Cấp cứu niệu sinh dục số 4 – BS Nguyễn Văn Thịnh

SUY THẬN CẤP TÍNH
(INSUFFISANCE RENALE AIGUE)

JEAN-LOUIS VINCENT
Chef du Service de Soins Intensifs
Hôpital Erasme, Bruxelles

PHẦN II

IV/ PHÒNG NGỪA SUY THẬN THỨ PHÁT CÁC CHẤT CẢN QUANG
Suy thận thứ phát tiêm thuốc cản quang (produit de contraste) thường nhất được định nghĩa như là một sự gia tăng nồng độ creatinin máu, 5 mg/dL hay một gia tăng 25% nồng độ cơ bản trong vòng 48 đến 72 giờ sau khi được cho thuốc cản quang iodé. Sinh lý bệnh lý của nó không hoàn toàn được sáng tỏ, nhưng có liên quan một thương tổn của phần ngoài của tủy thận thứ phát sự giảm lưu máu đến thận (xuất hiện trong vòng 20 phút sau khi tiêm chất cản quang), một tác dụng thẩm thấu (effet osmotique) và một độc tính trực tiếp lên ống thận.

Tỷ lệ gây bệnh rất thay đổi tùy theo profil của các bệnh nhân, đi từ 20% trong dân chúng nói chung đến 20-30% với sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ được thêm vào : một suy thận đã có trước đây, bệnh thận đái đường (néphropathie diabétique), suy tim, giảm thể tích huyết hay tình trạng bất ổn định huyết động và cho phối hợp các tác nhân hoại thận (AINS, aminoglycosides, ciclosporine).
Nhiều phương pháp phải được xét đến, đơn độc hay phối hợp :
– Phòng ngừa giảm thể tích máu và duy trì một bài niệu dồi dào, bằng cách truyền dịch, là những biện pháp duy nhất thật sự có hiệu quả. Một cách tổng quát, ta khuyến nghị tiêm truyền 1mL/kg/giờ NaCl 0,9% từ 6 đến 12 giờ trước khi thủ thuật và tiếp tục 6 đến 12 giờ sau thủ thuật. Dĩ nhiên lượng cần phải giảm trong trường hợp suy tim.
– Cho N-acétylcystéine (NAC, Lysomucil) đã được đề nghị nhưng vẫn còn bị tranh cãi : protocol hoàn chỉnh gồm có cho NAC (150 mg/kg) trong 12 đến 24 giờ trước khi cho thuốc cản quang. Một protocole nhanh gồm có cho 150 mg/kg NAC trong 30 phút ngay trước khi cho thuốc cản quang, được tiếp theo bởi cùng một liều 150 mg/kg trong 12 giờ tiếp theo.
– Cho bicarbonate dường như không có hiệu quả ;
– Hémofiltration ngay trước thủ thuật và trong những giờ sau là một thủ thuật nặng nề, được dành cho những trường hợp đặc biệt.

V/ ĐIỀU TRỊ SUY THẬN CẤP TÍNH
Sự điều chỉnh suy thận trước thận (insuffisance prérénale) đôi khi có thể nhanh, nhất là nếu có sự góp phần của tình trạng giảm thể tích (hypovolémie) ; ngược lại, sự biến mất của các hoại tử ống thận (nécrose tubulaire) chậm hơn nhiều, có thể cần nhiều tuần lễ ; sự biến mất có thể bị làm chậm lại do cho các chất độc hại thận và do sự suy dinh dưỡng.
Điều trị có thể rất khác nhau :
– Suy thận sau thận : néphrostomie hay cystostomie và lấy đi chướng ngại gây tắc ;
– Suy thận trước thận : tiêm truyền dồi dào và/hoặc tiêm truyền những tác nhân vận mạch để làm gia tăng sự tưới máu thận. Việc cho các thuốc lợi tiểu bị chống chỉ định ;
– Suy thận nói riêng : việc duy trì sự tưới máu thận vẫn có tính chất quan trọng, nhưng ít có cơ may cải thiện chức năng thận hơn. Việc cho các thuốc lợi tiểu có thể được xét đến trong mục đích duy trì sự bài niệu, sau khi làm đầy (remplissage) đủ.
Trong vài trường hợp đặc hiệu, một điều trị đặc biệt phải được áp dụng ngay khi nào có thể (ví dụ viêm vi cầu thận trên viêm mạch máu hoại tử).

VI/ VAI TRÒ CỦA CÁC THUỐC LỢI TIẾU
Furosémide là thuốc lợi tiểu thường được sử dụng nhất. Những hiệu quả lợi tiểu của nó xuất hiện sau khoảng 20 phút và kéo dài trong 2 giờ.
Liều lượng khởi đầu thường dùng là 1mg/kg. Tuy nhiên trong những tình trạng rất tăng thể tích máu (hypervolémie) và với một chức năng thận gần như bình thường, những liều nhỏ (20mg) đôi khi có thể gây nên những tác dụng lợi tiểu quan trọng. Trong trường hợp thiểu-vô niệu quan trọng, ta có thể nhờ đến những liều cao hơn : 4 lần 125, thậm chí 250mg 4 lần mỗi này hay bằng tiêm truyền liên tục 1g/24 giờ. Tiêm truyền liên tục có những tác dụng tốt hơn, nhưng có bất tiện là cần một đường tĩnh mạch dành cho mục đích này (furosémide kết bong khi tiếp xúc với nhiều chất khác).
1. CÁC CHỈ ĐỊNH
Tăng thể tích máu lưu thông (hypervolémie) liên kết với thiểu vô niệu (oligoanurie). Cho thuốc lợi tiểu trong tình trạng bình hay giảm thể tích (normo- ou hypovolémie) nói chung cũng kèm theo một tác dụng lợi tiểu, những tác dụng này làm gĩa trọng tình hình và gây nên suy thận. Trước hết phải đảm bảo một tình trạng tăng thể tích liên kết với những áp suất làm đầy(pression de remplissage) cao hay với những xoang tim giãn.
2. NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ
Sau đây là những tác dụng phụ :
– Độc với cơ quan thính giác (ototoxicité) nhất là phối hợp với những tác nhân gây nhiễm độc cho tai khác, như những aminosides ;
– Những rối loạn điện giải : giảm kali-huyết, giảm magie-huyết, nhiễm kiềm chuyển hóa ;
– Làm trầm trọng suy thận trong trường hợp giảm thể tích máu.
Tính ưu việt của bumétanide (Burinex) đối với furosémide không được chứng minh. Liều lượng khoảng 40 lần ít hơn (1mg bumétanide = 40mg furosémide).

Reference : LE MANUEL DE REANIMATION, SOINS INTENSIFS ET MEDECINE D’URGENCE, 2009

B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/1/2013)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu niệu sinh dục, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Cấp cứu niệu sinh dục số 4 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu lão khoa số 33 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: CẤP CỨU NIỆU-SINH DỤC SỐ 17 – B.S NGUYỄN VĂN THỊNH | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s