Thời sự y học số 295 – BS Nguyễn Văn Thịnh

Chlamydias1/ NHỮNG BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC : CÁC CHLAMYDIAS NHỮNG YẾU TỐ GÂY VÔ SINH.
3% các thanh niên từ 18 đến 25 tuổi bị nhiễm, trong khi điều trị rất là đơn giản.
Không phải là một sự tình cờ khi Viện quốc gia phòng ngừa và giáo dục y tế (Impes) Pháp đã quyết định phát động một chiến dịch phát hiện chlamydia, qua Internet, từ 3 tháng 9 đến 15 tháng 10 năm 2012 : “ Chúng tôi tiếp nhận, một cách cổ điển, một điểm cao các phụ nữ trẻ đến làm xét nghiệm vào tháng 9, hoặc bởi vì họ đánh giá đã chịu những nguy cơ vào mùa hè, hoặc bởi vì bạn đường phối ngẫu của họ có chất dịch chảy ra từ niệu đạo, hoặc bởi vì họ lo ngại vì một vấn đề khác : thí dụ các bệnh nấm (mycoses) ”, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa (bệnh viện mới Port-Royal, Paris) đã giải thích như vậy.

Những phụ nữ trẻ này sau khi được khám đã nhận một thông tin hoàn chỉnh nhân cơ hội này : “ Chúng tôi giải thích cho họ rằng chlamydia là một vi khuẩn thường nhất tiến triển một cách im lặng (trong hơn hai trường hợp trên ba, không có một triệu chứng nào ở phụ nữ) trước khi được phát hiện bởi một viêm vòi trứng (salpingite), có thai ngoài tử cung hay thường hơn là một tình trạng vô sinh (stérilité). Ngay cả đó là một trong những nguyên nhân đầu tiên của vô sinh, vậy đó không phải là vô hại. Chúng tôi cũng nói với họ rằng sự phát hiện rất là đơn giản : mẫu nghiệm được lấy từ một écouvillon được đưa vào trong âm đạo của các cô gái và từ nước tiểu ở cậu con trai, và rằng trong trường hợp kết quả dương tính, một điều trị kháng sinh cho cả hai partenaire cho phép giải quyết vấn đề.”, BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.
UN DEPISTAGE PAS PRIS EN CHARGE A 100%
Những lý lẽ này đánh trúng hồng tâm : phần lớn các phụ nữ trẻ này chấp nhận điều tra phát hiện và chính như thế mà 7000 trường hợp mới những nhiễm trùng chlamydia được chẩn đoán mỗi năm ở Pháp. “ Ta ước tính rằng 3% các phụ nữ trẻ từ 18 đến 25 bị nhiễm trùng, nhưng trong số những phụ nữ có nhiều bạn đường phối ngẫu, những tỷ lệ lây nhiễm có thể đạt 10% ”, GS Michel Kanier, giám đốc trung tâm lâm sàng và sinh học các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, bệnh viện Saint-Louis đã ghi nhận như vậy.
Chỉ có điều : “ Làm sao công tác phát hiện này lại không được đảm nhận 100% bởi Sécurité sociale, vài phụ nữ trẻ, có lẽ những phụ nữ cần nhất, không đủ điều kiện để tiếp cận sự phát hiện này. Để giải quyết vấn đề này, có những thỏa thuận địa phương với vài trung tâm phát hiện nặc danh và miễn phí (CDAG : centre de dépistage anonyme et gratuit) như những trung tâm ở Paris đảm trách miễn phí sự phát hiện chlamydia ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, nhưng không phải đều như thế ở khắp nơi trên nước Pháp. Khi đó còn lại giải pháp là đến một trung tâm thông tin, phát hiện, chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng lây bằng đường sinh dục (IST : infections sexuellement transmissibles), nhưng những trung tâm như thế không có nhiều. Tuy vậy có một sự nhất trí rất rõ ràng về phía các chuyên gia : mọi người trong tình trạng hoạt động sinh dục (sexuellement active) đã không có được một sự bảo vệ tối ưu (nhờ đến các bao dương vật trong 100% các trường hợp) phải làm một trắc nghiệm phát hiện (test de dépistage), nhất là khi có một sự thay đổi bạn đường phối ngẫu (partenaire). Điều này đủ bởi vì trái với các lậu cầu khuẩn và với tréponème (vecteur truyền bệnh giang mai), sự lan truyền chlamydia qua đường miệng rất hiếm ”, GS Michel Janier đã nhấn mạnh như vậy.
MỘT “ HOME TEST ” ĐẾN Ở PHÁP
Đối với những kẻ ưa thích những phát hiện “ ở nhà ” hơn, được cho là kín đáo hơn, tin vui : đó là một “ home test ” xuất hiện ở Pháp, như điều đã thường được thực hiện trong những nước khác của Liên hiệp châu Âu. Ưu điểm chính : không cần đến phòng xét nghiệm với một y lệnh. Bất tiện chính : trắc nghiệm này không được bồi hoàn bởi Sécurité sociale. Ngoài ra, trong trường hợp kết quả dương tính, dẫu sao cũng phải có một ordonnance để được kê đơn một điều trị kháng sinh, cho mình và cho partenaire, mặc dầu người bạn đường phối ngẫu này không có một triệu chứng nào và đã được làm một test với kết quả âm tính. Thật vậy, không gì nói được rằng người bạn đường phối ngẫu này không ở trong thời kỳ ủ bệnh và do đó anh ta sẽ không là nguồn lây nhiễm trong những này sau đó ”, GS Janier và BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.
Hiện nay điều trị chủ yếu dựa vào, đối với người đàn ông cũng như đối với người đàn bà, uống 1 liều duy nhất 4 viên azithromycine, một kháng sinh họ macrolides. Và các giao hợp phải bị cấm chỉ trong 1 tuần, thời gian để thuốc tác dụng. “ Điều đó rất thực tiễn, nhưng vài trường hợp đề kháng được quan sát trên thế giới làm cho các chuyên gia bắt đầu tự hỏi không biết có hợp lý trở lại một điều trị 7 ngày, bằng một kháng sinh thuộc họ cyclines hay không. Khi đó một vấn đề khác được đặt ra : vấn đề tuân thủ tồi điều trị. Như thế, 70% những người được điều trị trong 7 ngày thỉnh thoảng quên uống kháng sinh hay dừng quá sớm bởi vì họ không có (hay không còn nữa) các triệu chứng ”, GS Janier lấy làm tiếc như vậy.
Sau cùng thêm vào một vấn đề nữa : hoặc vì xấu hổ (không đúng) hay vì sợ gieo nghi ngờ vào lòng chung thủy của mình, rất nhiều người bị nhiễm thấy tốt hơn là không nói gì hết. Hậu quả : mặc dầu những chiến dịch thông tin, các con số nhiễm trùng bởi chlamydia vẫn ổn định.
(LE FIGARO 8/10/2012)

2/ CÁC LẬU CẦU KHUẨN NGÀY CÀNG ĐỀ KHÁNG.
Đó là nhiễm trùng chủ yếu đang tăng cao ở những người đàn ông có những quan hệ tình dục với những người đàn ông cũng như ở những người dị tính luyến ái (hétérosexuel), lý do là một sự lơi lỏng trong việc nhờ đến một cách hệ thống những bao dương vật và do việc thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral). “ Thật vậy, lậu cầu khuẩn rất có thể tọa vị trong họng, nhưng không cho một triệu chứng nào, GS Michel Janier (bệnh viện Saint-Louis) đã nhấn mạnh như vậy. Và ngay cả trong trường hợp nhiễm trùng sinh dục, nó có thể tiến triển một cách im lặng trong một thời gian lâu ở phụ nữ, trước khi gây một tình trạng vô sinh (stérilité). Sau cùng chỉ ở người đàn ông mà nhiễm trùng khó mà không được nhận biết, vì lậu cầu gây nên sự xuất hiện triệu chứng đi tiểu rát và mủ niệu (do đó có tên “ đái nóng ” (chaude-pisse). Sự xuất hiện những trắc nghiệm chẩn đoán mới rất đáng tin cậy (những trắc nghiệm PCR dựa trên sinh học phân tử khuếch đại), cho phép tìm kiếm cùng lúc chlamydia và lậu cầu, vậy đó là một tin vui, nhưng hiện nay, những trắc nghiệm này chưa được công nhận bởi Sécurité sociale và do đó chỉ có thể thực hiện ở bệnh viện.”
Do không được phát hiện đủ, nhất là ở phụ nữ và ở những người thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral), lậu cầu khẩu phát triển tốt. Còn đáng lo ngại hơn : trong khi cho đến nay vi khuẩn này nhạy cảm 100% đối với ceftriaxone (Rocephine) (một kháng sinh thuộc céphalosoprine thế hệ thứ ba), nhiều trường hợp đề kháng đã được mô tả trên thế giới, gồm cả ở Pháp. “ Trong nhiều năm, một liều 125 mg là đủ để trừ khử các lậu cầu khuẩn, rồi đã phải chuyển qua 250 mg. Hôm nay, ngay cả cần đến 500mg và ở vài bệnh nhân điều đó không còn đủ nữa. Thế mà chúng ta không có giải pháp thay thế thỏa mãn. Thật vậy, đúng là có một kháng sinh cũ còn có thể có tác dụng (gentalline), nhưng loại thuốc này có tiềm năng độc hại đối với thận, tai và do đó khó sử dụng. Sau cùng hai loại kháng sinh khác đầy hứa hẹn hiện đang được chế tạo, nhưng chúng cũng sẽ phải được sử dụng một cách thận trọng và chỉ hiện diện dưới dạng thuốc tiêm ”, GS Janier đã xác nhận như vậy. Ý kiến này được chia xẻ bởi GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trùng thuộc CHU de Grenoble. Ông này lo sợ tính chất đa đề kháng của các vi khuẩn đối với các kháng sinh và không chỉ trong lãnh vực các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.
ÍT SỬ DỤNG HƠN CÁC BAO DƯƠNG VẬT
Sau cùng, nhiều nhiễm trùng lậu cầu khuẩn hơn, điều này cho thấy trước sự gia tăng của sự lây truyền những bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục nghiêm trọng hơn như VIH hay viêm gan B, do việc lơi lỏng sử dụng các bao dương vật. “ Ở các phụ nữ đã gia tăng những hành vi có nguy cơ (comportements à risque), chúng tôi không do dự đề nghị một điều tra phát hiện toàn bộ những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục chính, từ một mẫu nghiệm máu (đối với VIH, viêm gan B và giang mai), từ một bệnh phẩm âm đạo (chlamydia, lậu cầu) và từ một frottis nhằm tìm kiếm những dấu hiệu gián tiếp nhiễm trùng papillomavirus, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa thuộc bệnh viện mới Port-Royal (Paris), đã nhận xét như vậy. Chúng tôi cũng lợi dụng điều đó để nhắc lại với họ rằng préservatif nữ cũng hiệu quả như préservatif nam để phòng ngừa phần lớn những trường hợp nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.”
(LE FIGARO 8/10/2012)

3/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG NÀY LÀM DỄ BỆNH SIDA
Mỗi năm ở Pháp, 6700 người bị lây nhiễm bởi virus bệnh sida, thường nhất qua đường sinh dục. Những con số của bệnh ở Pháp vì gần như ổn định, nên điều đó có nghĩa là sự bảo vệ bằng các bao dương vật vẫn không đủ.
“ Sự kiện bệnh sida ngày nay được xem như một bệnh mãn tính, được điều trị, có lẽ đã góp phần đưa đến một sự lơi lỏng tinh thần cảnh giác. Tuy vậy phải nhận thức rõ ràng những điều trị này không phải là không có những tác dụng phụ và như thế thật là chán ngắt khi phải uống thuốc mỗi ngày. Cũng vậy, đúng là có một điều trị cấp cứu được đề nghị ở bệnh viện cho những người đã có một giao hợp có nguy cơ với một người huyết thanh dương tính, nhưng phải hành động nhanh và điều trị này không phải là vô hại, GS Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trung thuộc CHU de Grenoble, đã nhấn mạnh như vậy. Còn về những hứa hẹn vaccin, phải dè chừng những tác dụng loan báo : ta còn rất lâu mới đề nghị một cách thường quy một vaccin và sẽ còn cần nhiều năm trước khi đạt được điều đó ”, GS Stahl đã nói tiếp như vậy.
Nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida càng quan trọng khi bệnh nhân vốn đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục khác, như herpès sinh dục, than ôi lại khá thường gặp. Hai triệu người Pháp mang virus này, nguy cơ lây nhiễm đối với partenaire tối đa vào lúc một cơn bộc phát các mụn nước (vésicule). Đúng là có một điều trị kháng virus (aciclovir) được cho trong trường hợp các cơn bộc phát thường xuyên, nhưng không đủ để phòng ngừa nguy cơ truyền nhiễm. Do đó mang bao dương vật là điều không thể thay thế được.
Cũng như thế để tránh sự lây truyền của một bệnh viêm gan B, một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục khác được biết rõ là cũng làm dễ nhiễm trùng bởi HIV. Có nhiều bạn đường phối ngẫu hay là người nghiện ma túy là hai nguyên nhân chính gây nhiễm trùng bởi virus của viêm gan B. Vào giai đoạn viêm gan triệu chứng lây nhiễm, những điều trị với các antirétroviraux cho phép ngăn cản sự xuất hiện của một ung thư gan đối với bệnh nhân và làm giảm rất nhiều những nguy cơ lây nhiễm partenaire. Nhưng để tránh mọi nguy cơ, tốt nhất là được tiêm chủng, thế mà dân Pháp đã trì chậm rất nhiều trong lãnh vực này ”, BS Stahl đã nhấn mạnh như vậy. Một lý do tốt để nghĩ đến phát hiện bệnh : Nói chung sự phát hiện bệnh được đề nghị vào lúc mang thai hay lúc phẫu thuật.
NHỮNG THƯƠNG TỔN ĐÔI KHI GÂY CHẾT NGƯỜI.
Sau cùng, sự hiện diện của một bệnh lây nhiễm đường sinh dục nguồn gốc vi khuẩn cũng làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida. Vậy đó là trường hợp đối với chlamydia, lậu cầu khuẩn, nhưng cũng đối với bệnh giang mai mà ở Pháp không còn được nghe nói đến nữa cho đến những năm 2000, trước khi tái phát trở lại, nhất là trong giới đồng tính luyến ái. Khởi đầu bệnh giang mai có thể gây nên một chancre (vết loét) không đau, rồi vài tuần sau, nổi ban da và hội chứng cúm và, nếu không được điều trị kháng sinh, những thương tổn của não, các dây thần kinh, của tim, đôi khi gây chết người. Thế mà cũng giống như lậu cầu khuẩn, tréponème gây bệnh giang mai có thể sống sót trong họng mà không được nhận biết. Vậy về chiến lược phát hiện các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, đất nước của chúng ta (Pháp) còn có nhiều điều để làm.
(LE FIGARO 8/10/2012)

4/ BÃO TỐ LÊN THUỐC NGỪA THAI
Việc bán thuốc chống mụn Diane 35 (nhưng cũng dùng để ngừa thai) bị đình chỉ ở Pháp nhưng không (chưa) ở Bỉ.
– 315 phụ nữ Pháp sử dụng thuốc ngừa thai này có 3 tháng để thay đổi thuốc ngừa thai.
– Cơ quan dược phẩm Pháp đánh giá rằng sản phẩm, được đăng ký như là thuốc chống mụn, cũng được dùng làm thuốc ngừa thai.
– Quyết định đình chỉ này làm gia trọng mọi nghi ngờ về cán cân nguy cơ-lợi ích của những viên thuốc ngừa thai khác.
Bộ trưởng y tế Pháp Marisol Touraine hôm thứ tư đã khuyên các phụ nữ đang sử dụng thuốc chống mụn (anti-acné) Diane 35 (phần lớn được chuyển sang dùng làm thuốc ngừa thai), “ đừng hoảng sợ ”, trong khi đó cơ quan dược phẩm Pháp đã quyết định đình chỉ loại thuốc này từ nay đến 3 tháng nữa. “ Không nên ngừng một cách đột ngột điều trị này ”. Thật vậy đó là mối lo sợ lớn của những người hành nghề y tế sau khi công bố rút thuốc này ra khỏi thị trường. Ở Bỉ, không có một quyết định tương tự nào đã được thông qua. Chủ đề được thảo luận nhân một cuộc họp của Cơ quan dược phẩm châu Âu. Bỉ sẽ theo lời khuyến nghị của cơ quan này. Ở Bỉ, Diane được thương mãi hóa dưới nhiều tên khác nhau : Claudia, Daphe, Diane, ElisaMylan và Gratiella. Cũng như ở Pháp, sản phẩm hormone này được đăng ký như thuốc chống mụn, chứ không phải như thuốc ngừa thai. Nhưng bởi vì tác dụng của nó có một hiệu quả ngừa thai nên Diane thường được kê đơn làm thuốc ngừa thai do hai hiệu quả.
Quyết định của Pháp chủ yếu được căn cứ trên những nguy hiểm liên kết với điều trị này, 130 trường hợp huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), trong đó 3 trường hợp tử vong, trong 25 năm. Một lợi ích-nguy cơ được chấp nhận cho đến nay, nhưng hôm nay Cơ quan dược phẩm Pháp từ chối trên cơ sở profil xấu của dược phẩm : “ Phải chăng quý vị chấp nhận profil nguy cơ này trong điều trị chống mụn, trong khi có những thuốc thay thế ? ”, Dominique Maraninchi đã giải thích như vậy. Câu trả lời rõ ràng là không.
ĐỪNG GIÁN ĐOẠN SỬ DỤNG
Chậm lắm là trong 3 tháng nữa, tất cả các hộp thuốc sẽ được rút ra khỏi các hiệu thuốc. Maraninchi, đánh giá rằng Diane “ không phải là viên thuốc ngừa thai tốt ”, tuy nhiên ông đã yêu cầu 315.000 phụ nữ Pháp đừng ngừng thuốc thức thời và tiếp xúc với thầy thuốc gia đình. 3 tháng này sẽ cho phép các phụ nữ liên hệ hướng về những giải pháp khác và nhất là đối với những phụ nữ dùng Diane hay những générique của nó như thuốc ngừa thai, có thời gian chọn một biện pháp ngừa thai khác.
Những quyết định này đập một cách gián tiếp vào hình ảnh của viên thuốc ngừa thai nói chung, bởi vì Diane gây nên những nguy cơ tương tự với những viên thuốc ngừa thai thế hệ thứ 3 (những viên thuốc chứa désogestrel, gestodène và norgestimate) và thế hệ thứ 4 (chứa chủ yếu drospirénone), mà Cơ quan dược phẩm châu Âu đã tuyên bố đánh giá lại theo yêu cầu của Pháp. Không hề có vấn đề xét đến việc rút tất cả những viên thuốc này ra khỏi thị trường, mà là trả lời câu hỏi : Có cần thiết hạn chế sự sử dụng những loại thuốc này ở những phụ nữ không thể dùng những thuốc ngừa thai phối hợp dùng bằng đường miệng khác ?
(LE SOIR 31/1/2013)

5/ SIDA : TRIỄN VỌNG VACCIN MỚI
Ở khỉ, một vaccin bằng đường miệng trung hòa sự hoạt hóa của những tế bào bị nhiễm cần thiết cho sự tăng sinh của virus.
PANDEMIE. Một vaccin chống virus gây bệnh sida hoàn toàn mới đã được hiệu chính bởi một kíp Pháp-Hoa, được lãnh đạo bởi GS Jean-Marie, thuộc đại học Paris-Descartes, và Louis Wei Lu, giám đốc nghiên cứu thuộc Institut de recherche pour le développement (IRD), ở Montpellier. Được trắc nghiệm trên mô hình động vật tương cận với người nhất, macaque, sự tiêm chủng này đã bảo vệ lâu dài 14 động vật trên 16 chống lại một nhiễm trùng bởi virus gây suy giảm miễn dịch của khỉ, tương đương ở động vật này, của virus sida hay VIH ở người.
PHUƠNG PHÁP ĐỘC ĐÁO
“ Công trình này, Olivier Schwartz, giám đốc của khoa siêu vi trùng học của Viện Pasteur đã xác nhận như vậy, là lý thú và đầy hứa hẹn. Có nhiều thử nghiệm khác về các ứng viên vaccin ở khỉ, nhưng ở đây phương pháp là độc đáo ”. Thật vậy, vaccin này không cần phải tiêm và có thể được cho một cách trực tiếp bằng đường miệng. Một cách tóm tắt, vaccin này trung hòa sự hoạt hóa của các tế bào bị nhiễm, cần thiết cho sự tăng sinh của virus.
Từ khi virus của bệnh sida được nhận diện vào năm 1983 bởi một kíp nghiên cứu của Viện Pasteur, Paris, những cố gắng to lớn đã được dành cho việc nghiên cứu một vaccin chống lại virus này. Tuy vậy, sau 187 thử nghiệm lâm sàng các vaccins, hơn 8 tỷ dollars đã được tiêu phí cho nghiên cứu, chủ yếu bởi recherche publique Hoa Kỳ, sự thất bại là hoàn toàn. Chỉ có 3 thử nghiệm lâm sàng có tầm cỡ đã được tiến hành, thử nghiệm đầu tiên, được gọi là VAX 004, vào năm 1998, đã chẳng mang lại kết quả gì ; thử nghiệm thứ hai, được mệnh danh STEP, đã phải dừng lại sớm vì cùng lý do ; thử nghiệm cuối cùng, RV144, đã được thực hiện ở Thái lan, trên một số lượng khổng lồ 16.000 người tình nguyện, đã thu được một sự giảm 30% những nhiễm trùng mà ta chưa biết một cách chính xác tại sao. Hiện nay, chỉ một thử nghiệm thuộc loại này vẫn đang còn được tiến hành ở Hoa Kỳ.
Một cách nghịch lý, những lý do của sự thất bại này được biết từ khởi thủy bởi các nhà nghiên cứu. Virus của bệnh sida có những đặc điểm duy nhất làm chúng không thể bị túm được một khi đã vào trong cơ thể. Protéine, ở bề mặt của màng tế bào virus sida, cực kỳ thay đổi từ con virus này đến con khác, làm nhầm lẫn những toan tính nhận biết bởi hệ miễn dịch. Lại càng đáng sợ hơn, virus nhắm và phá hủy những tế bào chủ yếu đối với đáp ứng miễn dịch, các tế bào lympho T4, cho phép trừ khử virus. Những virus sida có một yếu điểm mà Jean-Marie Andrieu và đồng nghiệp của ông Louis Wei Lu đã lợi dụng. Để sinh sản, HIV phải chờ cho tế bào mà nó gây nhiễm tự hoạt hóa. “ Bằng cách làm cho cơ thể có khả năng làm bất hoạt những tế bào bị nhiễm của nó, chúng tôi giết trong trứng nước mọi sự tăng sinh của virus ”, GS Andrieu đã nói rõ như vậy.
Một sự bất hoạt như thế được gây nên bởi các vi khuẩn ruột. Những vi khuẩn này hẳn phải gây nên một sự dung nạp của cơ thể của chúng ta đối với chúng. Thí nghiệm đã có thể tiến hành trên khoảng 100 con khỉ nhờ sự hỗ trợ của Viên y học nhiệt đới của Canton (Trung Quốc). Thí nghiệm nhằm cho ruột của các con khỉ tiếp xúc với những nồng độ rất cao của một giống gốc vi khuẩn với sự hiện diện của virus bệnh sida được làm bất hoạt.
Hy vọng của các nhà nghiên cứu là gây nên một sự dung nạp của hệ miễn dịch, cũng sẽ bao gồm virus hiện diện. 3 tháng sau, khi 8 con khỉ, sau khi đã được tiêm chủng và được làm lây nhiễm bởi những liều mạnh virus, không con nào đã bị nhiễm siêu vi trùng, trái lại với những con khỉ không được tiêm chủng, tất cả đều bị nhiễm virus. Hơn 1 năm sau, khi 8 con khỉ một lần nữa bị làm lây nhiễm, 7 con không có một con virus nào trong máu cũng như trong niêm mạc của chúng. “ 3 năm sau, tất cả những con khỉ này vẫn luôn luôn không bị nhiễm virus và khỏe mạnh, Jean-Marie Andrieu đã xác nhận như vậy. Và con khỉ duy nhất bị nhiễm virus, là con khỉ, trong những trắc nghiệm của chúng tôi, đã không phát triển dung nạp ”.
Các nhà nghiên cứu ngay cả cho thấy trong Cell Reports rằng sự tiêm chủng này vẫn có hiệu quả đối với một giống gốc khác của virus, bằng cớ một hiệu quả trung hòa tổng quát hơn của những tế bào bị nhiễm bởi hệ miễn dịch.
CHUYỂN QUA NGƯỜI
Hai bằng sáng chế đã được trình tòa nhân danh IDR, thuộc đại học Paris-Descartes và công ty Biovaxim, được thành lập với sự hỗ trợ tài chánh của một bệnh nhân tỏ lòng biết ơn đối với GS Jean-Marie Andrieu. Giai đoạn kế tiếp, chuyển sang người, tuy nhiên sẽ dành những điều không chắc chắn bởi vì, theo GS Jean- Daniel Lelièvre, phụ trách chương trình lâm sàng tiêm chủng ở ANRS (cơ quan nghiên cứu về bệnh sida và những viêm gan siêu vi trùng, “ virus người thay đổi nhiều hơn virus ở khỉ và mặt khác, các con khỉ macaque thường đề kháng với nhiễm trùng hơn so với người ”.
Trên phương diện thực hành, ngược lại, thí nghiệm dường như có thể tiếp cận. Việc gây nên sự dung nạp với vi khuẩn Lactobacillus phantarum đã cho thấy tính vô hại của nó ở người. Sự hấp thụ bằng đường miệng VIH được làm bất hoạt, được trắc nghiệm một cách rộng rãi ở khỉ, dường như không có một nguy cơ nào, mặc dầu Chính phủ Hoa Kỳ đã chưa cho phép sử dụng như là một vaccin phòng ngừa ở người. Sau cùng, vaccin này cũng có thể dùng để điều trị ở những bệnh nhân huyết thanh dương tính, bằng cách phong bế ở những bệnh nhân này khả năng tăng sinh của virus trong các tế bào bị nhiễm, điều này mang lại một giải pháp thay thế cho liệu pháp chống virus hiện đang sử dụng. Những thử nghiệm theo chiều hướng này ở người, sẽ được bắt đầu ngay năm này trong một nước châu Âu, sẽ cho thấy một cách nhanh chóng là triễn vọng mới của vaccin có tương lai hay không.
(LE FIGARO 24/1/2013)

6/ SIDA : MỘT VACCIN ĐIỀU TRỊ MỚI
Những thử nghiệm lâm sàng của một vaccin chữa bệnh (vaccin curatif) mới sẽ bắt đầu ở Marseille trên 48 người tình nguyện huyết thanh dương tính. Vậy đó không phải là một vaccin ngăn cản mắc bệnh, mà là một loại thuốc có khả năng tăng cường phòng vệ miễn dịch. Mục tiêu là một protéine được gọi tên là Tat (thay thế cho chữ “ transactivating ). “ Ở những người huyết thanh dương tính, protéine này đóng vai trò garde du corps của những tế bào bị nhiễm siêu vi trùng, GS Erwann Loret, người khởi xướng thí nghiệm ở Hôpital de la Conception, đã giải thích như vậy. Cơ thể của những bệnh nhân này không có khả năng nhận biết nó cũng không có khả năng trung hòa nó, điều mà vaccin được thử nghiệm sẽ cho phép.”
48 bệnh nhân huyết thanh dương tính và hiện đang được điều trị bởi tam liệu pháp (trithérapie) sẽ tham gia vào công trình nghiên cứu. Những kết quả sơ khởi đầu tiên được dự kiến từ nay đến 5 tháng nữa. Chính nhà nghiên cứu vẫn tỏ ra thận trọng. “ Đó không phải là hồi kết thúc của bệnh sida. Ngay cả đó không phải là khởi đầu của sự chấm dứt của bệnh sida.” Nhưng hôm qua, vài người đã loan báo “ première mondiale ”. Đúng như vậy về protéine này, nhưng rất quá đáng khi nói đến ý niệm “ vaccin chữa lành bệnh ” GS Jean-François Delfraissy, giám đốc cơ quan nghiên cứu Pháp về bệnh sida (ANRS), nói rằng “ từ 25 đến 26 công trình thử vaccin ” hiện đang được tiến hành trên thế giới. Vả lại những thử nghiệm trước đã chịu những thất bại quan trọng.
“ Phải thận trọng khi chúng ta đưa ra những thông điệp cho bệnh nhân ”, Jean François Delfraissy đã giải thích như vậy. Ông xác nhận rằng công cụ tiêm chủng chống lại HIV chưa hiện hữu mặc dầu đã nhiều năm nghiên cứu. Hiện nay, 40% những thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên thế giới nhằm vào những vaccin điều trị chống bệnh sida, so với 60% những vaccin có mục đích phòng ngừa.
Một vaccin điều trị hiện được trắc nghiệm ở Viện y học nhiệt đới và ở bệnh viện đại học Anvers (Bỉ).
(LE SOIR 30/1/2013)

7/ THẤT BẠI NGHIÊM TRỌNG ĐỐI VỚI VACCIN CHỐNG SỐT RÉT.
MALADIE PARASITAIRE. Được trắc nghiệm trên hơn 6000 nhũ nhi, ứng viên vaccin tiến bước nhất chống lại bệnh sốt rét, RTS,S đã chỉ làm giảm 1/3 những trường hợp sốt rét.
Sau hàng trăm triệu dollars được đầu tư bởi Hãng bào chế GSK và Fondation Bill&Melina Gates, phải chăng một ngày nào đó ứng viên vaccin chống bệnh sốt rét, RTS,S sẽ được thương mại hóa ? Câu hỏi được đặt ra sau những kết quả mới, thu được trong bối cảnh của một thử nghiệm trên 6537 nhũ nhi châu Phi, tuổi từ 6 đến 12 tuần, được theo dõi trong 1 năm. Thật vậy, RTS,S đã chỉ làm giảm khoảng 30% những cơn sốt rét. Điều này rõ rệt ít hơn những tỷ lệ khoảng 50% thu được năm vừa rồi trong một thử nghiệm trên gần 6000 trẻ em tuổi từ 5 đến 17 tháng.
Thế mà, các em bé từ 6 đến 12 tuần là một một đích chiến lược. Thật vậy, trong những nước nghèo, mỗi vaccin chống sốt rét, khi được chế tạo, phải được cho cùng lúc với những vaccin nhi đồng khác. Điểm đen khác : “ Tính hiệu quả của RTS,S dường như ít mạnh hơn sau 3 đến 4 tháng ”, Pierre Druilhe, cựu giám đốc của Laboratoire de paludo-vaccinologie của Viện Pasteur, phụ trách phát triển một ứng viên vaccin cạnh tranh, đã chỉ rõ như vậy.
Chắc chắn là để nhắm ký sinh sinh trùng gây bệnh sốt rét phức tạp hơn nhiều so với một virus. Lý do tại sao hiện giờ chưa có một vaccin chống sốt rét nào cả. Ngoài ra dầu sao, một vaccin chống sốt rét sẽ được sử dụng bổ sung cho những phương pháp bảo vệ khác. Trong số những phương pháp bảo vệ là giường được trang bị bởi những chiếc mùng có tẩm thuốc diệt côn trùng. Trong thử ngiệm này, chính đó là trường hợp đối với 86% các nhũ nhi. “ Trong bối cảnh này, vậy không phải là tồi lắm khi đã thu được một hiệu quả bổ sung khoảng 30% ” Eric Mouzin, chuyên gia dịch tễ học của partenariat “ Faire reculer le paludisme” (Genève) đã phát biểu như vậy.
NHỮNG NIỀM HY VỌNG HÃO
Nhưng theo ý kiến của Bill Gates trong một thông báo, tính hiệu quả khoảng 30% này “ kém hơn điều mà chúng ta hy vọng ”, và với những lời nói có ẩn ý, vài chuyên gia không do dự khi nói “ début de la fin ” (khởi đầu của sự cáo chung) đối với RTS,S
Bởi vì theo các dữ kiện của Tổ chức y tế thế giới, để được một tỷ suất phí tổn-tính hiệu quả (rapport cout-efficacité) đủ, một vaccin chống bệnh sốt rét phải đạt một tính hiệu quả tối thiểu 50%, với một hiệu quả bảo vệ trong hơn 1 năm. Mặt khác, những vaccin cổ điển có một tính hiệu quả trên 80%. “ Theo những kết quả của thử nghiệm này, RTS,S dường như sẽ không trở thành một vaccin thường quy đối với các nhũ nhi ”, Odile Puijalon, chuyên gia bệnh sốt rét thuộc viện Pasteur đã đánh giá như vậy. “ Trong những vùng mà ký sinh trùng rất hiện diện, tính hiệu quả 30% này dẫu sao có thể có một ảnh hưởng dương tính ”, về phần mình Eric Mouzin đã đánh giá như vậy. Nhưng chỉ có những kết quả cuối cùng mới quyết định dứt khoát.
Chính vì vậy sự đánh giá quy mô lớn của RTS,S sẽ được theo đuổi cho mãi đến năm 2014, lúc đó toàn bộ các kết quả với một theo dõi 30 tháng sẽ được công bố. Ta cũng sẽ khám phá không biết tính hiệu quả của vaccin có sẽ được cải thiện bởi một liều “ booster ” hay không. Liều booster này nhằm kích thích hệ miễn dịch và được cho 18 tháng sau khi cho liều thứ ba của protocole cơ bản.
(LA RECHERCHE 1/2013)

8/ MỘT MŨI TIÊM ĐỂ CỨU CON MẮT
Première mondiale của Bỉ chống lại sự kết dính giữa thủy kính (vitré) và hoàng điểm (macula)
– Ocriplsmine là điều trị không phải ngoại khoa đầu tiên từng được ghi nhận đối với căn bệnh có thể gây cho bệnh nhân mù lòa này.
– Nhưng những kết quả vẫn còn khiêm tốn : 20% đã được chữa lành so với 10% đối với những người đã nhận một placebo.
Chính trong tuần này, ngoài những thử nghiệm lâm sàng, những bệnh nhân đầu tiên trên thế giới có thể nhận một mũi tiêm ocriplasmine, một loại thuốc mới, được phát triển ở Louvain (Bỉ), bởi công ty Thrombogenics. Trước hết thuốc này chỉ có ở Hoa kỳ, một đơn xin phép sử dụng đang được tiến hành ở châu Âu trên cơ sở cùng những kết quả.
Thuốc này, được cho là một trong những loại thuốc đắc nhất thế giới (sản phẩm, được mệnh danh là Jetrea, được bán 3000 euro chỉ với một mũi tiêm duy nhất 0,5 mg) đã được đăng ký qua một thủ tục rất nhanh sau khi những kết quả dương tính được công bố vào tháng 8 năm 2012 trong New England Journal of Medicine. Quả thật đó là điều trị đầu tiên bằng thuốc từng được đề nghị chống lại bệnh dính thể kính-điểm vàng (adhérence vitréomaculaire). Hiện nay giải pháp duy nhất mang lại cho bệnh nhân để chống lại bệnh này là phẫu thuật nhằm lấy đi thể kính (corps vitré) của mắt. Thể kính là một loại gel, bình thường trong suốt, làm đầy khoảng nằm giữa thủy tinh thể (cristallin) và võng mạc (rétine). Thể kính không cần thiết đối với thị giác và có thể được lấy đi. Bệnh dính thủy kính-điểm vàng, nếu không được điều trị, có thể dẫn đến một sự sụt giảm thị lực, và có thể gây nên những biến chứng, thậm chí những tổn hại không thể hồi phục.
Thuốc, ocriplasmine, là một protéase, nghĩa là một men (enzyme) làm vỡ những protéine gây nên sự dính tai hại này giữa thủy kính và điểm vàng, dẫn đến một sự suy sụp thị giác, thậm chí gây mù hoàn toàn. Những protéine này, fibronectine và laminine, là những thành phần tự nhiên của interface giữa thể kính và võng mạc. Ocriplasmine phân tách fibronectine, laminine và collagène góp phần vào sự kết dính này. Sản phẩm có khuynh hướng giảm cường độ trước khi thể kính tách khỏi võng mạc. Bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng bởi một nếp nhăn hay một lỗ trong hoàng điểm, một sự bong hoàng điểm hay một phù nề.
CHỈ MỘT MŨI TIÊM
Hơn một nửa triệu người trong thế giới phương Tây bị căn bệnh dính thể kính-hoàng điểm (adhérence vitréomaculaire). Thuốc điều trị, sẽ có để sử dụng trong tuần đến, được cho bằng một mũi tiêm duy nhất. Ý tưởng là hầu như thay thế phẫu thuật, hay chỉ làm dễ nó. Những kết quả đáng phấn khởi nhưng không phải nhiệm màu : trên 652 bệnh nhân bị bệnh dính thủy kính-hoàng điểm, 26% đã thấy căn bệnh được giải quyết sau 6 tháng. Một con số khiêm tốn, nhất là nếu ta biết rằng 10% những người đã nhận một placebo cũng đã được chữa lành. Tuy vậy, sự khác nhau, đó là một lãnh vực mà chỉ có ngoại khoa được sử dụng như là giải pháp, đã được đánh giá là đủ quan trọng để các chuyên gia Hoa Kỳ chấp thuận thuốc điều trị. Điều trị này cũng không phải là không có những tác dụng phụ, như chảy máu kết mạc, nhìn mờ, chảy nước mắt, phù hoàng điểm và đau mắt. Những chớp sáng (flash lumineux) và mất thị giác đã được ghi nhận. Nhưng tất cả những triệu chứng này cũng là những triệu chứng của căn bệnh được điều trị. Vậy khó quyết đoán giữa những tác dụng của bệnh và hiệu quả mà thuốc điều trị mang lại.
Thrombogenics hiện đang tiếp tục phát triển những thử nghiệm đối với những áp dụng nhãn khoa khác của sản phẩm này.
KHÔNG PHẢI LÀ ĐẮC NHẤT
3000 euros cho một mũi tiêm duy nhất ½ mg. Đắc hơn vàng… Một giá kỹ lục ?
Không hẳn như thế. Các thuốc mắc nhất thường được dành để điều trị những bệnh di truyền hiếm. Ví dụ eculizumab, kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonal) để điều trị bệnh hémoglobinurie paroxystique nocturne, phí tổn 300.000 euros mỗi….năm. Idursulfase, một thuốc điều trị của hội chứng Hunter, phí tổn 280.000 euros. Galsulfase, để điều trị hội chứng Maroteaux-Lamy, phí tổn 270.000 euros mỗi năm.
Cinryse, để điều trị những bệnh nhân bị bệnh angio-oedème héréditaire, được bán 260.000 euros. Những giá này là những giá trên thị trường Hoa Kỳ và có thể thay đổi rất nhiều tùy theo nước.
(LE SOIR 7/1/2013)

9/ ĐỂ DÀNH CÁC NOÃN BÀO ĐỂ KÉO DÀI KHẢ NĂNG SINH SẢN.
Các thầy thuốc phụ khoa ủng hộ việc tự bảo tồn vì lý do riêng.
PROCREATION. Thời kỳ có thể sinh sản (période de fertilité) của các phụ nữ càng ngày càng ngắn : tuổi trung bình của thai nghén đầu tiên là 31 tuổi, các phụ nữ trước hết dùng thời gian để học hành, bắt đầu một hoạt động nghề nghiệp và gặp “ người đàn ông của đời mình ”. Rồi khả năng sinh sản nữ giới giảm bắt đầu từ 37 tuổi, những phụ nữ có thai sau 42 tuổi là hiếm. Ngoài ra, “do chứng nghiện thuốc lá rất phổ biến ở các phụ nữ trẻ, tuổi mãn kinh cũng có khuynh hướng giảm ”, GS Jean-Philippe Wolf (Bệnh viện Cochin, Paris) đã đảm bảo như vậy. Do đó thời kỳ trong đó các phụ nữ có thể có một đứa con bi thu giảm một cách nguy hiểm.
Còn những người đàn ông, sau tuổi dậy thì có khả năng sinh sản suốt đời. Trong trường hợp hóa học liệu pháp chống ung thư, họ có thể bảo tồn tinh dịch đông lạnh trong các ngân hàng không khó khăn.
VITRIFICATION
Sự xuất hiện của một kỹ thuật mới bảo tồn các noãn bào nữ bằng một sự đông lạnh cực kỳ nhanh, vitrification, có thể làm tiến triển tình huống này và mang lại cho các phụ nữ khả năng gia tăng làm chủ năng lực sinh sản của họ bằng cách cho phép họ để dành các noãn bào.
Ở Pháp, kỹ thuật này được cho phép từ tháng 7 năm 2011 trong vài trường hợp, nhưng Collège national des gynécologues et obstériciens français vừa phát động cuộc tranh luận khi đề nghị mở rộng kỹ thuật này cho tất cả phụ nữ mong muốn. Trong một thông báo được công bố cuối tháng 12, Collège này đánh giá rằng “ Sự tự bảo tồn các noãn bào (autoconservation des ovocytes) là một tiến bộ y khoa bởi vì nó là phương pháp duy nhất điều trị chứng vô sinh (infertilité) thật sự có hiệu quả ở tuổi 40 hoặc hơn. Kỹ thuật này cho phép các cặp vợ chồng sử dụng vốn di truyền (capital génétique) của riêng họ ”
Mặc dầu kỹ thuật vitrification này tạo một bước tiến xã hội chắn chắn, tuy vậy phương pháp này không phải là không nêu lên nhiều vấn đề và, trong tất cả các trường hợp, nó sẽ không cho phép tất cả các phụ nữ sẽ nhờ đến nó để có con.
“ Vitrification các noãn bào hiện nay có thể thực hiện ở Pháp trong 3 trường hợp : trong khung cảnh hiến noãn bào (don dovocytes) ; trước điều trị có khả năng gây vô sinh ; trong một lần thử thụ thai nhân tạo cổ điển nếu đôi vợ chồng từ chối sự đông lạnh phôi thai, BS Joelle Belaish-Allart (trưởng khoa phụ sản và y khoa sinh sản, trung tâm bệnh viện, Sèves) đã giải thích như vậy ”. Ở ngoại quốc, thực hiện sự bảo tồn noãn bào vì lý đó riêng chủ yếu có thể làm ở Tây Ban Nha, Ý, ở Hoa Kỳ, ở Canada. Điều này có thể được thực hiện ở Pháp trong tương lai trong các trung tâm tư hoặc công.
Vào lúc này, cũng có thể tự bảo tồn noãn bào (autoconservation ovocytaire) với điều kiện những người phụ nữ yêu cầu điều đó, để đổi lại, tặng một phần các noãn bào của mình, với tính cách hiến nặc danh, để điều trị một phụ nữ vô sinh khác. “ Một chantage như vậy về phương diện đạo đức có vẻ không thể chấp nhận được ”, Collège des gynécologues đã xác nhận như vậy.
Sự hạ khả năng sinh sản nữ giới với tuổi tác được chứng thực một cách chính xác bởi những công trình nghiên cứu được tiến hành trong hỗ trợ y khoa sinh sản (procréation médicalememnt assistée). “ Sự sụt giảm những tỷ lệ thành công thụ thai nhân tạo (fécondation in vitro) bắt đầu ngay năm 35 tuổi và gia tăng sau 37 tuổi, BS Belaish-Allart đã nói thêm như vậy. Vậy, trong trường hợp lý tưởng, phải cho trích lấy các noãn bào của mình trước 35 tuổi hay chậm nhất lúc 37 tuổi. Thật vậy, trong những trung tâm ngoại quốc, các phụ nữ thường làm như vậy chậm hơn khi họ nhận thức rằng đồng hồ sinh học của họ đã quay và rằng họ đã chưa gặp người chồng của đời mình.”
Phải chăng ta sẽ có thể làm chậm lại mà không lo lắng tuổi của một thai nghén nhờ một kỹ thuật đông lạnh cực nhanh (vitrification) như vậy ? “ Chú ý sự an lòng giả tạo mà những noãn bào đông lạnh này mang lại, BS Belaish-Allart đã xác nhận như vậy. Một công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng nếu 8 noãn bào có chất lượng tốt được làm đông lạnh cực nhanh (vitrifié), đối với một phụ nữ dưới 39 tuổi, ta có thể hy vọng 62% những cơ may có thai chứ không phải 100%.” Ngoài ra, với tuổi tác, những nguy cơ do thai nghén gia tăng đối với người mẹ cũng như đối với đứa trẻ : sinh non, cao huyết áp, đái đường và mổ lấy thai, cũng như tỷ lệ tử vong mẹ và thai nhi.
Cho đến lứa tuổi nào ta có thể cho cấy lại (réimplanter), sau khi thụ thai, những noãn bào được làm mất đông và thụ tinh của mình ? Hiện tại không có sự nhất trí trong số những chuyên gia về tuổi giới hạn sử dụng những noãn bào của mình. 43 tuổi ? 45 tuổi ?
PHÍ TỔN
Mặt khác, ai sẽ tài trợ cho việc tự bảo tồn noãn bào vì lý do cá nhân ? Assurance-maladie trong khi đó không phải là một căn bệnh ? Chính các phụ nữ, khi đó với một nguy cơ “ thai nghén hai tốc độ ” (grossesse à deux vitesses) ?
“ Mục đích của tự bảo tồn noãn bào không phải để cho phép có thai sau thời kỳ mãn kinh. Đó là một điều trị phòng ngừa trong trường hợp sụt giảm khả năng sinh sản do tuổi tác. Ước muốn có con càng ngày càng muộn và những kỹ thuật cổ điển không cho phép chống lại sự sụt giảm khả năng sinh sản liên quan đến tuổi tác, BS Belaisch-Allart đã đảm bảo như vậy.Có nhiều phụ nữ 40 tuổi và hơn đến khám vì mất khả năng sinh sản (infertilité) và câu trả lời duy nhất mà xã hội có thể mang lại là nhờ đến hiến noãn bào (don d’ovocytes), mà ta biết những vấn đề khó khăn ở Pháp.”
Việc cho các phụ nữ biết về khả năng tự bảo tồn các noãn bào cũng sẽ cho phép họ nhận thức những giới hạn trong thời gian về khả năng sinh sản của mình và có lẽ khuyến khích họ phải dự kiến sớm hơn để có con.
(LE FIGARO 21/1/2013)

10/ LỢI ÍCH HẠN CHẾ CỦA CÁC THUỐC CHỐNG BỆNH ALZHEIMER.
Một hiệp hội những người tiêu thụ ở Hoa Kỳ chủ trương không sử dụng những thuốc chống bệnh Alzheimer nữa, vì lẽ chúng thiếu tính hiệu quả.
NEUROLOGIE. Ở Hoa Kỳ, tuần qua một lời cảnh cáo đến từ một hiệp hội những người tiêu thụ, Consumer Reports. Trong một báo cáo về các thuốc chống bệnh Alzheimer, hiệp hội này nhấn mạnh sự thiếu tính hiệu quả của những thuốc này, cho rằng chúng “ đối với phần lớn các bệnh nhân không có hiệu quả lên các triệu chứng và tiến triển của bệnh. Tuy nhiên hiệp hội những người tiêu thụ ở Hoa Kỳ đã chấp nhận rằng nhiều người có lẽ muốn thử một trong những điều trị này, nhưng trong trường hợp này yêu cầu bệnh nhân không kéo dài sự sử dụng “ nếu không một dấu hiệu cải thiện nào xuất hiện trong ba tháng đầu ”.
Ở Pháp, trận chiến đã xảy ra vào năm 2011 khi Bộ Y Tế (HAS), sau khi đã thực hiện sự tái đánh giá những thuốc điều trị trong bệnh Alzheimer, quyết định cho chúng lùi lại một nấc trong thang điểm lợi ích y tế (échelle d’intérêt médical) của những thuốc này. Thang điểm này (ASMR) gồm 5 mức. Bộ Y Tế đã cho chuyển từ mức 4 lên mức 5 những loại thuốc anticholinestérasique như donépézil (Aricept), galantamine (Reminyl), rivastigmine (Exelon) và mémantine (Ebixa), có cách tác dụng khác nhau. Theo các chuyên gia, một mức có nghĩa là một sự không có tiến bộ điều trị. Chuẩn bị chiến đấu trong các hiệp hội các bệnh nhân, xem đó là một bước đầu tiên tiến về déremboursement. Nhưng Xavier Bertrand, khi đó là Bộ trưởng y tế, nhắc lại rằng bệnh Alzheimer được đảm nhận chi phí 100% bởi bảo hiểm xã hội và sẽ vẫn như vậy.
GS Florence Pasquier, trưởng centre mémoire CHRU de Lille, công nhận điều đó : “ Đúng là không có điều trị có hiệu quả theo ý nghĩa chữa lành bệnh hay làm ngừng tiến triển của nó, nhưng các thuốc có một tính hiệu quả khiêm tốn ”. Để hỗ trợ cho lời phát biểu, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đưa ra những kết quả thuận lợi đối với điều trị của một công trình nghiên cứu được tài trợ năm qua bởi giới hữu trách y tế Anh, Medical Research Council và UK Alzheimer’ s Society. Công trình nghiên cứu “ Domino ”, được công bố vào tháng ba 2012 trong New England Journal of Medicine, GS Pasquier đã nêu lên chi tiết như vậy, đã cho thấy rằng, khi ta dùng một điều trị được sử dụng từ hơn một năm, các kết quả với các trắc nghiệm giảm một cách rất nhanh.” GS Olivier Saint-Jean, trưởng khoa bệnh người già thuộc bệnh viện châu Âu Georges- Pompidou (Paris) tỏ ra dè dặt hơn : “ Hiệu quả sau 6 tháng rất là khiêm tốn trên các triệu chứng nhận thức (symptômes cognitifs), và phải dè chừng những hiệu quả được đo lường bởi các trắc nghiệm. Sự xác định một tính thích đáng lâm sàng (được nhận thấy ở các triệu chứng) thường không chắc đúng
NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI
Đối với GS Gilles Bouvenot, chủ tịch của commission de transparence của Bộ Y tế, “ tình hình đã không thật sự tiến triển kể từ khi tái đánh giá năm 2011. Các thuốc vẫn là những điều trị hỗ trợ đối với sự xử trí y tế-xã hội. Chúng chỉ có một hiệu quả vô cùng giới hạn, trong một thời gian thu giảm và chỉ đối với những bệnh nhân mà ta không thể xác định lúc đầu.”
May mắn thay nghiên cứu đã mở ra những triễn vọng điều trị khác. Bệnh Alzheimer được biểu hiện bởi một sự giảm các protéine bất thường trong dịch não tủy, các peptide amyloide, và sự tạo thành lắng đọng của các protéine này trong não bộ, các “ mảng amyloide ” có thể thấy được với những kỹ thuật mũi nhọn chụp hình ảnh. Chính những cơ chế này mà các nhà nghiên cứu hôm nay cố dập tắt. Ngoài ra, một công trình nghiên cứu của Úc vừa cho thấy rằng số những thương tổn não bộ tương quan với mức độ nghiêm trọng của những rối loạn trí nhớ. Do đó mục tiêu là phong bế chuỗi sinh học (cascade biologique) nhờ các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux), còn ở trong giai đoạn thí nghiệm.
Đối với GS Dubois, thuộc Viện trí nhớ và bệnh Alzheimer và Viện não và tủy sống, những công trình nghiên cứu mới đây chỉ đáng phấn khởi ở những bệnh nhân ở những giai đoạn sớm nhất. Những công trình này cho thấy rằng ta có thể có được một sự biến đổi tỷ lệ peptide amyloide trong dịch não tủy và một sự giảm số lượng những thương tổn não được quan sát bằng PET scan. Một hướng biện minh cho một can thiệp càng sớm càng tốt.
Vấn đề là hôm nay ta không thể biết ai sẽ tiến triển về một bệnh Alzheimer, khi những dấu hiệu sinh học của bệnh hiện diện. Ngoài ra một công trình nghiên cứu độc đáo vừa được phát động bởi các kíp nghiên cứu của GS Dubois để tuyển mộ 400 người bắt đầu có những vấn đề về trí nhớ. Mặt khác chỉ cần có 70 đến 85 tuổi và mạnh khỏe là đủ. Công trình nghiên cứu này có thể cho phép hiểu tốt hơn những tham số nào sẽ góp phần vào sự tiến triển về phía bệnh Alzheimer. Cần thiết, nếu ta muốn tưởng ra những điều trị sớm, thậm chí phòng ngừa.
(LE FIGARO 22/1/2013)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(5/1/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s