Thời sự y học số 291 – BS Nguyễn Văn Thịnh

arythmique cardiaque

CHUYÊN ĐỀ TIM MẠCH

1/ NHỮNG RỐI LOẠN NHỊP TIM : CÓ NHIỀU PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐIỀU TRỊ ĐỂ XỬ TRÍ TỐT NHỮNG LOẠN NHỊP
CARDIOLOGIE. “ Cái khó khăn chủ yếu là làm sao có thể quan sát rối loạn nhịp vào lúc mà nó xảy ra ”, GS Jean-Luc Pasquié, thầy thuốc chuyên khoa về nhịp tim (rythmologue) thuộc CHU de Montpellier đã nhấn mạnh như vậy. Một điện tâm đồ đơn giản cho phép nhận diện phần lớn các loạn nhịp, nhưng những loạn nhịp này thường nhất xảy ra một cách đoạn hồi. Vài kỹ thuật, như holter tim, ghi nhịp tim trong nhiều ngày hoặc nhiều tháng. Những trắc nghiệm lúc gắng sức (test d’effort) trong vài trường hợp cho phép làm phát khởi loạn nhịp. Điện tâm đồ có thể được bổ sung bởi một siêu âm tim để nhận diện nguồn gốc của vấn đề hay để loại bỏ khả năng của một bệnh lý tim.

Những rối loạn nhịp tim thường gặp thường nhất là hiền tính và không luôn luôn gây nên những triệu chứng. Chúng được phân chia thành hai lớp lớn tùy theo tim đập quá chậm (bradycardie) hay quá nhanh (tachycardie). Tầm quan trọng của các triệu chứng không tương quan với mức độ nghiêm trọng của loạn nhịp, nhưng chúng có thể, ngay cả khi loạn nhịp này không có nguy cơ, làm biến đổi chất lượng sống của các bệnh nhân. “ Các bệnh nhân bị rối loạn nhịp thường nhất kêu van hồi hộp, một thuật ngữ thật ra tập hợp nhiều loại cảm giác”, GS Pasquié đã nhắc lại như vậy. Tim đập quá nhanh, một cách không đều, gây nên những “coups” trong ngực và những triệu chứng này có thể kèm theo khó thở, đôi khi ngay cả khó ở (malaise) hay ngất xỉu.
Những loạn nhịp do một khiếm khuyến chức năng của tâm nhĩ là thường gặp nhất, đặc biệt là rung nhĩ (fibrillation auriculaire). Liên quan với tuổi tác, rung nhĩ bắt đầu sau 50 tuổi, đạt 5-10% những người từ 60 đến 70 tuổi và đến 20% những người trên 80 tuổi. Những phần bị thương tổn của tâm nhĩ gây nên những co bóp nhanh nhưng không hoàn toàn, điều này làm mệt tim nếu rung nhĩ kéo dài.
CHẾT ĐỘT NGỘT KHÔNG GIẢI THÍCH ĐƯỢC
Mặt khác, máu có thể ứ đọng trong các tâm nhĩ và tạo thành những cục máu đông có thể gây nên những tai biến mạch máu, nhất là trong não. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ, nhất là những người già, một điều trị kháng đông khi đó phải được thực hiện.
Những thuốc chống loạn nhịp có thể làm giảm những triệu chứng trong phần lớn các trường hợp. Trong vài trường hợp, có thể phá hủy những vùng bị thương tổn của tâm nhĩ bằng đốt điện.“ Can thiệp này với kết quả không luôn luôn khẳng định, là nặng nề và trong 3 đến 5% các trường hợp, gây nên những biến chứng đôi khi trầm trọng, GS Antoine Leenhardt, thầy thuốc chuyên khoa nhịp tim (cardiologue rythmologue) thuộc bệnh viện Bichat (Paris) đã xác nhận như vậy. Can thiệp này chỉ được thực hiện trong những trung tâm chuyên khoa.”
Loại can thiệp này cũng được xét đến đứng trước tim nhịp nhanh bộ nối (tachycardie jonctionnelle), khi những triệu chứng gây khó chịu và không được kiểm soát tốt bởi những phương thức khác. Một khiếm khuyết dẫn truyền giữa các tâm nhĩ và tâm thất làm tim gia tốc đột ngột và mạnh. Tim nhịp nhanh cũng biến mất một cách đột ngột như khi xuất hiện mà không gây hậu quả.
Các tâm thất cũng là nguồn gốc của những rối loạn nhịp. Các ngoại tâm thu (extrasystoles), tương ứng với một co bóp sớm hay bổ sung của một tâm thất, là thường gặp nhất. Các ngoại tâm thu cho cảm giác rằng tim đã “ manqué le coup ” và có tính chất hiền tính nếu không có bệnh tim kèm theo. Tim nhịp nhanh thất (tachycardie ventriculaire) và rung thất (fibrillation ventriculaire) là hai rối loạn nhịp nghiêm trọng nhất. Khi các tâm thất co bóp quá nhanh hay khi các xung động thất thường (impulsions erratiques) ngăn cản chúng co bóp một cách hoàn toàn, chúng không còn có thể đảm bảo sự lưu thông máu, điều này có thể gây tử vong.
Những loạn nhịp này thường kèm theo một nhồi máu cơ tim và nói chung liên kết với bệnh động mạch vành sau tuổi 40 nhưng cũng có thể xảy ra ở những người trẻ tuổi hơn, gây chết đột ngột, thường vẫn không giải thích được và nguồn gốc có thể là gia đình. Tim nhịp nhanh thất có thể được điều trị bằng thuốc, bằng triệt phá những vùng bị thương tổn hay bằng thiết đặt một implant. Rung thất (fibrillation ventriculaire), gây tử vong nếu không được làm dừng lại bằng một sốc điện. Sốc điện (choc électrique) này buộc các tế bào tim lấy lại một nhịp đập đồng bộ (un battement synchronisé), có thể được phòng ngừa bằng một implant tim.
Các nhịp tim dầu có tiềm năng nghiêm trọng hay chỉ gây khó chịu đều có thể điều trị. Vậy điều hữu ích là cần phải thăm khám ngay khi những cảm giác hồi hộp, đập quá nhanh hay không đều kéo dài nhiều phút và xảy ra một cách đều đặn.
(LE FIGARO 17/12/2012)

2/ NHỮNG IMPLANT TIM CÀNG NGÀY CÀNG KỸ THUẬT
Vào năm 2011, 60.000 máy tạo nhịp tim (stimulateur cardiaque) đã được cấy để kiểm soát những trái tim đập quá chậm, xảy ra ngày càng nhiều bởi vì tim nhịp chậm là một dấu hiệu lão hóa của tim. Những implant này đã có từ những năm 1950 và cho phép gia tốc nhịp tim khi nhịp xuống quá thấp, điều này có thể gây ngất (syncope).
Từ những năm 1980, cũng có những défibrillateur implantable gây sốc điện để khởi phát trở lại những nhịp đập bình thường khi nhịp tim trở nên quá nhanh hay bắt đầu trở thành rung thất (fibrillation ventriculaire), nhờ thế tránh chết đột ngột. Năm qua, 9000 máy phá rung (défibrillateur) được cấy (implanté) ở Pháp. Vài trong số những implant này, những máy tạo nhịp (stimulateur) hay máy phá rung (défibrillateur) từ nay cũng có khả năng tái đồng bộ (resynchroniser) sự kết hợp (enchainement) của những xung động điện khác nhau giữa các buồng tim để đảm bảo một sự co bóp có hiệu quả trong vài trường hợp suy tim.
BATTERIE NON RECHARGEABLE
Các implant tim gồm có một hay nhiều sonde được đặt trong tim và một boitier để dẫn đường các xung động điện. Boitier này, từ nay được thu nhỏ lại, chứa một batterie, những yếu tố đo nhịp tim và những thành phần điện tử có thể định chương trình (programmable), có khả năng quản lý những xung động điện cần được phát ra. Càng ngày càng có nhiều modèle có những yếu tố khác để ghi nhịp tim và truyền những thông tin đi xa, xuyên qua da. Batterie không rechargeable và boitier phải được thay sau 6 đến 10 năm. Đó cũng thường là cơ hội để kiểm tra xem các sonde có cũng cần phải thay đổi hay không.
“ Sự thiết đặt pacemaker được thực hiện dưới gây mê tổng quát, và, xuyên qua một đường xẻ dưới xương đòn, các sonde được đưa vào qua tĩnh mạch đến tận tim, GS Philippe Mabo, thầy thuốc chuyên khoa tim của CHU de Rennes đã giải thích như vậy. Còn boitier được đặt dưới da hay dưới cơ khi bệnh nhân hơi gầy.” Sự điều chỉnh các tham số được thực hiện trong những lần kiểm tra đầu tiên trong hai tháng sau khi đặt. Thực hiện kiểm tra mỗi sáu tháng đối với các máy phá rung (défibrillateur) và mỗi năm đối với các máy tạo nhịp (stimulateur).
Can thiệp bao hàm nhũng nguy cơ và những biến chứng có thể xảy ra. Thí dụ có thể rằng các vi khuẩn được mang bởi dòng máu đến bám vào các sonde trong tim và buộc thầy thuốc khoa ngoại phải lấy chúng đi, điều này đặc biệt khó khăn nếu các sonde đã được đặt lâu trước đó.
“Điều rất quan trọng là bệnh nhân phải hiểu rõ vai trò của máy tạo nhịp của mình và học sống tốt với nó, vì trong đa số các trường hợp, bệnh nhân sẽ giữ nó suốt đời mình, GS Mabo đã nhấn mạnh như vậy. Cần một sự theo dõi tối thiểu để kiểm tra rằng máy tạo nhịp làm tròn những chức năng của nó. Đó là không quên sự hiện diện của nó. ” Mặt khác, vài implant mới đây cho phép các bệnh nhân truyền một cách đều đặn cho thầy thuốc của mình những thông tin thu được từ boitier, với những kết quả đầy hứa hẹn theo một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi kíp của GS Mabo.
(LE FIGARO17/12/2012)

3/ ĐIỀU TRA GIA ĐÌNH ĐỂ CỨU MẠNG
“ Nhiều trường hợp tử vong có thể tránh được chỉ nhờ một cuộc điều tra gia đình đứng trước mỗi trường hợp chết đột ngột không thể giải thích trước 40 tuổi ”, GS Vincent Probst, trưởng centre de référence của những bệnh nhịp tim thuộc CHU de Nantes, đã nhắc lại như vậy.
Ở Pháp, phần lớn trong số 60.000 trường hợp chết đột ngột hàng năm vẫn không giải thích được. Lý do được nêu lên thường là vỡ phình mạch não (anévrysme cérébral), không thể được xác nhận nếu không giải phẫu tử thi. Trong nhiều trường hợp, khi chết xảy ra trước 40 tuổi, có thể đó là một rối loạn nhịp di truyền. “ Nhưng tôi còn thấy rất thường những rối loạn như vậy được phát hiện sau nhiều trường hợp chết đột ngột trong gia đình, GS Probst lấy làm tiếc như vậy. Một điều tra gia đình phải được thực hiện đối với mọi trường hợp chết đột ngột không giải thích được ở một người trẻ.” Mặt khác, kíp của ông vừa phát động một thử nghiệm chương trình, cộng tác với Samu, nhằm tiếp xúc một cách hệ thống các gia đình để đề nghị với họ một phân tich di truyền (analyse génétique). “ Biện pháp không phải luôn dễ dàng được chấp nhận đối với các người thân vì họ cảm thấy khỏe mạnh và có thể cảm thấy lội lỗi là đã truyền một bệnh lý như vậy, nhưng các mạng người có thể được của sống ”, ông đã nhấn mạnh như vậy. Khi không được điều trị, hội chứng QT dài gây nên tử vong trong 20% các trường hợp trước 20 tuổi, nhưng nếu được điều trị đúng đắn, tỷ lệ tử vong sụt xuống dưới 1%. Phần lớn các loạn nhịp di truyền có thể được điều trị bằng thuốc hay nhờ một implant tim. “ Dĩ nhiên, rất hiếm khi một défibrillateur implantable khởi động ở một trong những bệnh nhân này, nhưng nếu khởi động nó làm cho bệnh nhân sống 40 năm ”, GS Probst đã lấy làm phấn khởi như vậy.
Những rối loạn nhịp di truyền thường gặp nhất là hội chứng QT dài (một trên 2500 người), hội chứng Brugada, dysplasie arythmogène du ventricule droit (một trên 5000 người). Tachycardie ventriculaire catécholergique và hội chứng khử cực sớm (syndrome de repolarisation précoce) hiếm gặp hơn. Những loạn nhịp này thường được chẩn đoán trong thời thơ ấu hay hầu như luôn luôn trước 40 tuổi, hoặc nhân một tai biến nghiêm trọng, hoặc khi đọc một điện tâm đồ thường quy cho một kết quả bất thường hoặc sau một điều tra gia đình. 3 centre de référence, Lyon, Nantes, Paris chuyên môn trong việc nhận diện những loạn nhịp hiếm hoi này. “ Điện tâm đồ thường cho phép chẩn đoán, nhưng, trong vài trường hợp, điện tâm đồ hoàn toàn bình thường hay có những bất thường khó phân biệt được ”, GS Probst đã nhấn mạnh như vậy.
Nhiều trường hợp động kinh ở các trẻ em và các thiếu niên thật ra là những rối loạn nhịp gây nên ngất xỉu, với những cử động đột ngột của các chi. Động kinh chỉ có thể phát hiện bằng điện não đồ vào lúc cơn co giật và điện não đồ có thể bình thường đối với thầy thuốc thần kinh. Chỉ có sự không hữu hiệu của điều trị chống động kinh hay sự giám định của một thầy thuốc chuyên về nhịp tim sau đó mới có thể dẫn đến chẩn đoán đúng đắn. Cũng vậy, đứng trước một trường hợp ngất lúc gắng sức của một bệnh nhân trẻ, cần phải thăm khám thầy thuốc chuyên về tim và cần thực hiện một épreuve d’effort.
(LE FIGARO 17/12/2012)

4/ PHÁP : NHỒI MÁU CƠ TIM GIẢM Ở ĐÀN ÔNG
Ngược lại, những trường hợp nhồi máu cơ tim gia tăng ở những phụ nữ trẻ do nghiện thuốc lá.
CARDIOLGIE. Đó là một tin tốt lành không những đối với những kẻ đặc biệt đã ra sức trong công tác phòng ngừa, mà còn đối với tất cả những người Pháp. Số những người phải nhập viện vì nhồi máu cơ tim ở Pháp đã giảm một cách đều đặn trong những năm qua, giữa 2002 và 2008. Ngoại trừ, đối với những phụ nữ từ 35 đến 54 tuổi, nhồi máu cơ tim đang gia tăng rõ rệt từ vài năm nay. Những dữ kiện này, được công bố 6/11 trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire, cho thấy rằng việc xử trí các yếu tố nguy cơ đang đi theo chiều hướng tốt và rằng từ nay phải quan tâm các phụ nữ, vốn thường bị loại trừ khỏi công tác điều tra phát hiện và phòng ngừa nguy cơ động mạch vành.
Đối với tỷ lệ tử vong do nhồi máu chứ không phải chỉ những trường hợp nhập viện, khuynh hướng cũng là giảm xuống từ khoảng hai thập niên nay. Sự giảm tỷ lệ tử vong này không thể chỉ quy cho công tác phòng ngừa, mà còn liên hệ với sự cải thiện điều trị của nhồi máu, với thrombolyse (dùng thuốc làm tan một cục máu đông gây tắc nghẽn một động mạch vành của tim) hay angioplastie (khai thông lòng động mạch bị tắc bằng phương pháp cơ học) cấp cứu.
Sự kiện quan tâm đến tiến triển của số những trường hợp nhồi máu trong thời gian (chứ không chỉ tỷ lệ tử vong) cho phép kiểm tra tính thích đáng của những chiến lược phòng ngừa, bao gồm chống nghiện thuốc lá, bệnh béo phì, cao huyết áp, bệnh đái đường, tăng cholestérol-huyết. Để đo lường tiến triển của nhồi máu cơ tim, các thầy thuốc của Institut de veille sanitaire, của Caisse nationale d’assurance-maladie và của khoa tim thuộc bệnh viện Georges-Pompidou đã khảo sát trên cơ sở các dữ kiện được đưa ra bởi Agence technique de l’information sur l’hospitalisation đối với những năm 2002-2008. Đối với năm 2008, 56.102 người đã được nhập viện ở Pháp vì một nhồi máu cơ tim. Toàn bộ, 66% trong số những người này là những người đàn ông, 33% là các phụ nữ. Những người dưới 65 tuổi chiếm 40,5% các trường hợp và những người từ 65-84 tuổi, chiếm 44,5% các trường hợp. Tuổi trung bình vào lúc nhập viện là 68,2 tuổi, nhưng ở đàn ông thấp hơn ( 64,5 tuổi) so với các phụ nữ (75,5 tuổi).
THUỐC LÁ, ĐÁI ĐƯỜNG VÀ BÉO PHÌ ĐỀU CHỊU PHẦN TRÁCH NHIỆM
Ngoài những dữ kiện cho thấy một sự nổi trội nam giới rất rõ rệt, chính sự tiến triển với thời gian là đáng chú ý nhất : giữa năm 2002 và 2008, số những người được nhập viện vì nhồi máu cơ tim đã giảm 7,4%. Đặc biệt số những trường hợp đã giảm một cách rõ rệt ở những người trên 65 tuổi (-13,6%) nhưng đã gia tăng ở những người trẻ tuổi nhất (+3,6%). Nhưng nếu ta xét đến sự gia tăng dân số và sự lão hóa dân số, tỷ lệ những người được nhập viện vì nhồi máu đã giảm 17,2% trong thời kỳ này.
Sự so sánh giữa đàn ông và đàn bà, từ năm 2002 đến 2008, mang lại những yếu tố đáng lo ngại đối với các phụ nữ. Đối với nam giới, sự hạ các trường hợp nhập viện vì nhồi máu cơ tim liên quan đến mọi lứa tuổi nhưng rõ rệt nhất đối với những người trên 65 tuổi. Ở các phụ nữ, ta quan sát thấy một sự gia tăng rõ rệt ở những người dưới 65 tuổi, nhưng một sự giảm ở những người lớn tuổi nhất. Làm sao giải thích tiến triển thuận lợi đối với đàn ông nhưng không thuận lợi đối với đàn bà ? “ Những công trình nghiên cứu được thực hiện nhiều lần bởi registres Monica đã cho phép quan sát một sự giảm tỷ lệ lưu hành của bệnh cao huyết áp và tăng cholestérol-huyết, các tác giả của điều tra đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng 3 yếu tố nguy cơ mạch máu đã có một tiến triển đáng quan ngại ở Pháp trong thập niên qua và có thể chịu trách nhiệm sự gia tăng của những trường hợp nhồi máu cơ tim ở các phụ nữ trẻ : thuốc lá, bệnh đái đường và chứng béo phì.”
Mặt khác, nếu những dữ kiện về tỷ lệ tử vong sau nhồi máu cơ tim cho thấy một tiến triển thuận lợi, giữa 2002 và 2008, với một sự hạ khoảng 8 đến 10%, thì tỷ lệ tử vong của các phụ nữ sau một nhồi máu là quan trọng hơn tỷ lệ tử vong của đàn ông. “ Sự giảm những trường hợp nhập viện vì nhồi máu ở đàn ông liên quan đến, ngoài những yếu tố nguy cơ khác, sự giảm chứng nghiện thuốc lá ở họ (65% người hút năm 1965, 30% hôm nay), GS Daniel Thomas (bệnh viện Pitié-Salpetrière) đã đảm bảo như vậy. Sự gia tăng chứng nghiện thuốc lá ở các phụ nữ (10% năm 1965, 30% hôm nay) góp phần giải thích sự tăng cao của những trường hợp nhồi máu cơ tim, mặc dầu những yếu tố khác có lẽ cũng có liên hệ. Dầu thuộc giới tính nào, 80% những trường hợp nhồi máu cơ tim trước 50 tuổi có liên quan với thuốc lá. Những yếu tố khác, như chứng tăng cholestérol huyết gia đình, cao huyết áp nặng, bệnh đái đường, thứ yếu hơn trong lứa tuổi này.”
(LE FIGARO 6/11/2012)

5/ NHỒI MÁU CƠ TIM CÓ THỂ CÓ NGUỒN GỐC DI TRUYỀN
CARDIOLOGIE. “ Gần như mỗi ngày, chúng tôi có một người bệnh bị nhồi máu cơ tim trong khi ông ta không hút thuốc, không bị cao huyết áp, cũng chẳng bị đái đường. Trong trường hợp này, lời giải thích duy nhất là di truyền (hérédité) ”, GS Michel Gallnier, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc CHU de Toulouse đã kể lại như vậy. Cứ 10 bệnh nhân được hỏi thì 9 sẽ kể lại rằng, trong gia đình, những người đàn ông có tim dễ bệnh. Tố bẩm di truyền (préposition génétique) này đối với động mạch vành được các thầy thuốc chuyên khoa tim biết rõ, nhưng gène chịu trách nhiệm đã không được khám phá. Chính hôm nay điều này đã được thực hiện. Hay hầu như vậy. Một kíp các nhà nghiên cứu quốc tế có thể đã khám phá sự biến thiên di truyền (variation génétique) chịu trách nhiệm tính dễ thương tổn (fragilité) này của các động mạch, được truyền từ cha đến con. Sự biến thiên di truyền này được liên kết với một haplotype hiện diện trên nhiễm sắc thế Y, theo một công trình nghiên cứu được công bố trong The Lancet số 9/2/2012.
HAPLOTYPE.
Haplotype là một nhóm các allèle gồm những gène khác nhau nằm trên cùng một nhiễm sắc thể và thường được truyền cùng với nhau. Phát xuất từ điều chứng thực rằng những người đàn ông thường bị bệnh động mạch vành hơn các phụ nữ, các nhà nghiên cứu đã thăm dò vai trò của nhiễm sắc thể Y trong bệnh lý này. Trong lúc khảo sát nhiễm sắc thể Y của 3233 người đàn ông người Anh, các nhà nghiên cứu đã nhận diện 2 haplotype, trong đó một làm gia tăng một nửa nguy cơ bệnh tim, độc lập với những yếu tố nguy cơ được biết như cholestérol, thuốc lá, bệnh đái đường hay cao huyết áp.
Khám phá này như thế có thể giải thích tại sao vài người hút thuốc, coi thường cholestérol của mình và vẫn sống không có vấn đề tim, trong khi những người khác, tiết độ hơn, lại bị nhồi máu cơ tim. Khám phá này, theo vài thầy thuốc chuyên khoa tim giải thích tại sao các phụ nữ có tim ít bị bệnh hơn so với đàn ông. Hay ít nhất tại sao các phụ nữ bị nhồi máu cơ tim 10 năm muộn hơn so với đàn ông. “ Từ lâu chúng ta đã hằng tưởng rằng các phụ nữ được bảo vệ bởi các oestrogène, nhưng vài công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng không phải là như vậy, GS Gabriel Steg, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện Bichat (Paris) đã chứng thực như vậy. Nhìn toàn bộ các phụ nữ ít bị nhồi máu cơ tim hơn đàn ông.”
Phải chăng điều đó có nghĩa là các phụ nữ tránh khỏi những yếu tố di truyền trong bệnh tim ? GS Nicolas Danchin, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou (Paris), vẫn tỏ ra thận trọng : “ Không nên nghĩ rằng tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) chỉ liên quan đến những người đàn ông. Nếu trong gia đình của quý vị có một người cha hoặc mẹ đã từng bị một tai biến tim trước 55 tuổi đối với một người đàn ông và 65 tuổi đối với một phụ nữ, quý vị thuộc diện có nguy cơ.”
Còn đối với những người đàn ông, mặc dầu không có những gène tạo thuận lợi cho bệnh động mạch vành, nhưng điều đó không có nghĩa là trái tim không phải sợ gì hết. Những yếu tố nguy cơ đã được biết như thuốc lá, cholestérol xấu, bệnh béo phì, đái đường, cao huyết áp hay kể cả tình trạng nhàn rổi không hoạt động vẫn là những kẻ thù chủ yếu của trái tim. Chỉ riêng nồng độ lipides trong máu và chứng nghiện thuốc lá cũng đã gây 2/3 những trường hợp nhồi máu trên thế giới. Đối với các thầy thuốc chuyên khoa tim, đó không phải là lúc giảm cảnh giác đứng trước những mối nguy hiểm này. “ Thật vậy các haplotype tác động như những tác nhân phóng đại (amplificateur) của những yếu tố nguy cơ ”, GS Galinier đã gợi ý như vậy.
Chính vì vậy cần báo động và theo dõi những người đàn ông mang những gène này. “ Chúng ta không được lơi lỏng với những người đàn ông được bảo vệ (không có haplotype) nhưng trái lại chúng ta đòi hỏi hơn với những người có tố bẩm đối với các bệnh động mạch vành, GS Jean-Claude Deharo, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc hôpital de la Timone (Marseille) đã giải thích như vậy. Ngay trước khi xuất hiện mọi tai biến về tim, chúng ta có thể xét đến việc làm hạ nồng độ cholestréol ở những người đàn ông này xuống những mức thường được đòi hỏi sau khi bị nhồi máu cơ tim.”
NHỮNG TRẮC NGHIỆM DI TRUYỀN (TESTS GENETIQUES)
Để có thể phân biệt thái độ điều trị tùy theo profil di truyền, phải có khả năng phát triển những trắc nghiệm di truyền. Chúng ta vẫn còn lâu mới đạt được điều đó. Các tác giả của công trình nghiên cứu còn phải xác định một cách chính xác gène hay các gène chịu trách nhiệm. Ngược lại họ đã có một giả thuyết nghiêm chỉnh về cách tác dụng của các gène này. Chúng tác động bằng cách biến đổi hệ miễn dịch của người đàn ông và bằng cách kích hoạt quá trình viêm, được biết là tác động lên thành động mạch làm thoái hóa nó và tạo điều kiện cho sự phát triển xơ vữa động mạch (athérosclérose). “ Công trình nghiên cứu này mở ra những triễn vọng, nếu chúng được xác nhận, có thể dẫn đến những hướng trị liệu mới mà chúng ta rất cần ”, GS Steg lấy làm hớn hở như vậy.
NHỮNG BỆNH LÝ TIM DO DI TRUYỀN
“ Trong trường hợp chết đột ngột ở một người trẻ, trước 40 tuổi, điều cần thiết là phải thực hiện một nghiên cứu trong gia đình ”, GS Antoine Leenhardt thuộc centre de référence des maladies héréditaires, bệnh viện Lariboisière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Bởi vì trong phần lớn các trường hợp, chúng được gây nên bởi những bệnh tim di truyền (maladie cardiaque génétique). “ Thế mà thường thường, ta chỉ khám phá bệnh vào lúc chết đột ngột, Antoine Leenhardt đã nhấn mạnh như vậy. Điển hình đó là trường hợp của cầu thủ bóng đá gục ngã trên sân cỏ.” Những bệnh tim di truyền thường gặp nhất được quy tụ, một mặt, thành những bệnh cơ tim (cardiomyopathie) và mặt khác, những rối loạn nhịp thuần điện (troubles du rythme purement électriques). Hơn 200.000 người đã bị như thế.
(LE FIGARO 12/3/2012)

6/ TIM PHỤ NỮ NHẠY CẢM HƠN ĐỐI VỚI STRESS
Sự tưới máu tim vẫn không thay đổi sau một xúc cảm mạnh, điều này giải thích tại sao nguy cơ nhồi máu cơ tim gia tăng ở phụ nữ.
CARDIOLOGIE. Là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở Pháp, các bệnh động mạch vành không gây bệnh giống nhau tùy theo giới tính. Trong khi tần số những tai biến tim ở đàn ông vẫn quan trọng hơn ở phụ nữ, thì phụ nữ lại có nhiều nguy cơ hơn bị những triệu chứng malaise cardiaque sau một xúc cảm mạnh.
Trong khi cố tìm hiểu những lý do của sự cách biệt này, các nhà nghiên cứu của đại học y khoa Pennsylvanie (Hoa Kỳ) đã khám phá rằng lưu lượng máu trong các động mạch vành gia tăng ở những người đàn ông bị stress, nhưng lưu lượng này vẫn không thay đổi ở các phụ nữ, điều này có thể giải thích tình trạng mỏng manh lớn nhất của tim phụ nữ khi bị xúc cảm mạnh.
ĐỘ DẪN MÁU CỦA CÁC ĐỘNG MẠCH.
Thí nghiệm đã được tiến hành ở 17 người đàn ông và phụ nữ có sức khỏe tốt. Truóc hết nhịp tim và huyết áp của mỗi người tình nguyện đã được đo, cũng như “ độ dẫn máu ” (conductance) của các động mạch vành (cung cấp tim máu được oxy hóa) được đánh giá bằng một Doppler. Các “ cobaye ” sau đó phải dùng trí làm những bài tính trong 3 phút. Để gây căng thẳng thêm, các nhà khoa học đã quấy nhiễu các người tình nguyện, bằng cách yêu cầu họ trả lời nhanh hơn hay cho một cách sai lầm rằng những bài tính của họ là sai.
Sau thí nghiệm, các trị số của nhịp tim, huyết áp và độ dẫn máu của các động mạch được đo lại. Kết quả : lúc nghỉ ngơi, đàn ông và phụ nữ có những kết quả gần như tương tự nhau. Sau trắc nghiệm, nhịp tim và huyết áp của họ đã gia tăng trong cùng tỷ lệ. Nhưng trong khi đàn ông được một sự tưới máu tim tốt hơn, thì độ dẫn máu (conductance) của các động mạch phụ nữ vẫn không thay đổi.
“ Điều này cho phép hiểu lý do tại sao trên bình diện tim các phụ nữ phản ứng ít tốt hơn đối với những biến cố gây căng thẳng như việc bị mất một người chồng ”, người phụ trách công trình nghiên cứu, được trình bày ở Congrès de biologie expérimentale, được tổ chức ở San Diego (Californie) bởi Hiệp hội sinh lý học Hoa Kỳ, đã nhận xét như vậy.
“ Mặc dầu công trình nghiên cứu được thực hiện trên một số lượng nhỏ những người tình nguyện, nhưng nghiên cứu này mang lại một hướng suy nghĩ rất thú vị, GS Claire Mounier-Vehier, phó chủ tịch của Fédération française de cardiologie đã bình luận như vậy. Một vấn đề cơ cấu có thể là nguồn gốc của sự khác nhau này về phản ứng đối với stress. Những thay đổi về hormone mà các phụ nữ đã trải qua trong suốt cuộc đời mình có lẽ là một trong những giải thích. Các động mạch của các phụ nữ già nhanh hơn các động mạch của đàn ông : ở tuổi mãn kinh các động mạch của họ cứng đi và dày lên.”
Một cách tổng quát hơn, công trình nghiên cứu này cũng lại nhấn mạnh đến những tác dụng âm tình của tình trạng stress đối với sức khỏe
(LE FIGARO 30/4/2012)

7/ CÁC HORMONE KHÔNG BẢO VỆ PHỤ NỮ
Theo công trình nghiên cứu này, một điều trị bằng hormone sau 60 tuổi gây nguy cơ.
Đó là một điều chứng thực : các phụ nữ ít bị các bệnh tim hơn, nhưng sự khác nhau này giảm đi khi lớn tuổi, sau thời kỳ mãn kinh. Chính vì vậy, từ lâu ta đã hằng tưởng rằng sự miễn dịch này, rất tương đối, của các phụ nữ được quy cho một vai trò bảo vệ của các kích thích tố œstrogène đối với xơ vữa động mạch (athérosclérose). Œstrogène được sản xuất với số lượng ít hơn sau thời kỳ mãn kinh, sau khi các buồng trứng ngừng hoạt động.
Trái lại, theo một công trình nghiên cứu, được công bố bởi Journal of American Heart Association, thì dường như các phụ nữ trên 65 tuổi có một nồng độ kích thích tố oestrogène tăng cao trong máu, có nhiều nguy cơ hơn bị nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Những dữ kiện mới này xuất phát từ một công trình nghiên cứu trên 6.000 phụ nữ, được tiến hành bởi một kíp nghiên cứu của Inserm. Cho đến hôm nay, không có một công trình nghiên cứu nào đã có thể quy một cách rõ ràng các kích thích tố sinh dục (hormones sexuelles) trong máu, được sản xuất một cách tự nhiên bởi cơ thể, cho nguy cơ tim mạch ở các phụ nữ mãn kinh. Ngay cả những công trình nghiên cứu mới đây về điều trị khích thích tố của thời kỳ mãn kinh đã cho thấy không có tác dụng phòng ngừa của việc cho oestrogène ở những phụ nữ mãn kinh.
“ Ta đã quan sát thấy rằng những phụ nữ phát triển một biến cố tim mạch, như nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não, có một nồng độ tăng cao oestradiol (dạng hoạt tính của hormone) ”, GS Scarabin đã giải thích như vậy. Nguy cơ được nhân lên gấp hai ở những phụ nữ có những nồng độ oestradiol tăng cao.
Nguy cơ này độc lập với những yếu tố nguy cơ khác như thể trọng, cao huyết áp, thặng dư cholestréol, bệnh đái đường hay việc hút thuốc. “ Điều này chứng tỏ rằng đó là một yếu tố nguy cơ mới.” Đối với B Scarabin, tốt hơn là tránh cho một điều trị hormone để điều trị mãn kinh, sau 60-65 tuổi.
(LE SOIR 14/6/2012)

8/ CHẤM DỨT HÀ HƠI THỔI NGẠT TRONG NGỪNG TIM
Trong phần lớn các trường hợp chỉ cần xoa bóp tim có thể đủ.
URGENCE. Ở Pháp, 30.000 đến 50.000 trường hợp chết đột ngột xảy ra mỗi năm, thường ở nhà nạn nhân. Trong phần lớn các trường hợp, vô ích, và ngay cả có hại nếu thực hiện hà hơi thổi ngạt (bouche-à-bouche) ở một bệnh nhân bị ngừng tim. Đó là điều vừa được chứng minh bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ. Thật vậy tỷ lệ sống sót của các bệnh nhân đã chuyển từ 18% lên 34% từ khi ta không còn hà hơi thổi ngạt cho bệnh nhân nữa. Ngay cả khi ngừng tim, sự hô hấp bị ngừng lại.
Từ năm 2003, tiểu bang Arizona khuyến nghị các nhân chứng đừng hà hơi thổi ngạt nữa mà chỉ cần ép tim để làm máu lưu thông. Trừ trường hợp chết đuối, điện giật và khi đó là một đứa bé. Trong ba tình huống này sự thông khí theo nhịp 30 ép ngực (compression thoracique) luân phiên với 2 lần thổi khí vào (insufflation d’air) qua miệng vẫn được khuyến nghị.
Những kết quả của công trình nghiên cứu, vừa được công bố on line trong tạp chí của American College of Cardiology, liên quan đến thời kỳ 2004-2010. Những kết quả này xác nhận những ưu điểm của phương pháp không hà hơi thổi ngạt (méthode sans bouche-à-bouche), được chủ trương năm trước bởi GS Gordon Ewy, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc đại học Arizona. Còn được gọi là hồi sinh tim-não (réanimation cardio-cérébrale), phương pháp này, mà mục đích duy nhất là làm máu lưu thông cho đến tim và não, dựa trên nhưng cơ sở sinh lý vững chắc. Bởi vì, khi tim ngừng đập một cách đột ngột, nói chung máu chứa khá đủ oxygène để vẫn còn cung cấp các cơ quan trong 10 đến 15 phút. Tuy nhiên với điều kiện làm máu lưu thông nhờ xoa bóp tim (massage cardiaque).
Để thực hiện những ép ngực phải quỳ xuống bên cạnh nạn nhân, được đặt nằm dài trên một mặt phẳng cứng và, với cẳng tay duỗi thẳng, hãy đặt gót của các bàn tay (chồng lên nhau) ở trung tâm của ngực nạn nhân. Sau đó phải đè đủ mạnh để xương ức được ấn xuống từ 4 đến 5 cm, theo một nhịp 100 đè ép mỗi phút. “ Hàng trăm mạng người đã được cứu sống ở Wisconsin, ở Arizona và ở Texas từ khi hồi sinh tim-não đã được tuân theo ”, GS Ewy, với các con số hỗ trợ, đã lấy làm sung sướng như vậy.
(LE FIGARO 11/12/2012)

9/ CHOCOLAT TỐT CHO TIM
Tốt nhất là chọn chocolat đen với ít đường và mỡ

                                    Những điểm chủ yếu :

        – Một quan sát được thực hiện trên 100.000 người tiêu thụ chứng tỏ rằng nguy cơ tim mạch được giảm 37% đối với những người ăn chocolat.
        – Nhưng ta chưa biết nguyên nhân chính xác.
        – Dầu sao tốt nhất là hạn chế, bởi vì đường và mỡ hiện diện trong chocolat có thể hủy bỏ lợi ích này.

Đi mua chocolat mỗi ngày vừa đạp xe đạp cật lực đồng thời nghe những lời khuyên tiết thực của các… con mình : đây là tóm lược độc đáo những lời khuyến nghị chủ yếu từ một loạt công trình nghiên cứu về những phương cách cải thiện về mặt phòng ngừa sức khỏe của mình được trình bày tại hội nghị tim châu Âu, quy tụ 40.000 chuyên gia. Từ lâu có sự tranh cãi về tác dụng bảo vệ của việc tiêu thụ hàng ngày chocolat lên sức khỏe tim mạch : BS Oscar Franco, thuộc Đại học Cambridge, đã tập hợp những công trình nghiên cứu khác nhau trên thế giới để đi đến kết luận rằng ăn chocolat có thể làm giảm 37% nguy cơ tim mạch nói chung và 29% nguy cơ tai biến mạch máu não. Thế mà điều được xác lập là sự thay đổi thói quen ăn uống và lối sống (nhàn rổi không hoạt động quá mức, không tập thể thao, nghiện thuốc lá) là yếu tố chủ yếu để làm giảm ảnh hưởng quan trọng của dọa nhồi máu cơ tim, căn bệnh giết chết 24 triệu người mỗi năm vào năm 2030 nếu ta không thay đổi gì hết các lối sống của chúng ta. “ Chú ý, ở đây muốn nói một sự tiêu thụ có mức độ, từ hai miếng chocolat mỗi tuần đến hai miếng mỗi ngày. Với những dạng thương mãi thường gặp nhất, chocolat nói chung chứa quá nhiều đường và mỡ. Trung bình chocolat chứa 500 calories mỗi 100 g. Do đó tiêu thụ không tiết độ làm lên cân và gia tăng nguy cơ bị bệnh đái đường và bệnh tim. Như thế điều này sẽ hủy bỏ những tác dụng có lợi của sự tiêu thụ chocolat, mà chúng tôi đã quan sát thấy trong những công trình nghiên cứu được thực hiện trên hơn 100.000 người.” Vậy cần ưu tiên chocolat đen, với ít đường và mỡ.
NHỮNG ENDOMORPHINE THIÊN NHIÊN
“ Chúng ta vẫn hoài nghi về những nguyên nhân của tác dụng có lợi này. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy một tác dụng có lợi lên giảm huyết áp và nguy cơ bị bệnh đái đường. Có nhiều giả thuyết, nhất là sự hiện diện của những tính chất chống oxy hóa và chống viêm của cacao và của những flavonoides mà nó chứa. Nhưng tất cả các cố gắng nhằm phân lập và tập hợp chúng trong một viên thuốc không chứa đường cũng như không có mỡ đã bị thất bại. Một giả thuyết khác cho rằng sự khoái lạc do ăn chocolat phóng thích các endomorphine tự nhiên trong não bộ và nhiên hậu chất này có một tác dụng bảo vệ tim mạch. Nhưng điều đó chỉ là một giả thuyết. Dẫu sao, chúng ta chỉ có thể khuyến nghị một sự tiêu thụ chocolat có mức độ. ”

10/ MỘT MŨI ĐIỆN TỬ ĐỂ PHÁT HIỆN SUY TIM
Dự án đã làm ngạc nhiên trong hàng ngũ 40.000 thầy thuốc chuyên khoa tim, đôi khi hoài nghi, ở Hội nghị châu Âu về tim học : các nhà nghiên cứu người Đức đã hiệu chính một cái mũi điện tử có khả năng phân biệt được mùi phát xuất từ da của những bệnh nhân bị suy tim. Điều gây ngạc nhiên nhất là điều đó hữu hiệu ở phòng thí nghiệm nhưng các nhà nghiên cứu chưa thể đặt tên cho phân tử nhận diện một cách chính xác căn bệnh ! “ Tôi phải thú nhận với qúy vị rằng chúng tôi đã đi từ điều chứng thực của các chuyên gia tim. Họ đã ghi nhận rằng các bệnh nhân đau bệnh suy tim có một mùi khác khi tình trạng của họ suy sụp ”, BS Vasileios Kechagias, tác giả chính của công trình nghiên cứu này, được phát triển ở Đại học Iéna, đã giải thích như vậy.
“ Chúng tôi đã đặt cẳng tay của các bệnh nhân bị suy tim mất bù (insuffisance cardiaque décompensée) trong một aquarium có nhiệt độ trên 30 độ để làm cho họ toát ra mồ hôi trong 10 cycle với 3 phút mỗi chu kỳ. Sau đó chúng tôi đã phân tích mồ hôi trong một chromatographe ở pha khí (en phase gazeuse), một loại máy cho phép phân biệt những phân tử của một hỗn hợp rất phức tạp. Sau đó chúng tôi cũng đã làm như vậy với những bệnh nhân bị suy tim, nhưng được bù (insuffisance compensée), không cần một can thiệp cấp cứu, cũng như trên cẳng tay của những người lành mạnh. Các nhà nghiên cứu khi làm công tác phân tích đã không hay biết bệnh nhân thuộc nhóm nào. Họ đã xếp loại các mùi được cảm thấy thành hai nhóm phân biệt và họ đã nhận thấy rằng những bệnh nhân bị suy tim mà một can thiệp là cần thiết (những người bị suy tim mất bù) có một mùi khác với những người khác.
MỘT TRẮC NGHIỆM TA CÓ THẾ SỬ DỤNG TRONG HÀNG NGƯỜI Ở SIÊU THỊ.
Trắc nghiệm sử dụng một censeur de gaz được tạo thành bởi 3 film de métal rất mảnh, khi được làm nóng, phản ứng với da. Trắc nghiệm không hoàn hảo : nó chỉ phát hiện 89% những bệnh nhân cần điều trị và như thế lầm lẫn 11 trường hợp trên 100. Vì vậy các nhà nghiên cứu chuẩn bị da của các bệnh nhân để loại bỏ mọi dấu vết của mùi nước hoa hay những sản phẩm khác có thể đánh lạc hướng “ mũi điện tử ”. Chủ yếu là chúng đã không thể nhận diện thành phần hay phối hợp của các thành phần cho phép máy chtomatographe phân biệt giữa hai nhóm bệnh nhân.
“ Công trình nghiên cứu được theo đuổi, BS Kechagias đã nói tiếp như vậy, mục tiêu là hiệu chính một máy nhẹ như một vòng đeo tay (brachelet) và, một cách không xâm nhập, sẽ cho phép xác định nhanh chóng bệnh nhân nào cần phải giúp đỡ. Ta có thể đề nghị ngay cả trắc nghiệm này cho những người đúng sắp hàng ở siêu thị.
Ngày nay để chẩn đoán suy tim cần phải lấy máu, làm siêu âm tim, điện tầm đồ, ngay cả chụp X quang, những xét nghiệm nặng nề và xâm nhập. Nếu loại thiết bị này (mũi điện tử) cho phép đánh giá một cách nhanh chóng mức độ trầm trọng, thì những xét nghiệm nêu trên sẽ chỉ được thực hiện ở những bệnh nhân nếu điều đó là cần thiết. Và điều này sẽ cho phép can thiệp sớm hơn và hiệu quả hơn, trước khi tình trạng bệnh nhân suy sụp. Dĩ nhiên, chúng tôi còn phải đi qua không biết bao nhiêu chặn đường trước khi đạt được một chiếc máy khá nhẹ, đáng tin cậy và có thể dùng lập lại. Cũng cần phải nhận diện những phân tử nào có liên quan trong việc phát ra mùi ở những bệnh nhân bị suy tim. Ta biết rằng các con chó có thể nhận diện vài loại ung thư qua mùi được phát ra. Mũi điện tử của chúng tôi cũng gần giống như vậy. Ta không biết chiếc mũi này nhận diện cái gì, nhưng nó làm tốt công tác chọn lựa.”
Giả thuyết nghiêm túc nhất để giải thích sự thay đổi mùi này là do hậu quả của một sự biến đổi chức năng thận, một triệu chứng từ lâu được liên kết với suy tim.
(LE SOIR 31/8/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(5/1/2013)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s