Thời sự y học số 296 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ LÀM SAO THOÁT KHỎI BỆNH MẤT NGỦ NẶNG ?
Trong một nửa các trường hợp, bệnh lý này được liên kết với một bệnh khác mà trước hết cần phải tìm kiếm.
SOMMEIL. Cứ 5 người Pháp thì có một bị mất ngủ kinh niên (insomnie chronique), trong đó 9% bị mất ngủ nặng (insomnie sévère). Những người bị mất ngủ nặng, một mặt, có một thời gian ngủ mỗi ngày dưới 6 giờ, với một ảnh hưởng mạnh lên những hoạt động ban ngày và mặt khác, những rối loạn giấc ngủ định nghĩa chứng mất ngủ : cần hơn 1 giờ để thiu ngủ, hay thức dậy hơn 1 giờ mỗi đêm, hay có một giấc ngủ không bồi sức (un sommeil non récupérateur), ít nhất 3 lần mỗi tuần từ hơn một tháng. Những người mất ngủ nặng bị những tai nạn thường hơn, họ cũng có một nguy cơ gia tăng bị cao huyết áp, bệnh béo phì và đái đường.

Tần số mất ngủ mãn tính gia tăng với tuổi tác. Nếu 1/3 những người trên 65 tuổi dùng đều đặn thuốc ngủ, trong một trường hợp trên hai, điều trị này không được biện minh về mặt y khoa, giới hữu trách y tế, mới đây phát động chiến dịch để làm giảm sự tiêu thụ này, đã chỉ rõ như vậy. “ Lúc già, nhu cầu ngủ giảm, giấc ngủ ngắn lại, bị phân đoạn. Ngay cả cấu trúc của giấc ngủ cũng bị biến đổi : giấc ngủ chậm sâu (sommeil lent profond) chiếm 25% thời gian toàn bộ của giấc ngủ ở tuổi 20, những chỉ 4 đến 5% sau 65 tuổi. Vậy không là thực tế khi muốn tìm lại ở tuổi 60 giấc ngủ của thời còn trẻ tuổi ”, GS Yves Dauvilliers , thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (CHU Montpellier) đã giải thích như vậy. Thường xảy ra hơn lúc cao tuổi, chứng mất ngủ kinh niên cũng thường xảy ra ở các phụ nữ mà ta thật sự không biết tại sao. Đối với GS Damien Léger (Hôtel-Dieu, Paris), “ những yếu tố kích thích tố, nhưng những sinh đẻ và những săn sóc cho các nhũ nhi cũng có thể làm dễ sự xuất hiện của chứng mất ngủ ”.
Vì hầu như không thể, trong nhiều đêm trường, thăm dò giấc ngủ của những người mất ngủ này ở phòng thí nghiệm, nên mức độ nghiêm trọng của sự mất ngủ thường nhất được đánh giá trên điều mà họ cảm thấy, và những công trình nghiên cứu về chứng mất ngủ nặng vẫn là ngoại lệ. Lứa tuổi lúc chứng mất ngủ này xuất hiện hướng về những nguyên nhân khả dĩ nhất. Ở một người trẻ, chứng mất ngủ khiến nghĩ hơn đến một bệnh mất ngủ nguyên phát (insommnie primaire), một tố bẩm sinh học (prédisposition biologique) ngủ kém, thường có một tính chất gia đình. Những yếu tố nguy cơ di truyền đã được nhận diện, được truyền bởi người mẹ. Sự mất ngủ khởi đầu thường được tăng cường bởi những thái độ không thích hợp, ngủ sớm hay dậy trễ, sẽ góp phần làm cho chứng mất ngủ trở thành kinh niên.
Ở những người lớn tuổi hơn, đôi khi mất ngủ từ nhiều năm, trước hết phải loại bỏ sự trách nhiệm của một rối loạn khác. “ Một nửa những trường hợp mất ngủ nặng được liên kết với một bệnh đã không được tìm tòi đủ : ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnée du sommeil), hen phế quản, viêm mũi hay viêm phế quản mãn tính, các rối loạn nhịp tim, đau đớn, loạn năng tuyến giáp hay tăng tiết cortisol, bệnh đái đường, bệnh thận…Vậy một bilan sinh học phải luôn luôn được thực hiện trong trường hợp mất ngủ nặng ”, GS Léger đã giải thích như vậy. Đối với ông, “ những trường hợp mất ngủ này được cải thiện dễ dàng nhất, bằng cách điều trị bệnh lý liên kết ”.
Nguyên nhân khả dĩ khác, hội chứng các cẳng chân không yên (syndrome des jambes sans repos). Hội chứng này chịu trách nhiệm những trường hợp mất ngủ nặng quan trọng. Trong những thể nghiêm trọng, ảnh hưởng 1-2% dân số, vài bệnh nhân ngủ chưa được một giờ mỗi đêm. “ Trong một trường hợp trên hai, đó là một bệnh có tính chất gia đình, liên kết với một sự thiếu hụt sắt trong vài vùng của não bộ, mà các gène đã được biết đến, và đáp ứng với một điều trị đặc hiệu bằng các thuốc agonistes dopaminergiques. Bất hạnh thay, chẩn đoán không luôn luôn được thực hiện ”, GS Dauvilliers đã lấy làm tiếc như vậy. Việc dùng vài loại thuốc cũng có thể là nguồn gốc của những trường hợp mất ngủ nặng, thí dụ những thuốc chẹn beta giao cảm, được kê đơn trong cao huyết áp, làm phân đoạn giấc ngủ nếu thuốc được dùng vào buổi chiều.
Phức tạp hơn, sự liên kết với một chứng trầm cảm (dépression) được tìm thấy trong 50% các trường hợp mất ngủ nặng mãn tính. Như thầy thuốc thần kinh nhấn mạnh điều đó, “ một bệnh nhân già bị chứng mất ngủ và không bị bệnh trầm cảm có nguy cơ bị trầm cảm. Và một bệnh nhân được điều trị tốt đối với chứng trầm cảm nhưng vẫn mất ngủ, bệnh nhân này có nguy cơ hơn bị tái phát chứng trầm cảm này. Rõ ràng có một vòng luẩn quẩn giữa chứng mất ngủ và chứng trầm cảm, chủ yếu ở người già ”. Không những đó là một mối liên hệ nhân quả, đó còn là một sự liên kết, một comorbidité. “ Chứng mất ngủ và chứng trầm cảm là phản ảnh của cùng một loạn năng thần kinh-sinh học (dysfonctionnement neurobiologique), trước hết được thể hiện bởi sự mất ngủ rồi, lúc trầm trọng, bởi sự trầm cảm ”, GS Joelle Adrien, neurobiologiste (CHU Pitié-Salpêtrière, Paris) đã giải thích như vậy. Một chất trung gian thần kinh (neuromédiateur), sérotonine, đặc biệt có liên hệ trong sự loạn năng này. Những trường hợp mất ngủ nặng và thức dậy sớm gợi ý một hội chứng trầm cảm, nguyên nhân của chứng mất ngủ này.
Điều trị chứng mất ngủ nặng cần một xử trí đặc hiệu, cá thể hóa, trong đó các thuốc ngủ, đôi khi có lợi trước mắt, nhưng về lâu về dài có nguy cơ gây nên những tác dụng âm tính liên kết với sự phụ thuộc (dépendance) và quen thuốc (accoutumance). Một khi những yếu tố tố bẩm (facteurs prédisposants) đã được nhận diện và điều trị, những liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapie cognitive et comportementale) thường hiệu quả nhất.
(LE FIGARO 12/11/2012)

2/ BỆNH BÉO PHÌ-GIẤC NGỦ : NHỮNG MỐI LIÊN HỆ NGUY HIỂM.
Những công trình nghiên cứu dịch tễ học chứng tỏ điều đó : một thời gian ngủ ngắn được liên kết với một tỷ lệ cao mắc bệnh béo phì và đái đường, và chính giấc ngủ là một yếu tố nguy cơ đối với hai bệnh lý này.
Theo một phân tich méta của Ý trên 45 công trình nghiên cứu (hoặc hơn 600.000 người tham dự), nguy cơ béo phì gia tăng 55% ở những người ngủ trung bình dưới 5 giờ mỗi đêm. Cùng các tác giả đã cho thấy, trong một phân tích méta khác, rằng một thời gian ngủ dưới 6 giờ gia tăng 28% nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2.
ĐIỀU HÒA SỰ THÈM ĂN
Bù lại, không có những công trình nghiên cứu dành một cách đặc hiệu cho mối liên hệ giữa mất ngủ mãn tính với bệnh béo phì. Những nghiên cứu thử nghiệm hiện nay hướng về những mất ngủ ngắn nhưng xác minh những quan sát dịch tễ học.
Kíp của Karine Spiegel (Inserm, Lyon) đã cho thấy ở những người trưởng thành rằng một sự hạn chế ngủ trong 2 đến 7 ngày làm biến đổi sự điều hòa thần kinh-nội tiết của sự thèm ăn. “ Leptine, kích thích tố báo hiệu cho não bộ rằng qúy vị đã ăn khá đủ, bị giảm, và ghréline, kích thích tố khác kích thích đói, được gia tăng, cũng như cảm giác đói và sự thèm ăn. Những công trình nghiên cứu khác chứng mình rằng những người có giấc ngủ bị hạn chế ăn nhiều hơn, những thức ăn nhiều mỡ hơn và nhiều đường hơn ”, Nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Cùng kíp nghiên cứu đã cho thấy rằng, khi thời gian ngủ bị hạn chế, tính nhạy cảm đối với insuline và độ dung nạp (tolérance) đối với glucose bị giảm, những khuynh hướng này, về lâu về dài, tương ứng với một sự gia tăng nguy cơ bị bệnh đái đường loại 2.
Một trong những giả thuyết liên quan đến orexine. Như Karine Spiegel đã nói rõ, “ được nhận diện đồng thời trong những công trình nghiên cứu lên giấc ngủ và lên sự dinh dưỡng, neuropeptide này không những kích thích hệ thức tỉnh (système de l’éveil) trong vỏ não, mà còn hệ giao cảm, điều này giải thích tác dụng của nó lên leptine và ghréline, cũng như vùng dưới đồi (hypothalamus), ở đây neuropeptide Y được tiết ra, chất này kích thích mạnh sự thèm ăn và hệ khen thưởng (système de la récompense), làm gia tăng sự khoái lạc liên kết với việc dùng thức ăn. Sự thiếu ngủ ở động vật kích thích hệ này. “ Có lẽ chính sự ức chế không đủ hệ này khi thời gian ngủ bị giảm giải thích hậu quả của một giấc ngủ ngắn lên chứng béo phì và bệnh đái đường.”
NHIỀU CƠ BỊ MẤT HƠN
Trong một công trình nghiên cứu khác, những người tăng thể trọng đã theo cùng chế độ ăn uống làm gầy (régime amaigrissant), nhưng ngoài ra vài người phải chịu mất ngủ. Tất cả đã mất cùng trọng lượng, nhưng những người có một giấc ngủ ngắn đã mất nhiều khối lượng gầy (masse maigre), nhiều cơ hơn những người khác. Thế mà, khối lượng gầy lại tham gia vào sự điều hòa glucide.
Người ta cũng đã chứng tỏ rằng, bằng cách theo dõi những người trưởng thành trong 6 năm, những người ngủ ít nhìn chung lên cân hơn so với những người khác, và rằng gia tăng thời gian ngủ làm kềm hãm sự lên cân của họ.
Mất ngủ cũng làm gia tăng sự tiết cortisol theo một đường khác. Sự gia tăng này chịu trách nhiệm một sự gia tăng sự tích mỡ tạng (adiposité viscérale) và sự đề kháng với insuline, điều này cùng góp phần vào nguy cơ bị béo phì và đái đường.
(LE FIGARO 12/11/2012)

3/ TÌM LẠI NHỮNG ĐÊM NGỦ NGON BẰNG CÁCH KHÁC
Đối với BS Damien Léger (Hôtel-Dieu, Paris), “ mất ngủ nặng (insomnie sévère) là một quá trình phúc tạp. Phải dành cho nó một thăm khám đặc hiệu, không được bằng lòng cho vội vàng một viên thuốc ngủ khác vào cuối buổi khám bệnh. Nhật ký của giấc ngủ (agenda du sommeil) là một công cụ hữu ích để chuẩn bị cho sự thăm khám này, bằng cách ghi nhận trong khoảng chục ngày những giờ ngủ và những giờ thức dậy, những lúc thức tỉnh vào ban đêm (éveils nocturnes), sự sử dụng thuốc, chất lượng các đêm trường, những giấc ngủ trưa, sự ngủ gà ban ngày… Một mất ngủ nặng dai dẳng từ nhiều năm đòi hỏi thực hiện một bilan chuyên môn trong một thăm khám vì những rối loạn giấc ngủ.
Những thuốc ngủ, benzodiazépines hay những loại khác, phải được dùng trong một thời gian ngắn. Dùng lâu hơn, tính hiệu quả của chúng không chắc chắn và chúng gây nên một tình trạng quen thuốc có thể khiến phải gia tăng liều lượng. Ngoài ra, ta không biết những hậu quả về lâu về dài của chúng. “Vậy việc kê đơn các benzodiazépine phải dưới 1 tháng. Trong những mất ngủ nặng dai dẳng, ta có thể ngừng chúng, rồi sau đó, trong trường hợp cần, cho trở lại 2 hay 3 đêm mỗi tuần, xen kẽ nhau ”, vị thầy thuốc đã chỉ rõ như vậy. Một ý kiến được chia xẻ rộng rãi bởi tất cả các chuyên gia của giấc ngủ : “ Những loại thuốc này có thể hữu ích để vượt qua một lúc khó khăn, vào một lúc nếu chứng mất ngủ trở nặng. Nhưng phải biết dừng chúng và xét đến việc cai thuốc ngay cả đối với người mất ngủ nặng dùng thuốc ngủ lâu dài. Sau đó, không còn cấp cứu : phải chọn lúc thuận lợi để dùng thuốc, thiết lập một sự theo dõi sát để tránh một tác dụng dối ngược. Nhưng đó là cách tốt nhất để phục hồi giấc ngủ ”, GS Dauvilliers (CHU,Montpellier) đã đánh giá như vậy.
NHỮNG THÓI QUEN XẤU VÀ NHỮNG Ý TƯỞNG SAI LẠC
Đối với thầy thuốc thần kinh, một khi đã giải quyết tất cả các bệnh tật khả dĩ gây nên và duy trì một sự mất ngủ nặng, điều trị có hiệu quả nhất dựa trên liệu pháp nhận thức và hành vi (thérapie cognitive et comportementale) (TCC) : “ Phải thay đổi cho được những hành vi (comportements), làm giảm thời gian nằm trên giường và dành nó cho giấc ngủ, tránh những lúc ngủ trưa, gia tăng hoạt động vật lý và thời gian tiếp xúc với ánh sáng ban ngày… Mặt nhận thức cũng quan trọng để thay đổi những tín điều đối với giấc ngủ, vài người mất ngủ tin chắc rằng họ phải cần 8 giờ ngủ mỗi đêm hay muốn tìm lại giấc ngủ trước đây của họ. Phải làm cho họ hiểu rằng những thái độ này là sai lầm, rằng ta ít cần ngủ hơn khi lớn tuổi và phải biết thích ứng với tiến triển này.” Những TCC này cho phép hướng dẫn những người mất ngủ trong nhiều tuần, nhiều tháng, để cố hủy bỏ tác dụng có hại của những thói quen xấu và những ý tưởng sai lạc này.
Trong số những phương pháp dược học, mélatonine, được dành hơn cho những người già bởi vì sự sản xuất của nó giảm với tuổi tác, có một tính hiệu quả rất thay đổi. Những công trình nghiên cứu cho phép nhắm tốt hơn những bệnh nhân khả dĩ hưởng lợi điều trị này. Một hướng nghiên cứu liên quan đến orexine, bị giảm trong chứng narcolepsie, một rối loạn giấc ngủ được đặc trưng bởi một tình trạng ngủ nhiều ban ngày (hypersommnie diurne). Nhiều anti-orexine đang ở giai đoạn 2 hay 3 của những đánh giá lâm sàng. Nhưng đối với GS Dauvilliers, “ ngoài những phương pháp đặc hiệu này, tương ứng với một cơ chế nào đó, việc xử trí mất ngủ nặng cần có một cái nhìn toàn bộ hơn nhiều, bắt đầu bằng việc loại bỏ tất cả những nguyên nhân thực thể và sự xác định những mục tiêu thực tế với bệnh nhân ”.
(LE FIGARO 12/11/2012)

4/ TA CÓ THỂ CHẾT VÌ PHIỀN MUỘN HAY SỢ HÃI ?
Professeur Jean-Paul Bounhoure
Cardiologue
Membre de l’Académie nationale de médecine.

Những sự khiếp sợ đột ngột, những hành hung vật lý, những tai họa thiên nhiên, những hoàn cảnh gian truân nhất của cuộc đời từ lâu được biết là có ảnh hưởng lên cơ thể của chúng ta, bằng cách tác động lên trạng thái thần kinh- nội tiết (état neuroendocrinien) của chúng ta và sự vận hành chức năng của bộ máy tim mạch của chúng ta. Hầu hết các thầy thuốc còn giữ ký ức kinh hoàng của cái chết đột ngột của các bệnh nhân mình khi được loan báo về một tin bi thảm. Nhiều giai thoại nói về những cái chết đột ngột, nhồi máu cơ tim và các tai biến mạch máu não ở những người bị những căng thẳng quan trọng về mặt cảm xúc. Động đất, những cơn gió lốc, sóng thần (tsunamis), những tình huống xung đột dữ dội, sự hoảng sợ trước mối đe dọa sinh tử, sự đau khổ chịu đựng khi mất bất ngờ một người thân là những sốc tâm lý và tình cảm chất nặng hậu quả, trước mắt và lâu dài, đối với sự ổn định của nội môi của cơ thể chúng ta, đối với hệ thần kinh và nội tiết của chúng ta và đối với trái tim của chúng ta.
Những tai biến tim này là những syndrome de stress, được gọi là “ broken heart syndrome ”, bởi những người Anglo-Saxons và tako-tsubo ở Nhật Bản, tên phát xuất từ sự tương tự giữa chiếc lọ hai bầu (vase bilobé) được sử dụng bởi những dân chài cá Nhật Bản để bẫy các con mực tuộc (pieuvre) và sự biến dạng cấp tính của tâm thất trái đặc trưng của hội chứng này. Ngoài ra ta chịu ơn những nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nhận diện lần đầu tiên vào năm 1991, căn bệnh tim mới này, có liên quan đến 2% dân số, chủ yếu là những phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, nhưng may mắn thay hoàn toàn có thể đảo ngược trong đại đa số các trường hợp.
Một cách đột ngột, dưới tác dụng của một sốc tình cảm, người bệnh biểu hiện đau ngực hay khó thở, buộc nghĩ đến một nhồi máu cơ tim. Thật vậy, những nhồi máu “ giả ” này chiếm khoảng 15% những trường hợp nhập viện được thực hiện cấp cứu vì nhồi máu cấp tính. Hội chứng stress được chẩn đoán một cách nhanh chóng ngay khi ta chứng thực dạng vẻ bình thường của các động mạch vành, nhưng, ngược lại, một sự biến dạng đặc trưng của tâm thất. Sự loạn năng tâm thất có thể trầm trọng, nhưng nó có thể đảo ngược không để lại di chứng quan trọng trong vài tuần với một tiên lượng tốt. Trái lại, mặc dầu tỷ lệ tử vong thấp và được liên kết với các biến chứng hơn là với những hậu quả của chính hội chứng, các tái phát thường xảy ra.
Phần lớn được giải thích như vậy sự gia tăng nhiều những trường hợp nhập viện cấp cứu vì nhồi máu sau tsunami de Fukushima và biến cố 11/9 ở Nữu Ước, ở tại đây trong những ngày tiếp theo sau tai họa, ta đã ghi nhận 49% những hội chứng động mạch vành cấp tính nhiều hơn tuần trước
Một chấn thương càng mạnh khi nó càng đột ngột và dữ dội, tăng gấp 10 sốc cảm xúc và tâm lý của sự khiếp sợ và và tình trạng tang tóc. Bằng cách làm rối loạn một cách sâu đậm tình trạng tim mạch, tình trạng sốc này có nguy cơ làm hoại tử các mô, làm nứt nẻ và làm vỡ các mảng xơ vữa động mạch, làm phát khởi một sự co thắt động mạch (spasme artériel) và gây nên một huyết khối động mạch vành (thrombose artérielle). Chính vì vậy trước hết cần phải lập tức làm dịu sự lo lắng và sự tăng xúc cảm (hyperémotivité) bằng cách kê đơn các thuốc an thần và bằng cách bảo đảm cho những bệnh nhân này một điều trị tâm lý và tâm thần, bởi vì ta biết rằng có những mối liên hệ chặt chẽ giữa stress, những bệnh thần kinh và hệ tim-mạch, và còn hơn thế nữa ở các phụ nữ mà ta biết là họ phản ứng mạnh hơn so với những người đàn ông, vì lẽ nồng độ cortisol, hormone de stress của họ.
MỖI CÁ NHÂN PHẢN ỨNG MỘT CÁCH KHÁC NHAU VỚI STRESS.
Ngày nay, các máy khử rung tự động được gắn trong cơ thể (défibrillateur automatique implantable) cho phép phân tích những trường hợp xảy ra loạn nhịp cực kỳ trầm trọng, trong hơn 30% các trường hợp, sốc điện cứu sống (choc électrique salvateur) xảy ra sau những rối loạn nhịp do một tình huống gây căng thẳng, một cảm xúc mạnh mẽ, thí dụ một cơn giận dữ dữ dội. Các stress cấp tính, do tác dụng sinh học và tác động của chúng lên hệ thần kinh giao cảm, góp phần tạo nên tình trạng bất ổn định điện, làm dễ những rối loạn thất trầm trọng và chết đột ngột, và không hiếm xảy ra những tai biến tim chết người trong hàng ngũ những ủng hộ viên say mê nhất nhân một biến cố thể thao, vì thế các kíp Samu luôn luôn trong tư thế sẵn sàng để can thiệp, khi một trận đấu quan trọng diễn ra.
Nhưng mỗi cá nhân phản ứng một cách khác nhau đối với stress tùy theo một tổng số các yếu tố bao gồm những tố bẩm di truyền và tâm lý, cá tính, những điều kiện môi trường, tuổi tác và những khả năng thích ứng của mỗi cá thể khi đứng trước mối hiểm nguy. Thế mà, một cách nghịch lý, chính cùng stress này có thể đồng thời là điều kiện của sự sống còn của chúng ta hay ảnh hưởng lên sự vận dụng của các hệ phòng vệ, làm chúng trở nên có hại trước mắt hay lâu dài. Một sốc tâm lý như thế có thể làm phát khởi một chuỗi các tương tác phức tạp thần kinh, kích thích tố và sinh học, nguồn gốc của những rối loạn nghiêm trọng ít hay nhiều, đặc biệt ở hệ miễn dịch và hệ thống mạnh vành và tim của chúng ta.
Thật vậy, stress là một quá trình động về thích ứng tâm và sinh lý của cơ thể với những cưỡng bức vật lý và tâm thần xảy ra đột ngột hay dài lâu, đối với những tấn công phát xuất từ môi trường và lối sống của chúng ta. Nhưng ngày nay ta đã chứng tỏ rằng đáp ứng này, dưới những dạng khác nhau, đối với những tấn công, xảy ra như yếu tố làm dễ hay làm phát khởi nhiều bệnh lý tim mạch. Cấp tính hay mãn tính, stress góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong tim mạch trong toàn dân. Chứng nghiện thuốc lá, bệnh cao huyết áp và bệnh đái đường là những yếu tố làm dễ. Về lâu về dài, stress lúc làm việc, stress mãn tính, đặc biệt thường xảy ra trong thời đại của chúng ta, có liên quan đến tất cả các khu vực hoạt động và xuất hiện như một trong những vấn đề của nền văn minh công nghiệp của chúng ta. Những căng thẳng về tinh thần trong cuộc sống nghề nghiệp, tính chất nguy hiểm của các đồn bót, những điều kiện vật chất khó nhọc, những xung đột xảy ra trong xí nghiệp duy trì một cảm giác khó ở thường trực, trước hết dẫn đến một tình trạng thường xuyên nghỉ việc, rồi sự xuất hiện cao huyết áp, những dạng khác nhau của rối loạn thân thể (troubles somatiques) để sau cùng làm dễ chứng xơ vữa động mạch. Những yêu cầu cao trong công việc, một cảm giác thất vọng kinh niên do quyền quyết định thấp, sự lo âu trước tình trạng không an toàn của việc làm, làm gia tăng nguy cơ bị những tai biến tim mạch. Đáp ứng đối với những stress của đời sống hàng ngày như thế tạo nên một trạng thái căng thẳng cấp tính của cơ thể và tình trạng này sẽ huy động tức thời những khả năng phòng vệ của nó để đương đầu với một tình huống đe dọa. Và phản ứng càng hung bạo khi biến cố càng dữ dội, bất ngờ, làm bất ổn định, hay làm mất cá tính (dépersonnalisant).
(LE FIGARO 29/10/2012)

5/ TA CÓ THỂ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TỪ MỘT XÉT NGHIỆM MÁU ?
Docteur Marc-Henri Stern
Directeur de recherche Inserm
Médecin expert en génétique
Docteur Olivier Lantz
Médecin spécialiste en immunologie
Hôpital de l’Institut Curie

Phát hiện càng sớm càng tốt sự xuất hiện của các ung thư, hay những tái phát của chúng, là một trong những mục tiêu quan trọng của ung thư học. Mặc dầu những tiến bộ của chụp hình ảnh, khối u tái phát phải đạt một kích thước đủ mới có thể thấy được. Đó chủ yếu là trường hợp đối với những mélanome của mắt : một khi đã lan tràn, ung thư này rất khó điều trị. Một trong những hy vọng là có thể đề nghị càng sớm càng tốt một điều trị cho bệnh nhân có một sự phát tán của ung thư. Nhưng, cho đến hôm nay, những kỹ thuật chụp hình ảnh chỉ có thể phát hiện những di căn đã có một kích thước quan trọng. Do đó nảy sinh ý tưởng phát hiện ADN khối u lưu thông trong máu của các bệnh nhân.
Lần đầu tiên, chúng tôi đã cho thấy rằng có thể phát hiện ADN khối u lưu thông trong máu của những bệnh nhân bị mélanome di căn của mắt. Sự hiện diện ADN tumoral trong máu tiết lộ sự hiện hữu của một khối u và lượng của ADN này phản ánh kích thước của khối u. Thật vậy đó là một chất chỉ dấu sinh học (biomarqueur) khả dĩ phát hiện rất nhanh sự hiện diện của một khối u hay một tái phát. Mặc dầu được thực hiện trên một số hạn chế những bệnh nhân bị một bệnh hiếm, công trình nghiên cứu này, được công bố trong Clinical Cancer Research vào tháng năm 2012, là một bằng cớ về tính khả thi và lợi ích lâm sàng của khái niệm này. Kỹ thuật này có thể được áp dụng cho bất cứ loại khối u nào bắt đầu từ lúc mà một biến đổi di truyền đặc hiệu đã được nhận diện. Từ một xét nghiệm máu, như thế chúng ta có thể phát hiện ADN tumoral trong máu phát xuất từ một khối u.
Thật vậy có một hiện tượng hủy hoại tự nhiên những tế bào bình thường hay ung thư trong cơ thể và, điều này, nhằm đảm bảo sự đổi mới của các mô. Các tế bào bị hủy hoại và một phần của vật chất di truyền của chúng xuất hiện trong máu. Vậy, nếu ADN tumoral được phát hiện, điều đó có nghĩa rằng những tế bào ung thư hiện diện trong cơ thể.
Trước hết chúng tôi đã hiệu chính một kỹ thuật có thể dùng trong lâm sàng để phát hiện ADN tumoral trong máu, nhưng cần biết rằng ADN này có lượng rất thấp so với ADN bình thường phát xuất từ những tế bào khác. Trong một thì đầu, phải xác định làm sao phân biệt ADN tumoral. ADN ung thư có cùng những biến đối với ung thư nguyên phát. Sự hiện diện của những biến dị di truyền này, trong trường hợp này là một sự biến đổi của GNAQ hay GNA11 rất thường gặp trong loại ung thư này, là chỉ dấu (marque) của nguồn gốc của ADN.
Sau đó chúng tôi đã nhờ đến phương pháp được gọi là “ polymérisation activée par pyrophosphorolyse ” (PAP), căn cứ trên phản ứng dây chuyền bởi polymérase (PCR), để phát hiện sự hiện diện của ba biến dị ponctuel trong hai gène này. Kỹ thuật này liên kết tính nhạy cảm và đặc hiệu vì lẽ nó cho phép nhận diện một biến dị của một tế bào trong số 10.000 tế bào. Kỹ thuật này đơn giản, ít tốn kém và có thể được thực hiện trong bất cứ phòng xét nghiệm sinh học phân tử lâm sàng nào.
Đứng trên quan điểm lâm sàng, ADN tumoral đã được phát hiện trong những mẫu nghiệm máu của 20 trong số 21 bệnh nhân có một mélanome di căn của mắt. Mặt khác, lượng của ADN này tỷ lệ với khối lượng ung thư (masse tumorale) được đánh giá bằng chứng hình ảnh bằng cộng hưởng từ (IRM). Như thế chúng tôi đã xác lập rằng phương pháp phát hiện nay hoàn toàn được thích ứng để xác định sự hiện diện của một ổ ung thư ở những bệnh nhân chỉ bằng lấy máu đơn giản.
Những công trình nghiên cứu bổ sung đã được dự kiến để đánh giá giá trị tiên lượng của chất chỉ dấu mới này tùy theo giai đoạn tiến triển của các mélanome của mắt. Sự nghiên cứu ADN tumoral có thể cho phép nhận diện rất sớm một u tái phát (có kích thước nhỏ), vậy những bệnh nhân khả dĩ được hưởng một cách tối ưu một liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée). cũng để đánh giá tính hiệu quả của điều trị này nhờ quan sát một sự giảm nồng độ ADN tumoral trong máu. Kỹ thuật này có thể được áp dụng cho tất cả các ung thư trong đó sự biến dị đặc hiệu đã được nhận diện.
Công trình này, cùng với công trình của những kíp nghiên cứu quốc tế khác, chỉ rằng sự nghiên cứu ADN tumoral lưu thông trong máu có thể bắt buộc trong những năm đến như là kỹ thuật quy chiếu trong việc theo dõi những khối u ác tính được đặc trưng bởi những biến dị của ADN
(LE FIGARO 5/11/2012)

6/ YAOURT, TỐT CHO HUYẾT ÁP ?
CARDIOLOGIE. Chế độ ăn uống ảnh hưởng một cách quan trọng tình trạng sức khỏe của chúng ta. Nhưng chính nhất là toàn bộ những cách nuôi dưỡng thay đổi nguy cơ tim mạch hay bị bệnh đái đường của chúng ta, hơn là một thức ăn đặc biệt. Tuy vậy tốt hơn là ăn trái cây và rau xanh hơn là ních đầy frites và glace à la vanille. Trong khung cảnh này, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã từ lâu khảo sát hiệu quả của yaourt lên huyết áp. Và họ kết luận rằng yaourt có những tác dụng có lợi. Những công trình nghiên cứu của họ đã được đánh giá là đủ có sức thuyết phục nên đã được trình bày tuần qua nhân hội nghị của Hiệp hội tim Hoa Kỳ ở Washington.
Trong 15 năm, 2000 người tình nguyện có sức khoẻ tốt đã được theo dõi. Lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối của điều tra, họ phải điền một bảng câu hỏi chi tiết về tình trạng sức khỏe và chế độ ăn uống của họ. Lượng yaourt được tiêu thụ mỗi tuần nhất thiết phải được chỉ rõ. Sau 15 năm, những người tình nguyện ở họ 2% các calories được tiêu thụ mỗi ngày phát xuất từ yaourt có một nguy cơ ít hơn 30% bị trở thành cao huyết áp. Điều này tương ứng với sự tiêu thụ của 180g yaourt gầy (dung lượng chất mỡ thấp) 3 lần mỗi tuần. Đặc biệt, những người tình nguyện tiêu thụ nhiều yaourt nhất có một huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) thấp hơn những người khác.
Bởi cơ chế nào, yaourt có thể ảnh hưởng lên mức của huyết áp ? Tác dụng có thể khác với việc chỉ uống sữa đơn thuần ở chỗ nào ? Công trình nghiên cứu không nói rõ điều đó. Ngoài ra hẳn là không đủ nếu hấp thụ tất cả các loại yaourt đường và mỡ, nhưng phải chọn những loại yaourt có 0% chất mỡ và không chứa caramel hay mật hay những đồ ngọt khác. Sau cùng phải biết rằng công trình nghiên cứu đă được tài trợ bởi Viện y tế Hoa Kỳ, với Fondation Danone.
(LE FIGARO 24/9/2012)

7/ ĐỂ LÀM GIÃN CÁC ĐỘNG MẠCH : NHỮNG STENTS BIORESORBABLE.
GS Antoine Lafont, cardiologue interventionnel thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, trưởng kíp sửa chữa động mạch Inserm U970, giáo sư của đại học Paris-Descartes, đồng sáng lập của société française ART (đã hiệu chính stent biorésorbable châu Âu và đã được Agence nationale de sécurité du médicament (NSM) cho phép đánh giá trên vào năm 2012), giải thích những thiết bị mới này tránh những biến chứng lâu dài như thế nào.
Hỏi : Ông hay mô tả cho chúng tôi système implantable nhằm làm giãn rộng một động mạch bị hẹp.
GS Antoine Lafont : Đó là một lò xo nhỏ (petit ressort), bằng kim loại, được chế tạo để khai tắc một động mạch. Protocole gồm có đưa một cathéter được trang bị ở đầu mút bởi một stent, qua động mạch quay (cổ tay) hay động mạch đùi (của bẹn) và đưa nó đến tận vùng bị hẹp, ở đó stent triển khai, đẩy lùi các thành động mạch và mở lỗ của huyết quản. Khi đó máu có thể lưu thông một cách bình thường và mang đến tim oxy mà nó cần.
Hỏi : Ta đặt một stent trong những trường hợp nào ?
GS Antoine Lafont : ở những bệnh nhân bị cơn đau thắt ngực (đau tim do oxy mang đến tim không đủ) hay khi một xơ vữa động mạch nghiêm trọng làm hẹp những động mạch của các cẳng chân, gây đau trong các bắp chân khi bước. Chứng xơ vữa động mạch cũng có thể làm thương tổn các động mạch cảnh, khi đó gây nên một nguy cơ đột qụy.
Hỏi : Tính hiệu quả của những stent kim loại này là gì ?
GS Antoine Lafont : Mặc dầu stent đã có phép thay thế một số lớn các pontage, tuy nhiên chỉ định của chúng có những giới hạn. Để sử dụng các stent kim loại, chiều dài của hẹp động mạch không được quá quan trọng và những tắc động mạch (obstruction artérielle) không được quá nhiều. Các kết quả tỏ ra thỏa mãn, ngay cả 25 năm sau khi đặt. Nhất là nhờ sử dụng các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (trong đó có aspirine), trong khoảng 12 tháng, để ngăn cản sự tạo thành các cục máu đông. Mặc dầu đó là một gò bó nhưng cần thiết. Cũng như ở tất cả những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, aspirine sẽ vẫn là một điều trị suốt đời. Các stent không chữa nguyên nhân của bệnh, nếu ta không điều trị những yếu tố nguy cơ (thuốc lá, tăng cholestérol-huyết, cao huyết áp, bệnh đái đường), những hẹp động mạch khác sẽ có thể xuất hiện.
Hỏi : Ta có thể lấy stent đi không ?
GS Antoine Lafont : Không, bởi vì chúng được xếp lợp trong thành động mạch (sau một phản ứng sẹo), thành động mạch dày lên và có thể phát khởi một phản ứng viêm, có nguy cơ dần dần gây tắc lần nữa động mạch (resténose). Trong những trường hợp hiếm, sự tắc này xảy ra ngay cả một cách đột ngột. Do đó cần theo dõi đều đặn.
Hỏi : Làm sao, qua thời gian, ta đã tìm cách làm giảm những nguy cơ này ?
GS Antoine Lafont: Vào đầu những năm 2000, ta đã hiệu chính một kỹ thuật để bọc những stent kim loại này bằng một loại thuốc được phân tán tại chỗ để làm giảm phản ứng hóa sẹo. Kết quả : ta đã cải thiện mức độ dung nạp của các stent nhưng bệnh nhân buộc phải kéo dài sự sử dụng hai loại thuốc chống ngưng kết (đôi khi suốt đời) để tránh mối nguy cơ huyết khối.
Hỏi : Thành phần của những stent mới có thể tiêu đi (stents résorbables) này là gì ?
GS Antoine Lafont : Chúng không còn bằng kim loại nữa mà bằng polymère biorésorbable. Sau khi đã khai thông động mạch, chúng giữ động mạch mở cho đến khi các thành hóa sẹo. Rồi chúng tự phá hủy dần dần để biến mất trong khoảng 18 tháng.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ tính hiệu quả của những stents biorésorbables nhất này ?
GS Antoine Lafont : Đã có nhiều công trình quốc tế, trong đó công trình mới nhất đang được tiến hành trên 1000 bệnh nhân. Những thử nghiệm này đã cho thấy một độ dung nạp tốt.
Hỏi : Ta có thể đặt bao nhiêu stent trên một bệnh nhân ?
GS Antoine Lafont : Đối với các stent biorésorbable, không có giới hạn. Đối với các stent kim loại, ở tại chỗ, ta cố giới hạn số lượng đặt.
Hỏi : Nói tóm lại những ưu điểm của các stent biorésorbable là gì ?
GS Antoine Lafont : 1. Vì chúng biến mất (như các chỉ tiêu) trong 18 tháng, nên chúng tránh những biến chứng về lâu về dài.
2. Trái với những stent kim loại, ta có thể đặt bao nhiêu stent biorésorbable nếu cần.
3. Chúng cho phép thu giảm 1 tháng thời gian điều trị bởi hai thuốc chống tiếu cầu.
4. Trong vài tháng, thành động mạnh lấy lại tính mềm dẻo của nó, bởi và thành không bị xếp lợp vào trong lồng kim loại của stent.
(PARIS MATCH 10/1-16/1/2013)

8/ THẬN TỪ CÁC TẾ BÀO GỐC (PREMIERE MONDIALE)
Các nhà nghiên cứu Nhật Bản công bố trong Nature Communications một công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng họ đã có được mô thận từ những tế bào gốc đa năng (cellules souches pluripotentes induites : iPS), đây là thành tích đầu tiên trên thế giới. Các quả thận có một cấu trúc phức tạp, rất khó tái tạo một khi bị hư hại.
Kíp nghiên cứu của Đại học Kyoto đã sản sinh ra các mô của trung bì (mésoderme) mà những quả thận phần lớn được tạo thành, với một tỷ lệ thành công hơn 90% sau khi cấy được 11 ngày. Những khám phá này là một giai đoạn đầu tiên hướng về khả năng ghép mô thận được sinh ra từ những tế bào gốc đa năng (iPS) và mang lại hy vọng cho những bệnh nhân bị những vấn đề về thận hay đang chờ đợi để được ghép thận. Nhưng giám đốc của kíp nghiên cứu, GS Osafune, đã nhấn mạnh rằng còn có nhiều chướng ngại cần vượt qua trước khi đạt đến điều trị y khoa : “ Ta chưa biết là sự kiện ghép những tế bào được tái sinh (cellules régénérées) có sẽ thật sự chữa lành những bệnh thận hay không.”
Các tế bào gốc đa năng (iPS) được tạo nên từ những tế bào trưởng thành được đưa trở lại trạng thái gần như phôi thai bằng cách làm chúng biểu hiện lần nữa 4 gène để chúng tìm lại một tình trạng chưa chín mùi mới và khả năng biệt hóa thành tất cả các loại tế bào tùy theo môi trường trong đó chúng hiện diện.
Cùng kíp nghiên cứu cũng đã khám phá rằng những tế bào thượng thận và những tế bào sinh sản có thể được cấy với cùng phương pháp. Giải Nobel y học năm 2012 đã được trao cho Shinya Yamanaka, giám đốc trung tâm nghiên cứu của đại học Kyoto, công bố hôm nay công trình nghiên cứu mới này, và được trao cho người Anh John Gordon, vì đã hiệu chính phương pháp cho phép tại chương hóa những tế bào trưởng thành.
Ngoài ra, việc sử dụng những tế bào iPS không đặt ra vấn đề đạo đức nào, trong khi có sự tranh luận về tính hợp pháp của việc sử dụng những tế bào trích lấy từ những phôi thai người thừa (embryon humain surnuméraire).
Tuy nhiên nhiều nhà khoa học nhấn mạnh rằng đó là những tế bào lấy ở một giai đoạn cực sớm ở những phôi thai dẫu sao cũng bị hủy diệt.
(LE SOIR 24/1/2013)

9/ PHẢI CHÚ Ý TRỌNG LƯỢNG CỦA CÁC PHỤ NỮ LÚC CÓ THAI
Barbara Heude
Epidémiologiste
Centre de recherche en épidémiologie et
santé des populations, Villejuif.

Càng ngày càng có nhiều người có một sự gia tăng thể trọng ở Pháp và trên thế giới. Tình huống này đặt ra một số vấn đề nào đó về mặt y tế cộng đồng, bởi vì sự gia tăng thể trọng và bệnh béo phì có thể có những hậu quả ngắn hạn và dài hạn lên sức khỏe của các cá thể (có nhiều nguy cơ hơn phát triển những bệnh lý như bệnh đái đường và cao huyết áp).
Các phụ nữ có thai cũng bị liên hệ : chúng tôi đã có thể quan sát, nhờ “ những điều tra quốc gia chu sinh ở Pháp ”, rằng càng ngày càng có nhiều phụ nữ có thai trong tình trạng tăng thể trọng, hay ngay cả béo phì. Đó là một điều chứng thực đáng lo ngại, khi chúng ta biết rằng chứng béo phì được liên kết với một nguy cơ gia tăng bị các biến chứng liên quan đến thai nghén, thí dụ bệnh đái đường thai nghén (diabète gestationnel) hay cao huyết áp. Những hậu quả cũng có thể xảy ra cho sức khỏe của thai nhi, vốn tùy thuộc môi trường dinh dưỡng trong tử cung trong đó nó phát triển. Thí dụ, những trẻ được sinh từ các bà mẹ béo phì có nhiều nguy cơ hơn sinh ra quá to đối với tuổi thai nghén của chúng. Những gia tăng nguy cơ này đã được quan sát trong một công trình nghiên cứu dịch tễ học ở Pháp, công trình Eden, được thực hiện trên 2000 phụ nữ có thai và các em bé của họ, được sự chỉ đạo trong kíp nghiên cứu của chúng tôi ở Inserm.
MỘT MỐI TRƯỜNG TỐI ƯU TRONG TỬ CUNG
Chúng tôi đã có thể chứng thực trong những công trình nghiên cứu của chúng tôi rằng vào đầu thế kỷ XXI trung bình các phụ nữ khi có thai lên cân nhiều hơn so với những năm 1970 hay 1980. Thế mà một sự lên cân quá mức trong thời kỳ thai nghén cũng bị liên kết với một nguy cơ quan trọng hơn bị các biến chứng. Tuy nhiên phải ghi nhận rằng, ngược lại, những phụ nữ gầy hay lên cân quá ít trong thời kỳ thai nghén có thêm nguy cơ (sur-risque) sinh non và/hoặc đứa con chịu một sự chậm tăng trưởng trong tử cung.
Như thế, càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học, trong đó có những công trình của chúng tôi, nhưng cũng những công trình nghiên cứu trên động vật, đều nhất trí nhấn mạnh ở mức độ nào thai nhi cần một môi trường dinh dưỡng tối ưu trong tử cung để phát triển. Vậy tình trạng dinh dưỡng của người mẹ trong thời kỳ thai nghén không những là mot enjeu y tế cộng đồng quan trọng đối với sức khỏe của các phụ nữ mà còn đối với sức khỏe của các em bé. Những enjeu lại còn rộng lớn hơn và liên quan đến sức khỏe của nhiều thế hệ cá nhân tương lai.
Thật vậy, hiện nay, cả một vạt nghiên cứu dịch tễ học, nhưng cả sinh lý động vật, quan tâm đến những hậu quả về lâu về dài của những điều kiện dinh dưỡng bị biến đổi trong đời sống thai nhi. Những điều kiện dinh dưỡng và môi trường trong đó thai nhi và em bé phát triển có thể ảnh hưởng rất lâu dài lên tình trạng sức khỏe của cá nhân.
Những cơ chế giải thích những mối tương quan vẫn cần phải được làm sáng tỏ. Một trong những hướng chính được thăm dò hiện nay là hướng của những hiện tượng được gọi là “ épigénétique ”. Génome của chúng ta được cấu tạo bởi những séquence d’ADN nhưng cũng bởi một số rất quan trọng những chỉ dấu (marque) và những phân tử cho phép điều hòa sự biểu hiện của các gène. Những chỉ dấu “ épigénétique ” này có thể được điều biến bởi môi trường, và về lâu về dài ghi trong những tế bào của chúng ta những chương trình vận hành chức năng (programme de fonctionnement) mới, nhưng chính ADN lại không bị biến đổi.
Trong dịch tễ học, chúng tôi chưa có những phương tiện kỹ thuật để khảo sát những hiện tượng épigénétique này trong những quần thể lớn, nhưng chúng tôi có thể theo dõi trong nhiều năm sự phát triển và sức khỏe của các trẻ em sau khi đã đo lường những tiếp xúc sớm môi trường và dinh dưỡng của chúng. Công trình nghiên cứu Eden đã phát hiện vai trò của tiến triển của trọng lượng của các bà mẹ trước khi có thai và vào lúc bắt đầu thai nghén đối với diễn biến của thai nghén và sự tăng trưởng thai nhi.
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LÂU DÀI
Những kết quả này gợi ý rằng một sự xử lý dinh dưỡng của bà mẹ vào lúc bắt đầu thai nghén, thậm chí trước khi thụ thai, có thể góp phần ngăn ngừa những trường hợp tăng trưởng thai nhi quá mức ; và một sự thay đổi chế độ ăn uống không thôi trong thời kỳ thai nghén không đủ để làm đảo ngược khuynh hướng. Bây giờ phải biết những hậu quả lâu dài hơn của những tiến triển trọng lượng quanh thời kỳ thụ thai và trong thời kỳ thai nghén, điều mà chúng tôi sẽ làm ở Inserm trong công trình Eden, nhưng cũng nhờ những dữ kiện của công trình Elfe đã bắt đầu năm nay và sẽ theo dõi khoảng 20.000 trẻ em trong 20 nom.
(LE FIGARO 21/11/2011)

10/ VIÊM GAN C VÀ UNG THƯ GAN : MỘT MỐI LIÊN HỆ TRỰC TIẾP
Những nhà nghiên cứu người Pháp đã xác nhận vai trò của virus của viêm gan C trong sự xuất hiện của ung thư gan. Độc lập với một xơ gan hay một quá trình viêm nhiễm, virus của viêm gan C kích hoạt một gène có tác dụng làm dễ sự phát triển của những carcinome hépatocellulaire.
(SCIENCE ET VIE 1/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(14/2/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s