Thời sự y học số 282 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ LAVERAN VÉN MÀN BÍ MẬT CỦA BỆNH SỐT RÉT

Vào năm 50 tuổi ông quyết định chuyên tâm vào nghiên cứu.
Từ năm 1884 đến 1894, Laveran dạy vệ sinh quân đội ở Val-de-Grace. Vào lúc kết thúc chức vụ giáo sư theo quy định, năm 1896 ông xin được về hưu trong khi ông chỉ mới 50 tuổi, để chuyên tâm hoàn toàn vào nghiên cứu. Emile Roux, người kế tục của Louis Pasteur mở cho ông cánh cửa của Viện Pasteur Paris. Sự cống hiến của ông sẽ là đáng kể không những trong lãnh vực bệnh sốt rét mà còn trong lãnh vực những bệnh nhiệt đới khác như bệnh ngủ (maladie du sommeil). Vào năm 1907, ông thành lập société de pathologie exotique. Ông làm việc ở đó cho đến khi qua đời năm 1922.

Vào năm 1880, Alphonse Laveran, quân y sĩ, phát hiện ký sinh trùng sốt rét trong máu của một người lính trẻ. Khám phá này sẽ cần một ít thời gian mới thuyết phục thế giới y khoa.
Buổi sáng ngày 6 tháng 11 hôm đó mặt trời vừa ló dạng. Các con đường phố của Constantine (Algérie) đã rì rầm ngàn tiếng la hét : tiếng nện móng của các con lừa quá tải đi xuyên qua thành phố, và tiếng dê kêu chờ đợi người ta đến vắt sữa, hòa lẫn với tiếng nói chuyện của các nông dân lên đường ra đồng cày cấy. Các phụ nữ trùm khăn, những người đàn ông khoác áo choàng burnous, spahis y phục đỏ… Một đám đông ô hợp đang hoạt động.
Viện quân y sĩ thiếu tá hạng nhất, Charles Alphonse Laveran tiến bước trong những con đường nhỏ hẹp và ngoằn nghèo mà chẳng hề chú ý một chút nào sự náo động này. Ông hầu như không đáp lại lời chào của viên đại úy mà ông gặp trên đường. Ông chỉ có một vội vàng : tìm lại cái yên tĩnh của phòng thí nghiệm của bệnh viện quân y mình và chui đầu ở chiếc kính hiển vi của ông.
Sáng hôm đó ông sẽ xem xét máu của một viên lính trẻ của đại đội 8 của đoàn quân cụ. Chàng thanh niên 28 tuổi này trú đóng ở doanh trại Bardo, được xây dựng trong một vùng đặc biệt không lành mạnh : bờ sông Rhumel, dòng sông bao quanh núi đá nằm trên đó là thành phố Constantine. Anh ta ở bệnh viện hôm 12 tháng 10, sốt hạ dễ dàng với sulfate de quinine. Ra viện hôm 24 tháng 10, bệnh nhân sốt trở lại 2 ngày sau ; lần này cơn sốt có tính chất từng cơn rất rõ rệt : các cơn sốt tái phát mỗi ngày vào khoảng 10 giờ sáng. Bệnh nhân gầy gò, rất thiếu máu, các niêm mạc mất màu, nước da nhợt nhạt. Như phần lớn các người lính của Algérie, anh ta bị lây nhiễm bởi bệnh sốt rét.
Alphonse Laveran chưa biết điều đó, nhưng trong vài giờ nữa ông sẽ khám phá, trong một giọt máu được quan sát dưới kính hiển vi, tác nhân gây bệnh sốt rét và vén một bức màn che phủ một bí mật xưa như nhân loại. Những cơn sốt mỗi 2 ngày (fièvres tierces), mỗi 3 ngày (fièvres quartes), sốt từng cơn (fièvres intermittentes), ác tính (fièvre pernicieuse), bệnh sốt rét đi kèm theo con người từ những bước đầu của lịch cử nhân loại. Nó ảnh hưởng lên mỗi định mệnh và lên định mệnh của các đế chế, làm giảm dần những vùng nông nghiệp, ảnh hưởng lên số phận của các chiến dịch quân sự.
NHỮNG CHƯỚNG KHÍ CỦA ĐẤT, KHÔNG KHÍ HAY NƯỚC.
Ngày nay khó mà tưởng tượng được, nhưng vào năm 1931, căn bệnh còn hoành hành trong Marais poitevin (Poitiers), vịnh Morbihan (Bretagne), ở Camargue và nhất là ở đảo Corse. Ile de Beauté (tuc đảo Corse), đặc biệt nhiều đầm lầy vào thế kỷ XIX, khi đó cũng nguy hiểm như các bờ biển của Sénégal ngày nay. Ở Ý phải chờ đợi các đầm lầy Pontins được làm khô bởi Mussolini để bệnh sốt rét không còn là một tai ương chung quanh thành phố Rome. Mặt khác chính ngôn ngữ của Dante (văn sĩ người Ý) đã cho một trong những tên gọi của căn bệnh : malaria (mal aria có nghĩa là khí xấu). Trong nhiều thế kỷ, những sốt từng cơn này đã được quy cho chướng khí (miasmes), những hơi bốc có hại nhưng không rõ ràng từ đất, của không khí hay nước, chủ yếu là những hơi bốc từ các đầm lầy.
Ở Algérie, những cơn sốt này hủy diệt những quân đội Pháp từ năm 1830. Đã nhiều lần, bộ chỉ huy ngay cả đã đề nghị bỏ những vùng đất tiêu điều này. Giữa năm 1830 và 1841, trên 50.266 người chết, dân quân lẫn lộn, chỉ có 2995 bị giết chết bởi hỏa lực của quân thù. Những trường hợp khác, nghĩa là hơn 90%, phần lớn gục ngã do những hậu quả của những đợt sốt gây nên bởi bệnh sốt rét.
Vào năm 1840, tướng Duvivier lấy làm lo sợ : “ Những đồng bằng, như những đồng bằng Bône, Mitidja và biết bao nhiêu đồng bằng khác là những ổ bệnh và tử thần…những nghĩa địa ở đây nói lên điều đó.” Trong đồng bằng Bône, sự tàn sát đặc biệt nghiêm trọng trong những năm đầu của công cuộc chinh phục đất nước này bởi vì thành phố được bao quanh bởi những đầm lầy Boudjimah. Tình hình được cải thiện nhờ sự bướng bỉnh của một người duy nhất, thiếu tá quân y François Maillot, ngay năm 1834, đã thành công buộc điều trị một cách hệ thống các cơn sốt bằng quinine với những liều hiệu quả.
Chính ở Bône (thành phố phía đông Algérie) mà Alphonse Laveran sẽ được bổ nhiệm vào năm 1878. Ông đã đến Algérie để nghiên cứu những trường hợp sốt rét. Mặc dầu các cơn sốt không còn gây chết người như cách nay 50 năm, nhưng chúng không hẳn đã bị đánh bại. Dân quân tiếp tục trả giá nặng nề cho tai ương này.
Ở Bône, Laveran thiết đặt phòng thí nghiệm của mình. Vũ khí của ông : chiếc kính hiển vi. Thay vì tìm kiếm tác nhân gây bệnh sốt rét trong không khí, nước hay đất đai ở các đầm lầy, như phần lớn các nhà khoa học đã làm vào lúc đó, Alphonse Laveran trải qua hàng giờ quan sát các mô và máu của những bệnh nhân hay những người đã chết. Ông đặc biệt quan tâm các hạt sắc tố đen được tìm thấy khi giải phẫu tử thi trong các mô của gan và của não. Mélanémie này, trong trường hợp các cơn sốt, được biết từ năm 1716, cũng như các bạch cầu chứa đầy các sắc tố mà ông xem xét trong máu của các người bệnh. Nhưng cho mãi đến lúc đó, đối với tất cả, những sắc tố này là một hậu quả của căn bệnh.
“ MỘT THẾ ROI DIỆU KỲ ”
Về quan sát, sự may mắn chỉ ban ân huệ cho những đầu óc được chuẩn bị, Louis Pasteur thường lập lại với các học trò của mình như vậy. Thế mà trí tuệ của Laveran đã sẵn sàng. Bên cạnh những bạch cầu sinh mélanine (leucocyte mélanifère), ông khám phá những thể hình cầu, có thể tích thay đổi, có sắc tố, có những cử động như amibe. Những tiểu thể (corpuscule) này, ông thấy chúng lớn lên đồng thời voi những globule chứa chúng, nhợt nhạt và chứa đầy những sắc tố dường như được tạo thành từ hémoglobine của globule. Ngay giây phút đó, đối với người thầy thuốc, những thể mà ông tìm thấy với số lượng rất thay đổi trong các mô và máu của các bệnh nhân, không phải là các bạch cầu hay những hồng cầu bị biến dạng. “ Những yếu tố có sắc tố hình lưỡi liềm lôi kéo sự chú ý của tôi. Ngay khi đó tôi nghĩ rằng đó là những ký sinh trùng ”, về sau này ông đã giải thích như vậy. Nhưng phỏng đoán, nghi ngờ, tin, không tạo nên một bằng cớ.
Còn phải 2 năm dài và trải qua hàng nghìn giờ sau kính hiển vi của mình để sau cùng viên thầy thuốc kiên trì và tỉ mỉ này giữ bằng cớ không thể bác bỏ được về bản chất ký sinh trùng của bệnh này.
Trở lại Consatantine. Buổi sáng ngày 6 tháng 11 năm 1880, Laveran nhìn chăm chú, xuyên qua thấu kính phóng đại, giọt máu của người lính trẻ run lập cập vì sốt. Chăm chú, chính xác như mọi khi, ông khám phá những yếu tố mảnh như sợi chỉ tương tự những chiếc roi (flagelle) vừa phe phẩy một cách rất linh hoạt vừa làm xê dịch những hồng cầu lân cận. Ông giữ bằng cớ. Laveran không còn nghi ngờ nữa. Ông đã khám phá ký sinh trùng gây bệnh sốt rét. Thật vậy, ông vừa chứng kiến một giai đoạn của chu kỳ phát triển của ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, exflagellation, nghĩa là sự biến hóa các giao tử bào đực (gamétocytes males) thành các vi giao tử (microgamète), bình thường chỉ xảy ra trong dạ dày của muỗi.
Sau đó Alphonse Lavearn viết một bản thảo và gởi cho Viện hàn lâm y khoa. Không phải sự đắc thắng trong bản thảo này. Nhưng là một sự mô tả các bệnh nhân, những công trình, những quan sát chăm chú đã bắt đầu ở Bône vào năm 1878 và kết thúc hai năm sau ở Constantine. Khám phá của ông không hề do sự tình cờ. Đó là kết quả của một quá trình lao động dài lâu, có phương pháp và nghiêm túc.
Ở Paris, lời ghi chép của ông không gây mấy phấn khởi. Nó được giới y khoa tiếp đón với sự hoài nghi lớn nhất. Léon Collin, hội viên của Viện hàn làm y khoa, người đã có nhiều đóng góp trong việc biến bệnh sốt rét thành một “ intoxication tellurique ”, tức thời đưa ra, ngày 23 tháng 11, những lời dè dặt căn cứ trên “ sự khó dung hòa bản chất sinh vật của mầm bệnh với sự vắng bóng tính chất gây nhiễm của bệnh ”. Chính Pasteur cũng không tin ở bản chất ký sinh trùng của bệnh sốt rét. Ông chỉ tin một cách khẳng định vài năm sau đó, ngày Laveran chỉ cho ông một exflagelltion qua kính hiển vi. “ Ở giữa vi trường, một thể hình roi (corps flagellé) diệu kỳ phe phẩy những chiếc roi của chúng. Không thể không nhận biết một thể sống trong khối nguyên bào chất (masse protoplasmique), bằng những chiếc roi của mình, đẩy lùi những hồng cầu lân cận, BS Emile Roux, hiện diện vào lúc biểu diễn này đã kể lại như vậy. Pasteur, rất ham mê khoa học, hết sức xúc động về điều đó.”
HƯỚNG NGHIÊN CỨU CẦN THỜI GIAN ĐỂ THUYẾT PHỤC
Nếu Laveran khó thuyết phục, đó cũng là do cuộc cách mạng Pasteur và sự phát triển của vi khuẩn học. Vào năm 1879, khi Klebs và Tommasi-Crudeli nghĩ là đã khám phá vi khuẩn gây bệnh trong không khí, bùn của các đầm lầy và nước tiểu của một bệnh nhân bị bệnh sốt từng cơn, cộng đồng y khoa bị quyến rũ. Hướng ký sinh trùng được mô tả năm sau bởi Laveran, đi ngược trào lưu, nên sẽ cần nhiều thời gian để thuyết phục.
Nhưng Alphonse Laveran có bản chất bướng bỉnh. Để thuyết phục các đồng nghiệp của mình, ông công bố vào năm 1881 một hồi ký trong đó ông mô tả, dưới tất cả các dạng, ký sinh trùng của “impaludisme”. Vào năm 1882 ông đi Ý trong chiến dịch của thành phố Rome, đặc biệt bị hoành hành bởi bệnh sốt rét. Ở đó ông sẽ phát hiện cùng những hématozoaires đã được quan sát ở Algérie. Khi đó ông giành được niềm tin của các thầy thuốc người Ý. Bắt đầu từ đó, thế giới y khoa công nhận dần dần những khám phá của Laveran.
Nhưng cách truyền bệnh sốt rét vẫn không được biết rõ. Nếu ngay năm 1884 Laveran mô tả trong chuyên luận về sốt rét rằng “ ông đã tin chắc rằng vi trùng ở ngoài cơ thể con người, ở trạng thái ký sinh trùng và rất có thể ở trạng thái ký sinh trùng của muỗi ”, sẽ phải chờ năm 1897 để giả thuyết này được xác nhận bởi Donald Ross, một người Anh.
Vào năm 1907, 27 năm sau khi khám phá hémtozoaire của bệnh sốt rét, sau cùng Laveran được thưởng giải Nobel.
(LE FIGARO 10/8/2012)

2/ LÀM THẾ NÀO BÌNH THƯỜNG HÓA TỐT HƠN HUYẾT ÁP CỦA MÌNH ?
CARDIOLOGIE. Ngày nay, 80% những người Pháp được chẩn đoán cao huyết áp đang được điều trị. Tỷ lệ này che dấu một thực tế đáng lo ngại : Từ 30 đến 40% những người cao huyết áp không biết rằng mình bị huyết áp cao và một nửa trong số những người đang được điều trị không có một huyết áp được bình thường hóa, GS Faiez Zannad, thầy thuốc chuyên khoa tim (CHU de Nancy) đã chứng thực như vậy. Huyết áp được định nghĩa là quá cao khi trên 140/90 mmHg. Hai con số này biểu hiện áp lực do máu tác động lên các thành động mạch : trị số cao nhất khi tim co bóp và phóng máu (huyết áp thu tâm), trị số thấp nhất khi tim giãn và làm đầy (huyết áp trương tâm).
Cao huyết áp càng đáng sợ khi nó không gây triệu chứng, hay rất muộn. Chóng mặt, đau đầu, ù tai, khó thở khi gắng sức, thậm chí hồi hộp khi gắng sức chỉ xuất hiện khi huyết áp đã rất cao. Thế mà, tỷ lệ tử vong tim mạch tăng gấp đôi đối với mỗi gia tăng 20/10 mmHg của HA thu tâm/HA trương tâm, Jean- Jacques Mourad, thầy thuốc chuyên khoa tim (Bobigny), đã nhắc lại như vậy. Huyết áp làm biến đổi các động mạch, làm gia tốc sự lão hóa, tấn công vào tim, thận và não bộ.
NGUY CƠ ĐỘT QUY
Cao huyết áp đặc biết có hại đối với não bộ. Nó là yếu tố nguy cơ chính của đột qụy và gây nên những thương tổn vi thể huyết quản (microlésions vasculaires), nhiên hậu chịu trách nhiệm démence sénile. “ Một nửa những trường hợp sa sút trí tuệ ở những người trên 80 tuổi là do cao huyết áp ”, BS Bernard Vaisse, chủ tịch của ủy ban chống cao huyết áp Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Thế mà, chỉ có kiểm soát cao huyết áp mới có thể bảo vệ những màng não. Và việc điều trị này phải được thực hiện càng sớm càng tốt. “ Ở tuổi 55, một cao huyết áp không được điều trị làm giảm hy vọng sống (espérance de vie) 7 năm và kéo dài hai năm cuộc sống với một phế tật do nhồi máu cơ tim, suy thận, suy tim, sa sút trí tuệ…”, Jean Jacques Mourad đã nhắc lại như vậy.
Đối với các chuyên gia, dưới mức 140/90 không phải bàn cãi (135/85 mmHg trong trường hợp tự đo). Để đạt được điều đó, những quy tắc vệ sinh-tiết thực kết hợp với những điều trị bằng thuốc. “ Giảm tiêu thụ muối, rượu, mất cân, tập thể dục… Đó cũng quan trọng như dùng thuốc ”, Faiez Zannad đã nhấn mạnh như vậy. Mặc dầu biến đổi lối sống không phải luôn luôn dễ dàng, cũng như dùng thuốc mỗi ngày trong nhiều năm trong khi ta không cảm thấy bị bệnh. Chính vì vậy những người cao huyết áp không luôn luôn tuân thủ điều trị. “ Phải mang lại một ý nghĩa đối với việc kê đơn một loại thuốc phòng ngừa, Jean-Jacques Mourad đã công nhận như thế. Phải làm thế nào để thông lệ hóa việc uống thuốc, ở một giờ cố định, để bệnh nhân không bị quên ”, Bernard Vaisse tán đồng. “ Chúng ta phải lắng nghe các bệnh nhân về những tác dụng phụ. Chất lượng sống của họ phải được tôn trọng để họ chấp nhận các điều trị , GS Claire Mounier-Vehier, phó chủ tịch Liên đoàn Tim học của Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Thầy thuốc có sự lựa chọn giữa 5 họ thuốc : những thuốc lợi tiểu, những thuốc chẹn beta giao cảm (betabloquant), những thuốc chẹn kênh canxi (inhibiteur calcique), các thuốc ức chế men chuyển (IEC : inhibiteur de lenzyme de conversion) và những sartan. Viện kê đơn được cá thể hóa tùy theo profil của mỗi bệnh nhân, những yếu tố nguy cơ liên kết. Trong trường hợp không kiểm soát được huyết áp, có thể phối hợp nhiều loại thuốc.
Những người Pháp không phải là những người duy nhất chịu trách nhiệm sự kiểm soát huyết áp tồi. Các chuyên gia trỏ vào sự trì trệ của các thầy thuốc Pháp. Số những bệnh nhân cần điều trị trong thăm khám càng cao, thầy thuốc càng ít tìm cách thích ứng điều trị cao huyết áp. BS Guillaume Bobrie, chuyên gia cao huyết áp của bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou đã chứng thực như vậy. Thế mà rất thường, huyết áp không xảy ra riêng rẻ, nó kèm theo những yếu tố nguy cơ khác như bệnh đái đường và cholestérol.” Theo những dữ kiện đầu tiên của điều tra Flash 2012, 40% những người cao huyết áp có một cholestérol quá cao và từ 15 đến 20% bị bệnh đái đường, BS Benard Vaisse đã tiết lộ như vậy.
(LE FIGARO 17/9/2012)

3/ PHẢI PHÁT HIỆN TỐT HƠN CHỨNG VẸO CỘT SỐNG TRƯỚC TUỔI DẬY THÌ
Mang một corset orthopédique vẫn là điều trị thông thường nhất, nhưng vài trường hợp cần phải phẫu thuật.
COLONNE VERTEBRALE. “ Lưng của các trẻ em phải được thăm khám mỗi năm để phát hiện chứng vẹo cột sống (scoliose) càng sớm càng tốt, GS Jérome Sales de Gauzy, trưởng kíp ngoại khoa chỉnh hình, chấn thương và thẩm mỹ của Bệnh viện nhi đồng Toulouse đã nhắc lại như vậy. Những điều tra phát hiện học đường (dépistages scolaires) hiện nay không đủ.” Chứng vẹo cột sống, một biến dạng của cột sống trên 3 trục, ảnh hưởng đến 5% các trẻ em, con gái rõ rệt bị nhiều hơn con trai. Trong đa số các trường hợp, cử động xoay bị hạn chế và cột sống điều chỉnh để thích ứng mà không có hậu quả đối với tương lai. Khi góc xoay gần 15 độ hoặc hơn, phải xác định xem vẹo cột sống có tiến triển và cần điều trị hay không.
Tuổi dậy thì là một thời kỳ bản lề, trong đó chứng vẹo cột sống tiến triển rất nhanh và có thể dẫn đến những biến dạng quan trọng và chỉ có thể được điều trị bằng ngoại khoa. “ Chúng tôi còn thấy một cách đều đặn những thiếu nữ 15 tuổi với một vẹo cột sống quan trọng, nhưng không bao giờ được phát hiện, GS Raphael Vialle, trưởng khoa ngoại chỉnh hình và sữa chữa nhi đồng thuộc bệnh viện Armand- Trousseau, Paris, đã nhấn mạnh như vậy. Thường chính ở bãi biển mà bố mẹ, vốn chỉ thấy một cách hiếm hoi lưng của các con mình ở thời kỳ thiếu niên, nhận xét một đường cong bất thường hay một bosse khiến họ đi khám thầy thuốc.” Một thăm khám lâm sàng rất đơn giản khi đó cho phép phân biệt một chứng vẹo cột sống thật sự và một tư thế vẹo cột sống (attitude scoliotique) do một tư thế xấu (mauvaise posture) biến mất khi nằm.
MỘT RỐI LOẠN TĂNG TRƯỞNG CỦA CỘT SỐNG.
Hơn 70% những trường hợp vẹo cột sống trẻ em được gọi là không rõ nguyên nhân (idiopathique), nghĩa là nguồn gốc của chúng không được biết mặc dầu có một yếu tố di truyền : nguy cơ bị vẹo cột sống cao hơn khi một thành viên của gia đình cũng bị bệnh. Những trường hợp khác có thể là do những dị tật bẩm sinh, những bại liệt nhất là do những neuropathie hay do những chấn thương.
Trong những thể không rõ nguyên nhân, chứng vẹo cột sống được liên kết với một rối loạn tăng trưởng của cột sống, mà những hậu quả trở nên nghiêm trọng khi xảy ra đợt bộc phát tăng trưởng lúc tuổi dậy thì. Khi chứng vẹo cột sống được phát hiện trước khi chấm dứt thời kỳ tăng trưởng, một thời kỳ quan sát 4 tháng là cần thiết để xác định xem chứng vẹo cột sống có tiến triển và có nguy cơ trở nặng hay không. Nếu vẹo cột sống ổn định và có một đường cong vừa phải, không cần phải điều trị. Nêu sự tiến triển được chứng tỏ bằng hai lần thăm khám X quang cách xa nhau, mang một corset orthopédique vẫn là điều trị thường gặp nhất. Corset orthopédique nhằm hướng dẫn sự tăng trưởng của cột sống nhờ điều chỉnh độ cong của vẹo cột sống. “ Ta không thể tái phục lại đường cong, nhưng những corset cho phép duy trì góc khởi đầu, GS Sales de Gauzy đã nhấn mạnh như vậy.
MỘT ĐIỀU TRỊ BÓ BUỘC
Đó là một điều trị cưỡng bức (traitement contraignant), đôi khi khó khiến các thiếu niên chấp nhận, với những trẻ này phải chọn nhịp độ tốt để chắc chắn rằng corset sẽ được mang. Tùy theo độ cong lúc ban đầu, loại độ cong, tính chất nhanh chóng của tiến triển, đứa bé sẽ mang corset vài giờ mỗi ngày hoặc suốt cả đêm hoặc một cách liên tục. Corset phải được mang đến hết thời kỳ tăng trưởng xương, điều này có thể cần nhiều năm khi chứng vẹo cột sống được phát hiện lúc 11 tuổi. Luôn có thể tìm ra những phương cách để đứa bé chấp nhận, nhất là về những hoạt động thể thao, tất cả phải được khuyến khích, GS Vialle đã nhấn mạnh như vậy. Khi tiến triển xương chấm dứt, chứng vẹo cột sống chỉ còn tiến triển rất chậm và nếu một điều trị đã được thực hiện khá sớm, ta có thể nói rằng ta đã thắng cuộc.
Khi độ cong rất quan trọng vào lúc phát hiện, một điều trị ngoại khoa có thể được xét đến để điều chỉnh sự mất quân bình, đôi khi sau một thời kỳ được điều trị bằng corset nếu có thể chờ đợi đến cuối thời kỳ tăng trưởng. Khi đó can thiệp gồm có điều chỉnh hướng của của các đốt sống nhờ những implant rồi hợp nhất vài đốt sống nhờ một sự tăng trưởng xương mới. Mặc dầu nguyên tắc đã không thay đổi từ những năm 1990, nhưng từ nay những công cụ cho phép xác định tốt hơn những can thiệp và gìn giữ chừng nào có thể được độ mềm dẻo của cột sống.Trong trường hợp này, chẩn đoán càng muộn khi một vẹo cột sống đã tiến triển, sẽ càng khó gìn giữ hơn phần lành mạnh của cột sống.
(LE FIGAO 24/9/2012)

4/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC : ĐIỀU TRỊ MỚI ĐỂ TIẾP TỤC BƯỚC
BS Caroline Papeix, thầy thuốc thần kinh ở bệnh viện La Pitié- Salpetrière và ở Institut du cerveau et de la moelle épinière (ICM), tác giả của “ La Sclérose en plaques. S’informer pour mieux se soigner ”, édition Odile Jacob.
Hỏi : Những cơ chế nào là nguyên nhân của bệnh thần kinh này ?
BS Caroline Papeix. Bệnh lý viêm này là do một sự tăng hoạt tính của hệ miễn dịch. Sự loạn năng này gây nên một sự phá hủy dần dần myéline, bao bảo vệ (gaine protectrice) bao quanh phần kéo dài của các tế bào thần kinh. Những thương tổn được phân bố thành mảng (plaques) trong hệ thần kinh trung ương (não bộ, tủy sống, dây thần kinh thị giác). Hiện nay ở Pháp, 70.000 người bị bệnh.
Hỏi : Những triệu chứng của bệnh này là gì ?
BS Caroline Papeix. Những triệu chứng đầu tiên rất thay đổi : những cảm giác kiến bò trong 4 chi, bại liệt tạm thời, nhưng rối loạn cân bằng, những rối loạn thị giác, tiểu tiện..
Hỏi : Ở phần lớn các bệnh nhân, bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques) tiến triển như thế nào ?
BS Caroline Papeix. Bệnh mãn tính gây phế tật này xảy ra ở những người trưởng thành trẻ tuổi : ngay ở lứa tuổi 30 (ở lứa tuổi này, nguyên nhân thứ hai gây phế tật). Trong phần lớn các trường hợp (80%), bệnh tiến triển thành những đợt kế tiếp nhau, được đánh dấu bởi sự xuất hiện những triệu chứng mới, có thể để lại những di chứng. Sau khoảng 30 năm, phế tật quan trọng là một sự khó bước, có thể, trong vài trường hợp, khiến phải dùng xe lăn.
Hỏi : Phế tật này được bệnh nhân sống như thế nào ?
BS Caroline Papeix : Các bệnh nhân rất đau khổ. Mặc dầu trí tuệ hoàn toàn lành mạnh, nhưng họ đánh mất dần dần khả năng tự trị (autonomie) và dần dần trở nên phụ thuộc vào những kẻ khác. Ở giai đoạn này, họ có thể cảm thấy đau ở hai cẳng chân khi bước. Đôi khi ngay cả lúc nghỉ ngơi.
Hỏi : Cho đến hôm nay, thái độ xử trí đối với những bệnh nhân này là gì ?
BS Caroline Papeix : Mục đích của những điều trị hiện nay là làm chậm chừng nào có thể được tiến triển của bệnh. Từ này ta công nhận rằng điều trị bắt đầu càng sớm thì càng có hiệu quả. Thái độ điều trị gồm có : 1. Các thuốc có tác dụng phòng ngừa, các chất điều biến miễn dịch (immunomodulateur) haý các chất làm suy giảm miễn dịch (immunosuppresseur). 2. Những buổi phục hồi chức năng. 3. Những thuốc giảm đau hay, với những liều thấp, những thuốc chống động kinh hay những thuốc chống trầm cảm. Với protocole này, những kết quả thay đổi tùy theo mỗi cá thể.
Hỏi : Điều trị mới rất được mong chờ vào mùa thu tới là gì ?
BS Caroline Papeix : Đó là fampridine, một loại thuốc, lần đầu tiên, cải thiện năng lực bước. Thuốc tác dụng trực tiếp lên các neurone bằng cách duy trì sự dẫn truyền thần kinh trong các vùng mất myéline (zones démyélinisées). Một tiến bộ quan trọng cho phép nhiều bệnh nhân bảo tồn khả năng tự trị lúc bước lâu chúng nào có thể được. Thuốc sẽ không được cho để phòng ngừa, nhưng chỉ dành cho những bệnh nhân đã bắt đầu bị phế tật.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những lợi ích thật sự của fampridine trong bệnh xơ cứng rải rác ?
BS Caroline Papeix : Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế đã được tiến hành trên hàng trăm bệnh nhân có tuổi trung bình 50 (trong đó phần lớn là các phụ nữ). Điều trị này đã tỏ ra có hiệu quả ở khoảng 1/3 các bệnh nhân (cả hai giới), và đặc biệt lên phế tật bước. Sự dung nạp thuốc tốt : ta đã không ghi nhận những tác dụng phụ. Loại thuốc này đã được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ, Canada, và trong nhiều nước châu Âu (Đức, Anh, Đan mạch, Na Uy…). Bây giờ những hy vọng của chúng tôi hướng về những kết quả của những công trình nghiên cứu đang được tiến hành ở Viện não bộ và tủy sống (Institut du cerveau et de la moelle épinière (ICM) về những cơ chế sữa chữa và kích thích myéline.
(PARIS MATCH 28/6-4/7/2012)

5/ THẤT NGHIỆP RÚT NGẮN TUỔI THỌ

                        Những điểm chủ yếu
   – Nguy cơ chết sớm hầu như tăng gấp đôi ở người lao động trẻ bị mất việc
   – Đàn ông bị nguy cơ hai lần nhiều hơn đàn bà
   – Tác động lên sức khỏe là không chối cãi được, một chuyên viên tâm thần của UCL đã giải thích như vậy

Đó là điều chính thức : sự kiện mất việc làm làm giảm số năm sống do ảnh hưởng dài lâu lên tình trạng sức khỏe. Đó là kết luận quan trọng của méta-analyse đầu tiên các dữ kiện được thực hiện trên hơn 20 triệu người trong 15 nước phần lớn là những quốc gia phát triển.
Eran, giáo sư xã hội học thuộc Đại học McGill, Montréal, đã thực hiện một công trình nghiên cứu, tiết lộ rằng thất nghiệp làm gia tăng 63% nguy cơ chết sớm. Những hậu quả đáng kể nhất được cảm thấy ở những người đàn ông bị mất việc ở lúc đầu hay giữa carière. Khi đó nguy cơ gia tăng lên đến 73 và 77%, trong khi nó “ chỉ ” gia tăng 25% nếu con đường nghề nghiệp đã được đi xa hơn. “ Điều đó cho thấy rằng nguy cơ gia tăng với khoảng thời gian bị mất của con đường nghề nghiệp (durée de carrière perdue). Những người đã hoàn thành phần lớn thời gian làm việc của mình sẽ ít bị tác động hơn so với một người trẻ.”
Dĩ nhiên, các nhà nghiên cứu đã trung hòa phải tất cả những yếu tố cùng xảy ra (cofacteur) khả dĩ ảnh hưởng lên thời gian sống, như những bệnh đã có trước đây hay sự tiêu thụ các độc chất. “ Phải quyết định dứt điểm giữa hai giả thuyết : thất nghiệp gây bệnh, hay những hành vi sức khỏe (comportement de santé) ảnh hưởng đồng thời lên sức khỏe và công việc ”, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.
“ Một cách đáng ngạc nhiên, ta đã khám phá rằng, mặc dầu ta đánh giá rằng một điều trị săn sóc y tế tốt hơn có thể góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong, nhưng sự tương quan giữa thất nghiệp và chết sớm đều giống nhau ở trong tất cả các nước mà công trình nghiên cứu được thực hiện, mặc dầu sự đa dạng của các hệ thống y tế của các nước được khảo sát. Công trình nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng mối liên hệ giữa thất nghiệp và tỷ lệ tử vong là mối liên hệ nhân quả (relation de cause à effet). Điều đó có lẽ là do sự kiện rằng thất nghiệp là một yếu tố gây căng thẳng (facteur de stress) và yếu tố này ảnh hưởng một cách âm tính lên tỉnh trạng xã hội kinh tế (statut socioéconomique) của người thất nghiệp, và điều này đến lượt dẫn đến một sức khỏe kém tốt hơn và một sự gia tăng những nguy cơ.”
Công trình nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng thất nghiệp làm gia tăng nguy cơ chết sớm ở đàn ông hơn ở đàn bà (78% so với 37%). “ Khi một người đàn ông mất việc, điều đó thường có nghĩa rằng gia đình sẽ nghèo đi và sẽ chịu đau khổ theo những cách khác nhau. Tình huống này, đến lượt, ảnh hưởng nhiều lên sức khỏe của một người đàn ông, bằng cách kích thích anh ta đồng thời hút thuốc, uống hay ăn nhiều hơn, như thế làm giảm sự tiếp cận một chế độ ăn uống lành mạnh và những dịch vụ săn sóc y tế. ”
Những kết quả này không làm ngạc nhiên bao nhiêu BS Gérald Deschietere, trưởng unité de crise en psychiatrie ở Cliniques St-Luc (UCL) : “ Ta biết rằng stress mạnh có thể có những tác dụng sinh lý quan trọng, nhất là qua sự gia tăng huyết áp hay sự sản xuất hormone như cortisol. Một địa vị xã hội thích đáng và một nghề nghiệp được công nhận cho phép một tính miễn dịch tốt hơn. Ngược lại, thất nghiệp có thể dẫn đến một sự lên án (stigmatisation), một sự sa sút về hình ảnh của bản thân mình. Nhất là trong một xã hội hàm ý rằng kẻ không có việc làm chịu trách nhiệm điều đó do hành động và thái độ của mình. Tôi sửng sốt đôi khi chứng kiến nhưng bố mẹ không thể khẩn trương đến để hỗ trợ một thiếu niên chịu trách nhiệm một hành vi nghiêm trọng, bởi vì chính họ sợ mất việc của mình. Điều đó muốn nói rằng nhóm nghề nghiệp mà họ phụ thuộc không có tinh thần đoàn kết. Vài người sẽ vượt qua nhưng những người khác sẽ bỏ cuộc. Chắc chắn rằng điều đó sẽ có những hậu quả lên sự vận hành chức năng của cơ thể họ. Và như thế, nhiên hậu sẽ làm gia tăng tỷ lệ tử vong của họ.
(LE SOIR 6/4/2011)

6/ TÌNH TRẠNG CĂNG THẲNG LÚC LÀM VIỆC LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ NHỒI MÁU
Vai trò của stress, mới được tranh luận gần đây, vừa được chứng minh trên 200.000 người, được theo dõi trong 20 năm.
SANTE. Trên khoảng 120.000 trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra mỗi năm ở Pháp, gần 4000 trường hợp có thể quy cho tình trạng căng thẳng lúc làm việc. Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu quy mô lớn xác nhận rằng những điều kiện làm việc gây căng thẳng thần kinh làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim (crise cardiaque). “Ta hằng nghi ngờ mối liên hệ này từ lâu, nhưng vẫn còn bị tranh cãi vì thiếu những dữ kiện khoa học thu thập trên những quần thể đủ lớn”, Marcel Goldberg, nhà nghiên cứu ở Inserm đã chỉ rõ như vậy. Công trình nghiên cứu, được công bố hôm thứ sáu trong The Lancet, tập hợp những thông tin được thu thập ở 200.000 người trong 7 nước châu Âu. Ở Pháp, chính những nhân viên của EDF (monteur de ligne, những nhân viên của các centrale thermique và nucléaire, các nhà nghiên cứu, các thư ký hay những thương gia), đã được theo dõi trong hơn 20 năm. Các nhân viên của các bệnh viện, của các tòa thị chính Phần lan, các công chức người Anh, các thợ thủ công và những nhân viên người Đức cũng đã được thăm dò. Dầu cho loại lao động là gì, chân tay hay trí tuệ, môi trường nghề nghiệp, đất nước, tuổi tác hay giới tính, kết quả đều như nhau. Những người bị stress có một nguy cơ 23% cao hơn bị nhồi máu cơ tim.
Đo lường mức độ căng thẳng trong công việc một cách khách quan không phải là dễ. Những nhà nghiên cứu đã định nghĩa stress như là một phối hợp giữa những gò bó mạnh (contraintes fortes) và một sự độc lập (autonomie) bị thu giam để đương đầu. Như thế, những người những người làm công (salarié) có một quá tải công việc (surcharge de travail) hay nhịp độ công việc (cadences élevées), nhưng không có sự tự do nào để thích ứng, ở trong tình trạng căng thẳng nghề nghiệp (tension professionnelle). “ Làm việc theo dây chuyền là minh họa tốt nhất của một tình huống rất gây căng thẳng ”, Marcel Goldberg đã bình luận như vậy. Trái lại, có những trách nhiệm nặng nề không phải là một yếu tố căng thẳng (facteur de stress), miễn là người lao động có giới hạn (marge de manoeuvre). Sự hỗ trợ xã hội (soutient social) bởi tôn ti thứ bậc (hiérachie) hay các đồng nghiệp có một tác dụng bảo vệ.
Để đánh giá tình trạng chịu stress, các nhà khoa học đã sử dụng bảng câu hỏi Karasek. Bảng câu hỏi này được thiết lập bởi một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, xếp loại những người làm công (salarié) tùy theo những đáp ứng đối với những lời xác nhận như “ những công việc của tôi thường bị gián đoạn trước khi được hoàn tất ”, “ công việc của tôi rất thúc bách ”, “ tôi nhận những mệnh lệnh mâu thuẫn ”. Sau khi phân tích những câu trả lời, 15,3% những người tham gia công trình nghiên cứu đã được xếp trong loại là những người chuyên nghiệp chịu một sự căng thẳng trong công việc. Trong thời kỳ được khảo sát, 2358 biến cố động mạch vành đã được ghi nhận.
Những hậu quả của stress lên sức khỏe ngày càng được hiểu rõ hơn. “ Bây giờ người ta xác lập rằng những điều kiện làm việc gây căng thẳng có thể sinh ra những rối loạn lo âu trầm cảm (trouble anxieux dépressif) và những bệnh cơ xương (maladies musculo-squelettiques), Valérie Langevin, thuộc Viện nghiên cứu và an toàn lao động quốc gia, đã chỉ rõ như vậy. Stress dường như cũng có liên hệ trong những rối loạn giấc ngủ, những thay đổi thể trọng và những tai nạn lao động.”
(LE FIGARO 15/9- 16/9/2012)

7/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 2 : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA MỘT LỚP THUỐC MỚI.
GS Christian Boitard, trưởng khoa bệnh đái đường thuộc Hotel-Dieu (Paris) mô tả những cống hiến của những loại thuốc chống bệnh đái đường mới, được chứng minh bởi những công trình nghiên cứu quốc tế.
Hỏi : Những đặc điểm của bệnh đái đường loại hai là gì ?
GS Christian Boitard : Ở Pháp, bệnh đái đường loại hai gây bệnh cho hơn 6% dân số ! Có hai loại bệnh đái đường. Loại 1 (10% những trường hợp) là một bệnh lý tự miễn dịch, trong đó những tế bào sản xuất insuline bị phá hủy bởi hệ miễn dịch của bệnh nhân. Hormone này, được tiết bởi tụy tạng, điều hòa nhiên liệu chính của chúng ta : đường (hay glucose), nguồn năng lượng đầu tiên của cơ thể. Bệnh đái đường loại 2 (85% các trường hợp) là do một sự khiếm khuyết trong sự tiết insuline.
Hỏi : Những yếu tố nào làm dễ sử xuất hiện bệnh đái đường loại 2 ?
GS Christian Boitard : Một thể trạng gia đình, một chế độ ăn uống quá dồi dào, hoạt động vật lý không đủ, một tình trạng tăng thể trọng. Đó là một bệnh thâm hiểm, không gây triệu chứng trong một thời gian lâu. Không được điều trị, nồng độ đường trong máu (glycémie) đạt những trị số tăng cao, độc hại đối với các huyết quản, làm dễ những tai biến mạch máu : nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, những thương tổn thận hay những dây thần kinh của võng mạc.
Hỏi : Việc điều trị như thế nào ?
GS Christian Boitard : Điều trị phải bắt đầu bằng một chế độ ăn uống thích ứng và sự đưa vào lại một hoạt động vật lý đáng kể (ít nhất một ngày trên hai). Những biện pháp này được bổ sung bởi các loại thuốc, trước hết là những biguanide thuốc viên, làm dễ tác dụng của insuline, chủ yếu lên gan. Sau đó, tùy theo kết quả, thầy thuốc có thể bổ sung điều trị bằng cách thêm vào những sulfamides, kích thích tụy tạng tiết insuline. Ở nhiều bệnh nhân, sự xử trí toàn bộ này tỏ ra có hiệu quả. Nhưng với thời gian, hiệu quả của thuốc giảm và bệnh đái đường dần dần giành lại lợi thế. Ở một giai đoạn tiến triển, sự mất hiệu quả này khiến không còn lựa chọn nào khác là phải tiêm dưới da insuline, được thực hiện bởi chính bệnh nhân nhờ một stylo. Trước hết để tác dụng vào ban đêm và bình thường hóa đường huyết lúc thức dậy, rồi nhiều lần mỗi ngày, trước mỗi bữa ăn, tùy theo nồng độ đường huyết.
Hỏi : Vậy để làm chậm lại việc chuyển qua insuline nên ta đã tìm kiếm những loại thuốc mới. Tác dụng của những chất tương cận của GLP-1 là gì ?
GS Christian Boitard : GLP-1 là một hormone (một peptide) được ruột tiết ra. 1. Nó kiểm soát sự đi qua nhanh chóng của thức ăn ở trong hệ tiêu hóa và do đó kiểm soát sự gia tăng của đường trong máu. 2. Nó kích thích tụy tạng tiết insuline. 3. Trong não bộ, nó kích thích cảm giác đói. Trong bệnh đái đường loại 2, nồng độ GLP-1 giảm, sự tiết insuline hạ xuống, sự kiểm soát tình trạng thèm ăn bị rối loạn, do đó nảy sinh ý tưởng sử dụng peptide này.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã cho phép hiệu chính điều trị này ?
GS Christian Boitard : Những công trình nghiên cứu ở thằn lằn đã cho thấy rằng GLP-1 mà nó tiết ra, được tiêm vào người, đề kháng hơn nhiều GLP-1 người vì GLP-1 người, do bị thoái hóa rất nhanh bởi một enzyme, biến mất khỏi máu trong vài phút : để có hiệu quả nó phải được tiêm truyền liên tục, điều này không thể thực hiện được. GLP-1 thằn lằn do đó đã được tổng hợp trong phòng thí nghiệm để trở nên một loại thuốc có tác dụng kéo dài hơn.
Hỏi : Hiện nay, protocole của điều trị này là gì và những kết quả của nó như thế nào ?
GS Christian Boitard : Loại thuốc này được cho bằng hai mũi tiêm dưới da mỗi ngày (bởi chính bệnh nhân). Những dạng mới GLP-1 đã được phát triển, cần ít những mũi tiêm hơn. Theo những kết quả của những công trình nghiên cứu quốc tế, nhưng dược phẩm này có hiệu quả, làm giảm mức độ đường huyết. Nhưng sẽ cần những công trình nghiên cứu khác để đánh giá hiệu quả lâu dài của chúng. Một lớp những dược phẩm đã được phát triển với một chiến lược khác : gliptines, những chất ức chế enzyme làm thoái biến GLP-1. Chúng ít hoạt tính hơn những chất tương cận của GLP-1 nhưng có sẵn dưới dạng thuốc viên.
Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của các chất tương cận của GLP-1 so với những mũi tiêm insuline là gì ?
GS Christian Boitard :
1. Một sự mất cân.
2. Những loại thuốc này không gây hạ đường huyết, trái với insuline và những thuốc làm hạ đường huyết khác.
3. Chúng ít có tác dụng phụ.
4. Điều trị đơn giản hơn, buộc kiểm soát hàng ngày “ ở đầu ngón tay ” ít thường xuyên hơn.
(PARIS MATCH 2/2- 8/2/2012)

8/ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG Ở NHỮNG NGƯỜI BỊ BÉO PHÌ NẶNG : NGOẠI KHOA HIỆU QUẢ HƠN THUỐC.
GS Jean-Marc Chevallier, chuyên gia ngoại tiêu hóa thuộc bệnh viện Georges-Pompidou, giải thích vai trò mới của những can thiệp ngoại khoa này.
Hỏi : Ở Pháp, tần số của những người bị béo phì bị một bệnh đái đường nặng là gì ?
GS Jean-Marc Chevallier : Có 2,2 triệu người bị bệnh đái đường loại 2, trong đó 40% bị béo phì.
Hỏi : Tại sao những người béo phì đặc biệt bị bệnh đái đường ?
GS Jean-Marc Chevallier : Sự tăng gánh những tế bào mỡ làm chậm lại những chức năng của tụy tạng và đặc biệt là sự tiết insuline. Do đó, đường trong máu không thể được phân bố một cách đúng đắn trong các cơ quan (gan, cơ, …) và như thế vẫn ở một nồng độ rất cao trong tuần hoàn.
Hỏi : Đối với những trường hợp nặng này những nguy cơ là gì ?
GS Jean-Marc Chevallier : Khoảng 7 năm sau khi bắt đầu bệnh, những thương tổn huyết quản nghiêm trọng sẽ gây nên một sự phá hủy dần dần những động mạch nhỏ và lớn. Ở thận, những thương tổn này có thể dẫn đến suy thận hoặc, đối với những động mạch cẳng chân, phải cưa chân. Khi mắt bị thương tổn, ta sợ bị mù lòa. Thương tổn của một động mạch vành có nguy cơ gây nhồi máu cơ tim.
Hỏi : Cho đến nay, ta điều trị những bệnh nhân này như thế nào ?
GS Jean-Marc Chevallier : Ta bắt đầu điều trị bằng những quy tắc vệ sinh tiết thực ăn uống (không mổ, không sử dụng đường hấp thụ nhanh, không uống rượu) và một hoạt động vật lý. Song hành, ta theo dõi các tham số : nồng độ đường trong máu và nồng độ hémoglobine glyquée phản ánh tiến triển của đường huyết trong 3 tháng qua. Nếu nồng độ hémoglobine glyquée vẫn trên 7%, trước hết ta kê đơn những thuốc chống đái đường bằng đường miệng. Trong trường hợp thất bại, ta chuyển qua insuline chích. Nhưng điều trị này làm phát phì và đó đó làm nặng thêm hiện tượng béo phì. Như vậy ta trở lại vòng luẩn quẩn. Chính ở giai đoạn này mà ta xét đến một can thiệp ngoại khoa.
Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi những kỹ thuật khác nhau được sử dụng hiện nay.
GS Jean-Marc Chevallier : Có hai phương pháp được thực hiện bằng nội sọi ở bụng. Phương pháp thứ nhất nhằm làm giảm kích thước của dạ dày để cắt cảm giác đói. Ở đây hai kỹ thuật có thể được sử dụng : kỹ thuật vòng dạ dày (anneau gastrique) chia dạ dày thành hai và kỹ thuật được gọi là “ sleeve ” biến đổi dạ dày thành một loại manchon (nhưng trái với kỹ thuật trước, kỹ thuật này không thể đảo ngược được). Phương pháp thứ hai là phương pháp bắt cầu (by-pass), phối hợp với việc làm giảm kich thước dạ dày, một động tác bổ sung mà mục đích là đi vòng (court-circuiter) một phần lớn dạ dày đến phần thấp của ruột non (bằng một anse de Y), trong đó thức ăn sẽ đến trực tiếp. Lại nữa, đây là một kỹ thuật không đảo ngược được.
Hỏi : Ngoại khoa chữa bệnh béo phì cũng thành công điều trị bệnh đái đường loại 2 như thế nào ?
GS Jean-Marc Chevallier : Bằng cách làm giảm khối mỡ, làm mất cân, phương pháp đầu tiên (anneau gastrique và sleeve) tác động lên bệnh đái đường. Với kỹ thuật by-pass, tụy tạng bị đi vòng. Sự loại bỏ tụy tạng và việc đi đến đột ngột của thức ăn vào ruột non làm phát khởi sự tiết vào trong máu một hormone sẽ tái lập những chức năng tụy tạng.
Hỏi : Hậu phẫu của những can thiệp nặng nề này là gì ?
GS Jean-Marc Chevallier : Trong một hoặc hai ngày, bệnh nhân được đặt ống thông dạ dày và, vì không thể ăn uống được, nên phải tiêm truyền. Sau đó, tác dụng phụ chủ yếu là một sự thiếu hụt vài vitamine, nhất là sắt. Ta bù sự thiếu hụt này bằng những chất bổ sung để tránh một tình trạng thiếu máu.
Hỏi : Những kết quả nào thu được với phương pháp ngoại khoa ?
GS Jean-Marc Chevallier : Một công trình nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 150 bệnh nhân bị bệnh béo phì nặng và bệnh đái đường loại 2. Ta đã so sánh ba điều trị, một điều trị bằng thuốc với hai điều trị ngoại khoa là by-pass và kỹ thuật “ sleeve ”. Kết quả : sau 12 tháng theo dõi, 12% những trường hợp béo phì được điều trị bằng thuốc có một nồng độ hémoglobine glyquée dưới 6%, so với 37% ở những người được mổ bằng kỹ thuật sleeve và 42% ở những người được mổ bằng kỹ thuật by-pass ! Ta cũng đã chứng thực một sự cải thiện rất rõ rệt huyết áp và nồng độ lipid trong máu. 4 bệnh nhân đã phải bị mổ lại vì những vấn đề không quan trọng, nhưng ta đã không ghi nhận một biến chứng nghiêm trọng nào. Vậy những kết luận này đã chứng minh tính hiệu quả của ngoại khoa hơn tính hiệu quả của điều trị bằng thuốc. Điều này mang lại một vai trò mới trong điều trị bệnh đái đường loại 2 ở những người bị bệnh béo phì.
(PARIS MATCH 12/7-18/7/2012)

9/ UNG THƯ DA : VAI TRÒ PHÒNG NGỪA CỦA CÁC THUỐC KHÁNG VIÊM.
Kíp dịch tễ học của B Sigrun Alba Johannesdorrir (bệnh viện Aarhus, Đan Mạch) đã nghiên cứu tác dụng của các thuốc kháng viêm không phải stéroide được gọi là AINS lên 3 loại ung thư dạ : mélanome, carcinome spinocellulaire và carcinome basocellulaire. Hai loại đầu nguy hiểm do khá năng di căng của chúng (nhất là mélanome), loai cuối luôn luôn tiến triển thuận lợi sau khi phẫu thuật. Từ năm 1991 đến 2009, những registre của Đan mạch đã thống kê 3242 mélanome, 1974 carcinome spinocellulaire và 13316 carcinome basocellulaire. Những liều AINS mà các bệnh nhân bị bệnh đã nhận trong thời kỳ này để được so sánh với những liều được cho ở hơn 178.000 người đã không bao giờ bị ung thư da. Kết quả : ở những người đã theo ít nhất hai lần một đợt điều trị bằng các thuốc kháng viêm này, ta đã quan sát một sự giảm 13% nguy cơ bị mélanome, 15% carcinome spinocellulaire. Tác dụng bảo vệ này đã không được chứng minh đối với những carcinome basocellulaire.
(PARIS MATCH 28/6-4/7/2012)

10/ UNG THƯ VÚ : ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN BẰNG CHỤP TUYỂN VÚ VẪN CÓ HIỆU QUẢ
Việc phổ biến chụp tuyến vú (mammographie) cho phép cứu được 3000 mạng người mỗi năm.
PREVENTION. Công tác điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) của ung thư vú bằng chụp tuyến vú (mammographie) có từ năm 2004 ở Pháp. Mỗi 2 năm, các phụ nữ tuổi từ 50 đến 74 được yêu cầu đến một thầy thuốc X quang để được thực hiện thăm dò này, được cơ quan bảo hiểm xã hội đảm trách 100%.
Lợi ích của biện pháp phòng ngừa này thường xuyên bị xét lại bởi những công trình nghiên cứu khoa học, gây tranh cãi trong cộng đồng y khoa. Theo các tác giả của các công trình nghiên cứu, việc điều tra phát hiện có tổ chức gây nên một số lớn những trường hợp chẩn đoán quá mức (surdiagnostic). Nói rõ hơn, một số phụ nữ nào đó mà ta xác định với họ rằng họ có một khối u ác tính thì trên thực tế lại không có… Những phụ nữ này dầu sao cũng phải chịu những thăm khám phụ thậm chí những điều trị nặng nề. “ Vấn đề chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) liên quan đến các carcinome in situ intracanalaire, chiếm 14% những trường hợp ung thư vú và 1/3 các ung thư này sẽ không tiến triển. Nhưng bởi vì không có những chất chỉ dấu (marqueur) cho phép chúng ta nhận diện chúng, chúng ta buộc phải điều trị tất cả các phụ nữ ”, GS Agnès Buzyn, chủ tịch của Institut national contre le cancer (Inca), nhân lúc trình bày những khuyến nghị của HAS về việc điều tra phát hiện ung thư vú đã giải thích như vậy.
“ Mục tiêu của công tác phát hiện bệnh là nhằm phát hiện những khối u có kích thước nhỏ, nhằm thực hiện những điều trị ít nặng nề và ít cắt bỏ hơn ”, bà đã nhắc lại như vậy. Trong những điều kiện này, việc thực hiện thăm dò này không bị xét lại bởi giới hữu trách y tế. GS Jean-Luc Harouseau, chủ tịch của HAS, có lập trường rất rõ ràng. “ Hiện nay không có tín hiệu cho phép xét lại tỷ suất lợi ích-nguy cơ của công tác điều tra phát hiện có tổ chức của ung thư vú ở phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi ”, ông đã tuyên bố như vậy. Ngược lại, như GS Agnès Buzyn đã nhắc lại, trước 50 tuổi, ta có thể nghi vấn về tính chất thích hợp của việc cho các phụ nữ chịu một nguy cơ gây bởi bức xạ.
15 triệu trường hợp chụp tuyến vú được thực hiện từ năm 2004 trong bối cảnh điều tra phát hiện có tổ chức đã cho phép chẩn đoán 100.000 trường hợp ung thư vú. Tuy nhiên vẫn còn quá sớm để có thể đánh giá những tác dụng của thăm khám này lên tỷ lệ tử vong của ung thư vú, giết chết hơn 11.000 phụ nữ mỗi năm ở Pháp.
ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN CÓ TỔ CHỨC
Theo các đánh giá của Inca, nếu tất cả các phụ nữ liên hệ tham gia vào chương trình điều tra phát hiện, 3000 mạng sống sẽ được cứu thoát mỗi năm. Thế mà chỉ một nửa trong số 4,3 triệu phụ nữ liên hệ tham gia mỗi năm vào chương trình điều tra phát hiện có tổ chức : một tỷ lệ dưới mục tiêu 80% được ấn định bởi giới hữu trách y tế.
Thật vậy sự điều tra phát hiện có tổ chức (dépistage organisé) không hề có tính chất bắt buộc. Giữa 50 và 74 tuổi, cứ 10 phụ nữ thì có một theo phương pháp điều tra phát hiện cá nhan (dépistage individuel), được thực hiện bởi một thầy thuốc, phần lớn là một thầy thuốc phụ khoa. Một việc làm mà HAS mong giảm đi hay biến mất. Thật vậy công tác điều tra phát hiện có tổ chức hiệu quả hơn vì lẽ double lecture các hình X quang bởi một thầy thuốc X quang khác. “Double lecture này phát hiện 8% đến 9% những ung thư trong điều tra phát hiện có tổ chức, BS Michel Deghaye, thầy thuốc X quang đã nhấn mạnh như vậy. Hoặc khoảng 1.300 trường hợp ung thư mỗi năm.
Theo một tính toán của HAS, thêm 283 trường hợp ung thư được chẩn đoán mỗi năm nếu 10% các phụ nữ ưa thích điều tra phát hiện cá nhân chuyển qua điều tra phát hiện có tổ chức. Hiện nay, HAS chủ trương đả thông những phụ nữ này vì lẽ một nửa trong số họ sẵn sàng theo phương điều tra phát hiện có tổ chức. Để được như thế HAS đề nghị những biện pháp kích thích như bồi hoàn 100% phí tổn siêu âm được thực hiện trong bối cảnh điều tra phát hiện có tổ chức. Tuy nhiên, “ nếu trong một thời gian nữa những biện pháp khuyến khích này không cho một kết quả nào, chúng tôi sẽ đề nghị không bồi hoàn phí tổn chup tuyến vú (mammographie) được thực hiện riêng rẻ (dépistage individuel)”, GS Jean-Luc Harousseau đã báo trước như vậy.
(LE FIGARO 5/2/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(30/9/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s