắt) bị biến dạng, ta nói đó là keratocône (cứ 2000 người Pháp thì một bị chứng bệnh này). Thường nhất, đó là một biến dạng nhẹ và những điều chỉnh bằng kính đeo hay thấu kính (lentille) thường là đủ. Nhưng đối với một số nhỏ các bệnh nhân, giác mạc có thể bị “ gondolé ”, đến độ thị giác vẫn rất bị ảnh hưởng mặc dầu đeo kính điều chỉnh (lunettes correctrices).
NHÂN TẠO
“ Đối với những bệnh nhân này, có thể thực hiện một đường hầm (tunnel) nhỏ trong giác mạc nhờ laser, rồi đưa vào đó nhưng cung cứng (arc rigide) (những vòng : anneaux) để cho phép làm căng trở lại mô giác mạc và như thế làm thu giảm biến dạng ban đầu, với những kết quả đáng lưu ý, GS Marc Muraine (CHU de Renne) đã ghi nhận như vậy. Hàng trăm các vòng nội giác mạc (anneaux intracornéens) được đặt như thế mỗi năm trong đất nước chúng ta, với một độ dưng nạp rất tốt.”
Khi giác mạc đã bị hủy hoại và khi nó bị thoái hóa đến độ không một ghép giác mạc người (greffe cutanée humaine) nào có thể thực hiện thành công, điều đó trở nên phức tạp. Loại tình huống bi thảm này được gặp chủ yếu sau một bỏng nặng do chất hóa học. “ Khi đó có thể đặt một giác mạc nhân tạo (cornée artificielle) (hay kératoprothèse), được chế tạo bằng một vật liệu gần giống với vật liệu được sử dụng đối với những lentille de contact. Bất hạnh thay, khi mô nhằm nhận giác mạc nhân tạo cũng bị hỏng quá độ, nhưng cơ may thành công rất thấp. Ở Pháp 20 giác mạc nhân tạo được đặt mỗi nom ”, GS Muraine nói tiếp như vậy.
Giác mạc không phải là cấu trúc duy nhất có thể bị thương tổn. Bên trong nhãn cầu, những cấu trúc khác cũng có thể bị. Thí dụ, trong nhãn cầu, một loại vỏ không giãn (coque inextensible), được tiết ra một cách thường trực một dịch sinh lý, thủy dịch (humeur aqueuse). Bình thường, chất dịch này được bài tiết qua một kênh (canal). Nhưng trong trường hợp tắc, chất dịch vẫn ở bên trong mắt và áp lực gia tăng (glaucome), đè ép những sợi của dây thần kính thị giác.
Để làm hạ áp lực nội nhãn, các thầy thuốc nhãn khoa có thể kê đơn một loại thuốc nhỏ mắt và khi điều đó không đủ, đề nghị một điều trị bằng laser hay ngoại khoa, với mục tiêu chung là loại bỏ thủy dịch để không còn được tạo ra nữa và, như thế làm hạ áp lực nội nhãn. “ Thế mà trong lãnh vực này, từ nay ta có những drain nhỏ cho phép cải thiện ngoại khoa lọc (chirurgie filtrante) ”, G Paul Dighiero (Paris) đã giải thích như vậy.
THAY THỂ MỒNG MẮT.
Vẫn luôn luôn về các bộ phận thay thế (pièce de rechange), “ sự xuất hiện của các implant có khả năng thay thế mống mắt, nhưng với một lỗ mở cố định (và do đó, không có sự thích ứng với ánh sáng) chủ yếu hữu ích sau một chấn thương hay, điều xảy ra rất hiếm, khi không có mống mắt lúc sinh. Bệnh không có mống mắt (aniridie) chỉ xảy ra một trường hợp trên 50.000 sinh đẻ ”
Về thay thế võng mạc, thì phức tạp hơn nhiều. Vả lại đó là lý do tại sao, khi võng mạc bị bong, các thầy thuốc nhãn khoa tìm cách bằng bất cứ giá nào “ hàn lại ” những mảnh bị tách rời, nhờ laser. “ Còn phải đặt cho chúng tiếp xúc, điều này có thể cần phải tiem vào trong dịch kính (vitré) (nằm sau thủy tinh thể) hoặc một khí (gaz), hoặc, trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, một dầu silicone được đặt tại chỗ trong nhiều tuần ”, GS Muraine đã nói tiếp như vậy.
“ Ở Viện thị giác ở Paris (kíp cua GS José-Alain Sahel), người ta hiệu chính một implant điện tử nối với một camera, cho phép nhận thức ánh sáng và các hình thể : tuy nhiên dây thần kinh phải có khả năng gởi các tín hiệu bởi vì với kiến thức hiện nay ta không biết nối lại hai dây thần kinh với nhau ”, BS Laurent Berzacken (CHU Aulnay-sous-Bois) đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 4/2/2013)

3/ NHỮNG IMPLANT THUỐC Ở TRUNG TÂM NHÃN CẦU.
Sự hiện diện của phù nề bên trong mắt, điều này không bao giờ tốt lắm đối với thị giác, nhất là nếu phù nề này nằm ở hoàng điểm (macula), điểm quan trọng nhất của võng mạc để nhìn thấy một cách chính xác (vision de précision). Thế mà điều đó có thể xảy ra sau một tắc tĩnh mạch trung tâm của võng mạc hay trong bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’age), bệnh võng mạc đái đường (rétinopathie diabétique) (một biến chứng của bệnh đái đường) hay viêm màng mạch nho (uvéite) (viêm trong nhãn cầu). Trong tất cả những tình huống này, các thầy thuốc nhãn khoa do đó tìm cách làm thoái triễn sự phù nề vì dấu hiệu này có thể tồn tại trong nhiều tháng.
“ Cho đến nay, có thể tiêm thuốc vào trong nhãn cầu, với một thời gian tác dụng tương đối dài : thí dụ 1 tháng đối với Lucentis ”, GS Laurent Benzacken (CHU Aulnay-sous-Bois) đã giải thích như vậy. Nhưng từ ít lâu nay, implant thuốc nội nhãn (implant médicamenteux intraoculaire) đầu tiên được cho phép ở Pháp, Ozurdex, có thể được đề nghị để điều trị phù điểm vàng, nhất là sau khi tĩnh mạch trung ương của võng mạc bị tắc. Đó là một implant nhỏ biodégradable, dài 6 mm, được tiêm vào bên trong nhãn cầu. Ưu điểm : tác dụng của nó trên lý thuyết kéo dài 6 tháng (trên thực tế đúng hơn 4 hay 5 tháng).
“ Cần thận trọng bởi vì đó là một implant de corticoides, do đó có một nguy cơ không nhỏ bị glaucome thứ phát và chính vì vậy điều trị này bị chống chỉ định trong trường hợp glaucome mal équilibré hay đã cần hơn hai điều trị. Nguy cơ khác, nguy cơ xuất hiện một đục thủy tinh thể, ít có vấn đề hơn. Thật vậy, trong nhóm những bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch trung tâm của võng mạc, nghĩa là những người trên 60 tuổi, ta đã rất thường nhận thấy một đục thủy tinh thể đã được mổ hay sẽ phải mổ sau này. Trong tất cả các trường hợp, sự theo dõi sau khi tiêm implant médicamenteux là chủ yếu : sự theo dõi được thực hiện sau 7 ngày, rồi 1,2,3 và 4 tháng sau khi tiêm mũi đầu tiên. Chỉ khi không xuất hiện các biến chứng, sự theo dõi khi đó được giảm bớt, GS Bahram Bodaghi (CHU Vision et Handicaps, đại học Pierre et Marie Curie, bệnh viện Pitié-Salpêtrière) đã giải thích như vậy.
Trong khi Ozurdex là implant duy nhất được cho phép ở Pháp, thì Hoa kỳ có một implant được thiết đặt bằng ngoại khoa và không biodégradable, Retisert, phóng thích corticoide trong khoảng 3 năm. Những nguy cơ xuất hiện một glaucome thứ phát cần một can thiệp rất là quan trọng, khoảng 35 %, vì vậy loại implant này không được cho phép ở châu Âu.
“ Chỉ một giấy phép đưa ra thị trường châu Âu vừa dược cấp cho implant Iluvien 0,19 mg (chứa cùng corticoide như Retisert, nhưng với một liều thấp hơn) để điều trị những người bị bệnh đái đường có một phù hoàng điểm với một thời gian tác dụng lý thuyết kéo dài 3 năm. Sự dung nạp dường như tốt hơn nhưng một sự theo dõi kéo dài là cần thiết trước khi kết luận chính xác hơn. Và mặc dầu không gì được dự kiến trong một tương lai rất gần, nghiên cứu vẫn tiếp tục để cố hiệu chính những chiến lược điều trị tại chỗ khác, nhưng cũng những implant khác nhằm điều trị chứng khô mắt, glaucome và viêm bề mặt nhãn cầu ” , GS Bodaghi đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 4/2/2013)

4/ CÁC NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU CÓ THỂ NGHIÊM TRỌNG KHÔNG ?

Professeur JEAN-PIERRE SRAER
Néphrologue
Membre de l’Académie nationale de médecine.

Các nhiễm trùng đường tiểu, được xác định bởi triệu chứng đau lúc đi tiểu, mủ, thậm chí máu trong nước tiểu, rất thường xảy ra, nhất là ở các phụ nữ.Phần lớn các trường hợp, các nhiễm trùng đường tiểu được điều trị bằng những đợt kháng sinh ngắn ngày, thường không cần nhận diện vi khuẩn hiện diện trong nước tiểu, vậy không cần phải làm kháng sinh đồ. Chúng thường do một nhiễm trùng bởi colibacille.
Những nguyên nhân cơ thể học của những nhiễm trùng đường tiểu là gì ?
Ở phụ nữ, vùng hậu môn và niệu đạo về phương diện cơ thể học rất gần nhau. Ngoài ra, trái với người đàn ông, niệu đạo ở phụ nữ rất ngắn. Ở người đàn ông, các nhiễm trùng đường tiểu là do sự thoát tiểu bị trở ngại (phì đại tiền liệt tuyến, sỏi đường bài tiết nước tiểu), gây nên một sự ứ đọng của nước tiểu, làm dễ sự tăng sinh vi khuẩn.
Những cách làm nhiễm trùng đường tiểu ?
Bình thường, có 1000 vi khuẩn/ml nước tiểu, nhưng điều đó không có hậu quả bệnh lý nếu đi tiểu đều đặn để tránh sự tích tụ của nước tiểu trong bàng quang. Như thế, sự ô nhiễm nước tiểu ở phụ nữ thường nhất có liên quan đến những vi trùng ruột do cơ thể học của vùng đáy chậu (périnée). Tuy nhiên, nhiễm trùng đường tiểu có thể thứ phát một nhiễm trùng âm đạo, xảy ra sau một giao hợp gây nhiễm, điều này đòi hỏi một vệ sinh tại chỗ nghiêm túc.
Những trường hợp nào làm dễ những nhiễm trùng đường tiểu ?
Vài trường hợp thuộc về nội khoa, như bệnh đái đường làm biến mất cảm giác rát bỏng khi tiểu tiện (brulure mictionnelle) ; những điều trị suy giảm miễn dịch hay chống ung thư, là những yếu tố làm dễ của tất cả các nhiễm trùng. Những trường hợp khác là do tuổi tác. Sau 50 tuổi ở đàn ông, phì đại tiền liệt tuyến là nguyên nhân thường gặp nhất. Ở những người già và những người rất già, sự mất nước do thiếu cảm giác khát thường nhất là nguồn gốc của bí tiểu chịu trách nhiệm nhiễm trùng. Ngược lại sự mất khả năng kềm chế cơ vòng tiêu hóa hay tiểu tiện làm dễ một cách đáng kể những nguy cơ lây nhiễm. Để ghi nhớ, những thương tổn thần kinh của đuôi ngựa (queue de cheval) làm biến mất mọi cảm giác đầy tạng (sensation de plénitude viscérale).
Có phải sợ nhiễm trùng đường tiểu hay không ?
Ở trẻ em, các nhiễm trùng đường tiểu có thể nghiêm trọng về mặt y khoa. Một nhiễm trùng ở trẻ em phải được thăm dò một cách hệ thống để tìm kiếm một dị dạng của đường tiểu, thường nhất là một hồi lưu bàng quang-niệu quản (reflux vésico-urétéral) hay một hẹp của chỗ nối giữa bể thận (bassinet), thu góp nước tiểu và niệu quản (uretère), dẫn nước tiểu xuống bàng quang. Những dị dạng này phải được điều trị về mặt ngoại khoa một cách rất sớm, nếu không chúng có thể về lâu về dài dẫn đến sự mất chức năng của một thận, thậm chí của cả hai nếu các dị dạng xảy ra hai bên, nhiên hậu đưa đến suy thận mãn tính và những điều trị của nó : thẩm tách máu (hémodialyse) và/hoặc ghép thận. Ở người trưởng thành, các nhiễm trùng đường tiểu rất thường gặp, nhất là ở phụ nữ. Mặc dầu tầm thường và dễ điều trị nhưng chúng đôi khi có thể nghiêm trọng, thậm chí gây chết người, dầu nguyên nhân là gì.
Khi nào phải lo lắng ?
Khi một nhiễm trùng đường tiểu kèm theo sốt. Điều đó có nghĩa rằng, ngoài nhiễm trùng đường tiểu, nhiễm trùng đã xâm nhập một cơ quan vệ tinh (organe satellite) : một hay hai trái thận (viêm thận bể thận) và/ hoặc tuyến tiền liệt ở đàn ông (viêm tiền liệt tuyến). Ở phụ nữ vào cuối thời kỳ thai nghén, sự đè ép các đường bài tiết bởi tử cung mang thai có thể kèm theo một nhiễm trùng đường tiểu cao và thường là viêm thận-bể thận.
Chỉ có các kháng sinh mới có một hiệu quả được chứng minh về mặt khoa học ; chỉ có thuốc mới chứng tỏ tính hiệu quả của chúng. Nhưng, trong tất cả các trường hợp, một điều trị thông thường có thể bắt chước một lành bệnh mặc dầu những quá trình thương tổn không được chữa lành. Chúng có thể tiến triển âm thầm một cách độc lập như điều đó đã được chứng tỏ rõ ràng bởi những thăm dò chụp cắt lớp vi tính hay siêu âm. Khi nhiễm trùng xảy ra hai bên, những chảy mủ (fonte purulente) thật sự của hai thận nghiêm trọng đến độ sự cắt bỏ một trong hai thận đôi khi cần thiết để cứu mạng các bệnh nhân. Những biến chứng tai hại này cùng được quan sát ở những bệnh nhân mang các sỏi đường bài tiết nước tiểu khiến sự bài tiết nước tiểu nhiễm trùng bị bế tắc. Những tắc nghẽn đường tiểu với nhiễm trùng trên đó tạo nên những cấp cứu nội-ngoại khoa thât sự.
Ở bệnh nhân bị bệnh đái đường, đặc biệt nghiêm trọng là những nhiễm trùng do vi khuẩn kỵ khí, dễ chẩn đoán bởi vì khí có thể thấy được trong các đường bài tiết trên phim chụp bụng không sửa soạn. Tuy nhiên cần phải nghĩ đến việc cho thực hiện thăm dò này. Những nhiễm trùng bởi vi khuẩn kỵ khí thường gây chết người vì lẽ sự đề kháng của các vi khuẩn này đối với các kháng sinh. Chỉ sẽ được nêu lên để ghi nhớ là những suy thận cấp tính do viêm vi cầu thận cấp tính hai bên cần một điều trị bằng thẩm tách máu và kháng sinh thích ứng và kéo dài cho đến khi biến mất mọi thâm nhiễm của nhu mô thận có thể thấy được trên chụp cắt lớp vi tính hay siêu âm.
Để kết luận, nhiễm trùng đường tiểu thường nhất là thông thường, dễ điều trị, không có hậu quả lên chức năng thận, nhưng cần lưu ý sự cần thiết phải rất cảnh giác ở trê em nhỏ tuổi, ở bệnh nhân sốt, được điều trị một cách ngắn ngủi bởi một kháng sinh mà sốt có thể biến mất nhưng không biến đổi tiến triển của các thương tổn hay ở những bệnh nhân sỏi thận hoặc bị đái đường.
(LE FIGARO 12/11/2012)

5/ CÓ NÊN ĂN CHOCOLAT ĐỂ ĐƯỢC THÔNG MINH HƠN ?

Docteur JEAN-MAIE BOURRE
Membre de l’Académie de médecine.

Một thầy thuốc Hoa Kỳ nổi tiếng, chuyên gia về bệnh cao huyết áp, nhà nghiên cứu của Đại học Columbia có uy tín ở Nữu Ước, đã lợi dụng tính thời sự do việc trao giải thưởng Nobel để công bố trong số tháng 10 của một tạp chí y khoa rất đứng đắn một công trình nghiên cứu cho thấy rằng, trong mỗi nước, số lượng giải thưởng Nobel tùy thuộc vào sự tiêu thụ chocolat của nước đó …Sau khi đã đọc những tài liệu xuất bản xác lập rằng sự tiêu thụ flavanols (một lớp phụ của flavanoides hiện diện với lượng đáng kể trong cacao) được liên kết, ở người, với một sự giảm ít hơn hiệu năng trí óc (performance intellectuelle) liên quan đến tuổi tác và ở chuột cao tuổi, với một sự cải thiện đáng kể hiệu năng nhận thức (performance cognitive), như thế chỉ cần bước thêm một bước để suy diễn rằng một sự tiêu thụ quan trọng chocolat cũng khả dĩ làm gia tăng mức độ thông minh trung bình của một quần thể xác định và như thế, tỷ lệ những người có một trí thông minh cao, những người được giải Nobel, theo ông, là những bằng chứng khách quan tốt nhất.
Thật vậy, kết quả không phải chờ đợi và một sự tương quan đáng ngạc nhiên, nhưng rất tỷ lệ và đáng kể, được phát hiện giữa mật độ giải Nobel và sự tiêu thụ chocolat đối với mỗi người dân. Trong số 23 nước được khảo sát, ở một đầu xuất hiện những nước ít hiệu năng nhất, theo ban giám khảo của Stockholm và những nước ít tiêu thụ chocolat nhất : Nhật Bản, Brésil, Portugal, người học trò kém nhất là Trung Quốc (điều gì sẽ xảy ra khi Trung Quốc sẽ thức tỉnh đối với việc tiêu thụ chocolat ?). Trong hàng trung bình nhỏ, Pháp ở vị trí bình thường. Dĩ nhiên Thụy Sĩ là người học trò giỏi hơn hết. Nhưng Thụy Điển, được tặng thưởng hai lần nhiều giải Nobel hơn dự kiến, tạo sự ngạc nhiên, trừ phí trong tổ quốc của Alfred Nobel người ta có não nhạy cảm hơn đối với những lợi ích của chocolat.
Một cách nghiêm túc hơn, vậy thì tại sao chocolat hiệu quả lên sự vận hành chức năng não bộ ? Đó có phải là bởi vì chocolat chứa théobromine, caféine và những phân tử “ kích thích ” khác ? Có lẽ không. Bởi vì nó chứa đựng các chất tương cận với cannabinoides ? Cũng không, trừ phi hấp thụ khoảng 100 kilo mỗi ngày trước khi bắt đầu hưởng những hiệu quả của chúng. Bởi vì chocolat chứa các oligoélément, trong đó có magnésium, nổi tiếng hiệu quả chống lại spasmophilie ? Có lẽ. Điều mà ta chắc chắn, ngược lại, đó là, dựa trên những công trình nghiên cứu khoa học, chocolat là một chất kích thích não bộ nhờ dung lượng flavonoides mà nó chứa và những tanin khác, cùng những chất làm tăng “cote santé ” của các trái cây, rượu vang, nhất là chè xanh. Thật vậy, trong số tất cả các thức ăn mà ta tiêu thụ, chocolat là một trong những thức ăn giàu polyphénol nhất và 13% các polyphénol được mang lại bởi thức ăn phát xuất từ chocolat với những hàm lượng lên đến 500mg/100g đối với những chocolat sữa và 840 mg/100 g đối với chocolat đen. Chính chocolat làm hạn chế stress oxydant mà các mô của chúng ta phải thường xuyên chịu đựng, chính những flavonoides, do làm dễ tính lưu (fluidité) của tuần hoàn máu, không những bảo vệ chống lại các bệnh tim mạch, mà còn làm gia tăng lưu lượng máu trong chất xám não bộ, như những thăm dò quang tuyến đã phát hiện một cách rõ ràng. Phải thêm vào đó là những “ mỡ tốt ” của beurre de cacao, trong đó có acide oléique với những lợi ích của dầu olive và của chế độ ăn uống Địa trung hải lên sự bảo vệ tim mạch ; thế mà những chất mỡ này cũng có 1/3 tính hiệu quả của các oméga 3 được chứa trong các cá mỡ…Và chính những nhà nghiên cứu Na Uy, nơi sản xuất oméga 3 đứng đầu thế giới, đã nói điều đó.
Mặc dầu không biết là chocolat có làm cho thông minh hơn hay không, nhưng dường như được xác nhận rằng chocolat có thể kéo dài tuổi thọ chỉ qua khoái lạc mà nó mang lại. Là chất chống stress, chất tăng trương lực (tonique), chất kích thích, chocolat góp phần cho khoảng 4% những cung cấp năng lượng của chúng ta, và, nếu không lạm dụng, bởi vì đó là một thức ăn thật sự rất calorique và đó là một con chủ bài quan trọng mang lại sức khoẻ tốt. Chúng ta tiêu thụ 4 kg mỗi năm và mỗi đầu người ; hãy tiếp tục và không tiết độ quá mức.
(LE FIGARO 12/11/2012)

6/ NGHIỆN RƯỢU : GIẢM NHỮNG KHÔNG CAI HOÀN TOÀN
GS Henri-Jean Aubin, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần và chuyên viên về nghiện (addictologue) thuộc bệnh viện Paul-Brousse (Villejuif) mô tả một chiến lược giải độc mới.
Hỏi : Bắt đầu từ những liều lượng nào ta cho rằng một sự tiêu thụ rượu là có nguy cơ ?
GS Henri-Jean Aubin. Ta đánh giá rằng sự tiêu thụ là quá mức khi trên 2 ly mỗi ngày đối với phụ nữ và 4 ly mỗi ngày đối với đàn ông. Sự phụ thuộc rượu có thể được thể hiện bằng nhiều cách. 1. Bằng sự thèm uống không cưỡng lại được. 2. Bằng sự mất khả năng giảm hay ngừng tiêu thụ rượu trong khi ta chứng thực những tác dụng có hại lên sức khỏe hay trong các mối liên hệ. 3. Bằng một lối sống càng ngày càng được tổ chức quanh những hoạt động có liên quan sự tiêu thụ rượu ảnh hưởng tại hại lên những công việc khác. 4. Đôi khi bằng sự xuất hiện những triệu chứng cai : run rẩy, vã mồ hôi
Hỏi : Những hậu quả khả dĩ của chứng nghiện rượu lên cơ thể ?
GS Henri-Jean Aubin. Những hậu quả này thay đổi tùy theo các cá thể ; thí dụ các phụ nữ dễ bị thương tổn hơn. Một sự tiêu thụ rượu quá mức có thể gây nên, ở gan, một viêm gan do rượu (hépatite alcoolique), một xơ gan và ở một giai đoạn tối hậu, một ung thư. Nhưng cũng gây những thương tổn não bộ : các rối loạn tâm thần, chứng trầm cảm, lo âu, mất trí nhớ. Và các ung thư, nhất là của bộ máy tiêu hóa.
Hỏi : Sự điều trị cổ điển và những kết quả của nó là gì ?
GS Henri-Jean Aubin. Cho đến hiện nay, mục đích là đạt được một sự cai rượu hoàn toàn. Bệnh nhân chỉ có thể ổn định nếu không còn uống một ly nào nữa. Để đạt được điều đó, ta kê đơn những thuốc an thần, hoặc lúc thăm khám, hoặc, trong những trường hợp nặng, lúc nhập viện. Nhưng với mục tiêu cai rượu này, ta quan sát ít nhất 50% trường hợp tái phát lúc một năm.
Hỏi: Phương pháp điều trị mới khác nhau ở chỗ nào và mục tiêu của nó là gì ?
GS Henri-Jean Aubin. Mục đích đã thay đổi. Ngày nay, nhiều thầy thuốc không còn buộc một cách hệ thống một sự cai rượu hoàn toàn nhưng đề nghị một sự lựa chọn giữa nhịn uống (abstinence) và một sự thu giảm tiêu thụ để thành công uống một cách chừng mực một cách vĩnh viễn. Nhưng vài bệnh nhân thất bại không thể giảm uống dài lâu và cuối cùng hướng về phương pháp nhịn rượu, là mục tiêu an toàn nhất.
Hỏi : Điều trị diễn biến như thế nào ?
GS Henri-Jean Aubin. Dầu cho mục tiêu là gì, nhịn rượu hay giảm uống, việc điều trị nhằm giúp đỡ bệnh nhân về mặt tâm lý. Bệnh nhân học cách nhận biết những tình huống làm phát khởi nhu cầu uống và những chiến lược để đương đầu. Người thầy thuốc đặc biệt chú tâm tăng cường động cơ của bệnh nhân, là yếu tố chủ yếu của sự thay đổi. Nếu mục đích là giảm rượu, những giới hạn của sự tiêu thụ được quyết định bằng một thỏa thuận chung. Ta cũng dùng những thuốc sẽ giúp làm giảm sự quá tiêu thụ này. Malmefène vừa được phép thương mãi hóa ở châu Âu. Baclofène, thường được kê đơn ở Pháp, vẫn đang còn được nghiên cứu. Sau cùng, oxybate de sodium cũng ở giai đoạn thử nghiệm ở Pháp và ở châu Âu.
Hỏi : Những kết quả mà ta đã thu được với phương pháp mới nhất này ?
GS Henri-Jean Aubin. 3 công trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện về sự làm giảm uống rượu với nalmefène. Với thời gian nhìn lại từ 6 tháng đến 1 năm, protocole này đã tỏ ra có hiệu quả, và thuốc làm gia tăng nhưng cơ may thành công.
Hỏi : Ta ngăn ngừa một tái phát như thế nào ?
GS Henri-Jean Aubin : Nếu mục tiêu là nhịn rượu, ta sử dụng các loại thuốc và một hỗ trợ tâm lý. Nói chung ba loại thuốc được kê đơn. Một có tác dụng can ngăn bằng cách gây một sự khó ở ngay ly rượu đầu tiên và những loại thuốc khác làm giảm sự thèm uống.
Hỏi : Những người nào có cơ may nhất lành bệnh với những chiến lược khác nhau này ?
GS Henri-Jean Aubin : Những người mà não bộ không quá bị biến đổi bởi rượu và được hưởng một môi trường gia đình hay xã hội ổn định và an toàn. Tỷ lệ chữa lành tùy thuộc nhiều mức độ nghiêm trọng của những trường hợp và tình huống xã hội.
(PARIS MATCH 31/1-6/2/2013)

7/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : CẦN XÁC ĐỊNH NGAY NHỮNG DẤU HIỆU ĐẦU TIÊN.
Bệnh phong thấp thường gặp này có thể được làm giảm bớt nếu được điều trị ngay từ đầu.
ARTICULATIONS. Bệnh viêm đa khớp dạng thấp (polyarthrite rhumatoide) là bệnh thấp khớp viêm mãn tính thường gặp nhất của người lớn. Bệnh thấp khớp này gây bệnh cho khoảng 200.000 người ở Pháp và 6 000 trường hợp mới mỗi năm, những than ôi đôi khi với một chậm chẩn đoán quan trọng. Thế mà, một công trình nghiên cứu được trình bày tuần qua nhân hội nghị về rhumatogie lần thứ 25 của Pháp vừa xác nhận lợi ích của một điều trị sớm …như thế của một chẩn đoán sớm.
“ Trên một nhóm 813 bệnh nhân, GS Bernard Combe, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp thuộc CHU de Montpellier và chủ tịch của Société française de rhumatologie, đã giải thích như vậy, chúng tôi đã quan sát những kết quả rất thuận lợi bởi vì các bệnh nhân đã thăm khám một cách nhanh chóng một thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp và đã có thể hưởng được một điều trị sớm có hiệu quả với, trong đại đa số các trường hợp, một điều trị nền (traitement de fond) (điều trị có mục đích làm chậm tiến triển của bệnh). Thật vậy từ nay có những điều trị được gọi là nền, méthotrexate và các anti-TNF, làm giảm các thương tổn khớp.
NGUY CƠ DI TRUYỀN
Bởi vì nguy cơ, nếu ta không chẩn đoán ngay từ đầu một viêm đa khớp dạng thấp, là để mặc cho một sự hủy hoại không đảo ngược của các khớp xảy ra. Thí dụ, đó là trường hợp, nếu ta chỉ bằng lòng điều trị các triệu chứng đau khớp bằng các thuốc giảm đau hay những chất kháng viêm (AINS, thậm chí corticoides). Một điều trị a priori hợp lý, bởi vì căn bệnh liên kết với những triệu chứng đau khớp và thường với các khớp bị sưng, nói một cách khác những triệu chứng viêm. “ Phải nghĩ đến viêm đa khớp dạng thấp nếu ta bị đau các khớp kéo dài trong nhiều tuần. Nhất là nếu đã có những trường hợp trong gia đình. Phải biết nguy cơ di truyền ”, GS François Cornelis đã nhấn mạnh như vậy.
Nhà di truyền học này đã phát động cùng với Hiệp hội các viêm đa khớp Pháp “ chiến dịch 100.000 ”, nhằm chiêu mộ chừng bấy nhiêu người có một người bệnh trong gia đình mình. “ Nhờ một bảng câu hỏi, một xét nghiệm máu và một mẫu nghiệm tóc hàng năm, chúng tôi sẽ có một ngân hàng sẵn sàng dành cho các nhà nghiên cứu để khảo sát điều xảy ra trước khi căn bệnh phát khởi ”, ông đã giải thích như vậy.
Đối với các triệu chứng, ta biết rõ hơn ảnh hưởng của bệnh từ khi ta sử dụng các thang đánh giá cho phép bệnh nhân tự đánh giá tác động của các triệu chứng đau lên cuộc sống hàng ngày, vợ chồng, gia đình và xã hội (EVA hoạt động bệnh nhân). “ Ta càng ngày càng nói về vécu được mô tả bởi các bệnh nhân, nhất là sự mệt nhọc ”, BS Laure Gossec, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp ở Paris, đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng bà ta nói thêm rằng “ EVA hay sự mệt nhọc không cho phép tiên đoán tiến triển của thương tổn X quang trong những năm tiếp theo. Để được điều đó, điều đáng kể, đó là số các khớp bị sưng và CRP.” Thật vậy CRP hay VS là những dấu hiệu viêm mà ta có thể tìm thấy gia tăng trong xét nghiệm máu, tùy theo hoạt động của căn bệnh mạnh ít hay nhiều.
Các nhà nghiên cứu cũng trông cậy nhiều vào sự phát triển của những trắc nghiệm cho phép biết trước là có đáng bắt đầu hay không một điều trị bằng sinh liệu pháp (biothérapie). “ Chúng tôi đã nhận thấy rằng có thể tiên đoán, đối với những bệnh nhân nào, sự đáp ứng với điều trị với méthotrexate sẽ tốt hơn tùy theo số đếm ban đầu của một quần thể đặc biệt các tế bào (những lymphocytes T naifs) ”, BS Vincent Goeb, thầy thuốc khoa thấp khớp thuộc CHU de Rouen đã giải thích như vậy. Nếu điều đó được xác nhận, ta sẽ tránh cho những điều trị tốn kém và không phải là không có những tác dụng phụ ở những bệnh nhân sẽ chỉ có ít lợi ích. Đối với những bệnh nhân khác, lợi ích sẽ vẫn cao hơn những tác dụng không được mong muốn. Hơn ½ các bệnh nhân phải ngừng hoạt động nghề nghiệp dưới 5 năm sau khi bệnh bắt đầu và cứ mười bệnh nhân thì một bị một phế tật nặng ngay trong hai năm đầu.
Sau cùng, phí tổn kinh tế của bệnh viêm đa khớp dạng thấp cũng quan trọng. Một công trình nghiên cứu được công bố trong Revue du rhumatisme ước tính phí tổn điều trị giữa 1800 và 12.000 euro mỗi năm (trong đó 75% đối với những trường hợp nhập viện), nhưng chủ yếu phí tổn gián tiếp của bệnh, về mặt nghỉ việc và mất năng suất, giữa 1200 và 37.000 euro đối với mỗi bệnh nhân và mỗi năm. Thế mà, tác giả của công trình nghiên cứu nói thêm, “ mặc dầu những phí tổn của sinh liệu pháp vẫn rất cao, tỷ suất giữa sự sử dụng những điều trị này và những phí tổn do căn bệnh trong trường hợp những thương tổn nặng, vẫn rất có lợi. Căn bệnh càng được điều trị muộn, những phí tổn trực tiếp và gián tiếp càng cao ”. Thêm một lý do để chẩn đoán càng sớm càng tốt.
(LE FIGARO 17/12/2013)

8/ U VÚ HIỀN TÍNH : CÁC KẾT QUẢ ĐẦY HỨA HẸN CỦA SIÊU ÂM
BS Edouard Poncelet, trưởng khoa đơn vị chụp hình ảnh phụ nữ ở Centre hospitalier de Valenciennes và Nicolas Laurent, thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến, phó khoa, giải thích kỹ thuật vi xâm nhập đang được đánh giá này.
Hỏi : Bằng kỹ thuật chụp hình ảnh nào ta phát hiện những fibroadénome, các khối u hiền tính của vú ?
BS Edouard Poncelet : Thường nhất bằng siêu âm. Dạng vẻ là dạng của một nốt u (nodule) có viền đều đặn, ngược lại với một khối u (masse) khả nghi có viền không đều. Chúng khó có thể phát hiện hơn trên chụp tuyến vú (mammographie) bởi vì chúng có thể bị che dấu bởi tuyến vú. Các phụ nữ bị mắc bệnh nhất thường dưới 50 tuổi. Tùy theo các trường hợp, các khối u này có thể xuất hiện một cách riêng rẻ hay trong cả hai vú.
Hỏi : Làm sao ta đảm bảo rằng đó là một fibroadénome không thể bàn cãi ?
BS Nicolas Laurent : Sau khi đã phát hiện một hình ảnh gợi ý, ta theo dõi nó về mặt siêu âm sau 4 tháng, rồi một năm, rồi hai năm …Trong trường hợp nghi ngờ, để có được chẩn đoán một cách chắc chắn, ta thực hiện một sinh thiết, dưới siêu âm, để lấy những mẫu nghiệm từ khối u và cho phân tích chúng.
Hỏi : Thường thường, ta điều trị các fibroadénome như thế nào ?
BS Edouard Poncelet : Nếu nốt u (nodule) không làm biến dạng vú và không đau, ta chỉ cần tiếp tục protocole theo dõi lệ thường, nhưng khi bệnh nhân kêu khó chịu hay đau, khi đó chủ yếu cần đến ngoại khoa. 1. Hoặc là ngoại trú, dưới gây mê tổng quát (nhập viện một ngày), để lấy đi những khối u trên 3cm. 2. Hoặc bằng sinh thiết đại thể (macrobiopsie), dưới gây mê tại chỗ, đối với những khối u dưới 3 cm : động tác được thực hiện dưới siêu âm nhằm đưa một aiguille creuse (kích thước lớn hơn kich thước được sử dụng để sinh thiết cổ điển) để hút thương tổn.
Hỏi : Hãy mô tả cho chúng tôi kỹ thuật mới nhất sử dụng một thiết bị bằng siêu âm.
BS Edouard Poncelet : Đó là một điều trị được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh mà mục đích là phá hủy fibroadénome nhờ những siêu âm hội tụ có năng lượng cao (ultrasons focalisés de haute énergie), “ làm nóng ” khối u ở một nhiệt độ khoảng 70 độ để làm hoại tử nó.
Hỏi : Buổi điều trị diễn ra như thế nào ?
BS Nicolas Laurent : Bệnh nhân, sau khi đã nhận một thuốc an thần, được đặt nằm dài trên một bàn khám, vú được giữ ở tư thế vững. Người thầy thuốc với ống thăm dò siêu âm cổ điển, trước hết kiểm tra vị trí của fibroadénome. Sau đó, ông đặt sonde tại chỗ, sẽ phát ra điều trị, bằng cách giới hạn một cách chính xác trên màn ảnh kiểm soát những đường viền của khối u để gìn giữ các mô lành. Sau đó người thầy thuốc bắn các tia siêu âm vào trong thương tổn, luôn luôn dưới sự kiểm soát của siêu âm. Nhờ thuốc an thần, buổi điều trị, khoảng 1 giờ 30 phút gần như không gây đau đớn.
Hỏi : Tính hiệu quả của liệu pháp này là gì ?
BS Edouard Poncelet : Một công trình nghiên cứu của Pháp đã đưa vào 20 bệnh nhân trong 3 bệnh viện (Hôpital Jeanne-de-Flandre ở Lille, Trung tâm bệnh viện Valenciennes và Hôpital américain ở Paris) ; một công trình nghiên cứu khác đã được thực hiện ở Bulgarie : 46 fibroadénome đã được điều trị bởi kỹ thuật này trong hai công trình nghiên cứu. Những kết quả đã chứng minh rằng thế tích thương tổn đã giảm khoảng 70% ở 12 tháng theo dõi. Chúng tôi hy vọng một sự biến mất của khối u trong một thời gian gần. Ố tất cả những bệnh nhân kêu khó chịu hay đau trước khi điều trị chúng, những triệu chứng này hoàn toàn thoái lui sau điều trị. Những tác dụng thứ phát đã được biểu hiện ở ba phụ nữ bằng những vết đỏ nhỏ biến mất một cách ngẫu nhiên sau 7 đến 10 ngày.
Hỏi : Tóm tắt, những lợi ích của kỹ thuật vi xâm nhập này là gì ?
BS Nicolas Laurent : Ta quan sát 3 ưu điểm chính. 1. Khả năng điều trị nhiều fibroadénome không để lại một vết sẹo nào. 2. Không cần gây mê và điều trị chịu được tốt. 3. Ta có thể điều trị những khối u trên 3 cm, điều này hiện nay không được chỉ định với sinh thiết đại thể.
Hỏi: Điều trị bằng siêu âm này có sẽ được sử dụng đối với những bệnh lý khác ?
BS Edouard Poncelet : Ở bệnh viện Pitié-Salpêtrière, những thử nghiệm đang được tiến hành để nghiên cứu tác dụng của nó lên các nốt u hiền tính của tuyến giáp, và ở Viện Gustave-Roussy trên các di căn xương.
(PARIS MATCH 17/1-23/1/2013)

9/ MÁY BAY : BƯỚC ĐỂ TRÁNH VIÊM TĨNH MẠCH
Những chuyến bay đường dài làm dễ nguy cơ viêm tĩnh mạch (phlébite), thậm chí nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire).
PNEUMOLOGIE. “ Đối với chúng tôi, đó là syndrome de malaise sur la passerelle au petit matin ” (hội chứng khó ở vào sáng sớm trên cầu thang máy bay), BS Philippe Bargain, thầy thuốc của phi trường Roissy đã kể lại như vậy. Sau một chuyến bay hơn 10 giờ, người hành khách trước đó đã uống một viên thuốc ngủ để ngủ, đứng dậy để bước xuống máy bay và cảm thấy khó ở. “ Trong số 60 triệu hành khách mỗi năm của phi trường Roissy, chúng tôi chứng thực khoảng một chục trường hợp mỗi năm, trong đó 2 hoặc 3 trường hợp tử vong ”, Philippe Bargain đã giải thích như vậy. Nguyên nhân của những triệu chứng khó ở này ? Nghẽn tắc động mạch phổi tiếp theo sau một huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde) (hay viêm tĩnh mạch) do sự tạo thành của một cục máu đông trong các tĩnh mạch chi dưới. Lúc đứng dậy sau nhiều giờ không động đậy, người hành khách huy động cục máu đông và gởi nó vào trong tuần hoàn phổi.
Những tai biến cực kỳ nghiêm trọng này may mắn thay khá hiếm. Vào năm 2001, Samu 93 đã quan sát 56 trường hợp nghẽn tắc động mạch phổi nghiêm trọng trên hơn 135 triệu hành khách. “ Hoặc một tần số 0,4 trường hợp đối với một triệu hành khách và 4,8 trường hợp đối với những chuyến bay trên 10.000 km. Nhưng tỷ lệ thật sự của những biến cố bị đánh giá thấp bởi vì những bệnh nhân với một huyết khối tĩnh mạch sâu hay một nghẽn tắc động mạch phổi không trầm trọng, một biến cố xảy ra thứ phát hay một ngừng tim đã không được tính đến ”, BS Frédéric Lapostolle, tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.
Tại sao nguy cơ viêm tĩnh mạch gia tăng lúc đi máy bay ? Huyết khối tĩnh mạch sâu (thrombose veineuse profonde) phát triển khi có sự hiện diện của một thương tổn của thành các huyết quản, do sự ứ đọng máu trong tĩnh mạch (satse veineuse), và những biến đổi của máu : đó là tam chứng Virschow. Tư thế ngồi, do làm dễ sự đè ép kéo dài các đùi chân lên cạnh của ghế ngồi, là nguồn gốc của các thương tổn của thành các mạch máu. Sư đè ép này cũng làm dễ sự ứ máu trong tĩnh mạch (stase veineuse), gây nên một sự gia tăng độ nhớt của máu (viscosité sanguine). Từ lâu được mệnh danh là hội chứng hạng kinh tế (syndrome de la classe économique), bệnh huyết khối nghẽn mạch (maladie thromboembolique) gây bệnh cho tất cả các hành khách, như hiệp hội của các thầy thuốc chuyên khoa phổi Hoa Kỳ vừa nhắc lại điều đó ngày 7/2 đồng thời công bố những khuyến nghị trong tạp chí Chest.
“ Toàn bộ, lúc đi máy bay, nguy cơ mắc phải một bệnh huyết khối nghẽn mạch, không nhất thiết trầm trọng, là 1 đối với 5000 chuyến bay ”, GS Joseph Emmerich, thầy thuốc chuyên khoa tim, chuyên gia các bệnh mạch máu ở Bệnh viện châu Âu Georges Pompidou (Paris) đã tương đối hóa như vậy. Tuy nhiên hiệp hội Hoa Kỳ nhắc lại rằng vài yếu tố làm gia tăng khả năng bị một viêm tĩnh mạch lúc đi máy bay. Đó là trường hợp của những tiền sử bị bệnh huyết khối nghẽn mạch, ung thư, phẫu thuật gần đây, tuổi tác, ngừa thai, thai nghén, béo phì, bất động và do sự việc ngồi trên một chiếc ghế cạnh cửa sổ. “ Mặc dầu nguy cơ liên kết với thời gian hành trình được xác lập một cách rõ ràng (bắt đầu từ 5 hay 7 giờ bay), vai trò của những yếu tố khác vẫn không chắc chắn. Nguy cơ dường như gia tăng ở các phụ nữ ”, BS Frédéric Lapostolle đã phát biểu như vậy.
Sau khi đã nhận diện những hành khách có nguy cơ, các thầy thuốc người Mỹ đã đưa ra một loạt những lời khuyên dành cho những kẻ đi những chuyến bay trên 6 giờ. Các thầy thuốc này chủ trương đi lại thường xuyên, kéo giãn các cơ của bắp chân, nên dùng những ghế ngồi cạnh hành lang và dùng tất và chausette de contention. “ Tôi khuyên uống nhiều. Điều này bắt buộc phải đứng dậy để đi tiểu. Để làm tốt, phải đi lại trong máy bay mỗi giờ, GS Isabelle Quéré, thầy thuốc mạch máu của CHU de Montpellier đã giải thích như vậy. Đối với contention, chú ý đừng bó chặt đầu gối cũng như đáy của đùi, điều đó có thể gây nên một viêm tĩnh mạch ”. Sau cùng Isabelle Quéré hết sức khuyên không nên dùng thuốc ngủ và uống rượu trên những chuyến bay dài tạo nên sự bất động, “ sự ứ đọng máu tĩnh mạch gây nên bởi tư thế khi đó giống hệt với sự ứ đọng của một gây mê, yếu tố của bệnh huyết khối nghẽn mạch ”.
PHÒNG NGỪA.
Ngược lại hiệp hội Hoa Kỳ vẫn rất thận trọng về sự phòng ngừa bằng các thuốc kháng đông như aspirine hay các héparine. Một thực hành rất phổ biến ở Pháp. “ Không có lý do để mở rộng một dự phòng bằng aspirine hay héparine”, GS Joel Constans, thay thuốc chuyên khoa mạch máu (Bordeaux) đã nhấn mạnh như vậy. “ Những người có nguy cơ cao đã được điều trị. Không có gì phải làm khác ngoài việc khuyên họ đứng dậy mỗi hai hay ba giờ và bước trong máy bay”, GS Joseph Emmerich đã nhấn mạnh như vậy. Đối với những hành khách đã bị một viêm tĩnh mạch nhưng không được điều tri kháng đông, quyết định sẽ tùy thuộc từng trường hợp.
(LE FIGARO 13/2/2012)

10/ NHỮNG THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM MỚI HIỆU QUẢ TRONG VÀI GIỜ ?
Nếu hiệu quả của các thuốc chống trầm cảm là không thể tranh cãi được, những tác dụng này cần một thời gian lâu mới xuất hiện (nhiều tuần). Kíp của GS Joseph Moskal (Nortwestern University Evanston, Illinois) đã hiệu chính một loại thuốc được cho bằng đường miệng tác dụng lên các thụ thể của những tế bào não được gọi là NMDA. Trong một công trình nghiên cứu lâm sàng trên ngườI, được tiến hành so sánh với placebo, ở 116 người bị bệnh trầm cảm nặng và đề kháng với tất cả các điều trị, loại thuốc này đã tỏ ra có khả năng làm giảm những triệu chứng của các bệnh nhân trong chưa được 2 giờ và làm chúng biến mất trong 24 giờ, không có tác dụng phụ. Kết quả này được chứng thực sau chỉ một lần dùng thuốc và đã được duy trì trong 1 tuần. Loại thuốc này (GLYX-13) tác dụng bằng cách kích thích những nối kết của những tế bào thần kinh của thùy trán (có số lượng bị giảm ở những người bị trầm cảm) và làm đảo ngược tính khí. Những công trình nghiên cứu với thuốc được sử dụng lập lại được dự kiến.
(PARIS MATCH 31/1-6/2/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/2/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s