Thời sự y học số 285 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ MARIE CURIE : NGUỒN GỐC CỦA BỨC XẠ LIỆU PHÁP

                                     PAUL LANGEVIN
  “ Người nữ sinh viên Ba Lan ” bị buộc tội làm phá vỡ hạnh phúc của một gia đình người Pháp. Đầu tháng 11 năm 1911, nổ ra vụ Langevin. Tất cả bạn bè của Paul Langevin đều biết rằng cuộc hôn nhân của ông đã không được hạnh phúc. Vốn là học trò cũ của Pierre Curie, chết vào năm 1906, Langevin tâm sự với Marie Curie, mà ông quen biết đã dài lâu. Sự quý mến lẫn nhau biến thành tình thương. Các báo chí giật gân công bố những bức thư trao đổi giữa Marie Curie và Paul Langevin, và buộc tội “ người nữ sinh viên Ba Lan ” đã phá vỡ hạnh phúc của một gia đình người Pháp. Cả hai đều đính chính nội dung của các bức thư nhưng vụ tai tiếng chỉ chìm đi khi Jeanne Langevin, vợ của Paul, chấp nhận một sự thỏa thuận “ à l’amiable ” và từ chối đưa vụ việc ra tòa. Chiến dịch báo chí đã hung bạo đến độ bộ trưởng giáo dục đã mong muốn rằng Marie Curie hãy trở về Ba lan.

Lúc khám phá radium, Marie Curie đã cách mạng hóa các khoa học. Trong y khoa, bà là nguồn gốc của bức xạ liệu pháp (radiothérapie), mà bà đã phát triển cùng với Claudius Regaud.
Marie Curie đặt Irène, đứa con gái 4 tuổi vào giường, và như mọi buổi chiều, bà kể cho con nghe một câu chuyện và hát lầm rầm một điệu nhạc của một bài hát cổ Ba Lan. Sau cùng khi Irène đã thiu thiu ngủ, bà đến gặp Pierre, chồng bà, và đề nghị ông cùng bà trở lại phòng thí nghiệm. Pierre Curie không thể từ chối. Chúng ta đang ở vào tháng 7 năm 1902. Marie muốn khảo sát lần nữa chlorure de radium mà sau cùng bà đã thu được sau 4 năm dài nghiên cứu. Như vậy, vào khoảng 23 giờ, họ lại lên đường đến phòng thí nghiệm, nếu ta có thể gọi như thế cái nhà kho cũ kỹ bằng gỗ, không tiện nghi, ngột thở vào mùa hè và đón tất cả các trận gió vào mùa đông. “ Cái phòng thí nghiệm này vừa giống cái chuồng bò và cái nhà kho chứa khoai tây. Giả sử tôi không thấy ở đây nhưng máy hóa học, có lẽ tôi đã tin rằng người ta chế giễu tôi ”, nhà hóa học Wilhelm Ostwald về sau đã tuyên bố như vậy.
Vào đầu buổi chiều, Marie để trên nệm rơm ống nghiệm trong đó chứa một décigramme de chlorure de radium mà bà đã trích được sau khi đã thao tác nhiều tấn quặng trong nhiều năm nay. Trong ngày décigramme này có dạng vẻ của một loại muối nào đó. Nhưng chiều nay, trong tranh tối tránh sáng, ống nghiệm tỏa ra một ánh sáng màu xanh xanh, như thể một con sâu láng bóng đã chiếm hữu ống nghiệm. Vào buổi bình minh của thế kỷ XX, sự khám phá vài hạt bụi huỳnh quang này sẽ cách mạng hóa thế giới khoa học. Hóa học, vật lý nhưng cũng y học sẽ được biến hóa sâu đậm. Cống hiến của Marie Curie cho khoa học to lớn đến độ, trường hợp ngoại lệ, bà sẽ được thưởng hai giải Nobel. Vào năm 1903, cùng với chồng, Pierre Curie, và với Henri Becquerel, bà đã nhận giải Nobel vật lý do những công trình nghiên cứu của họ về hiện tượng bức xạ (radiation) và vào năm 1911 bà sẽ nhận giải thưởng Nobel hóa học vì đã khám phá polonium và radium.
NHỮNG TIA URANIUM BÍ MẬT
Tất cả bắt đầu vào năm 1897. Marie đậu kỳ thi thạc sĩ khoa học vật lý. Năm trước đó, vào tháng chín, bà sinh ra đời một bé gái, Irène. Nhưng đối với người phụ nữ trẻ tuổi này, đến từ Ba lan năm 1891 để vào đại học, thì không có vấn đề dừng lại trên con đường tốt đẹp như vậy. Bây giờ bà phải thi lấy học vị tiến sĩ và để được như vậy bà phải tìm cho mình một chủ đề luận án.
Để tìm kiếm một tư tưởng độc đáo, bà lục lọi các báo cáo của những công trình nghiên cứu thí nghiệm mới nhất và bà dừng lại ở những công trình của Henri Becquerel. Trong lúc nghiên cứu về hiện tượng huỳnh quang của các muối uranium, Becquerel đã khám phá sự hiện hữu của một sự bức xạ (rayonnement). Thật vậy Becquerel đã phát hiện tính phóng xạ (radioactivité), nhưng không hay biết điều đó. Những công trình này làm cho Marie Curie phải suy nghĩ. Có thể phát xuất từ đâu năng lượng mà các hợp chất urane phát ra dưới dạng những tia bức xạ này ? Những câu hỏi này làm say mê nữ khoa học gia…Bà lấy làm chủ đề cho luận án của mình.
Đó là một lãnh vực chưa khai thác, một vùng đất chưa được thăm dò, tuyệt vời đối với người phụ nữ trẻ này, đã luôn luôn ưa thích những con đường ngang hơn là những con đường mòn. Trước hết bà ra sức đo năng suất ion hóa (pouvoir ionisant) của các tia uranium, được mệnh danh vào thời kỳ đó là những rayons uraniques. Sau vài tuần lễ, Marie Curie chắc chắn một điều : cường độ của sự bức xạ tỷ lệ với lượng uranium hiện diện trong mẫu nghiệm. Sự bức xạ này không bị ảnh hưởng bởi trạng thái của các hợp chất hóa học, cũng chẳng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ hay bất cứ những yếu tố bên ngoài nào. Nó cũng chẳng phát xuất từ sự tạo thành những phân tử mới. Sự bức xạ này là một tính chất nguyên tử. Bà đặt tên cho nó là “ radioactivité ” (tính phóng xạ).
MỘT TRỰC GIÁC THIÊN TÀI
Ngày nay ta biết một cách chính xác rằng đó là một hiện tượng vật lý tự nhiên trong đó những nhân nguyên tử không bền, được gọi là những chất đồng vị phóng xạ (radio-isotopes), bị biến hóa một cách ngẫu nhiên, “ bị tan rã ” đồng thời phát ra năng lượng dưới dạng những bức xạ khác nhau, để được biến đổi thành những nhân nguyên tử bền hơn, đã đánh mất một phần khối lượng của chúng. Những bức xạ được phát ra như thế từ nay được gọi, tùy theo trường hợp, là những tia apha, những tia beta hay những tia gamma.
Một cách không mệt mỏi, Marie Curie bắt đầu xem xét nhiều kim loại, muối và các chất quặng chứa uranium. Như thế bà đã khám phá ra rằng các quặng pechblende và chalcolite đúng là hoạt tính hơn uranium. Bà lại bắt dầu đo lường, 10 lần, 20 lần. Nhung kết quả không thay đổi. Tính bức xạ mạnh hơn này xuất phát từ đâu ? Marie Curie nêu những nghi vấn của mình cùng với chồng, Pierre. Bà không hiểu được, bà đã xem xét tất cả các nguyên tố hóa học đã được biết đến. Sau khi đã xoay trở câu hỏi theo khắp mọi hướng, nữ học gia đưa ra một lý thuyết táo bạo : tính phóng xạ này được sinh ra bởi những nguyên tố hóa học mới. Chính đó ! Chỉ có thể là như thế ! “ Pierre à, em không nhầm, bây giờ chỉ còn phải tìm ra những nguyên tố này.”
Người phụ nữ có trực giác thiên tài đã thuyết phục được Pierre Curie hợp sức với bà. Sau đó họ bắt đầu một công trình to lớn kéo dài 4 năm. Họ bắt đầu phần tách tất cả những corps chimique mà pechblende là một thành phần, nhằm tìm kiếm một hoạt chất. Họ thao tác hàng tấn chất quặng này để đạt được điều đó. Ngay năm 1898, họ đã khám phá hai nguyên tố, polonium, được Marie gọi như thế để tưởng nhớ về quê hương bà, và radium. Nhưng mãi cho đến khi đó không một ai đã thấy hai nguyên tố này. Đối với những nhà khoa học của thời kỳ đó, nếu không thể xác định trọng lượng phân tử của một nguyên tố điều đó có nghĩa là nguyên tố này không hiện hữu. Marie Curie không chán nản, bà tiếp tục tìm kiếm trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần…Cho đến vào cái ngày tháng 7 năm 1902 là lúc bà đã trích được chất chlorue de radium này. Chỉ vào năm 1909 Marie Curie mới phân lập radium thuần chất.
Các nhà khoa học trên toàn thế giới say mê khám phá này. Các thí nghiệm về tính phóng xạ gia tăng một cách nhanh chóng. Ngay năm 1900, những người Đức loan báo những tác dụng sinh lý của chất phóng xạ. Chẳng một chút sợ sệt, Pierre Curie khi đó cho cánh tay của mình tiếp xúc với radium. “ Da trở nên đỏ trên một diện tích 6 cm vuông ; hình dạng bên ngoài là hình dạng của một vết bỏng, nhưng da không, hay chỉ hơi đau đớn ”, ông đã quan sát như vậy trong một báo cáo gởi cho Viện hàn lâm. Sau một thời gian nào đó, vết đỏ, mặc dầu không lan rộng, nhưng đã bắt đầu gia tăng cường độ ; ngày thứ 20 thành hình các vảy rồi một vết thương xuất hiện. Song hành, Pierre Curie chứng thực rằng các đầu của các ngón tay, do thao tác các ông nghiệm hay các capsule chứa các hoạt chất, trở nên cứng và đau. Về phía mình, Henri Becquerel, do mang trong túi áo gilet một ống thủy tinh chứa radium, cũng bị bỏng.
Được cấp báo về khả năng của các tia phóng xạ, Pierre nghiên cứu tác dụng của radium trên các động vật cùng với hai thầy thuốc nổi tiếng vào thời kỳ đó. Sau vài thí nghiệm, những người thầy thuốc này tin chắc : radium phá hủy các tế bào bị bệnh và có thể chữa lành bệnh lupus và vài dạng ung thư. Những điều trị đầu tiên được áp dụng. “ Tác dụng của radium trên da đã được nghiên cứu bởi BS Daulos ở Saint-Louis, Marie Curie đã viết như vậy. Theo quan điểm này, radium cho những kết quả đáng phấn khởi. Biểu bì một phần bị phá hủy bởi tác dụng của nó được tái tạo trở lại trạng thái lành mạnh. ” Curiethérapie ra đời từ đó.
CỨU CÁC MẠNG SỐNG.
Thật vậy, vào năm 1906, lần đầu tiên ung thư được tuyên bố là tai ương của nhân loại. Cuộc chiến chống ung thư được phát động. Cùng năm này, Claudius Regaud, thầy thuốc người Lyon, thử áp dụng vào điều trị những quy tắc quang tuyến sinh học (radiobiologique) mà ông đã khám phá, bằng cách rọi tia X lên những bệnh nhân nan y, và thu được những kết quả đáng phấn khởi. Nhưng Marie Curie ít quan tâm đến những biến cố này. Cái chết do tai nạn của Pierre Curie làm bà sững sốt. Bà vượt qua thử thách nhờ tình thương mà bà hướng vào các con gái bà nhưng cũng bằng cách mãnh liệt lao mình vào những công trình nghiên cứu của bà.
3 năm sau, Emile Roux, người cộng tác trung thành của Louis Pasteur, đứng đầu Viện danh tiến này, đề nghị thành lập một phòng thí nghiệm quy tụ hai cực nghiên cứu. Ý tưởng của ông là tập hợp, trên cùng một địa điểm, nghiên cứu cơ bản (recherche fondamentale) về tính đồng vị phóng xạ (radioactivité) và nghiên cứu những áp dụng lên người sống. Viện Pasteur và đại học Paris sẽ liên kết để xây dựng, trên địa điểm Montagne Sainte-Geneviève, Institut du radium. Khi đó Emile Roux đề nghị với Claude Ragaud đứng đầu phòng thí nghiệm nghiên cứu sinh học. Thầy thuốc người Lyon chấp nhận lời yêu cầu. Các công trình xây dựng có thể bắt đầu. Marie Curie theo dõi sát công trường xây dựng. Bà không do dự leo lên các giàn giáo (échafaudage) và chính bà đã trồng các cây hoa hồng của khu vườn vẫn luôn luôn ngăn cách hai cánh của Viện radium. Lúc đó bà đã hơn 40 tuổi, nhưng bà muốn một phòng thí nghiệm được xây dựng để dùng được lâu, sẽ còn ở đấy 20, 30 hay 50 năm. Các công trình chấm dứt vào năm 1914, trước Đệ Nhất Thế Chiến, như một coup d’arrêt đối với Viện radium.
Vào cuối những năm 1920, Marie Curie ngã bệnh. Người ta tin rằng đó là bệnh lao. Mặc dầu những hệ lụy về sức khỏe, bà vẫn tiếp tục làm việc ở Viện radium. Bà mất ngày 5 tháng 7 năm 1934 do bệnh ung thư máu (leucémie : bệnh bạch cầu), có lẽ gây nên bởi các tia phóng xạ radium mà bà đã chịu nhưng khi đó không hay biết những mối nguy hiểm đối với sức khỏe, nhưng cũng chính radium này về sau sẽ cứu không biết bao nhiêu mạng người.

                                       CURIETHERAPIE LÀ GÌ ?
     Ngày nay “ curiethérapie ” vẫn còn thường được sử dụng. Nguyên tắc đơn giản : rọi tia X vào một khối u bằng cách đặt một chất phóng xạ (substance radioactive) tiếp xúc với nó. Curiethérapie có thể sử dụng những phương tiện vật lý, thí dụ những kim iridium -192 được đưa vào trong một khối u ung thư da hay những hạt iode –125 được đặt trong mô ung thư của một tuyến tiền liệt (curiethérapie interstitielle). Ta cũng sử dụng curiethérapie métabolique, căn cứ trên khả năng tập trung iode của các tế bào giáp trạng, bình thường hay ung thư để điều trị bệnh tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) hay những ung thư của tuyến giáp trạng. Sau cùng, curiethérapie endocavitaire rất được sử dụng để điều trị những khối u ung thư của cổ tử cung, của âm đạo và của khí quản.

(LE FIGARO 12/8/2012)

2/ THẤT BẠI CỦA NHỮNG THỬ NGHIỆM CỦA CÁC VACCIN CHỐNG BỆNH ALZHEIMER.
Luc Buée là chuyên gia về bệnh Alzheimer ở trung tâm nghiên cứu Jean-Pierre-Aubert (Lille).
Hỏi : Được trắc nghiệm trên hàng ngàn bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, cuối cùng hai vaccin điều trị (vaccin thérapeutique) đã tỏ ra không có hiệu quả. Những vaccin này đã nhắm vào những gì ?
Luc Buée : Bapineuzumab và solanezumab là những kháng thể nhắm vào những “ peptides beta-amyloide ”, những phân tử tích tụ trong não bộ của những bệnh nhân để tạo nên những mảng được gọi là lão suy (plaques séniles). Thật vậy ta nghi ngờ những mảng này góp phần làm chết các neurone, và như thế góp phần vào những rối loạn than kinh đặc trưng của bệnh Alzheimer. Mục tiêu đề ra là những kháng thể này loại bỏ những mảng lão suy hay ngăn không cho chúng được tạo thành. Tác dụng của hai kháng thể này đã được so sánh với tác dụng của placebo trong khung cảnh những thử nghiệm trên 2000 bệnh nhân trong 18 tháng. Kết quả : không một kháng thể nào đã cải thiện được tình trạng nhận thức (état cognitif) của các bệnh nhân.
Hỏi : Những thất bại này phải chăng khiến ta phải bỏ không còn theo đuổi hướng vaccin nữa ?
Luc Buée : Không. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, những kết quả này là do profil của các bệnh nhân tham gia vào những thử nghiệm này. Thật vậy, căn bệnh phát khởi 10 đến 15 năm trước những triệu chứng đầu tiên. Như thế, có lẽ phần lớn bệnh nhân đã đánh mất quá nhiều neurone, vì vậy các vaccin này đã không thể có hiệu quả lên năng lực nhận thức (capacité cognitive) của họ. Vậy ta có thể nghĩ rằng chúng đáng lý ra có hiệu quả nếu ta cho chúng sớm hơn. Vì vậy việc nhờ đến các công cụ cho phép một chẩn đoán sớm hơn là cần thiết.
Hỏi : Những hướng vaccin khác phải chăng đang phát triển ?
Luc Buée : Vâng, hướng quan trọng khác nhằm nhắm vào protéine “Tau”. Trong bệnh Alzheimer, protéine này có một dạng bệnh lý, ngưng kết trong các neurone, khiến chúng bị thoái hóa. Cùng với kíp nghiên cứu của tôi, chúng tôi đã tiêm vào những con chuột mô hình (souris modèles) của bệnh, một antigène giống với dạng bệnh lý của “ Tau ” nhằm huấn luyện hệ miễn dịch của chúng nhận biết protéine này và chống lại nó. Những con chuột này đã có thể bảo tồn trí nhớ ngắn hạn (mémoire à court terme), dạng trí nhớ bị biến đổi trong bệnh Alzheimer.
Hỏi : Phải chăng chiến lược này đã được trắc nghiệm ở người ?
Luc Buée : Loại tạo miễn dịch (immunisation) này được gọi là “ hoạt động ” đã từng được trắc nghiệm trên các bệnh nhân để huấn luyện hệ miễn dịch của họ chống lại peptide béta-amyloide. Nhưng các thử nghiệm đã bị hủy bỏ bởi vì một vài đã làm phát triển những phản ứng viêm nghiêm trọng của não bộ. Vậy hướng nhiều hứa hẹn nhất dường như là sử dụng các kháng thể để chính chúng tấn công vào dạng bệnh lý của Tau : những thử nghiệm trên động vật đang được tiến hành. Và nhiên hậu, dĩ nhiên giải pháp sẽ là tiêm càng sớm càng tốt một vaccin, phối hợp đồng thời các kháng thể hiệu quả chống lại Tau bệnh lý và chống lại peptide beta-amyloide.
(LA RECHERCHE 11/2012)

3/ MẶT CHE DẤU CỦA CÁC TRIỆU CHỨNG ĐAU ĐẦU
Càng ngày càng có nhiều giải pháp để điều trị căn bệnh gây phế tật này.
CEPHALES. Một nửa những người bị bệnh đau nửa đầu (migraineux) không hay biết điều đó, mặc dầu họ khổ sở vì bệnh, trong khi từ nay có sẵn những điều trị có hiệu quả. Thật vậy, đó là một bệnh thường xảy ra, ảnh hưởng từ 15 đến 20% dân chúng và đặc biệt hơn những phụ nữ trong 3 trường hợp trên 4.
“ Đối với nhiều người, kể cả vài thầy thuốc, migraine không phải là một căn bệnh, GS Gilles Géraud, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh thuộc CHU de Toulouse đã nhấn mạnh như vậy. Đôi khi migraine được xem như là một hậu quả của đời sống hiện đại, một mối ưu tư của “ người vợ hiền ” (un souci de bonne femme) mà bệnh nhân phải cùng chung sống. ” Bệnh migraine, mặc dầu hiền tính, tuy nhiên có thể rất gây phế tật. Những giải pháp thỏa mãn có thể được đề nghị cho đại đa số các bệnh nhân, đôi khi sau một thời kỳ mò mẫm để tìm ra một giải pháp thích ứng bởi vì mỗi bệnh nhân khác nhau đứng trước bệnh migraine.
TÌM MỘT PHƯƠNG THÚC TỐT
Đó là một căn bệnh, được thể hiện bằng các cơn, lúc các cơn xảy ra bệnh nhân cảm nhận những triệu chứng thần kinh và mạch máu khác nhau gây phế tật ít hay nhiều. Bệnh được đặc trưng bởi triệu chứng đau đầu, được cảm nhận về một bên duy nhất (céphalée unilatérale), mạch đập (pulsatile), gia tăng khi gắng sức vật lý. Bấy nhiêu các tiêu chuẩn không hiện hữu trong đau đầu do căng thẳng (céphalée de tension), một nguyên nhân thường xảy ra khác của đau đầu. Cơn đau nửa đầu (crise migraineuse) cũng có thể được kèm theo bởi những rối loạn tiêu hóa như mửa hay nôn, nhiều bệnh nhân cũng kêu không chịu được ảnh sáng hay tiếng động.
Một số người là những nạn nhân của migraine với tiền triệu (aura), một tập hợp những triệu chứng thần kinh, thường xuất hiện trước cơn và kéo dài không hơn 1 giờ. Những triệu chứng này có thể là những rối loạn thị giác như những vằn sáng (zébrures lumineuses) xuất hiện trong thị trường hay sự biến mất của một phần thị trường. Những cảm giác kiến bò hay mất cảm giác có thể xuất hiện trong các chi và, đối với vài bệnh nhân, bệnh đau nửa đầu kèm theo những rối loạn vận động liệt bán thân.
Như vậy để điều trị những cơn đau nửa đầu, thầy thuốc đề nghị những thuốc kháng viêm và/hoặc những triptans. Thật vậy, các triptans, cuộc cách mạng thật sự đầu tiên trong điều trị bệnh migraine, từ 10 năm nay là bộ phận của vũ khí điều trị tuyến đầu. Họ mới các chất co mạch (vasoconstricteur) này nhằm một cách đặc hiệu vào sự giãn mạch liên kết với bệnh migraine và gồm có 7 loại thuốc.
“ Ta thường phải thử nhiều loại thuốc để xác định loại nào sẽ hiệu quả nhất và được dung nạp tốt nhất bởi mỗi bệnh nan ”, GS Géraud đã xác nhận như vậy. Như thế đứng trước một cơn đau nửa đầu, bệnh nhân trước hết sẽ có thể sử dụng một thuốc kháng viêm và sau đó thêm vào một triptan nếu điều đó không đủ. Trong vài trường hợp, chính điều ngược lại tỏ ra hiệu quả nhất và đôi khi, nhất là khi cơn phát khởi về đêm đánh thức bệnh nhân dậy, cả hai loại thuốc sẽ được dùng đồng thời.
Thường nhất, các điều trị càng có hiệu quả khi được sử dụng ngay lúc cơn đau bắt đầu. “ Vài bệnh nhân bị thất vọng bởi các điều trị bởi vì họ không dùng thuốc khá sớm ”, GS Géraud đã nhấn mạnh như vậy. Những bệnh nhân khác khước từ tìm một giải pháp, những thử nghiệm điều trị đầu tiên đã không có hiệu quả : đôi khi phải cần nhiều tháng để tìm ra một phương cách tốt. Trong khi một số điều trị nào đó đã tỏ ra có hiệu quả, cần phải tránh vài loại thuốc khác. Codéine và những dẫn xuất morphine, đôi khi được kê đơn một cách quá dễ dàng, là một giải pháp xấu : chúng có thể gây nên một tình trạng quen thuốc (accoutumance) khi các cơn xảy ra thường xuyên và sự cai nghiện đặc biệt khó khăn. Caféine cũng không phải là điều trị thích ứng, bởi vì nó có thể duy trì bệnh migraine.
NHỮNG MÒ MẪM
Khi các cơn xảy ra thường xuyên, tốt hơn hết là tính đến một điều trị nền (traitement de fond) nhằm ngăn ngừa các cơn và/hoặc tiền triệu (aura). Sự nghiên cứu về các điều trị nền ít tiến triển hơn so với những điều trị cơn, nhưng có nhiều họ thuốc đã chứng tỏ hiệu quả của chúng. Giải pháp tùy theo mỗi cá thể và đôi khi cần mò mẫm để thích ứng với mỗi bệnh nhân.
Những điều trị sẵn có hiện nay cho phép, trong đại đa số các trường hợp, giảm một nửa tần số và cường độ các cơn. Một kết quả mặc dầu không cho phép những người bệnh đau nửa đầu quên căn bệnh của mình, nhưng có thể đủ để không còn phải lo ngại thường xuyên cái lúc mà cơn đau sẽ xảy đến với họ.
(LE FIGARO 15/10/2012)

4/ BỆNH MIGRAINE : NHỮNG HƯỚNG DI TRUYỀN ĐỂ HIỂU RÕ HƠN.
6 gène liên hệ trong chứng đau nửa đầu không có tiền triệu (migraine sans aura), thường xảy ra nhất, vừa được khám phá. 4 gène, có liên hệ trong những thể gia đình với triệu chứng tiền triệu liệt bán thân (aura hémiplégique) đã được nhận diện trong những năm qua. Những kết quả này sau cùng mang lại chìa khóa để hiểu một căn bệnh mà nguồn gốc và các cơ chế vẫn còn không được biết rõ.
Mặc dầu migraine thường được tìm thấy ở nhiều người trong cùng một gia đình, nhưng hiếm khi đó là một căn bệnh di truyền trực tiếp gây nên bởi một gène. Trong đại đa số các trường hợp, sự hiện diện của những biến dị trên vài gène làm biến đổi tính nhạy cảm đối với vài yếu tố làm phát khởi và đáp ứng của cơ thể.
“ Từ nay chúng ta biết rằng những yếu tố nhạy cảm di truyền và môi trường làm dễ sự phát khởi những cơn đau nửa đầu ”, GS Elisabeth Tournier-Lasserve, trưởng phòng xét nghiệm di truyền phân tử thuộc bệnh viện Lariboisière (Paris), và nữ giám đốc của một unité Inserm de génétique vasculaire, đã nói như vậy. Vài trong những gène này được tìm thấy trên nhiễm sắc thể X, điều này có thể giải thích tại sao các phụ nữ thường bị bệnh nhất.
Như vậy ngưỡng phát khởi (seuil de déclenchement) của một cơn đau nửa đầu có thể biến thiên từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác tùy theo những biến dị trên vài gène. Các bệnh nhân thường biết rõ những biến cố có thể làm dễ sự phát khởi của một cơn : stress, sự mệt nhọc, vài loại thức ăn, những biến đổi hormone liên quan với chu kỳ kinh nguyệt. Quá trình phát khởi đã không được làm sáng tỏ cũng như những lý do giải thích tại sao vài trong số những yếu tố này tác động lên một số người nhưng không trên những người khác.
NHẠY CẢM NEURONE.
Vài gène mà từ nay ta biết vai trò của chúng trong bệnh migraine dường như xác nhận những kết quả khác từ chụp hình ảnh. Thật vậy vài gène liên kết với những kênh ion hiện diện trong thành tế bào và đóng một vai trò quan trọng trong tính nhạy cảm của neurone. Một sự bất thường trong sự vận hành của chúng như thế có thể giải thích làn sóng khử cực của các neurone lan truyền rất chậm trong não bộ đồng thời gây nên những biểu hiện thần kinh của tiền triệu (aura).
Ngoài ra, vài nhà nghiên cứu đánh giá rằng hiện tượng này xảy ra trong tất các các cơn migraine nhưng không luôn luôn gây nên những biểu hiện của tiền triệu. Mặt khác, các nhà nghiên cứu đã nhận diện một thành phần viêm làm dễ sự kích hoạt những dây thần kinh tam thoa và những message mà những dây thần kinh này chuyển đến hệ mạch máu, nhất là ở những động mạch màng não, điều này giải thích những hiện tượng giãn mạch và đau đớn.
Những khám phá này cho phép giải thích tại sao những thuốc kháng viêm hay vài thuốc hướng thần kinh (psychotropes) có hiệu quả để điều trị bệnh đau nửa đầu. Ngược lại, vẫn hy vọng rằng những khám phá này sẽ mở ra những hướng điều trị mới.
(LE FIGARO 15/10/2012)

5/ STRESS LÚC LÀM VIỆC VÀ CÁC BỆNH TIM : MỘT MỐI LIÊN HỆ ĐƯỢC XÁC NHẬN
BS Patrick Légeron, thầy thuốc tâm thần thuộc bệnh viện Sainte-Anne, tác giả của báo cáo về tình trạng stress và những nguy cơ tâm lý-xã hội, bình luận công trình nghiên cứu mới nhất đã chứng minh những nguy cơ gia tăng bị nhồi máu cơ tim ở những công nhân viên trong tình trạng hết sức căng thẳng.
Hỏi : Những ảnh hưởng của một tình trạng căng thẳng (stress) lên cơ thể như thế nào ?
BS Patrick Légeron. Stress không phải là một căn bệnh nhưng là một phản ứng của cơ thể khi chúng ta phải đương đầu với một tình huống đặc biệt khó khăn hay gây lo âu, thậm chí đe dọa. Có một stress tốt và một stress xấu. Stress tốt, thời gian tạm thời, có lợi. Cơ thể phóng thích adrénaline, kích thích tố có tác dụng kích thích những chức năng tim và hô hấp, làm gia tăng oxygénation não bộ, gia tăng sự cảnh tỉnh và những chức năng nhận thức.
Hỏi : Ngược lại, những nguy hiểm của một stress xấu diễn biến liên tục là gì ?
BS Patrick Légeron. Đó là sự tán loạn (le débâcle) ! Bởi vì sự phóng thích adrénaline, trở nên quá mạnh, được liên kết với sự phóng thích của một hormone khác, cortisol. Kết quả : người bị căng thẳng bị rối loạn chức năng tim, một sự co các cơ, một sự gia tăng của huyết áp…Song song, cortisol có một tác dụng lên toàn bộ cơ thể, thí dụ làm giảm những đề kháng miễn dịch. Những phản ứng xúc cảm khác xảy ra đồng thời. Tùy theo các trường hợp : sự hoảng sợ, sự nổi giận, tính chất hung dữ, thậm chí cả ba cùng một lúc.
Hỏi : Những công trình mới được công bố gần đây trong tạp chí khoa học “the Lancet ” xác nhận một mối liên hệ giữa một tình trạng căng thẳng lớn khi làm việc và một nguy cơ nhồi máu cơ tim. Ông có thể bình phẩm những kết quả này ?
BS Patrick Légeron. Đó là những kết quả mới nhất của một phân tích méta (bao gồm tổng cộng những công trình nghiên cứu lớn ở châu Âu), được tiến hành trên 200.000 người. Ở Pháp, nhóm Gazel đã theo dõi, từ năm 1989 đến 2006, 20.000 nhân viên EDF. Mục đích là xác lập mối liên hệ giữa những tình trạng bó buộc trong khi làm việc và tỷ lệ xuất hiện bệnh động mạch vành. Ở những người bị căng thẳng mức độ cao, nguy cơ nhồi máu đã gia tăng 23%. Điều này có nghĩa rằng, trên 100.000 trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra hàng năm ở Pháp, 4000 trường hợp có thể quy cho stress trong khi làm việc : course contre la montre, sức ép của các kết quả, sự mất quân bình giữa đời sống nghề nghiệp và đời sống riêng tư, sự quá tải của các công việc, tình trạng bấp bênh về tương lai và sự thay đổi thường trực nhiệm sở. Điều chứng thực khác theo Centre d’études de l’emploi : trong số 25 nước được khảo sát, những người đồng hương của chúng ta cảm thấy bị căng thẳng nhất !
Hỏi : Làm sao ông có thể giải thích tình trạng stress xấu có thể gây nên một bệnh tim ?
BS Patrick Légeron. Ta có thể so sánh tình trạng căng thẳng với một động cơ đang quay. Khởi đầu, ta chăm lo : đó là giai đoạn phòng ngừa. Ngay khi có những dấu hiệu báo động, như hồi hộp kèm theo những vấn đề về tiêu hóa, mất ngủ, rối loạn tâm lý, động cơ trong tình trạng nóng quá mức (surchauffe), điều này là trường hợp khi ta nói căng thẳng lúc làm việc (stress au travail). Nếu ta không làm lạnh động cơ, nó sẽ hỏng máy. Vào giai đoạn này, người bị stress lâm bệnh. Chức năng tim của anh ta đã bị rối loạn trong một thời gian quá lâu. Nguy cơ nhồi máu cơ tim, mặc dầu nhỏ, nhưng không phải là không đáng kể.
Hỏi : Những lời khuyên của ông để quản lý tốt hơn stress trong đời sống nghề nghiệp là gì ?
BS Patrick Légeron.
1. Đừng chỉ đầu tư vào trong công việc của mình, phải biết gìn giữ cuộc sống cá nhân và phát triển một thú tiêu khiển (hobby).
2. Chống lại sự căng thẳng của thân thể bằng những bài tập thư giãn. Thí dụ : trong ngày, ra khỏi văn phòng và tách mình trong chốc lát, ngồi và thở rất chậm bằng bụng đồng thời làm giãn các cơ và duỗi vai ra. Hãy nhắm mắt lại và tự rọi vào mình một hình ảnh an lòng. Tất cả các kỹ thuật thư giãn đều tốt để làm chậm lại nhịp tim : yoga, massage, trầm tưởng …
3. Sử dụng một trong những vũ khí tốt nhất chống lại stress xấu : hoạt động vật lý. Hai S : sédentarité (nhàn rỗi không hoạt động) + stress (tình trạng căng thẳng) = nguy hiểm ! Các môn thể thao dai sức (sports d’endurance) được dùng ưu tiên, nhưng chỉ cần bước nhanh mỗi ngày 30 phút cũng rất tốt để giải thoát những căng thẳng.
4. Chú ý những người bạn giả hiệu của stress : cà phê, thuốc lá, rượu, cho cảm tưởng làm giảm stress những trái lại làm gia tăng tình trạng căng thẳng. 5. Học quản lý tốt hơn những xúc cảm của mình và tránh tập trung vào những tư tưởng âm tính.
(PARIS MATCH 1/11 – 7/11/2012)

6/ BỆNH SỐT RÉT : MỘT HƯỚNG NGHIÊN CỨU THỨ HAI RA ĐỜI.
Trên mặt trận chống bệnh sốt rét, hai vaccin (xem TSYH những số trước) đang được trắc nghiệm trên các em bé ở Châu Phi dưới Sahara (Afrique sub-saharienne), một trong những vùng của địa cầu có dịch bệnh gây chết người nhất. Dối với vaccin tiến bước nhất trong số hai vaccin này, được phát triển bởi GlaxoSmithKline, những kết quả thử nghiệm trên các em bé dưới 3 tháng sẽ được biết trước cuối năm nay. Nhưng không một vaccin nào trong hai vaccin khả dĩ này, được chế tạo từ những protéine của ký sinh trùng, hiện nay vượt quá một tỷ lệ hiệu quả 50%. Vì thế, một hướng nghiên cứu khác đang thắng thế. Sản xuất các vaccin từ các ký sinh trùng sống được làm giảm độc lực đã trở nên có thể thực hiện và an toàn từ khi ta thao tác được chúng về mặt di truyền, Robert Ménard, thuộc unité de biologie et génétique du paludisme của Viện Pasteur (Paris) đã xác nhận như vậy. Mặc dầu hiệu quả hơn nhưng phương pháp này đặt ra vấn đề hậu cần (logistique) quan trọng : thật vậy một vaccin như thế phải được tích trữ ở nhiệt độ –80 độ C.
(SCIENCE ET VIE 11/2012)

7/ NHỮNG VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO KHÔNG CHUYÊN : NHỮNG NGUY CƠ TAI BIẾN TIM.
GS GS Franois Carré, médecin du sport et cardiologue thuộc hôpital Pontchaillou de Rennes, cảnh giác chống lại những hiểm nguy khả dĩ của một thực hành thể thao cường độ mạnh ở những người không được huấn luyện.
Hỏi : Khi nào ông cho rằng một thực hành thể thao (pratique sportive) trở nên quá mạnh ?
GS François Carré. Có hai giai đoạn trong quá trình gắng sức. Trong giai đoạn đầu tiên, những vận động viên thể thao này khó thở vừa phải. Họ còn có thể huýt sáo, hát lầm rầm nhưng buộc phải dừng lại từng lúc để cơ thể của họ thích ứng với những nhu cầu oxygène nhiều hơn. Giai đoạn thứ hai, ở những người chơi thể thao không chuyên (sportifs amateurs) này, có những nguy cơ. Thở rất hổn hển, bây giờ các vận động viên này buộc cơ thể mình phóng thích quá nhiều adrénaline (một kích thích tố, khi được tiết quá mức, có hại cho tim), hormone này có thể gây nên một loạn nhịp tim, và, trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, chết đột ngột.
Hỏi : Những nguyên nhân thường nhất của tai biến tim là gì ?
GS François Carré : Tuổi tác là một yếu tố quan trọng. Sau 35 tuổi, thường nhất đó là vỡ một mảng xơ mỡ (plaque d’athérome) trong khi gắng sức. Mảng vỡ bít một động mạch (huyết khối : thrombose) mang máu đến tim, và tim, do thiếu oxy, khi đó sẽ bị loạn nhịp, có thể có biến chứng rung thất (fibrillation ventriculaire) gây nên chết đột ngột. Nguy cơ này gia tăng ở những bệnh nhân bị một bệnh tim hay đã từng bị một nhồi máu. Trong giai đoạn hai quá mạnh này, thể thao không có tác dụng có lợi.
Hỏi : Ở những phụ nữ không được tập luyện, phải chăng những nguy cơ giống với những nguy cơ ở đàn ông?
GS François Carré : Ta ghi nhận ít trường hợp chết đột ngột hơn nhiều ở những phụ nữ này (cứ 6 và 8 trường hợp chết đột ngột xảy ra ở đàn ông thì chỉ có một ở phụ nữ). Điều này ta không biết rõ tại sao. Phải chăng có lẽ bởi vì những phụ nữ ít đua tranh hơn ?
Hỏi : Có những điều kiện môi trường không thuận lợi làm gia tăng những nguy cơ ?
GS François Carré : Có 3 trường hợp chính. 1. Trời quá nóng : trên 30 độ C. Điều này sẽ làm gia tăng quá mức nhiệt độ của cơ thể. Cơ thể sẽ khó làm quân bình giữa quá trình làm lạnh (refroidissement) và sự cung cấp máu cần thiết đến các cơ đang hoạt động. 2. Trời quá lạnh : dưới 5 độ C. Các huyết quản khó mở ra để tránh quá trình làm lạnh của cơ thể, điều này làm trở ngại tuần hoàn máu, có thể dẫn đến một sự thiếu oxy ở tim. 3. Khám phá mới đây : sự ở nhiễm trong những thành phố lớn. Trong trường hợp gắng sức mạnh, khi sự ô nhiễm đạt đến cao điểm có thể làm dễ sử xuất hiện loạn nhịp ở những người có sức khỏe kém.
Hỏi : Những triệu chứng nào nhất thiết buộc vận động viên phải dừng lại trong khi hoạt động thể thao ?
GS François Carré : Một cơn đau ở ngực, hồi hộp, những cảm giác chóng mặt, tình trạng khó ở, buộc phải ngừng tức khắc và, về sau, phải thăm khám thầy thuốc của mình bởi vì có thể có một vấn đề tim gây nên. Quá nhiều người đàn ông tin chắc rằng tim của họ được miễn dịch do một sự luyện tập đều đặn, và khi một triệu chúng xuất hiện, họ nghĩ rằng nguyên nhân là ở nơi khác : trung bình 50% những tai biến tim xảy ra ở những vận động viên thể thao phớt lờ những triệu chứng báo động.
Hỏi : Những lời khuyên của ông để thực hành một môn thể thao theo đúng quy tắc ?
GS François Carré : Trước hết, thể thao mang lại nhiều lợi ích : nó làm hạ huyết áp, nồng độ cholestérol xấu, cải thiện khả năng giãn của các huyết quản, làm giảm nguy cơ huyết khối (thrombose), làm chậm tần số tim. Nhưng trong trường hợp thực hành xấu, thể thao cường độ mạnh có thể gây nên những tai biến tim.
Về chạy bộ, phải bắt đầu từ từ (trong khoảng 10 phút) và chậm lại từ từ, uống nhiều nước trong khi gắng sức sau 40 hay 45 phút. Đối với những người nghiện thuốc lá, đừng bao giờ hút trong hai giờ trước và sau khi thực hành thể thao. Trong cuộc sống hàng ngày, một bài tập dai sức (exercice d’endurance), như bước nhanh trong 30 phút (ngay cả bị phân đoạn, như 3 lần mỗi lần 10 phút), đặc biệt tốt cho tim.
(PARIS MATCH 25/10 – 31/10/2012)

8/ HƯỚNG VỀ MỘT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI ?
Ta hầu như nghĩ rằng ung thư phổi nằm ngoài khả năng điều trị, nhưng tin vui, carcinome épidermoide, một loại ung thư của phổi, khối u phổi thường gặp thứ hai ở Pháp sau adénocarcinome phế quản, sắp đến có thể đuợc điều trị bởi y khoa. Hy vọng được mang lại bởi một công trình nghiên cứu quốc tế, được công bố trong tạp chí Nature, trong khung cảnh của Projet Cancer Genome Atlas. Dự án này thật là phân tích quan trọng nhất và chi tiết nhất trong số những phân tích di truyền đã từng được thực hiện đối với loại ung thư này. 300 tác giả đã hợp lại để nhận diện, trong 178 mẫu nghiệm ung thư (échantillons tumoraux), những biến dị có liên hệ trong sự xuất hiện của bệnh và hoàn toàn không được nghi ngờ cho đến khi đó. Những bất thường có liên quan đến những gène tác động lên các enzyme có liên hệ trong những giai đoạn chủ chốt của sự tăng trưởng của những tế bào ung thư.
Tin vui : đã có những điều trị cho phép chống lại những tác dụng có hại của 2/3 trong số những bất thường này. Kết quả này nằm trong một trào lưu cải tiến về ung thư học, không còn xét đến những khối u tùy theo cơ quan mà chúng phát xuất mà đúng hơn tùy theo những bất thường di truyền mà chúng có. Một phương thức mới nhiên hậu hẳn làm biến đổi những đường cong tỷ lệ tử vong (courbe de mortalité) của bệnh ung thư này, chịu trách nhiệm 10.000 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2012)

9/ LÀM VIỆC BAN ĐÊM CÓ LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ PHÁT TRIỂN UNG THƯ VÚ ?
Pascal Guénel
Directeur de Recherche
Centre de recherche en épidémiologie et santé des populations de l’Inserm

Là nguyên nhân ung thư đầu tiên ở các phụ nữ, ung thư vú mỗi năm chiếm hơn 1,5 triệu trường hợp mới trên khắp thế giới trong đó 53.000 trường hợp ở Pháp. Mặc dầu ta đã biết vài yếu tố nguy cơ ung thư vú như tình trạng dậy thì sớm, tình trạng mãn kinh muộn, chậm có thai lần đầu tiên hay vài yếu tố di truyền, những yếu tố môi trường hay nghề nghiệp đã rất ít được nghiên cứu. Để bổ sung những kiến thức về những nguyên nhân khả dĩ gây ung thư vú, một công trình nghiên cứu được mệnh danh CECILE đã được tiến hành ở Inserm. Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã so sánh hành trình nghề nghiệp của 1200 phụ nữ đã phát triển một ung thư vú giữa năm 2005 và 2007 với hành trình của 1300 phụ nữ chứng có sức khoẻ tốt.
Trong số những kết quả nổi bật nhất, từ đó rút ra rằng ung thư vú thường được quan sát ở những phụ nữ đã làm việc về đêm hơn là những phụ nữ đã không bao giờ có loại việc làm này. Những công trình nghiên cứu trước đây đã quan sát sự hiện hữu của một mối liên hệ giữa ung thư vú và việc làm về đêm ở các nữ y tá. Tính độc đáo của công trình nghiên cứu của chúng tôi là thực hiện trên một tổng thể lớn những nghề nghiệp đòi hỏi làm việc về đêm và cho phép xác nhận những đặc điểm của công việc về đêm có thể là nguồn gốc của một sự gia tăng nguy cơ bị ung thư vú.
NHỊP NGÀY ĐÊM
Tại sao những công việc về đêm có thể gây nên một nguy cơ gia tăng bị ung thư vú. Những cơ chế được nêu lên để giải thích mối liên hệ này, đã được nêu lên từ nhiều năm, hướng về những rối loạn của đồng hồ sinh học nội tại (horloge biologique interne) kiểm soát chu kỳ sinh lý thức-ngủ (cycle veille-sommeil) được gọi là nhịp ngày đêm (rythme circadien). Thật vậy, những rối loạn của nhịp ngày đêm ở những người làm việc ban đêm hay với những giờ giấc chênh lệch (horaire décalé) có thể biến đổi nhiều chức năng sinh học như sự tăng sinh tế bào, sự tiết kích thích tố hay hệ miễn dịch, và như thế có thể làm dễ sự xuất hiện của những ung thư. Vào năm 2010, Trung tâm quốc tế nghiên cứu chống ung thư (CIRC : Centre international de recherche contre le cancer), trên cơ sở những khuyến nghị của một nhóm chuyên gia, đã xếp loại công việc dẫn đến những rối loạn của nhịp ngày đêm như là “ có khả năng gây ung thư ” (probablement cancérigène).
Chúng tôi đã xem xét tác động của việc làm về đêm lên ung thư vú trong một công trình nghiên cứu lớn trên dân chúng, được thực hiện ở Ille-et-Vilaine và ở Côte d’or cho đến năm 2008. Quá trình nghề nghiệp và những giờ giấc làm việc của 2500 phụ nữ tham gia đã được xem xét một cách tỉ mỉ. Hơn 11% những phụ nữ đã làm việc ban đêm vào một lúc nào đó trong cuộc đời nghề nghiệp của họ. Nguy cơ ung thư vú đã gia tăng khoảng 30% ở những phụ nữ đã làm việc ban đêm so với những phụ nữ khác. Sự gia tăng nguy cơ này đặc biệt rõ rệt ở những phụ nữ đã làm việc về đêm trong hơn 4 năm hay ở những phụ nữ có nhịp độ làm việc dưới 3 đêm mỗi tuần, nghĩa là những chênh lệch giờ giấc (décalage de phase) thường xuyên hơn giữa nhịp ngày (ryhme du jour) và nhịp đêm (rythme de nuit). Sau cùng, sự liên kết giữa ung thư vú và làm việc về đêm mạnh hơn khi ta xét đến công việc về đêm được thực hiện trước thai nghén lần đầu. Kết quả này có thể được giải thích bởi một tính chất dễ bị thương tổn (vulnérabilité) lớn hơn của những tế bào tuyến vú, mà sự thành thục không hoàn toàn ở những phụ nữ đã không bao giờ sinh đẻ.
Công trình nghiên cứu của chúng tôi củng cố những kết quả của những công trình nghiên cứu trước đây và đặt vấn đề cứu xét việc làm về đêm trong lăng kính y tế cộng đồng, nhất là số lượng các phụ nữ làm việc với những giới giấc không điển hình đang gia tăng. Vào năm 2009, 15,2% những người làm việc ăn lương, hoặc 3,5 triệu người, làm việc về đêm, một cách thông thường hay thỉnh thoảng. Đó là 1 triệu công nhân viên nhiều hơn năm 1991, sự gia tăng đặc biệt mạnh đối với các phụ nữ.
(LE FIGARO 1/10/2012)

10/ CÁN CÂN LỢI ÍCH-NGUY CƠ CỦA CHỤP TUYẾN VÚ LÀ GÌ ?
Docteur Anne Tardivon
Radiologue, Institut Curie, site Paris
Présidente sortante de la Société française de mastologie et d’imagerie du sein

Ung thư vú thường xảy ra và gây bệnh cho một phụ nữ trên 10 trong suốt cuộc đời của họ, tuổi tác là yếu tố nguy cơ chính (hơn một nửa các ung thư vú xảy ra sau 54 tuổi). Do tần số bệnh, do sự hiện hữu của những điều trị có hiệu quả và một trắc nghiệm nhạy cảm (chụp tuyến vú) đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó về mặt giảm tỷ lệ tử vong (giảm 25%), nên một chương trình phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) đã được thiết đặt vào năm 2004 đối với các phụ nữ giữa 54 và 74 tuổi. Ở Pháp, tỷ lệ tham gia trung bình chỉ là 52% (với một dị biệt lớn giữa các tỉnh) do sự cùng hiện hữu của một điều tra phát hiện cá nhân (dépistage individuel).
Một cán cân những lợi ích-nguy cơ (balance bénéfices-risques) muốn nói gì ? Lợi ích của chụp tuyến vú là ở chỗ phát hiện những ung thư không sờ thấy được, có kích thước nhỏ và không di căn hạch (yếu tố tiên lượng sinh tồn), cho phép điều trị chúng hiệu quả hơn với những liệu pháp ít nặng nề hơn. Hai bất tiện chính của việc điều tra phát hiện một cách hệ thống các phụ nữ không có triệu chứng là những kết quả dương tính giả (người ta sai lầm làm một phụ nữ lo lắng vì một thương tổn với kết quả hiền tính sau sinh thiết hay một theo dõi X quang) và chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) (ta chẩn đoán một ung thư tiên lượng tốt, thật ra đã không tiến triển trong thời gian còn sống của phụ nữ ; vậy phụ nữ này trở nên bị bệnh và được điều trị lầm). Từ nhiêu năm nay, một cách chu kỳ, công tác điều tra phát hiện được xét lại vì ta cho rằng những lợi ích được mong chờ ít hơn những nguy cơ ; và rằng mối lợi được quan sát chủ yếu dựa trên sự tổ chức điều trị và những tiến bộ điều trị.
Cán cân thật sự lợi ích-nguy cơ của chụp tuyến vú là gì ? Muốn trả lời câu hỏi này là điều ảo tưởng bởi vì cán cân này sẽ khác nhau theo mỗi lứa tuổi và tùy theo bệnh sử cá nhân và gia đình của mỗi phụ nữ. Thật vậy,những yếu tố này sẽ biến đổi tỷ lệ mắc bệnh của ung thư vú cũng như sự giảm tỷ lệ tử vong trong cuộc đời.
Vấn đề những dương tính giả (faux positifs) được gặp chủ yếu trước 50 tuổi bởi vì những thương tổn hiền tính thường xảy ra hơn, vú khó phân tích hơn khi chụp tuyến vú (mammographie), siêu âm bổ sung lại thêm vào những dương tính giả, trong khi tỷ lệ ung thư thấp hơn. Những nguy cơ gia tăng bị dương tính giả này phải được giải thích một cách rõ ràng cho những bệnh nhân trước 50 tuổi.
Vấn đề chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) thì lại khác. Tham gia một cách đều đặn vào một chương trình điều tra phát hiện cho phép thật sự gia tăng tỷ lệ những ung thư có tiên lượng tốt. Tuy nhiên, sau 20 năm theo dõi, nếu tỷ lệ ung thư có tiên lượng tốt chuyển từ 26 lên 41% trong dân chúng được điều tra phát hiện, thì tỷ lệ những tiên lượng của các ung thư có tiên lượng ít tốt hơn chỉ giảm 15%. Sự khác nhau giữa những năm 1980 và hôm nay là ở chỗ hiện nay ta có những vũ khi điều trị có hiệu quả hơn để điều trị những ung thư có tiên lượng ít tốt hơn này đồng thời phát hiện chúng ở một giai đoạn sớm. Trong vấn đề chẩn đoán quá mức, phải cá biệt hóa những ung thư tại chỗ (cancers in situ), thường nhất được phát hiện do nhưng ổ vôi hóa riêng rẻ, và tỷ lệ bách phân của những ung thư này đã gia tăng một cách đều đặn với thời gian do công tác điều tra phát hiện và do những tiến bộ công nghệ học (mammmographie numérique). Ta biết rằng vài dạng ung thư tại chỗ (cancer in situ) sẽ không bao giờ trở nên xâm nhập lúc các phụ nữ còn sống (những nghiên cứu trên giải phẫu tử thi), thế mà, một khi được chẩn đoán, chúng được điều trị một cách hệ thống.
SỰ THAM GIA TỐT HƠN.
Phải chăng chụp tuyến vú có khả năng tiên đoán tính chất ác tính (agressivité) của một ung thư nhỏ được phát hiện ? Nếu tính chất ác tính của một ung thư đôi khi có thể được nghi ngờ khi chụp hình ảnh, thông tin căn cứ trên những tiêu chuẩn hình thái học này trở nên khó, hoặc không thể thực hiện, đối với những ung thư có kích thước nhỏ. Như thế chỉ những prélèvement mới cho một cách đáng tin cậy thông tin này : cấp độ mô học (grade histologique), chỉ số tăng sinh (index de prolifération), những chỉ dấu sinh học (marqueurs biologiques).
Vậy đúng hơn chính sự điều trị mà ta phải hướng về : phải chăng phải điều trị tất cả ung thư vú ? Mặc dầu sự xuống thang điều trị (désescalade thérapeutique) đã bắt đầu (thí dụ technique du ganglion sentinelle, không chỉ định hóa học liệu pháp đối với những ung thư có tiên lượng rất tốt), nhưng thái độ không điều trị (abstention thérapeutique) lại chưa có tính thời sự do tần số các ung thư phụ ở vú bị thương tổn và thường không thấy được (occulte) lúc chụp hình ảnh. Thái độ không điều trị này sẽ cần những công trình nghiên cứu có sự tham gia của tất cả các người liên quan đến công tác điều trị, mà chủ yếu là các phụ nữ.
Nếu công tác điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) đã chứng tỏ hiệu quả đối với những phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi, lợi ích của nó cũng tùy thuộc vào sự tham gia, vậy cần phải gia tăng. Trong những bối cảnh có nguy cơ đặc biệt, một điều tra phát hiện cá thế hóa (dépistage individualisé) sẽ được xét đến trong tương lai, thích ứng nhịp và những công cụ phát hiện, đặc biệt là trước lứa tuổi 50. Đây đã là trường hợp ở những phụ nữ mang một biến dị có hai ung thư vú : theo dõi ngay lúc 30 tuổi, mỗi năm với IRM. Cơ quan hữu trách y tế (HAS : Haute Autorité de la santé) sẽ bắt đầu công tác về sựnhận diện những yếu tố nguy cơ ung thư vú và những cách thức điều tra phát hiện.
(LE FIGARO 27/8/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/11/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s