RTS,S phiên bản mới của vacxin phòng chống sốt rét

Malaria mapCăn bệnh sốt rét đã cướp đi sinh mạng khoảng 800.000 người mỗi năm. Sau 40 năm nghiên cứu thử nghiệm, cuối cùng cũng đã ra đời một loại vẵcxin mới có công hiệu phòng chống sốt rét,được gọi là RTS,S. Gần 16.000 trẻ em châu Phi tham gia vào công trình thử nghiệm lâm sàng của giai đoạn 3 và sẽ cho kết quả đầu tiên vào cuối năm nay.

Khoảng 20 loại văcxin phòng chống sốt rét đã được thử nghiệm lâm sàng. rts 1RTS,S, sản phẩm liên kết của hãng dược phẩm GlaxoSmithKline và MVI, là văcxin đầu tiên của PATH, tổ chức phi chính phủ của Hoa Kỳ. Vì sao phải cần đến nhiều năm mới chế tạo được văcxin này ?
Trước tiên, phải xác định được phân tử sẽ kiến tạo ra hoạt chất chính của vacxin. Khi được tiêm vào cơ thể, phân tử này phải có khả năng kích hoạt hệ miễn dịch để cho hệ miễn dịch học cách nhận ra kháng nguyên và có thể chống lại nó vào một ngày nào đó sau này. Phân tử này được gọi là kháng nguyên, đã được phát hiện ra giữa các protêin hiện diện trên bề mặt của ký sinh trung sốt rét (KSTSR). Theo TS Pierre Druilhe thuộc Viện Pasteur Paris, Pháp, cho biết thật vô vàn khó khăn để xác định được một kháng nguyên có hiệu quả bởi vì ký sinh trùng sốt rét (Plasmodium) có khoảng 5.800 kháng nguyên, tức là gấp 500 lần virut. Hơn nữa, KSTSR lại trải qua nhiều hình thái khác nhau như ở trong máu người, trong gan và trong hồng cầu rồi trong muỗi. Ở mỗi giai đoạn này, trên bề mặt lại chứa các kháng nguyên tạo ra các đáp ứng miễn dịch khác nhau.

KHÁNG NGUYÊN ĐẦU TIÊN
Công cuộc nghiên cứu tìm kiếm kháng nguyên đã được khởi sự từ cuối thập niên 1960. Mãi đến năm 1980, kháng nguyên đầu tiên mới được tìm ra. Chủ yếu đây là một loại protêin bao quanh bào tử (circumsporozoite). Khi tiêm vào chuột, protêin này sẽ tạo ra khá nhiều kháng thể. Từ đó, các nhà nghiên cứu sẽ lọc ra được hoạt chất chính dùng để chế tạo văcxin. Nhưng đến đây, các nhà nghiên cứu vấp phải một rào cản khác: khi tiêm Plasmodium falciparum (KSTSR ở người) vào chuột thì không gây ra được bệnh sốt rét ở chuột. Như vậy thì không thể nào đánh giá được hiệu quả của văcxin trên loài thú. Như vậy, văcxin phải được thử nghiệm trên người (bỏ qua giai đoạn thử nghiệm trên thú vật) để đánh giá hiệu quả của văcxin. Vào năm 1987, có 6 người tình nguyện chưa hề bị phơi nhiễm sốt rét, dược tiêm văcxin rồi sau đó cho muỗi anophen chích để truyền bệnh sốt rét. Tiếc thay, hiệu quả của văcxin rất kém, 5 trong số 6 người đó phải nhập viện để điều trị bệnh sốt rét!

TÁ DƯỢC TĂNG HIỆU NĂNG
TS Joe Cohen thuộc hãng dược GSK ở Rixensart, Bỉ, đã có sáng kiến để tăng hiệu quả của văcxin: sử dụng mẹo mà công ty vừa dùng để chế tạo văcxin phòng ngừa viêm gan B. cùng với các cộng sự, TS Cohen đã hòa trộn protêin bao quanh bào tử này với một kháng nguyên của virut viêm gan B. Hỗn hợp này tạo thành những phân tử có kích thước vừa đủ để hệ miễn dịch có thể nhận ra.
Phiên bản mới nhất của văcxin này được đặt tên là RTS,S đã được thử nghiệm lần đầu tiên vào năm 1990 trên các người tình nguyện. Tuy nhiên, không như mong đợi, văcxin cũng chỉ tạo ra phản ứng miễn dịch khá yếu chống lại KSTSR. Các nhà nghiên cứu hiểu rằng cần phải thêm vào văcxin một sản phẩm kích thích hệ miễn dịch, được gọi là tá dược tăng hiệu năng. Hãng dược GSK đã thử nghiệm rất nhiều tá dược tăng hiệu năng này và cuối cùng chốt vào một chất được gọi là ASo2, tỏ ra có hiệu quả nhất.rts 2Tá dược ASo2 làm tăng đáp ứng miễn dịch do tác dụng kích thích các lympho-bào T. Văcxin được chế biến với tá dược này đã được thử nghiệm trên trẻ em từ 5-15 tháng ở Kenya và Tanzania. Kết quả được công bố vào năm 2008 cho thấy văcxin tỏ ra có hiệu quả trên 50% trường hợp sau 8 tháng theo dõi và thêm 45% nữa sau 15 tháng.
Phấn khởi với kết quả đạt được, hãng dược GSK và MVI PATH quyết định tiếp tục cuộc thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3. Khởi đầu từ năm 2009 trên 11 điểm rải rác khắp châu Phi, cuộc thử nghiệm tiến hành trên 16.000 trẻ em tuổi từ 5-17 tháng tuổi và một nhóm trẻ sơ sinh từ 6-12 tuần tuổi. Kết quả bước đầu sẽ được công bố vào mỗi cuối năm và kéo dài cho đến năm 2014. Nếu kết quả khả quan thì Tổ chức y tế thế giới (WHO) sẽ cho phép đưa ra thị trường vào cuối năm 2014.

(Theo La Recherche)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG
DrThong007@gmail.com

Bài này đã được đăng trong Khoa học ngày nay. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s