Thời sự y học số 281 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ JENNER VÀ BỆNH ĐẬU MÙA
Ngày 14/5/1796, Edward Jenner trích lấy chất bị lây nhiễm trên bàn tay của Sarah Nelmes, một cô vắt sữa bị bệnh đậu bò (variole des vaches), và chủng chất này vào James Philipps, một bé trai 8 tuổi.
Versailles, 28/4/1774. Cảm thấy khó ở bởi các triệu chứng đau đầu, sốt và đau, vua Louis XV quan sát các thầy thuốc điều trị lần lượt đi qua quanh giường. Đặc biệt có Lemonnier, thầy thuốc hàng đầu của ông, La Martinère, thầy thuốc phẫu thuật hàng đầu của ông, Bordeu, thầy thuốc của Mme du Barry et Lorry, một thầy thuốc thực hành rất nổi tiếng ở Paris. Vài ngày sau, bệnh của nhà vua trở nặng, 6 thầy thuốc, 5 phẫu thuật viên và 3 dược sĩ, tinh hoa của trường đại học đều có mặt. “ Quý vị nói rằng trẫm không bị bệnh và chẳng bao lâu nữa trẫm sẽ được chữa lành, nhưng quý vị chẳng nghĩ một chút gì về điều đó ”, nhà vua lấy làm tức tối, người vã mồ hôi, đã phán như vậy. Ngày thứ sáu 29/4, vào buổi chiều, những ban đỏ xuất hiện trên mặt. Như trong vở kịch của Molière, các chuyên viên thì thầm một chữ mà không ai dám nói ra to tiếng : bệnh đậu mùa !

Ngày chủ nhật 1/5, gương mặt của nhà vua, mà chẳng thầy thuốc nào dám nói căn bệnh của ông, được phủ đầy các mụn. “ Nếu trẫm đã không bị đậu mùa lúc 18 tuổi, thì giờ đây trẫm nghĩ là bị bệnh đó ”, nhà vua đã kêu lên như vậy, khi đó ông được 64 tuổi. Hai ngày sau, các ban xuất hiện trên bàn tay khiến không còn nghi ngờ gì nữa. “ Đó là bệnh đậu mùa ! Đó là bệnh đậu mùa ! ”. Trong 8 ngày tiếp theo, ban không ngừng lan rộng. Khi Robert và Daniel Sutton, hai nhà chủng (inoculateur) nổi tiếng người Anh đến Versailles thì đã quá muộn. Trên gương mặt của vua Louis XVI, các ban mụn đã khô đi và hóa đen. Ngày 10 tháng 5, ít lâu sau 15 giờ, nhà vừa trút hơi thở cuối cùng.
Trong vương quốc, câu chuyện về cái chết khủng khiếp này đập vào các trí tưởng tượng. Được biết ở châu Âu từ thế kỷ VII, là nơi những người Sarrasin đã đưa bệnh đậu mùa vào từ vùng Viễn Đông, bệnh đậu mùa (variole), một căn bệnh lây nhiễm cũng còn được gọi là petite vérole (vérole : bệnh giang mai ; petite vérole : bệnh đậu mùa), là một tai ương mà người ta vừa mới bắt dầu chống lại. Vào thế kỷ XVIII, bệnh đậu mùa gây 60 triệu người chết trên lục địa. Từ nhiều thập niên nay, các thầy thuốc người Anh, Thụy Sĩ và Pháp tuy vậy đã tin chắc rằng có một phương tiện chống lại căn bệnh này, được mô tả một cách đại khái bởi Ambroise Parré trong một chuyên luận năm 1560, trong đó bệnh đậu mùa được coi như là bệnh dịch hạch và bệnh sởi. Chưa ai nói đến việc trừ khử nó, nhưng tất cả đều tin chắc rằng, cũng như nhà toán học và vật lý học người Thụy Sĩ Daniel Bernouilli, ta có thể ngăn căn bệnh đậu mùa giết chết 1/8, thậm chí ¼ những người bị bệnh.
DÙNG BỆNH CHỐNG LẠI BỆNH
Từ năm 1720 và một thí nghiệm đầu tiên do Lady Worttley Montagu, vợ của đại sứ Anh ở Constantinople, được tiến hành trên những đứa con của mình, trong giới tinh hoa của các thầy thuốc người ta thì thầm rằng có một phương pháp phòng ngừa độc đáo chống lại sự tấn công của bệnh đậu mùa. Nguyên tắc của phương pháp này là chủng cố ý một dạng ít độc lực của bệnh lấy ở một người bị bệnh để ngăn cản bệnh trở thành nặng hơn. Phương pháp này, đã được biết ở Trung Hoa từ nhiều thế kỷ, được gọi là variolisation. Trong thời kỳ Châu Âu Ánh Sáng (Europe des Lumières), là lúc tư duy y học bắt đầu sáng tỏ, ta hiểu rằng có thể dùng bệnh trị bệnh (lutter contre le mal par le mal), mặc dầu những thử nghiệm đầu tiên không luôn luôn chứng rõ.
Những người theo phương pháp variolisation, tin chắc rằng phương pháp này sẽ cứu mạng, không phải là không biết những điều bất tiện của nó, nhất là sự việc những người được chủng sẽ trở thành những nguồn lây nhiễm. Ngay khởi thủy, những thầy thuốc người Anh, đã đưa phương pháp này vào đất nước họ và đến thuộc địa Mỹ, là những người táo bạo nhất. Ở Pháp, là nơi các thầy thuốc thực hành đã không ngừng tin chắc vào Hippocrate, hai trường phái chạm trán nhau trong lòng Đại học Y khoa. Sau khi đã tìm hiểu những thí nghiệm đầu tiên của người Anh, những người ủng hộ phương pháp variolisation báo cáo những kết quả chứng rõ. Những người chống lại phương pháp này nhấn mạnh số các nạn nhân của bệnh đậu mùa nhân tạo (la petite vérole artificielle) và nhắc lại rằng mục tiêu của y khoa là chữa bệnh và do đó không thể “ sinh ra những kẻ thù ” để rồi sau đó phải chống lại chúng.
Giữa năm 1754 và 1765, Charles-Marie de La Condamine, nhà bác học người Pháp đã xuôi giòng sông Amazone năm 1743-1744, đã phát biểu trước các đồng nghiệp của Viện hàn lâm khoa học một loạt các bài biện hộ hùng hồn ủng hộ phương pháp mới về sự chủng (inoculation) bệnh đậu mùa. Theo ông, bệnh đậu mùa giết một trường hợp trên bảy và sự tiêm chủng, trong trường hợp tệ hại nhất, giết một người được chủng trên 300. Trong những năm 1760, những người theo phương pháp variolisation, được ủng hộ bởi các nhà bách khoa (encyclopédiste) dường như chiếm ưu thế ở Paris. Nhưng những ông lớn của vương quốc vẫn còn do dự không chịu chủng, mặc dầu bệnh đậu mùa gây bệnh một cách bình đẳng ở những người giàu cũng như ở những người nghèo : ta đã kể điều đó khi nói về Louis XV.
TIÊM CHỦNG HOÀNG GIA
Vào lúc nhà vừa hấp hối ở Versailles, cả thái tử, vua Louis XVI tương lai, lẫn vợ của thái tử, bà quận công Marie-Antoinette, đã không được phép đến cạnh giường người hấp hối, vì cả hai đã không được tiêm chủng. Ngày 18 tháng sáu năm 1774, tuy vậy, Louis XVI và các anh em chịu chủng đậu mùa ở lâu đài Marly bởi François Richard de Hautesoerk, thầy thuốc số một của quân đội nhà vua. Sau khi đã trích lấy chất bị lây nhiễm trong mụn mủ (pustule) của một phụ nữ trẻ bị bệnh (mà đạo đức đã được kiểm tra !), thầy thuốc tham vấn của nhà vua tiêm chất này cho Louis XVI, cho bá tước Provence, vua Louis XVIII tương lai, cho bá tước Artois, vua Charles X tương lai cũng như cho vợ của ông ta là Marie-Thérèse de Savoie.
Triều đình run sợ, nhưng nhà vua đã thoát khỏi với một đậu mùa nhân tạo không gây hậu quả. Việc tiêm chủng hoàng gia này là một bước ngoặt quyết định. Ở Pháp, sự chủng đậu mùa là đối tượng của những chiến dịch rộng lớn ; trong phần còn lại của châu Âu, các thành viên của các hoàng gia lần lượt được chủng.
Tuy nhiên, khoa học vẫn còn cần thực hiện một tiến bộ trong sự chống lại bệnh đậu mùa. Đó sẽ là sự kiện của một nhà quan sát sáng suốt và có phương pháp, một thầy thuốc với trí thông minh sáng chói, Edward Jenner (1749-1823), người Anh, 25 tuổi vào năm vua Louis XVI được chủng ngừa. Khi đó Jenner bắt đầu những nghiên cứu đơn độc trong suốt 20 năm, cho đến khi khám phá sự tiêm chủng chống bệnh đậu mùa năm 1796.
Một khám phá được thực hiện ngoài phòng thí nghiệm, ở ngoài trời. Trong vùng thôn quê của nước Anh mà ông thích đi đó đây từ khi ông tìm lại ngôi làng Berkeley, nơi ông đã sinh ra đời và là nơi ông đã lập nghiệp với tư cách chirurgien-médecin năm 1773. Jenner đã nhận xét rằng vài con bò mang một bệnh tương tự một cách kỳ lạ với bệnh đậu mùa, và còn kỳ lạ hơn nữa, những người chăn bò chăm sóc gia súc này và bị cùng bệnh như các động vật, không bị mắc phải bệnh đậu mùa. “ Một tính chất đặc biệt của bệnh này, ông đã nhận xét như vậy, và đặc biệt đáng sự chú ý của chúng ta, đó là những người bị mắc bệnh, sau đó và mãi mãi, trở nên đề kháng với với bệnh đậu mùa và không có khả năng bị mắc bệnh hoặc do lây nhiễm hoặc do chủng.” Như thế Edward Jenner đã tạo một cách thường nghiệm mối liên hệ giữa bệnh đậu bò (variole des vaches), thường được gọi là “ cow-pox ” hay “ vaccine ”, và tai ương mà chủng từ nay được phổ biến đã không thành công trừ khử hoàn toàn. “ Đừng suy nghĩ. Hãy thí nghiệm. Hãy nhẫn nại và chính xác ”, vị thầy của ông, John Hunter, thầy thuốc ngoại khoa và nhà tự nhiên học, đã khuyên ông như thế. John Hunter là nhà cơ thể học xuất sắc chống lại ảnh hưởng của các giáo điều trong y khoa, chủ trương phương pháp thí nghiệm (méthode expérimentale).
Quan sát quyết định xảy ra ngày 14 tháng 5 năm 1796. Ngày hôm đó, Edward Jenner lấy chất bị nhiễm trên bàn tay của Sarah Nelmes, một cô vắt sữa bò bị bệnh đậu bò sau khi bị gai làm trầy, và chủng vào James Phipps, một bé trai 8 tuổi. Trong những ngày sau, những ban đỏ, những bọng nước và mụn mủ xuất hiện trên cơ thể của người bệnh của ông. Nhưng 10 ngày sau khi được chủng, cậu bé trai bình phục hoàn toàn.
MỘT THẦY THUỐC NGOẠI KHOA CÓ ĐÔI CHÂN LẤM BÙN.
Ngày 1 tháng 7, Edward Jenner thực hiện ở James Phipps một test de variolisation và quan sát rằng cậu bé này không bị bệnh đậu mùa nhân tạo. Một ít lâu sau ông bắt đầu lại và một lần nữa có cùng nhận xét. Như thế Jenner đã chứng tỏ rằng bệnh đậu bò (vaccine) gây miễn dịch chống lại bệnh đậu mùa (variole). Như thường xảy ra trong lịch sử của những khám phá y khoa, việc chứng minh này gặp phải sự chống đối. Vài đồng nghiệp tố cáo sự thiếu nghiêm túc trong những thí nghiệm điền viên (expériences bucoliques) của Jenner.
Ở Hiệp hội y khoa hoàng gia Luân Đôn, thầy thuốc chirurgien- médecin của làng Berkeley với đôi chân vấy bùn làm mọi người mỉm cười. Phải đợi những năm đầu của thế kỷ XIX khi đó Edward Jenner mới nổi tiếng, cũng như ông xứng đáng điều đó, trước hết ở Vương Quốc Anh, rồi sau đó trên toàn thế giới, là lúc vaccine gây nên một sự hâm mộ làm sửng sốt. Than ôi, ta luôn luôn có tội khi ta là một thiên tài. Những người ganh ghét, có được địa vị nhờ được chấp nhận hơn là nhờ năng lực, buộc tội Jenner là một “ tên bịp ngu dốt ” (imposteur ignare ). Và tên bịp này, cống hiến những năm tháng cuối của đời mình cho những người nghèo, đã tự an ủi bằng một câu của nhà đạo đức : “ Vinh quang là một cái đích mạ vàng luôn luôn đạt được bằng những mũi tên của sự thâm hiểm ”.
(LE FIGARO 1/8/2012)

2/ BỆNH ƯA CHẢY MÁU NGÀY CÀNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TỐT HƠN.
Những tiến bộ đặc biệt đã được thực hiện để phòng ngừa những hậu quả thứ phát của của bệnh ưa chảy máu.
CIRCULATION SANGUINE. Với những kết quả dương tính của một thử nghiệm liệu pháp gène (thérapie génique) để điều trị bệnh ưa chảy máu B (hémophilie B) vào tháng 12 vừa qua, và mới đây hơn những thử nghiệm đầy hứa hẹn để kéo dài tác dụng của những điều trị và đó đó làm giảm tần số những lần tiêm thuốc, các nhà nghiên cứu và các thầy thuốc có thể cảm thấy phấn khởi. Nhưng 75% những người bị bệnh ưa chảy máu trên thế giới vẫn chưa được tiếp cận với điều trị, quá tốn kém, chống lại căn bệnh vẫn còn có khả năng gây tử vong.
Đặc biệt được công chúng biết đến vì đã giáng vào các triều đình châu Âu xuyên qua hậu duệ của hoàng hậu Victoria, bệnh ưa chảy máu là một bệnh di truyền được thể hiện bởi những xuất huyết tự nhiên hay kéo dài một cách bất thường. Thuật ngữ này quy tụ nhiều bất thường do sự biến dị của các gène mã hóa cho một trong những yếu tố protéine có liên quan trong quá trình đông máu. Thường xảy ra nhất là bệnh ưa chảy máu A (85% các trường hợp) liên kết với một biến dị của gène của yếu tố VIII, và bệnh ưa chảy máu B (15% các trường hợp) liên kết với một biến dị của gène của yếu tố IX. Là những láng giềng, hai gène này được định vị trên một phần của nhiễm sắc thế X nhưng không có đồng đẳng (homologue) trên nhiễm sắc thế Y : căn bệnh, được truyền bởi các phụ nữ, như thế chủ yếu gây bệnh cho đàn ông. Nhưng khoảng 10% những phụ nữ “ đưa đường ” (conductrice) có một thể nhẹ của bệnh.
Trong 60% các trường hợp, bệnh ưa chảy máu A hay B được truyền trong các gia đình từ thế hệ này đến thế hệ khác, nhưng 40% là những biến dị mới xảy ra, không có những tiền sử gia đình được biết. Tần số của bệnh ưa chảy máu A là khoảng một trường hợp đối với 6000 trường hợp sinh bé trai, tần số của bệnh ưa chảy máu B là 5 lần thấp hơn. Vậy đó là một bệnh hiếm, được đảm nhận bởi những thăm khám chuyên khoa trong 6 centre de référence vùng.
Dầu đó là bệnh ưa chảy máu A hay B, mức độ trầm trọng tùy thuộc ở mức độ nghiêm trọng của sự thiếu hụt. Khi sự sản xuất yếu tố VIII hay IX dưới 1% bình thường, bệnh ưa chảy máu được gọi là nặng (hémophilie sévère), được biểu hiện, nếu không được điều trị phòng ngừa, bởi những xuất huyết tự nhiên rất thường xảy ra. Giữa 1 và 5% tỷ lệ bình thường, bệnh ưa chảy máu được gọi là vừa phải (hémophilie modérée), không có chảy máu tự nhiên, nhưng cũng thường xảy ra khi bị chấn thương ngay cả nhẹ. Bệnh ưa chảy máu được gọi là nhẹ (hémophilie mineure) nếu tỷ lệ này nằm giữ 6 và 40% trị số bình thường, với một nguy cơ gia tăng chỉ khi can thiệp ngoại khoa hay chấn thương quan trọng, BS Thierry Lambert, thuộc centre de référence de hémophilie, thuộc CHU Paris-Sud, bệnh viện Bicetre, đã giải thích như vậy. Bệnh ưa chảy máu A gồm 40 đến 45% những thể nặng, 20% những thể vừa phải và 35 đến 40% những thể nhẹ. Những thể nặng hơi ít hơn trong bệnh ưa chảy máu B.
NHỮNG MÁU TỤ QUAN TRỌNG.
Đối với GS Claude Négrier, điều khiển centre de référence de l’hémophilie ở CHU de Lyon, thái độ của các gia đình đã hoàn toàn thay đổi trong 20 năm, và chứng tỏ một sự chấp nhận tốt hơn bệnh ưa chảy máu bởi xã hội do những tiến bộ trong điều trị. Từ nay, khi bà mẹ biết rằng mình là người dẫn truyền (conductrice) của một bệnh ưa chảy máu nghiêm trọng, 8 đến 9 trên 10 các bố mẹ mong muốn tiếp tục thai nghén mặc dầu nguy cơ này, và chẩn đoán chỉ được thực hiện vào lúc sinh em bé, bằng định lượng yếu tố VIII hay IX trong cuống rốn. Việc sinh đẻ phải được thực hiện trong những điều kiện thận trọng đặc biệt. Chỉ 10 đến 20% các cặp vợ chồng dự kiến gián đoạn thai nghén (interrruption thérapeutique de grossesse) và đòi hỏi một chẩn đoán tiền sinh. Được thực hiện bằng sinh học phân tử, chẩn đoán này, ngay tuần lễ thứ 15, cho phép biết thai nhi có sẽ bị bệnh ưa chảy máu hay không.
Trong những trường hợp bệnh ưa chảy máu xảy ra lẻ tẻ (hémophile sporadique), chẩn đoán những thể nặng thường được thực hiện sớm, căn cứ trên sự xuất hiện những khối máu tụ quan trọng, chậm nhất là lúc té ngã khi tập bước đi. Chẩn đoán có thể rất muộn trong những thể trung bình hay nhẹ.
Điều trị “ theo yêu cầu ” dựa trên su tiêm tĩnh mạch, vào mỗi lần chảy máu, yếu tố VIII hay yếu tố IX bị thiếu hụt, nhận được nhờ phân đoạn máu (fractionnement du sang) hay tái phối hợp (recombinaison). Do làm ngừng những trường hợp chảy máu, điều trị này đã cách mạng hóa tiên lượng của những người bị bệnh ưa chảy máu thể nặng mà hy vọng sống, ngày xưa bị giới hạn, nhưng ngày nay hầu như bằng với hy vọng sống của dân chúng nói chung.
NHỮNG XUẤT HUYẾT KHỚP
Nhưng những xuất huyết khớp thường xảy ra trong những thể nặng này, kèm theo những lắng đọng các sản phẩm thoái hóa máu, cuối cùng đưa đến thương tổn các khớp. “ Những người trên 25 tuổi hầu như tất cả đều bị những thương tổn khớp như thế, nhất là của khớp gối, buộc phải đặt khớp giả. Từ cuối những năm 1990, một điều trị dự phòng dựa trên những mũi tiêm tĩnh mạch nhiều lần mỗi tuần yếu tố VIII hay IX với liều đủ để ngăn ngừa những xuất huyết ngẫu nhiên được đề nghị một cách hệ thống trong bệnh ưa chảy máu thể nặng ”, thầy thuốc huyết học của Lyon đã xác nhận như vậy.
Những điều trị này, phải bắt đầu trước năm 2 tuổi, trong 20 đến 30% những trường hợp bệnh ưa chảy máu A thể nặng, kèm theo sự xuất hiện những kháng thể ức chế chống lại yếu tố đông máu được tiêm vào. “ Sự tiêm những liều mạnh yếu tố VIII làm biến mất sự ức chế này trong 70% các trường hợp. Lý tưởng là có thể làm cho thuốc it sinh miễn dịch hơn, điều mà chúng ta không làm được. Một hướng nghiên cứu nhằm cố gắng kéo dài thời gian tác dụng của yêu tố VIII nhờ biến đổi cấu trúc của nó nhằm làm giảm số lần tiêm ”.
Nhiên hậu, với triễn vọng một liệu pháp gène (thérapie génique), ít nhất đối với bệnh ưa chảy máu B mà gène, nhỏ hơn, đã có thể được chuyển cho người với một tính hiệu quả lâm sàng kéo dài, nhân một thử nghiệm được công bố vào tháng 12 năm 2011.
(LE FIGARO 27/8/2012)

3/ NHỮNG BỆNH TIM MẠCH Ở PHỤ NỮ : MỘT BÁO ĐỘNG ĐỎ.
GS Claire Mounier-Vehier, phó chủ tịch của Liên đoàn tim học Pháp, Trưởng khoa y học mạch máu và cao huyết áp thuộc bệnh viện tim của CHRU de Lille, giải thích làm sao kềm hãm tiến triển gia tăng của những bệnh lý này.
Hỏi : Ở phụ nữ, tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch là gì ?
GS Claire Mounier Vehier : Theo registre của Hiệp hội tim học châu Âu, ngày nay, sau thời kỳ mãn kinh, cứ 3 phụ nữ có một chết vì một trong những bệnh tim mạch này, giết chết còn hơn cả ung thư vú ! Và, từ ít lâu nay, ta chứng thực rằng những bệnh lý này cũng ảnh hưởng lên những phụ nữ trẻ hơn, mặc dầu họ còn dưới tác dụng bảo vệ của oestrogène.
Hỏi : Sau thời kỳ mãn kinh, những hormone này có một tác dụng bảo vệ bằng cách nào ?
GS Claire Mounier Vehier : Phải phân biệt những oestrogène tự nhiên với những oestrogène tổng hợp. Những oestrogène tự nhiên có một tác dụng giãn mạch, giữ cho các động mạch và các tĩnh mạch được mềm dẻo. Chúng cũng có một tác dụng chống huyết khối (action antithrombotique) và làm dễ sự tổng hợp cholestérol loại tốt. 5 năm sau thời kỳ mãn kinh, với sự đánh mất oestrogène, các phụ nữ bị đối đầu với những nguy cơ khác nhau.
Hỏi : Tại sao tai ương này nói chung bị đánh giá thấp ở các phụ nữ ?
GS Claire Mounier-Vehier : Theo những kết quả của rất nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành chủ yếu ở đàn ông, ta hằng nghĩ rằng những người đàn ông bị nguy cơ hơn nhiều do các yếu tố làm dễ như thuốc lá, sự căng thẳng nghề nghiệp, một sự tiêu thụ rượu quá mức, một tình trạng tăng thể trọng, một sự thặng dư cholestérol. Nếu ta chứng thực một tỷ lệ lưu hành gia tăng những bệnh tim mạch này ở các phụ nữ, đó là bởi vì họ đã theo cùng những lối sống.
Hỏi : Trong đời sống một phụ nữ phải chăng có vài giai đoạn trong đó họ phải đặc biệt tự theo dõi hay không ?
GS Claire Mounier-Vehier : Có 3 nguyên tắc.
1. Sự sử dụng thuốc ngừa thai chứa œstrogène tổng hợp, chỉ có thể được quyết định nếu không có tiền sử huyết khối (thrombose) và sau khi thực hiện một bilan lipid, đường và đo huyết áp.
2. Thai nghén, trong đó cùng những biện pháp tỏ ra cần thiết.
3. Thời kỳ chu mãn (périménaupose) (trong 5 năm sau khi tắc kinh), trong giai đoạn này sự phát hiện một bệnh động mạch vành bằng épreuve d’effort (thí dụ trên thảm lăn) hay bằng siêu âm tim phải được thực hiện. Những bilan lipidique là thiết yếu. Nếu tất cả những kết quả đều tốt, một check-up mới sẽ được dự kiến 5 năm sau.
Hỏi : Những phụ nữ nào đặc biệt có nguy cơ ?
GS Claire Mounier-Vehier : Theo Hiệp hội tim Hoa Kỳ (AHA), đó là những phụ nữ hút thuốc (bắt đầu từ 4 điếu mỗi ngày), những phụ nữ có một thời kỳ mãn kinh sớm (trước 40 tuổi), những phụ nữ chịu nhiều căng thắng (grandes stressées), những người bị cao huyết áp, bị bệnh béo phì, những bệnh nhân đái đường và những nạn nhân của một tai biến mạch máu. Tất cả phải tránh điều trị bằng hormone có chất cơ bản là œstrogène tổng hợp.
Hỏi : Những bệnh tim mạch nào là nguy hiểm nhất ?
GS Claire Mounier-Vehier :
1. Những bệnh lý động mạch chủ, trong đó viêm động mạch các chi dưới, ngày càng thường gặp.
2. Nhồi máu cơ tim.
3. Tai biến mạch máu não.
Hỏi : Ở Pháp, những biện pháp nào được thực hiện để phòng ngừa những bệnh này ?
GS Claire Mounier-Vehier : So với những người đàn ông, các phụ nữ không được phát hiện và điều trị đến nơi đến chốn. Điều này giải thích ở các phụ nữ sự tiến triển của những trường hợp tử vong do những bệnh này. Sự trì chậm trong điều trị là một vấn đề khẩn cấp.
Hỏi : Bà sẽ đề nghị gì nhân hội nghị sắp đến của Liên đoàn tim học Pháp ?
GS Claire Mounier-Vehier : Thiết lập một sự hợp tác chặt chẽ giữa các thầy thuốc điều trị, các thầy thuốc chuyên khoa tim, các thầy thuốc chuyên về mạch máu (angiologue) và các thầy thuốc phụ khoa để họ xác lập đối với mỗi bệnh nhân những protocole thăm khám phát hiện. Mục đích là phát hiện càng sớm càng tốt sự xuất hiện của một vấn đề tim mạch. Một công trình nghiên cứu dài hạn, hiện được thực hiện bởi GS Nicolas Dauchin (bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou) chủ yếu để nhận diện tốt hơn những dấu hiệu báo động của những bệnh lý này ở phụ nữ.
(PARIS MATCH 13/9 – 19/9/2012)

4/ CHỐNG BÉO PHÌ : NGỦ NGON VÀ TESTOSTERONE
Nhân hội nghị châu Âu lần thứ 19, hai công trình nghiên cứu đã được trình bày. Công trình thứ nhất của Đan Mạch, được thực hiện ở Copenhague bởi BS Nanna Olsen, quan tâm đến các đêm ngủ của 645 trẻ em từ hai đến 6 tuổi, có khuynh hướng béo phì vì có trọng lượng lúc sinh tăng cao. Theo những điều chứng thực, một giấc ngủ có chất lượng xấu hay không đủ, liên kết với những sợ hãi, thường được liên kết với một tình trạng tăng thể trọng sớm (surcharge pondérale précoce). Phương thuốc tự nhiên của các đứa trẻ là đến giường bố mẹ để được an lòng. Công trình nghiên cứu đã nêu lên rằng những trẻ bị cấm không được đến giường bố mẹ bị béo phì 3 lần thường hơn ! Công trình nghiên cứu thứ hai của Đức, được thực hiện bởi BS Farid Saad, ở Berlin, trên những người đàn ông hơn 45 tuổi, có nồng độ testostérone dưới bình thường bởi vì thường liên kết với chứng béo phì : 251 trong số những người đàn ông này, tuổi trung bình 61, đã nhận trong 2 năm, mỗi 3 tháng, testostérone tiêm mông. Cuối cùng, mỗi người đã mất khoảng 16 kg. Huyết áp, nồng độ triglycéride và đường huyết được bình thường hóa.
(PARIS MATCH 24/5 – 30/5/2012)

5/ VIÊM HỌNG : CHỮA LÀNH TỰ NHIÊN TRONG PHẦN LỚN CÁC TRƯỜNG HỢP
“ Mỗi năm, ta đếm được khoảng 8 triệu trường hợp viêm họng (angine) ở Pháp, trong đó đại đa số xảy ra ở trẻ em ”, GS Françoise Denoyelle, thầy thuốc ngoại khoa ORL, thuộc bệnh viện nhi đồng Armand-Trousseau, Paris, đã nhắc lại như vậy.
Viêm họng (angine) là một nhiễm trùng các amidan và đặc biệt hơn là hai amidan khẩu cái (amygdales palatines) nằm ở hai bên lưỡi gà (luette), ở đáy miệng. Cũng như các sùi vòm họng (végétations) nằm ở đáy mũi, những cấu trúc lympho này nằm ở lối vào của cơ thể, đồng thời có nhiệm vụ lọc (filtre), messager và là phòng ngự đầu tiên chống lại vi trùng.
Nằm ở tuyến đầu, chính các amidan là mục tiêu của những nhiễm trùng mà chúng phải có nhiệm vụ ngăn ngừa. “ Khi khả năng lọc bị bảo hòa, các vi khuẩn tích tụ có thể gây nên một nhiễm trùng các amidan, GS Richard Nicollas, thầy thuốc ngoại ORL thuộc bệnh viện nhi đồng La Timone (Marseille) đã giải thích như vậy. Nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện trên các hạch hạnh nhân đã cho thấy sự hiện diện của các ổ tăng sinh vi khuẩn hay nấm.” Các viêm họng thường xảy ra ở tuổi ấu thơ, đặc biệt giữa 6 và 9 tuổi bởi vì tính miễn dịch, “ được học ” giữa 6 tháng và 9 tuổi, chưa hoàn toàn được hình thành.
NHỮNG NGUY HIỂM CỦA SỰ CHO THUỐC LẤY
Trong một phần rất lớn các trường hợp, ở người trưởng thành cũng như ở trẻ em, viêm họng tự tiêu đi trong vài ngày. Thầy thuốc có thể kê đơn những thuốc để làm giảm sốt hoặc giảm đau. Các kháng sinh được dành cho vài tình huống đặc biệt, nhất là khi một trắc nghiệm chẩn đoán nhanh (test de diagnostic rapide) đã cho phép phát hiện sự hiện diện của các liên cầu khuẩn loại A.
“ Ngoài ra, các amidan được cấu tạo bởi một loại mô khá xốp, nơi xảy ra nhiều phản ứng viêm có thể bảo vệ các mầm bệnh chống lại tác dụng của nhiều loại thuốc, đặc biệt là các kháng sinh ”, GS Nicollas đã nhấn mạnh như vậy.
Như thế viêm họng đôi khi dường như hình thành, mặc dầu được điều trị nhiều lần ; ở vài trẻ em có thể chịu đến một trường hợp viêm họng mỗi 4 đến 6 tuần. Vài yếu tố nhạy cảm đã được nhận diện, đặc biệt một tính nhạy cảm gia đình (sensibilité familiale), một thể địa dị ứng (terrain allergique) và, trong một mức độ ít hơn, những nguồn kích thích tại chỗ như hồi lưu dạ dày-thực quản (reflux gastro-oesophagien).
Ở vài bệnh nhân, nhiễm trùng thành hình “ ở mức độ thấp”, gây nên một phản ứng viêm thường trực các amidan. Sau cùng, trong những trường hợp khác, nhiễm trùng được tập trung ở một vùng của amidan và tạo thành một abcès, đặc biệt đau đớn, cần phải chọc và dẫn lưu, một thủ thuật cũng gây đau đớn. “ Ta đã nhận diện vai trò rất có hại của việc tự sử dụng những AINS như ibuprofène hay aspirine, khi đứng trước một viêm họng, GS Michel Mondain, trưởng khoa ORL của CHU de Montpellier, đã lấy làm tiếc như vậy. Chỉ có paracétamol là có thể được sử dụng mà không cần ý kiến của một thầy thuốc.”
Đứng trước những tình huống tái phát hay viêm mãn tính, đôi khi tốt hơn là thực hiện cắt bỏ các amidan, sau khi đã đảm bảo rằng nơi nhiễm trùng không nằm ở nơi khác trong họng. Khi chỉ định rõ ràng, các viêm họng hoàn toàn biến mất sau can thiệp phẫu thuật.
(LE FIGARO 3/9/2012)

6/ TẠI SAO KHÔNG NÊN MỔ MỘT RUỘT THỪA VIÊM NỮA NẾU KHÔNG CHỤP HÌNH ẢNH TRƯỚC MỔ
Professeur Patrice Taourel
CHU Montpellier
Responsable du groupe urgence
de la Société française de radiologie

Cách nay hơn một thế kỷ, Paul Poirier, thầy thuốc ngoại khoa lỗi lạc, đã xác nhận : “ Ta phải can thiệp một cách hệ thống ngay khi chẩn đoán ruột thừa viện được bảo đảm hay ngay cả khi chỉ nghi ngờ và ta phải luôn luôn lấy đi ruột thừa.” Khi đó ruột thừa viêm có một tỷ lệ tử vong gần 20%. 30 năm sau, Marcel Proust, mặc dầu là con và anh của thầy thuốc, không đánh giá cao các nhà ngoại khoa, ông lấy làm khôi hài sự kiện rằng “ vài thấy thuốc ngoại khoa cho rằng, để tránh khả năng một ruột thừa viêm tương lai, phải cắt bỏ ruột thừa ở tất cả các trẻ em ”.
Buộc phải công nhận rằng ở Pháp, cắt bỏ ruột thừa (appendicectomie) trước mọi nghi ngờ ruột thừa viêm và đặc biệt là trước mọi triệu chứng đau ở hố chậu phải, đã vẫn là một giáo điều trong gần như suốt thế kỷ XX và rằng cắt bỏ ruột thừa dự phòng (appendicectomie prophylactique) đã được vài người xem như một phương thức hợp lý, đặc biệt với sự phát triển của ngoại nội soi ổ bụng (chirurgie sous coelioscopie).
KHÁM LÂM SÀNG
Đã một thời mọi người đều bằng lòng : bệnh nhân, được trừ khử bóng ma của bệnh viêm phúc mạc do ruột thừa viêm đáng sợ ; phẫu thuật viên, đã lấy đi một ruột thừa không biến chứng ; người thầy thuốc, thỏa mãn vì cho là vinh dự đã thực hiện thăm khám lâm sàng chữa bệnh ; nhà giải phẫu bệnh lý, mặc dầu ruột thừa được cắt bỏ lành mạnh, nhưng cũng tìm thấy một ít viêm nhiễm được gọi một cách kín đáo là “ viêm ruột thừa sung huyết ” (appendicite catarrhale), vì lẽ ruột thừa lành mạnh này đã được cắt bỏ trong khi phẫu thuật, và ngay cả Cơ quan bảo hiểm y tế, tin là thực hiện những tiết kiệm nếu động tác được thực hiện không cần thăm khám hình ảnh cũng như chẳng cần xét nghiệm máu trước khi mổ.
Và tuy vậy ! Và tuy vậy, phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa, ngay cả khi được mổ bởi những tay có kinh nghiệm, có một tỷ lệ bệnh tật tức thời (morbidité immédiate) nào đó với một tỷ lệ áp xe hậu phẫu gần 1% và còn cộng thêm một tỷ lệ bệnh tật muộn (morbidité tardive), vì phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa là nguyên nhân đầu tiên của tắc cơ học ruột non do bride hậu phẫu. Chỉ dựa trên thăm khám lâm sàng với một theo dõi y khoa trong trường hợp nghi ngờ chẩn đoán, thái độ được chủ trương trong các nước anglo-saxon, dẫn đến một tỷ lệ ruột thừa viêm được mổ ở giai đoạn bị thủng gần 30%. 300.000 trường hợp nghi ruột thừa viêm được mổ ở Pháp mỗi năm vào cuối những năm 1990 có một phí tổn 300 triệu euro.
Chụp hình ảnh đã cách mạng hóa, trong 20 năm qua, việc xử trí bệnh ruột thừa viêm. Trong khi chụp bụng không chuẩn bị (abdomen sans préparation) không có một lợi ích nào trong chẩn đoán ruột thừa viêm và một cách tổng quát hơn, trong chẩn đoán những trường hợp đau bụng cấp tính, như một báo cáo của Haute Autorité de santé được công bố năm 2009 đã nêu rõ, ngày nay chẩn đoán ruột thừa viêm cấp tính dựa trên siêu âm (échographie) hay chụp cắt lớp vi tính (tomodensitométrie) ; siêu âm ở các trẻ em, những bệnh nhân trẻ và những phụ nữ có thai, scanner có lẽ hơi hiệu năng hơn siêu âm một cách nói chung và đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi hơn, ở những bệnh nhân trong tình trạng tăng thể trọng bởi vì, trái với siêu âm, mỡ làm dễ sự nhìn thấy ruột thừa ở scanner, hoặc khi các triệu chứng khuếch tán hơn.
Siêu âm cũng như scanner sẽ cho thấy những bất thường ở ruột thừa, có thành bị dày lên, ở mỡ quanh ruột thừa (graisse périappendiculaire), bị thâm nhiễm ; những thăm khám này sẽ xác nhận một ruột thừa bình thường, cho phép loại bỏ chẩn đoán ruột thừa viêm, tìm kiếm những biến chứng của ruột thừa viêm : thủng, plastron, phlegmon, áp xe, mà chẩn đoán có một ảnh hưởng thật sự lên việc điều trị ngoại khoa của ruột thừa viêm, lên sự lựa chọn giữa nội soi ổ bụng (coelioscopie) hay mở bụng (laparotomie ouverte) và lên nơi thực hiện đường xẻ ngoại khoa (incision chirurgicale).
NHỜ ĐẾN CHỤP HÌNH ẢNH
Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong xử trí những bệnh nhân được nghi bị viêm ruột thừa : trong một công trình nghiên cứu Bắc Mỹ, được công bố năm 2008 trong tạp chí uy tín New England Journal of Medicine, tỷ lệ cắt bỏ ruột thừa trắng (appendicectomie blanche) đã chuyển từ 24% xuống còn 3% và tỷ lệ thủng ruột thừa từ 18% xuống còn 5%, giữa năm 1996 và 2006, nhờ việc sử dụng hệ thống phương pháp chụp hình ảnh ; ở Pháp, số trường hợp cắt bỏ ruột thừa đã giảm từ 300.000 năm 1990 xuống còn 83.000 năm 2010. Vậy chụp hình ảnh hệ thống (imagerie systématique) trong những trường hợp nghi viêm ruột thừa cải thiện việc xử trí các bệnh nhân đồng thời tránh một phẫu thuật vô ích với những biến chứng khả dĩ của nó.
Ngược lại, chụp hình ảnh cho phép một sự theo dõi kéo dài trong những trường hợp viêm ruột thừa thật sự bị mổ muộn, ở giai đoạn thủng và làm dễ động tác ngoại khoa nhờ chẩn đoán những biến chứng có thể xảy ra. Chụp hình ảnh là một nguồn tiết kiệm thật sự. Quỹ quốc gia bảo hiểm bệnh tật đã không lầm vì lẽ, trong một báo cáo được công bố tháng 9 năm 2011 về những trường hợp mổ césarienne và mổ phiên cắt bỏ ruột thừa, cơ quan này đã cho thấy rằng, trong vài tỉnh, tỷ lệ cắt bỏ ruột thừa gần 2 lần cao hơn tỷ lệ của Paris và rằng nếu tất cả các tỉnh ở Pháp hành động như ở Paris, ta có thể còn tránh được, nhờ chụp hình ảnh, 15.000 trường hợp cắt bỏ ruột thừa vô ích mỗi năm
(LE FIGARO 27/8/2012)

7/ BỆNH PARKINSON : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CÀ PHÊ ?
Một sự sản xuất không đủ dopamine, chất dẫn truyền thần kinh cần thiết cho sự điều hoà những cử động, là điểm đặc trưng của não bộ của những người bị bệnh Parkinson. Kết quả của sự thiếu hụt này phần lớn gây nên những triệu chứng của bệnh, trong đó triệu chứng run. Bổ sung cho điều trị cơ bản, dựa trên sự sử dụng dopamine, các tác giả Canada khuyến nghị tiêu thụ đều đặn cà phê. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy tác dụng của phòng ngừa của cà phê lên nguy cơ xuất hiện bệnh, nhưng không một công trình nghiên cứu nào đã phân tích tác dụng của nó ở những người đã bị bệnh. Các nhà nghiên cứu của Montréal (kíp của BS Ronal Postuna, đại học Mc Gill) đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên 60 người bị bệnh Parkinson, được chia thành hai nhóm. Một nhóm nhận mỗi ngày 200mg caféine dưới dạng thuốc viên (tương đương với 3 tách cà phê) và nhóm kia nhận một placebo. Sau 6 tuần, họ đã quan sát thấy một sự giảm rất đáng kể triệu chứng run ở những người thuộc nhóm thứ nhất. Cà phê, do phong bế vài thụ thể tế bào, gây nên một sự huy động dopamine có sẵn ở não bộ.
(FIGARO 6/9-12/9/2012)

8/ LÀM SAO PHÒNG NGỪA TÉ NGÃ NGHIÊM TRỌNG VÀ GÃY XƯƠNG Ở NHỮNG PHỤ NỮ TRÊN 75 TUỔI ?
Patricia Dargent-Molina
Directrice de Recherche
Unité Inserm 953

Đó là câu hỏi mà công trình nghiên cứu “Ossébo”, được thiết đặt bởi Inserm và AP-HP sẽ cố gắng trả lời. Câu hỏi là quan trọng khi ta biết rằng trên 75 tuổi, cứ 3 người thì có một người là nạn nhân của một té ngã mỗi năm. Các phụ nữ, đồng thời chịu nhiều nguy cơ bị bệnh loãng xương và té ngã hơn đàn ông cùng lứa tuổi, bị ảnh hưởng nhiều nhất. Trong 10 đến 15% các trường hợp, té ngã kèm theo một chấn thương vật lý nghiêm trọng, một gãy xương trong đa số các trường hợp.
Một mật độ khoáng xương (densité minérale osseuse) bị giảm, đặc trưng của bệnh loãng xương (ostéoporose), làm gia tăng nguy cơ gãy xương. Nhưng mặc dầu vậy phần lớn những gãy xương xảy ra ở những người trên 65 tuổi trực tiếp được gây nên bởi một sự té ngã. Những biện pháp đơn giản và hiệu quả do đó góp phần làm giảm một cách đáng kể số trường hợp gãy xương trong dân chúng. Chúng ta hãy ghi nhớ rằng những trường hợp gãy xương này là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh tật và mất năng lực ở những người già.
Suốt trong 10 năm qua, những thử nghiệm can thiệp (essai d’intervention) đã cho thấy rằng vài chương trình thể dục (programme d’exercice physique), đặc biệt những chương trình bao gồm một công tác đặc biệt về sự cân bằng, có thể làm giảm tỷ lệ té ngã từ 20 đến 40%, nhưng tính hiệu quả của chúng lên sự phòng ngừa các gãy xương và những té ngã trầm trọng khác không được chứng tỏ. Vậy mục tiêu chủ yếu của công trình nghiên cứu Ossébo là đánh giá lợi ích của thể dục lên sự ngăn ngừa những trường hợp té ngã nghiêm trọng ở những lão phụ. Công trình cũng mang lại những yếu tố thiết yếu để hiểu rõ hơn sự can thiệp hiệu quả như thế nào (cải thiện vài năng lực vật lý nhưng có lẽ cũng cải thiện lòng tự tin, sự thoải mái tâm lý,) và những yếu tố cá thể nào ảnh hưởng lên sự duy trì việc tham gia các ateliers, đặc biệt về lâu về dài.
Để tiến hành tốt công trình nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hai nhóm : một nhóm nhận can thiệp (intervention) và một nhóm chứng. Tổng cộng, gần 700 phụ nữ tham gia vào công trình nghiên cứu trong 20 thành phố của Pháp. Can thiệp kéo dài 2 năm và gồm những atelier hebdomadaire, chia thành những nhóm nhỏ, được theo dõi bởi những chuyên gía về huấn luyện những người già, và những bài tập phải thực hiện ở nhà. Can thiệp nhằm vào những phụ nữ 75 tuổi hoặc hơn, thể chất không tốt lắm cũng không yếu ớt lắm, nghĩa là những người phải được nhận can thiệp nhất.
Những kết quả chủ yếu được dự kiến vào năm 2013, sau khi tất cả các phụ nữ đã được theo dõi 2 năm. Những kết quả của một phân tích sơ bộ đã cho thấy một sự cải thiện đáng kể những năng lực vật lý của các phụ nữ sau một năm can thiệp.
(LE FIGARO 25/6/2012)

9/ CẬN THỊ NHẸ VÀ TRUNG BÌNH : NHỮNG LENTILLE BAN ĐÊM ĐỂ THẤY RÕ HƠN BAN NGÀY.
GS Gilles Renard, thầy thuốc nhãn khoa thuộc bệnh viện Hotel-Dieu (Paris), giải thích thiết bị mới này điều chỉnh thị giác như thế nào nhờ biến đổi hình thể của giác mạc.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi bất thường đặc trưng bệnh cận thị ?
GS Gilles Renard. Vì mắt của người cận thị quá dài, hình ảnh không được tạo nên trên võng mạc mà trước võng mạc. Do đó thị giác nhìn xa (vision de loin) bị mờ, gây trở ngại quan trọng trong cuộc sống hàng ngày để lái xe, đọc số nhà, xem kịch..
Hỏi : Hiện nay, những phương pháp khác nhau để điều chỉnh là gì ?
GS Gilles Renard. Thường được sử dụng nhất là mang kính, lentilles và ngoại khoa. Mang kính gây trở ngại cho việc thực hành một môn thể thao và ở các trẻ em, dấu hiệu có thể thấy được này (mang kính) có thể tạo nên một mặc cảm tự ti. Mang lentille hàm ý những gò bó trong việc đặt, bảo quản tỉ mỉ và cần phải lấy đi lúc bơi lội. Về ngoại khoa, kỹ thuật laser được sử dụng nhất, nhưng ngoài nguy cơ do kỹ thuật này (như mọi phẫu thuật ngoại khoa), nó không thể đảo ngược được và chỉ có thể thực hiện một khi chứng cận thị đã được ổn định, nghĩa là sau tuổi 20. Vậy các trẻ em bị loại khỏi phương thức can thiệp này.
Hỏi : Kỹ thuật mới được gọi là “ orthokératologie ” là gì ?
GS Gilles Renard. Đó là sử dụng những lentille flexible mà ta chỉ mang duy nhất vào ban đêm. Hình dạng của chúng, dẹt ở giữa và phồng lên ở ngoại biên, cho phép, trong lúc ngủ, điều biến (modeler) một cách tạm thời giác mạc và như thế đẩy lùi hình ảnh để đặt nó trở lại lên võng mạc. Sau khi rút lentille, hiệu quả lên sự điều chỉnh thị giác kéo dài 24 đến 48 giờ.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã cho thấy mức độ dung nạp tốt và tính hiệu quả của kỹ thuật này ở các trẻ em và người lớn ?
GS Gilles Renard. Những kết quả rất tốt của các công trình nghiên cứu quốc tế, được thực hiện trên hàng ngàn bệnh nhân đã được công bố trong nhiều tạp chí khoa học. Điều này đã khiến FDA (cơ quan hữu trách y tế Hoa kỳ) đã hợp thức hóa, vào năm 2002, phương pháp này, vốn đã được sử dụng ở Hoa Kỳ và trong vài nước châu Âu.
Hỏi : Thời gian sử dụng của tất cả những lentille mới nhất này là gì ?
GS Gilles Renard. Khoảng 1 năm. Ta có thể buộc phải thay chúng trước thời gian này, tùy theo sự dung nạp hay tiến triển của bệnh cận thị. Việc sử dụng chúng hơi tế nhị, những việc đặt và lấy chúng đi được thực hiện dễ dàng. Trẻ em không thấy khó khăn hơn người lớn.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với kỹ thuật điều chỉnh chứng cận thị này hay không ?
GS Gilles Renard. Có nhiều chống chỉ định : một sự tiết nước mắt không đầy đủ, viêm kết mạc dị ứng, nguy cơ nhiễm trùng ở những người có tình trạng vệ sinh kém, sẹo chấn thương, dystrophie cornéenne héréditaire.
Hỏi : Nói tóm lại những lợi ích chính của orthokératologie là gì ?
GS Gilles Renard. 1. Không bị một gò bó nào trong ngày : tất cả các môn thể thao đều có thể thực hiện, người ta quên mình bị cận thị. 2. Không có nguy cơ bị thâm nhiễm bụi giữa giác mạc và lentille (buộc phải lấy nó đi). 3. Có thể kỹ thuật này làm chậm sự tiến triển của bệnh cận thị. Nếu công trình nghiên cứu quốc tế đang tiến hành được xác nhận, đó sẽ là một cuộc cách mạng thật sự, do đó chúng ta hy vọng có thể cho các trẻ được hưởng càng sớm càng tốt những lentille điều chỉnh này để ngăn cản tiến triển của bệnh cận thị. Bước tiến này càng quan trọng khi ở những trẻ này, ngoại khoa không thể thực hiện được.
(PARIS MATCH 6/9 – 12/9/2012)

10/ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT : MỘT KỸ THUẬT MỚI BẰNG SIÊU ÂM.
Những điều trị cổ điển của ung thư tiền liệt tuyến nhờ đến phóng xạ liệu pháp hay ngoại khoa. Một kỹ thuật vi xâm nhập mới bằng siêu âm có cường độ cao (ultrasons de haute intensité) dường như cho những kết quả đầy hứa hẹn. Chỉ trong một buổi điều trị, các siêu âm được phát ra qua đường hậu môn, dưới gây mê quanh màng cứng (anesthésie péridurale). Bệnh nhân sau đó giữ một ống thông tiểu trong 10 ngày. Phương thức mới này chỉ có thể áp dụng đối với những ung thư khu trú, ít xâm nhập (giai đoạn T1 và T2) và chừng nào thể tích của tuyến không vượt quá 35 g. Những điều kiện này là những điều kiện của phần lớn các bệnh nhân. Một công trình nghiên cứu của Luân đôn (University College, kíp của GS Mark Emberton), được tiến hành trên 41 người từ 45 đến 80 tuổi, đã cho thấy những kết quả tuyệt vời (sau 1 năm, 39 bệnh nhân không có một dấu hiệu tái phát nào, hoặc một tỷ lệ thành công 95%). Hai ưu điểm lớn của những siêu âm này là sự vắng mặt gần như hoàn toàn của những thương tổn của các cơ quan lân cận, như bàng quang và các dây thần kinh cương (dưới 10% những trường hợp hợp rối loạn cương, so với 50 đến 70% khi được điều trị bằng phương pháp cổ điển). Những siêu âm có thể được lập lại trong trường hợp tái phát tại chỗ sau phóng xạ liệu pháp và được dung nạp tốt bởi bệnh nhân già.
(PARIS MATCH 8/5 – 16/5/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/9/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s