Thời sự y học số 289 – BS Nguyễn Văn Thịnh

colopathie

1/NHỮNG BÍ MẬT ĐƯỢC PHÁT HIỆN CỦA HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH.
Căn bệnh này từ nay được nhận biết tốt hơn và được điều trị tốt hơn.
GASTROENTEROLOGIE. “ Hội chứng ruột kích thích (SII : syndrome de l’intestin irritable hay colopathie fonctionnelle) ngày nay được điều trị tốt hơn, nhất là nhờ những tiêu chuẩn nhất trí, cho phép định hướng chẩn đoán tốt hơn ”, BS Gourcerol, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc CHU de Rouen, đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, căn bệnh này, gây bệnh cho từ 10 đến 15% dân số, hiện diện dưới nhiều dạng với một kết hợp các triệu chứng rất ít đặc hiệu, có thể làm chậm chẩn đoán. Ngoài ra, không một điều trị nào đã cho thấy một tính hiệu quả quan trọng lên hội chứng ruột kích thích nhưng vài phương pháp có thể tỏ ra thỏa mãn và phải được thích ứng với mỗi bệnh nhân.
Hội chứng ruột kích thích là một bệnh không gây nguy hiểm cho mạng sống của những người bị bệnh. Ngược lại, bệnh có những hậu quả đôi khi quan trọng lên chất lượng sống của những bệnh nhân. Hội chứng ruột kích thích trong đại đa số các trường hợp gây bệnh cho các phụ nữ, thường là trước 50 tuổi. Bệnh được đặc trưng bởi những cơn đau bụng mạnh ít hay nhiều, kèm theo những rối loạn nhu động (trouble du transit), có khuynh hướng gây bón hay ỉa chảy nhưng đôi khi luân phiên nhau giữa hai triệu chứng này. Đau bụng thường giảm sau khi đi cầu.

NHỮNG DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG
Những tiêu chuẩn liên quan đến lối sống hay tâm lý của bệnh nhân có thể hướng dẫn người thầy thuốc, đặc biệt là stress, đóng một vai trò quan trọng, cũng như một khuynh hướng lo âu. Chẩn đoán do đó dựa trên thăm khám lâm sàng cũng như một vấn chẩn để loại bỏ những bệnh lý khác. Trước 50 tuổi và khi các triệu chứng đã cũ, không phải luôn luôn cần thiết thực hiện những thăm dò khác. Đứng trước vài dấu hiệu báo động như máu trong phân hay những triệu chứng về đêm, người thầy thuốc đôi khi có thể yêu cầu một nội soi đại tràng để phát hiện những thương tổn có thể có trong ruột.
“ Một khi đã an lòng về sự vắng mặt nguy cơ quan trọng đối với bệnh nhân mình, vài thầy thuốc không phải luôn luôn dành thời gian để giải thích căn bệnh, GS François Mion, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc bệnh viện Edouard-Herriot (Lyon) đã lấy làm tiếc như vậy. Vì không có điều trị đặc hiệu, các thầy thuốc cũng cảm thấy bất lực, không có giải pháp tức thời để đề nghị cho các bệnh nhân.” Vài thầy thuốc cũng có khuynh hướng cho rằng hội chứng ruột kích thích là một bệnh tâm lý không thuộc phạm vi của mình, nhất là những bệnh nhân này thường âu lo và rất đòi hỏi những thăm khám phụ nhưng lại không thành công làm an lòng họ. Một phần lớn các người bị hội chứng ruột kích thích (20%) đã từng trải qua một kinh nghiệm chấn thương trong thời thơ ấu, nhưng ở 20% các bệnh nhân một viêm dạ dày ruột dường như là nguyên nhân làm phát khởi hội chứng ruột kích thích. “ Có một thành phần tâm lý nhưng nghiên cứu đã nhận diện một số hiện tượng nào đó ở những bệnh nhân bị bệnh, dẫn đến những hướng điều trị ngày nay ”, GS Bruley des Varannes, giám đốc Viện của các bệnh của bộ máy tiêu hóa (Imad : Institut des maladies de l’appareil digestif) đã nhấn mạnh như vậy.
Hôm nay không có thuốc có khả năng điều trị hội chứng ruột kích thích. Tuy nhiên, dùng thời gian thăm dò các triệu chứng và lối sống của mỗi bệnh nhân, thầy thuốc có thể đề nghị những điều trị triệu chứng để cải thiện chất lượng sống. Đau là một đích điều trị chủ yếu, nhờ các thuốc chống co thắt (antispasmodiques) và nhờ những thuốc hay những chiến lược điều hòa nhu động nhằm cải thiện những đợt ỉa chảy hay táo bón. Những lời khuyên vệ sinh ăn uống là một bộ phận của điều trị, nhất là hoạt động vật lý đóng một vai trò quan trọng đối với vài triệu chứng. “ Chất lượng giấc ngủ là một yếu tố quan trọng để tác động lên tính nhạy cảm tạng (sensibilité viscérale) ”, GS Philippe Ducrotté, giáo sư hépato-gastro-entérologie thuộc CHU de Rouen đã nhắc lại như vậy.
Trên bình diện ăn uống, không có một công trình nghiên cứu nào đã xác nhận ảnh hưởng của lactose hay gluten nhưng chúng có thể có liên quan ở vài bệnh nhân. Có thể hữu ích ghi chép mỗi ngày để nhận diện một cách khách quan những thức ăn có một ảnh hưởng và tránh những chế độ ăn uống quá hạn chế, nhưng hiếm khi có ích. Các probiotique, còn ít được biết rõ, đã không chứng minh lợi ích của chúng đối với phần lớn các bệnh nhân.
“ Chỉ cần biết ta bị bệnh gì, hội chứng ruột kích thích là gì và nó dẫn đến những triệu chứng đa dạng này như thế nào cũng đã cho phép điều trị tốt hơn căn bệnh của mình, GS Bruley đã nhắc lại như vậy. Khi đó, cùng với bệnh nhân, chúng tôi thiết đặt những mục tiêu điều trị hợp lý để làm giảm tác động của các triệu chứng ở một mức thỏa mãn.”
Ở Pháp, chỉ có một hiệp hội các bệnh nhân, rất hữu ích đối với loại bệnh lý này : http://www.apssii.org
(LE FIGARO 26/11/2012)

2/ HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH : SỰ TĂNG KÍCH THÍCH CỦA NÃO BỘ THỨ HAI.
“ Sinh lý bệnh lý của hội chứng ruột kích thích (syndrome de l’intestin irritable) vẫn còn không được biết rõ nhưng, khi xem xét các triệu chứng của nó, nhiều hiện tượng xảy ra, nhất là ở ruột, đã có thể được nhận diện ”, Michel Neunlist, giám đốc unité Inserm de neuro-gastro-entérologie của Institut des maladies de l’appareil digestif (Nantes) đã nhấn mạnh như vậy.
Trong lúc khảo sát triệu chứng đau, các nhà nghiên cứu đã có thể chứng thực rằng những bệnh nhân với hội chứng ruột kích thích thường có một tính nhạy cảm gia tăng đối với kích thích đau đớn, được thể hiện ở hệ thần kinh trung ương (não). Những rối loạn tiêu hóa có thể là do một rối loạn vận động của ruột liên kết với hệ thần kinh ruột (SNE : système nerveux entérique), đôi khi được xem là một não não bộ thứ hai (deuxième cerveau). Thật vậy, ruột là một trong những vùng được phân bố thần kinh nhất của cơ thể và mạng thần kinh này chịu trách nhiệm, một cách tự trị, vài chức năng tiêu hóa như nhu động ruột, khiến thức ăn tiến lên trong ruột. Ruột nhận nhiều thông tin xuyên qua thành ruột nhưng, trong hội chứng ruột kích thích, thành ruột dường như dễ thấm qua hơn so với những người lành để các phân tử đi qua ; những phân tử này bình thường bị giam hãm bên trong ống tiêu hóa.
SẢN XUẤT SEROTONINE
Những phân tử này phát xuất từ bên trong ruột, sau đó có thể gây nên một sự tăng kích thích của hệ thần kinh ruột (SNE) (rối loạn vận động ruột) và của hệ thần kinh trung ương (SNC) (đau). Những thông tin này có thể phát xuất từ những vi khuẩn hiện diện trong ruột, mà sự cân bằng bị biến đổi trong hội chứng ruột kích thích (SII), và đặc biệt sản xuất những chất trung gian thần kinh (neuromédiateur). Vài tế bào của thành ruột cũng bị ảnh hưởng : sự vận hành chức năng của những tế bào ruột nội tiết (cellules entéroendocrines), và đặc biệt là những cellules entérochromaffines, có nhiệm vụ điều hòa những chức năng tiêu hóa khác nhau, bị biến đổi trong hội chứng ruột kích thích.
Một sự thiếu hụt hay một sự sản xuất thặng dư sérotonine như thế đã có thể được chứng thực. Những hiện tượng viêm vi thể (micro-inflammation) cũng đã được quan sát ở niêm mạc ruột và những dưỡng bào (mastocyte) có liên quan trong phản ứng viêm này tiết ra những chất trung gian thần kinh khác nhau, như sérotonine ; khi đó chất này có thể kích thích đồng thời hệ thần kinh ruột (SNE) và não bộ. Tình trạng chướng bụng (ballonnement), gây nên một sự căng trướng ruột, mặt khác có thể làm dễ không những sự tăng tính nhạy cảm (hypersensibilité) mà còn tình trạng tăng cảnh giác (hypervigilance) đối với đau.
Những quan sát này dẫn đến những giả thuyết về những cơ chế liên quan trong căn bệnh nhưng chúng không cho phép giải thích điều đó. Tuy nhiên những giả thuyết này mở ra những hướng trị liệu để điều trị những triệu chứng chừng nào nguyên nhân chưa biết rõ. Chính như thế mà vài thầy thuốc quyết định kê đơn những thuốc chống trầm cảm với liều thấp để điều hòa sérotonine, chính vì thế mà những chiến lược chống viêm và những thuốc tác động lên tính vận động của ruột hiện đang được nghiên cứu. Hiện nay, các nhà nghiên cứu ra sức tìm hiểu sự đa dạng của các triệu chứng nhằm hiệu chính một arsenal thérapeutique có khả năng nhắm sát đích nhất mỗi nhóm bệnh nhân có những profil tương tự.
(LE FIGARO 26/11/2012)

3/ HỘI CHỨNG RUỘT DỄ KÍCH THÍCH : NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG KHUẨN CHÍ RUỘT.
“ Ta quan sát, ở những bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích (SII), một sự biến đổi cân bằng của quần thể vi khuẩn của ruột, Annick Berndier-Donadille, chuyên gia vi trùng học và giám đốc nghiên cứu thuộc Institut national de la recherche agronomique (Inra) đã nhấn mạnh như vậy. Sự biến đổi cân bằng này của khuẩn chí ruột (dysbiose) có những hậu quả lên quá trình tiêu hóa và lên sự vận hành chức năng của ruột và có thể là nguồn gốc của nhiều triệu chứng.” Nhiều nhà nghiên cứu ngày nay cố gắng tìm hiểu vai trò của microbiote, và nhất là của khuẩn chí ruột (flore intestinale), trong hội chứng ruột kích thích. Những khả năng phân tích phân tử mới đây đã cho phép xác lập rằng microbiote bị biến đổi nhưng những kết quả thay đổi tùy theo mỗi công trình nghiên cứu lên bản chất chính xác của sự biến đổi này.
“ Các công trình nghiên cứu đôi khi tìm thấy một nhóm vi khuẩn thặng dư hay một nhóm khác tùy theo các nước ”, Annick Bernalier-Donadille đã nhận xét như vậy. Cùng với nhóm nghiên cứu của mình, bà đặc biệt quan tâm khảo sát microbiote ruột của các bệnh nhân bị thể bón của hội chứng ruột kích thích. Bà đã nhận diện nhiều nhóm cơ năng dường như bị ảnh hưởng ở những bệnh nhân này, đặc biệt về chuyển hóa của lactate, của butyrate và của hydrogène. Một nhóm các vi khuẩn từ công trình nghiên cứu này : những bactérie sulfatoréductrice sử dụng lactate và hydrogène để sản xuất sulfure. Những sulfure là những phân tử khá độc, bị nghi là những chất truyền hơi (gazotransmetteur), có khả năng kích thích và làm dễ tính nhạy cảm và đau tạng.
“ Trước hết chúng tôi cố tìm hiểu điều gì cho phép những vi khuẩn sulfatoréductrices này thắng thế và nhiên hậu bằng cách nào chúng tôi có thể tái lập sự cân bằng. ” Thí dụ khó mà thiết lập một mối liên hệ với chế độ ăn uống bởi vì những vi khuẩn này can thiệp rất muộn trong chuỗi thoái biến các thức ăn (chaine de dégradation des aliments). Bệnh ruột kích thích xảy ra sau một viêm dạ dày-ruột (gastroentérite) cũng có thể cho những hướng để hiểu căn bệnh : các mầm bệnh gây nhiễm trùng vị tràng tạo nên một sự mất quân bình của microbiote, và tình trạng mất quân bình này không trở lại điểm xuất phát sau khi lành bệnh. Các thành của ruột cũng bị ảnh hưởng bởi loại những bệnh lý này và có thể sau đó tỏ ra hiếu khách ít hay nhiều đối với vài mầm bệnh. Sự sử dụng các probiotique, nghĩa là những vi sinh vật sống được sử dụng như những chất bổ sung thức ăn, đang được khảo sát bởi nhiều nhóm nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu của Annick Bernalier-Donadille như thế đã dự kiến tái lập chương trình (reprogrammer) microbiote bằng cách đưa vào một khuẩn chí sinh acétone (flore acétogène), thuận lợi hơn và có khả năng cạnh tranh với những vi khuẩn sulfatoréductrice trong ruột. Những nghiên cứu đầu tiên trên động vật đã cho những kết quả đặc biệt đáng lưu ý.
(LE FIGARO 26/11/2012)

4/ TẠI SAO PHẢI CHĂM LO KHUẨN CHÍ RUỘT CỦA CHÚNG TA ?
Professeur Pierre Bourlioux
Membre de l’académie de Pharmacie

Ruột già của chúng ta là một hệ sinh thái vi trùng (écosystème microbien) phức tạp được gọi là “ microbiote ”. Ruột già được định cư bởi 100.000 tỷ vi khuẩn, hoặc 10 lần nhiều hơn số lượng các tế bào của chúng ta. Nhờ những tiến bộ khoa học của séquençage des génomes, các chương trình nghiên cứu được tiến hành ở châu Âu (MetaHit) và ở Hoa Kỳ (Human microbiome project) đã cho phép séquencer toàn bộ các gène vi khuẩn của microbiote của chúng ta (métagénome) và đã tiết lộ cho chúng ta sự hiện diện của hơn 10.000 loại khác nhau mà ta có thể chia thành hai loại : những loại mà ta tìm thấy ở tất cả mỗi cá thể, cơ sở của microbiote của chúng ta và loại đặc hiệu cho chúng ta và như thế phân biệt giữa chúng ta với nhau. Ngoài ra, những vi khuẩn này mang số lượng gène 150 lần nhiều hơn các tế bào của chúng ta, điều này mang lại cho chúng nhiều chức năng, chức năng đầu tiên liên quan đến sự tiêu hóa các chất dinh dưỡng không được hấp thụ bởi cơ thể ở ruột non. Những chức năng khác nhằm vào sự hợp tác của microbiote này với niêm mạc ruột để duy trì sự cân bằng cơ quan của chúng ta và bảo vệ chúng ta chống lại những tác nhân gây bệnh ngoại nhập và những căn bệnh do chúng gây ra.
Trước hết, phải biết rằng microbiote không phải bẩm sinh, ta không sinh ra với nó. Chính trong những năm đầu của cuộc sống mà ta tạo ra dần dần và một cách chọn lọc quần thể vi khuẩn của mình bằng tiếp xúc trực tiếp từ những vi khuẩn hiện diện trong môi trường. Ta có thể nói rằng từ 2 đến 3 tuổi, mỗi người trong chúng ta có một microbiote “ trưởng thành ”, sẽ tiến triển suốt đời mình, đổi mới và dễ hỏng với tuổi tác.
Chính microbiote cho phép hệ miễn dịch của chúng ta phát triển và như thế bảo vệ chúng ta, trái với điều ta quan sát thấy ở những động vật axénique (không có mầm bệnh) : các vi khuẩn được gọi là “ cộng sinh ” (bactéries commensales), hiện diện thường trực trong hệ sinh thái tiêu hóa của chúng ta, giáo dục hệ sinh thái này ngay từ khi ta sinh ra đời để nó nhận biết điều mà nó cần phải thải bỏ. Như thế, ta biết rằng hệ sinh thái tiêu hóa không được quá bảo vệ (hyperprotégé) chống lại các vi khuẩn của môi trường cũng không phải chịu quá nhiều những điều trị kháng sinh, nếu không sau này sẽ xuất hiện những dị ứng hay hen phế quản.
Ngoài ra, ta phải biết rằng hệ miễn dịch tiêu hóa của chúng ta chiếm hữu 70% những tế bào của hệ miễn dịch của cơ thể, điều này là hàng rào đầu tiên bảo vệ cơ thể đứng trước ngõ vào của các tác nhân sinh bệnh. Microbiote của chúng ta như thế đóng một vai trò hàng rào chống vi trùng (barrière antimicrobienne) bằng cách ngăn cản những vi khuẩn “ nguy hiểm ” đến định cư. Để nhận biết những vi khuẩn gây bệnh này, mang lại nguy hiểm từ bên ngoài, các tế bào của cơ thể có những thụ thể màng tế bào (récepteurs membranaires) (trong số đó có “ Tolle receptors ”), do Hoffmann (được giải Nobel y học vừa rồi) khám phá. Những thụ thể màng tế bào này nếu được kích thích sẽ là nguồn gốc của phản ứng viêm, phòng vệ đầu tiên của ký chủ đối với nhiễm trùng.
Microbiote cũng là trung tâm của vài bệnh lý. Mặc dầu sự vận hành chức năng của nó một phần vẫn còn bí ẩn, nhưng dường như chỉ cần một sự mất cân bằng của microbiote cũng đủ để giải thích vài bệnh viêm như bệnh Crohn, hội chứng ruột kích thích (syndrome du colon irritable), những rối loạn cơ năng ruột.. Ngoài ra, sự đối thoại chuyển hóa (dialogue métabolique) giữa microbiote và ký chủ dường như ngày càng rõ rệt trong sự xuất hiện của những bệnh lý khác như bệnh béo phì, hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) hay những bệnh lý tim mạch.
NHỮNG TÁC NHÂN ĐIỀU HÒA CHỦ CHỐT
Sau cùng, sự đối thoại microbiote-hệ thần kinh đang trên đà tiến hoá. Hệ thần kinh ruột (SNE : système nerveux entérique), định vị ở bên trong ống tiêu hóa, là hệ thần kinh lớn thứ hai của cơ thể sau não bộ. Những thành phần (các neurone) là những tác nhân điều hoà chủ chốt của các chức năng ruột. Như thế chính những tương tác giữa ống tiếu hóa và não bộ điều hòa những chức năng ruột và giải thích sự xuất hiện của vài hiện tượng như nôn, cảm giác no nê hay đau bụng, nhưng ta chỉ biết mới đây microbiote can dự vào trong những tương tác này. Nhiều hướng hiện nay đang được nghiên cứu. Thí dụ những biến đổi của microbiote trong ruột trong vài dạng bệnh tự kỷ (autisme) hay trong những bệnh lý thoái hóa thần kinh như các bệnh Alzheimer và Huntington.
Chế độ ăn uống là đồng minh thứ nhất của microbiote của chúng ta. Ta biết rằng vài vi khuẩn hiện diện tự nhiên trong yaourt hay những sửa lên men (lait fermenté) khác có những tác dụng dương lên sức khỏe của chúng ta. Những vi khuẩn sống này được gọi là probiotiques và được OMS công nhận vì những tác dụng có lợi của chúng. Nhưng, mặc dầu phần lớn các giống gốc của probiotiques là những lactobacilles và những bifidobactéries, chúng có thể giúp chúng ta chống lại vài rối loạn tiêu hóa và tăng cường tương tác của microbiote với hệ miễn dịch, nhưng không phải tất cả các giống gốc đều có tính chất này.
(LE FIGARO 24/9/2012)

5/ PHẢI CHĂNG TA CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH CROHN BẰNG CÁCH BIẾN ĐỔI CÁC VI KHUẨN CỦA ỐNG TIÊU HÓA ?
Professeur Laurent Beaugerie
Hépato-gastroentérologue
Hôpital Saint-Antoine, Paris
Université Paris-VI

Khoảng 100.000 tỷ vi khuẩn sống trong ống tiêu hóa của chúng ta và tạo nên phần lớn giới động vật thường trú (règne animal sédentaire) của ruột, microbiote. Các vi khuẩn thường trú, 10 lần nhiều hơn những tế bào của chính cơ thể của chúng ta, định cư dần dần ông tiêu hóa (nhất là ruột già) trong những tháng đầu tiên của cuộc sống, đặc biệt dưới ảnh hưởng của môi trường vi khuẩn và của chế độ ăn uống, do đó của lối sống.
Nhờ những tiến bộ của sinh học phân tử, chúng ta biết rằng hơn 1000 loại chiếm lĩnh ruột, theo một thành phần và một sự phân bố riêng cho mỗi cá nhân và tương đối bền với thời gian, trừ sự mất cân bằng tạm thời gây nên bởi những kháng sinh hay những biến đổi dần dần liên kết với một sự tiến hóa của cách ăn uống. Thí dụ ta dùng hình ảnh của một code-barres ghi thành phần của organe bactérien nép mình trong ruột của chúng ta. Những khám phá khoa học mới đây gợi ý rằng một sinh thái (écologie) bị rối loạn của microbiote ruột ngay từ tuổi ấu thơ (dysbiose) có thể, bằng những dạng khác nhau, có tính chất quyết định trong việc phát sinh không những những bệnh viêm ruột, mà còn phát sinh ung thư đại tràng, vài thể béo phì, dị ứng, bệnh trầm cảm… Một hướng nghiên cứu y khoa quan trọng vừa được mở ra cho 20 năm đến.
Các bệnh viêm ruột mãn tính gồm có, với tỷ lệ gần ngang nhau, bệnh Crohn và bệnh viêm đại trực tràng xuất huyết (rectocolite hémorragique). Được tập hợp dưới tên MICI (maladie inflammatoire chronique de l’intestin : bệnh viêm ruột mãn tính), những bệnh lý này gây bệnh cho hơn 150.000 người ở Pháp, với một nguy cơ xuất hiện trong suốt một thời kỳ của cuộc sống hơn 1%. Vì những lý do vẫn còn không được biết rõ, xuất hiện một ngày nào đó ở những người trưởng thành, thường nhất là trẻ tuổi, thậm chí những thiếu niên hay những trẻ em, một viêm tái diễn của một hay nhiều vùng của ống tiêu hóa. Khoảng 100 yếu tố quyết định di truyền (déterminant génétique) của MICI đã được khám phá, nhưng chúng dường như là một yếu tố làm dễ hơn là quyết định trong sự xuất hiện của các căn bệnh. Hiện nay, điều trị MICI dựa trên sự sử dụng những thuốc kháng viêm và những thuốc làm suy giảm miễn dịch.
Tuy vậy, từ lâu môi trường có vẻ thiết yếu trong dịch tễ học của MICI, vì lẽ những căn bệnh này xảy ra ở những nước có một lối sống tây phương, dầu đó là những nước phát triển hay những nước đang phát triển chịu ảnh hưởng bởi lối sống này. Sự tiến triển của microbiote có thể là yếu tố giải thích trung tâm. Ở những người sống với một MICI, có một biến đổi đặc biệt của cân bằng của khuẩn chí ruột (dysbiose), với một sự thiếu tương đối vài vi khuẩn kháng viêm (bactéries inflammatoires), trong đó vi khuẩn chính mang tên Faecalibacterium prausnitzii, và một sự thặng dư những vi khuẩn sinh bệnh, trong đó vài giống gốc Escherichia coli. Dầu sự biến đổi (dysbiose) này là một nguyên nhân đầu tiên của các MICI hay đã là một hậu quả góp phần duy trì quá trình viêm, các công trình nghiên cứu đang được thực hiện để đánh giá tác động của “ sự phục hồi ” một khuẩn chí ruột (flore intestinale) ít có khuynh hướng viêm (pro-inflammatoire) hơn.
PROBIOTIQUES VÀ PREBIOTIQUES
Những probiotique là những vi sinh vật tốt cho sức khỏe nhưng không định cư dài lâu trong khuẩn chí ruột (flore intestinale). Những thử nghiệm đầu tiên không có sức thuyết phục, nhưng chúng phải được theo đuổi đồng thời chọn lọc tốt hơn những tính chất kháng viêm của những vi khuẩn hay virus được sử dụng. Những prébiotique là những thức ăn mà sự lên men biến đổi thành phần của khuẩn chí ruột già nhưng, lại nữa, không có một công trình nghiên cứu nào hiện nay đã chứng minh một tác dụng thuận lợi trong MICI.
Hai phương pháp khác đang được cứu xét. Phương pháp thứ nhất nhằm nhận diện trong phòng thí nghiệm những thành phần hay những sản phẩm tiết của những vi khuẩn kháng viêm “ tốt ” và sản xuất chúng trong công nghiệp trước khi thí nghiệm chúng như một loại thuốc. Phương pháp thứ hai, triệt để hơn, là “ ghép khuẩn chí ” (transplantation de flore). Phương pháp này nhằm cho qua đường thụt hậu môn (lavement) hay qua nội soi đại tràng một trích chất của phân của một “ người cho ” (donneur) thân thuộc hay vô danh, sau khi đã kiểm tra không có tác nhân gây bệnh. Phương thức thay thế khuẩn chí này đã được đánh giá thành công trong những nước khác nhắm dứt điểm những nhiễm trùng tái phát không ngừng gây nên bởi Clostridium difficile. Phương pháp này một ngày nào đó phải được thử nghiệm trong bệnh MICI.
(LE FIGARO 4/6/2012)

6/ VIÊM ĐẠI TRỰC TRÀNG XUẤT HUYẾT ĐỀ KHÁNG : CHIẾN LƯỢC MỚI.
GS Antoine Cortot, giáo sư gastroentérologie của CHU de Lille, giải thích, trong trường hợp thất bại điều trị quy ước, tác dụng của một sinh liệu pháp tích cực hơn.
Hỏi : Khi nào ta nói là bệnh miễn dịch (maladie autoimmune) như bệnh viêm đại trực tràng xuất huyết (rectocolite hémorragique) ?
GS Antoine Cortot : Đó là một bệnh lý trong đó hệ miễn dịch sản xuất một đáp ứng thái quá để bảo vệ cơ thể chống lại các siêu vi trùng, các vi khuẩn hay những chất hiện diện trong môi trường. Thay vì tấn công những yếu tố lạ, do sai lầm, nó trở ngược lại chống lại chính mô của người bệnh.
Hỏi : Trong trường hợp loại viêm đại trực tràng này, những cơ quan nào bị ảnh hưởng ?
GS Antoine Cortot : Những đích của loạn năng miễn dịch (dysfonctionnement immunitaire) này là ruột già và trực tràng. Các niêm mạc bị viêm với sự xuất hiện của những vết loét (ulcères) dẫn đến những thương tổn nghiêm trọng và lan rộng ít hay nhiều. Khi những tế bào của hệ miễn dịch bị tăng kích hoạt (hyperexcité), chúng tạo ra những phân tử nhỏ cực kỳ nguy hiểm : những cytokine, mà một trong những phân tử hung dữ nhất là TNF (Tumor Necrosis Factor). Đó thật sự là những “ bêtes noires ” trong chuỗi các biến cố dẫn đến căn bệnh này.
Hỏi : Bệnh viêm đại trực tràng xuất huyết gây bệnh cho khoảng 60.000 người ở Pháp. Ông hay mô tả cho chúng tôi những triệu chứng của bệnh lý này.
GS Antoine Cortot : Bệnh đại trực tràng xuất huyết (rectocolite hémorragique) là một bệnh mãn tính, tiến triển thành những đợt bộc phát, cách quãng nhau bởi những thời kỳ thuyên giảm. Bệnh nhân bị ỉa chảy nhầy máu (diarrhées glairo-sanglantes) và đau bụng, khiến muốn đi cầu rất thường xuyên. Trong những thể gây phế tật nhất, tình trạng tổng quát có thể bị biến đổi với mệt mỏi, gầy ốm, thiếu máu Ta không biết được nguyên nhân, nhưng ta nghi ngờ một thể địa gia đình và một vai trò của môi trường qua trung gian của một sự biến đổi quần thể ruột (flore intestinale), chủ yếu do một chế độ ăn uống quá nhiều protéine động vật. Bệnh viêm đại trực tràng chảy máu ít thường xảy ra hơn ở những người hút thuốc.
Hỏi : Cho đến nay, điều trị quy ước là gì ?
GS Antoine Cortot : Điều trị thuốc dựa trên 5-aminosalicylate (sulfasalazine và mésalazine), một chất chống viêm dẫn xuất từ aspirine (bằng đường miệng hay tại chỗ, bằng lavement hay thuốc nhét đít) và cortisone (bằng đường miệng hay tại chỗ).
Hỏi : Ta thu được những kết quả nào với protocole này ?
GS Antoine Cortot : Đối với ¾ các bệnh nhân, các triệu chứng được kiểm soát, nghĩa là tương hợp với cuộc sống bình thường. Nhưng ta không chữa lành bệnh.
Hỏi : Đối với những bệnh nhân đề kháng với những điều trị này chiến lược mới nhất là gì ?
GS Antoine Cortot : Chiến lược mới nhất nhằm đưa vào rất nhanh, sau khi chứng thực sự thất bại, một điều trị tích cực hơn kết hợp một sinh liệu pháp dựa trên hai loại thuốc : một anti-TNF (được cho bằng đường tĩnh mạch hay dưới da) và một thuốc làm suy giảm miễn dịch được cho bằng đường miệng. Mục đích là có được một sự hóa sẹo hoàn toàn của các thương tổn trong vài tháng nhờ làm giảm “ surchauffe immunitaire ”
Hỏi : Những loại thuốc này tác dụng như thế nào ?
GS Antoine Cortot : Các anti-TNF làm giảm sự sản xuất của những phân tử có hại này, những TNF làm viêm niêm mạc, và những thuốc làm suy giảm miễn dịch điều hòa những tế bào chịu trách nhiệm sự lồng lên của các phản ứng miễn dịch.
Hỏi : Tính hiệu quả của chiến lược này là gì ?
GS Antoine Cortot : Với protocole mới nhất, ta có được một sự kiểm soát tốt các triệu chứng và sự hóa sẹo của các thương tổn trong hơn 50% các trường hợp. Những điều trị này làm gia tăng những nguy cơ của vài bệnh nhiễm trùng cơ hội (infections opportunistes), nhưng những nhiễm trùng này vẫn hiếm nếu ta thận trọng cập nhật những tiêm chủng, đảm bảo rằng những xét nghiệm tìm bệnh lao hay một viêm gan virus là âm tính. Suy tim và xơ cứng rải rác là những chống chỉ định đối với anti-TNF. Ở những bệnh nhân đề kháng với những điều trị này và trong những trường hợp viêm đại tràng cấp tính rất trầm trọng mà cuộc sống bị đe dọa, ta xét đến phẫu thuật. Ta thực hiện sự cắt bỏ ruột già và trực tràng để thay thế chúng bằng một réservoir được cấu tạo bởi một đoạn ruột non. Can thiệp này tránh đặt một hậu môn nhân tạo vĩnh viễn và là điều trị chữa lành duy nhất của bệnh viêm đại trực tràng chảy máu.
Hỏi : Ta có thể hy vọng gì về những nghiên cứu đang được tiến hành ?
GS Antoine Cortot : Những thuốc điều hòa tính miễn dịch đang ở một giai đoạn đánh giá. Chúng phải làm gia tăng những cơ may kiểm soát bệnh.
(PARIS MATCH 4/10-10/10/2012)

7/ TA CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG ?
Catherine Séva
Directrice de recherche Inserm
Audrey Ferrand
Chercheuse Inserm
Centre de recherches en cancérologie de Toulouse

Từ khi chúng tôi đã hiệu chính ở Inserm một trắc nghiệm tiên đoán (test prédictif) nguy cơ ung thư đại trực tràng ở những bệnh nhân mang polip tăng sản (polype hyperplasique), ta có thể tiên đoán một nguy cơ như thế. Trắc nghiệm này nhằm phân biệt những polip vô hại với những polip có thể cho những thương tổn tiền ung thư. Cho đến nay, không có gì cho phép nhận diện, trong loại các polip này, thường được quan sát nhất khi làm nội soi đại tràng, nhóm polip có thể có một tiềm năng ác tính.
Do đó chúng tôi đã nghiên cứu sát hơn những polip tăng sản (polype hyperplasique), từ lâu được xem như là những thương tổn hiền tính, mà cho đến nay không có một sự theo dõi nào được khuyến nghị đối với bệnh nhân.
Để hiệu chính trắc nghiệm tiên đoán này, chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu lâm sàng trong 10 năm, trong đó chúng tôi đã phân tích trong các polip tăng sản của 74 bệnh nhân sự hiện diện của một protéine đặc biệt, progastrine. Được biết là có can dự trong quá trình phát sinh ung thư đại trực tràng, protéine này, được sản xuất bởi các tế bào ung thư đại trực tràng, nhưng không hiện diện trong những tế bào lành mạnh của ruột già.
CÁC POLIP TĂNG SẢN
Đó là cần phải biết sự hiện diện của protéine này (progastrine) có thể tiên đoán sự xuất hiện của những thương tổn ung thư trong những năm tiếp theo sau mổ cắt bỏ các polip hay không. Khi chúng tôi đã đưa ra giả thuyết này, chúng tôi đã nghĩ rằng một bước tiến như thế sẽ rất hữu ích đối với một sự theo dõi thích đáng và một sự phát hiện rất sớm của ung thư đại trực tràng.
Nhờ những phân tích này, chúng tôi đã cho thấy rằng đúng là có một sự liên kết đáng kể giữa những nồng độ gia tăng của progastrine trong các polip và sự xuất hiện về sau này những thương tổn tiền ung thư (lésions précancéreuses). Mặc dầu những polip này được xem là hiền tính và không có nguy cơ, 100% những bệnh nhân có những nồng độ progstrine tăng cao đã phát triển trong vòng hai đến 10 năm những adénome, được công nhận là những thương tổn sớm của ung thư đại trực tràng. Ngược lại, ở những bệnh nhân không biểu hiện hoặc rất ít phân tử này (progastrine), không một thương tổn tiền ung thư nào đã phát triển trong vòng 10 năm sau khi polip đã được lấy đi.
“ MARS BLEU ”
Nhiên hậu, trắc nghiệm tiên đoán (test prédictif) này có thể được thực hiện một cách thường quy đối với những polip tăng sản được lấy ở những bệnh nhân để nhận diện những người có một nguy cơ tăng cao phát triển một thương tổn tiền ung thư.
Mặc dầu bước tiến mà chúng tôi đã thực hiện trong phòng thí nghiệm của chúng tôi ở Inserm là đầy hứa hẹn, nhưng điều này không được làm quên sự cần thiết của công tác phát hiện ung thư đại trực tràng. Để nhắc lại, ở Pháp mỗi năm 17.000 người chết vì ung thư này. Ung thư đại trực tràng là ung thư thứ hai thường xảy ra nhất và là nguyên nhân thứ tư gây tử vong bởi ung thư. Ngoài ra tháng ba đã được mệnh danh là “ Mars bleu ” : một phương tiện để làm dân chúng nhạy cảm với ung thư đại tràng. Nhân cơ hội này, chính quyền phát động một chiến dịch phát hiện quy mô quốc gia.
(LE FIGARO 16/4/2012)

8/ CÁC KHÁNG SINH CÓ THỂ NGĂN NGỪA UNG THƯ DẠ DÀY ?
Professeur Jean-Charles Delchier
Hépato-gastroentérologue
Hôpital Henri-Mondor, Créteil

Ung thư dạ dày hiện đang giảm tần số xuất hiện ở Pháp nhưng vẫn thường gặp với một tỷ lệ 6000 đến 8000 trường hợp mới mỗi năm. Nhất là, đó là một ung thư trầm trọng với một tỷ lệ tử vong 75% lúc năm năm.
70% ung thư dạ dày liên kết với nhiễm trùng do Helicobacter pylori. Ngay năm 1994, vi khuẩn đã được công nhập như là một tác nhân gây ung thư loại I bởi OMS. Nhiễm trùng mắc phải trong thời thơ ấu và kéo dài suốt đời và gây nên một phản ứng viêm ở dạ dày quan trọng ít hay nhiều tùy theo độc lực của vi khuẩn và đáp ứng viêm của ký chủ. Như thế, cứ 100 bệnh nhân bị nhiễm bởi Helicobacter pylori thì có một phát triển một ung thư sau nhiều thập niên nhiễm trùng.
PHÁT HIỆN ĐẠI TRÀ
Những công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng sự tiệt trừ phòng ngừa (éradication préventive) nhiễm trùng Helicobacter bằng các kháng sinh ngăn ngừa sự xuất hiện của ung thư dạ dày. Chính vì vậy điều trị phòng ngừa này được khuyến nghị sau điều tra phát hiện đại trà trong các nước có tỷ lệ nhiễm trùng mạnh và có tần số xuất hiện ung thư dạ dày cao, như Trung Hoa và Nhật bản.
Ở Pháp, do tỷ lệ ung thư dạ dày thấp, nên điều trị phòng ngừa chỉ được khuyến nghị ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bị ung thư dạ dày : những người có liên hệ ruột thịt với những bệnh nhân bị ung thư dạ dày, những người đã được cắt bỏ một phần dạ dày vì ung thư, những người sau khi được làm sinh thiết một cách hệ thống có những thương tổn tiền ung thư thuộc loại viêm dạ dày teo (gastrite atrophique) với métaplasie ruột, nghĩa là có sự hiện diện bất thường của những tế bào loại ruột trong dạ dày.
Điều trị nhiễm trùng Helicobacter pylori bằng cách cho, trong khoảng 10 ngày, một kết hợp các thuốc chống tiết dạ dày (antisécrétoire gastrique), nhằm làm giảm tính axit và các kháng sinh nhằm trừ khử vi khuẩn. Chính vì vậy, ta có thể thật sự nói rằng ung thư dạ dày có thể được phòng ngừa bởi các kháng sinh.
(LE FIGARO 4/6/2012)

9/ BỆNH BẠCH CẦU MÁU : MỘT BÉ GÁI THUYÊN GIẢM NHỜ MỘT LIỆU PHÁP GENE CẢI TIẾN
Điều trị, được căn cứ trên virus của bệnh sida được biến đổI, cũng được áp dụng cho 8 bệnh nhân khác.
CANCEROLOGIE. Emma, một bé gái 7 tuổi người Mỹ, thuyên giảm bệnh từ 7 tháng nay nhờ một diều trị mới của liệu pháp gène (thérapie génique) sử dụng một virus của bệnh sida được biến đổi. Cô bé bị bệnh leucémie lymphoblastique aigue, bệnh ung thư máu thường gặp nhất trong số những ung thư của trẻ em. Trong chứng bệnh này các tế bào của máu bắt đầu tăng sinh một cách quá mức. Ở Pháp, ta ước tính rằng cứ 1900 trẻ em thì có một phát khởi bệnh trước tuổi 15, hiếm hơn giữa 15 và 20 tuổi.
Điều trị thường dựa trên hóa học liệu pháp, để ngăn chặn sự tăng sinh bất thường của các tế bào của máu, nói chung là những tế bào B (những tế bào có nhiệm vụ chế tạo những kháng thể). Một ghép tủy xương được dự kiến khi ung thư đề kháng với điều trị, điều này xảy đến trong khoảng 15% các trường hợp. Trong khi ngày xưa ghép tủy cần một người cho tương hợp (donneur compatible) trong gia tộc, những tiến bộ đáng kể đã được thực hiện nhờ bộ phiếu những người tình nguyện để cho tủy xương, điều này đã mở rộng những cơ may tìm ra một sự tương hợp (compatibilité) nhưng ghép tủy xương vẫn là một điều trị nặng nề.
Phương pháp được hiệu chính ở đại học Pennsylvanie, là nơi em bé Emma đã nhận được điều trị này, bắt đầu bằng lấy máu bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu phân lập từ mẫu nghiệm máu này vài tế bào miễn dịch (những tế bào T), vốn là những chiến sĩ tự nhiên của máu, có khả năng giết chết những kẻ đột nhập vào (nhiễm trùng). “ Bất hạnh thay, những tê bào ung thư thoát khỏi sự theo dõi miễn dịch của những tế bào T và thoát khỏi sự phát hiện ”, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã giải thích như vậy.
Chính vì vậy các nhà nghiên cứu đã tăng cường, nhờ một virus của sida được biến đổi và làm trở thành vô hại, hệ phát hiện (système de détection) mà những tế bào T được trang bị. Những tế bào này, được mệnh danh là những tế bào TCAR, khi đó trở nên có khả năng nhận diện những tế bào B của cơ thể. “ Chúng tôi đã cho thấy rằng những tế bào TCAR có thể là những serial killer thật sự đối với những tế bào ung thư ”, BS June, thuộc Abramson Cancer Center của đại học Pennsylvanie, người đã điều khiển công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy.
Nhưng những tế bào TCAR không những là những serial killer những tế bào ung thư, chúng cũng còn tăng sinh và kích thích những tế bào T khác của cơ thể (bằng cách phóng thích những cytokine) để chúng đến lượt gia nhập vào cuộc chiến, tạo thành một đội quân ngày càng lớn mạnh để phá hủy các mục tiêu. Mặt khác, những cytokine này chịu trách nhiệm một phản ứng dữ dội của cơ thể, được biểu hiện bởi sốt, nôn, hạ huyết áp và sụt giảm oxygénation, cần đưa bệnh nhân vào phòng hồi sức. “ Đối với các bệnh nhân được thuyên giảm hoàn toàn sau điều trị, những tế bào TCAR chứng tỏ một hoạt động tối đa xuất hiện từ 10 đến 31 ngày sau khi truyền ”, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy.
Bất tiện khác, tất cả những tế bào B, dầu là ung thư hay là không, bị phá hủy hoàn toàn bởi cuộc tấn công ồ ạt này. “ Điều đó khiến các bệnh nhân trở nên nhạy cảm hơn đối với những nhiễm trùng. Để bù lại điều đó, chúng tôi đã tiêm cho các bệnh nhân immunoglobuline mỗi hai hay ba tháng ”, BS Michael Kalos, của nhóm nghiên cứu Pennsylvanie đã ghi nhận như vậy.
Mặc dầu những hạn chế này, thử nghiệm được tiến hành ở 10 người lớn và hai trẻ em đã tỏ ra có hiệu quả đối với 9 trong số những bệnh nhân này, trong đó có Emma. Hai người lớn đang trên đường thuyên giảm từ hai năm nay và bảo tồn trong máu những tế bào T được tăng cường, điều này khiến hy vọng một sự bảo vệ kéo dài, theo như điều xảy ra trong tiêm chủng. “ Có thể trong tương lai, phương pháp này có thể làm giảm hay thay thế nhu cầu ghép tủy xương ”, BS June đã lấy làm phấn khởi như vậy. Công ty dược phẩm khổng lồ Novartis đã đầu tư 20 triệu dollar trong một trung tâm nghiên cứu, phối hợp với đại học Pennsylvanie (Philadelphie), để phát triển phương thức mới này, căn cứ trên những tế bào TCAR. Phí tổn của điều trị cá thể hóa (traitement personalisé) này hôm nay được ước tính 20.000 dollar, điều làm cho phương thức điều trị này trở thành một giải pháp thay thế có thể dự kiến về mặt kinh tế trong những hệ thống y tế thực hiện ghép tủy.
Khi nào điều trị mới này sẽ sẵn sàng sử dụng nếu những kết quả đầu tiên này được xác nhận ? Đối với BS Kalos, “ một cách lạc quan, chúng tôi hy vọng rằng các bệnh nhân cần đến điều trị mới này sẽ có nó trong 5 năm nữa.”
Hôm nay phải chăng Emma được chữa lành ? “ Khó mà nói rằng kẻ nào đó thật sự được chữa lành ung thư, BS Kalos đã tâm sự như vậy với nhật báo Le Figaro, chúng tôi thích dùng hơn thuật ngữ thuyên giảm hoàn toàn (rémission complète) để nói rằng chúng tôi không còn thấy nữa những dấu hiệu của bệnh ngay cả với những phương pháp nhạy cảm nhất. Nhưng chúng tôi sẽ thoải mái hơn để nói là chữa lành (guérision) nếu sự thuyên giảm hoàn toàn này vẫn như vậy sau 5 năm.” Lạc quan, nhưng thận trọng.
(LE FIGARO 12/12/2012)

10/ IRM ĐỂ PHÁT HIỆN NHỮNG UNG THƯ “ THẬT SỰ ” CỦA TUYẾN TIỀN LIỆT
Phương pháp chụp hình ảnh này phân biệt những ung thư cần điều trị với những ung thư không cần.
RADIOLOGIE. Cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra nhân Hội nghị quốc tế quang tuyến học ở Chicago vào cuối tháng 11. Đứng trước những hạn chế của các phương pháp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt hiện nay, rất thường dẫn đến những cuộc mổ vô ích, phải chăng giải pháp sẽ là nhờ đến chụp cộng hưởng từ (IRM) sớm hơn và hệ thống hơn ? Protocole hiện nay dự kiến, trong trường hợp tỷ lệ PSA tăng cao và/hoặc bất thường được khám phá khi thăm khám lâm sàng (thăm khám trực tràng), tiến hành một sinh thiếp tuyến tiền liệt. Nhưng những mẫu nghiệm được lấy qua sinh thiết, thủ thuật xâm nhập và không thoải mái, không đáng tin cậy 100%. Viễn ảnh của một phát hiện, bao gồm tức thời một chụp cộng hưởng từ (IRM), không gây đau và từ nay hiệu năng hơn, có thể quyến rũ hơn, vì có độ chinh xác gia tăng.
Cuộc tranh luận về tính hữu ích của công tác phát hiện ung thư tuyến tiền liệ,t như được thực hiện hiện nay, là một con rắn biển (serpent de mer). Trên thực tế, gần một nửa những người đàn ông trên 50 tuổi có những ổ vi thể những tê bào ung thư. Nhưng đại đa số những thương tổn này tiến triển rất ít và phần lớn những người đàn ông này sẽ chết vì tuổi già hay vì một bệnh lý khác. Tuy vậy, trên 70.000 ung thư được chẩn đoán mỗi năm, các thầy thuốc ngoại khoa Pháp vẫn còn thực hiện 22.000 phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt (prostatectomie). Một số lượng rất lớn, đối với lợi ích được trông chờ và những tác dụng không được mong muốn (són tiểu và những rồi loạn cương) mà điều trị đôi khi có thể gây nên.
HUY ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP
Các thầy thuốc quang tuyến đưa ra những tiến bộ được thực hiện trong lãnh vực chụp hình ảnh để chủ trương một sự xét lại các thực hành. “ Từ 4 hay 5 năm nay, chúng tôi đã cải thiện khả năng phát hiện (détectabilité) của những ung thư tuyến tiền liệt nhờ những kỹ thuật chụp cộng hưởng từ chức năng (IRM fonctionnelle) : IRM de perfusion cho phép định vị trí những vùng rất được phân bố mạch (zones très vascularisées), nhất là những khối u, trong khi IRM de diffusion cho phép phân biệt những mô có tính chất ung thư ”, GS Nicolas Grenier, thầy thuốc X quang của CHU de Bordeaux và thành viên của Hiệp hội quang tuyến học của Pháp, đã giải thích như vậy. Đối với ông, vai trò của chụp cộng hưởng từ (IRM) trong công tác phát hiện sẽ huy động nghề nghiệp trong những năm đến. “ Có một chuyển động mạnh từ phía các chuyên gia Hoa Kỳ và châu Âu, ủng hộ một sự phát hiện nguyên phát (détection primaire) bằng chụp cộng hưởng (IRM) được thực hiện đồng thời với thăm khám trực tràng và nồng độ PSA, ông đã chứng thực như vậy. Nhưng ta vẫn còn cần tiến hành những nghiên cứu, như những nghiên cứu đang được thực hiện ở Hoa Kỳ và ở Vương quốc Anh, để xác định xem kỹ thuật chụp cộng hưởng từ này được thực hiện trước sinh thiết có cho phép phát hiện tất cả những ung thư tiến triển và làm giảm tỷ lệ tử vong bằng cách tránh những điều trị quá mức (surtraitement) hay không.
Suy nghĩ về ítnh hữu ích của tiến triển này càng quan trọng khi ngoài phí tổn của IRM, ở Pháp còn thêm vào một gò bó khác rất thực tiễn : tình trạng hiếm hoi các máy cho phép thực hiện những thăm dò này.“Với chỉ 9 máy cho 1 triệu dân, chúng ta là những đứa học trò kém của châu Âu, đứng sau xa mức trung bình của lục địa (20/triệu) và lại còn sau xa so với Hoa Kỳ ”, Eric de Kerviler, giáo sư quang tuyến học thuộc bệnh viện Saint-Louis (Paris) đã phàn nàn như vậy.
Theo ý kiến của Peter Choyke, giám đốc của khoa chụp hình ảnh phân tử (imagerie moléculaire) ở Trung tâm nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ, giải pháp có thể là hiệu chính một thăm dò mới, nhằm vào những séquences thích đáng, đó là một séquence morphologique và một séquence de diffusion. Điều đó sẽ cho phép giảm thời gian chụp xuống còn 10 phút (thay vì thường là 30 phút).
“ Hiện nay, IRM chỉ hữu ích dương tính, nghĩa là khi nó xác nhận sự hiện diện của một bất thường trước khi sinh thiết và cho phép nhắm đích tốt hơn can thiệp, GS Marc Zerbib, trưởng khoa niệu học thuộc bệnh viện Cochin (Paris) đã giải thích như vậy. Nó không luôn luôn cho phép loại bỏ nguy cơ mặc dầu không có những bất thường trên hình ảnh.”
(LE FIGARO 11/12/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/12/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 289 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 530 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s