Thời sự y học số 280 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SEMMELWEIS, NGƯỜI TRUYỀN BÁ VIỆC RỬA TAY.
Người thầy thuốc Hung gia lợi này đã là người đầu tiên nhận xét rằng các phụ nữ không còn bị chết nữa lúc sinh đẻ khi người đỡ đẻ rửa tay. Ông chết trong một trại tâm thần vì những lý thuyết của ông đã bị xem là điên rồ.
Ngày nay khó mà tin được rằng vào giữa thế kỷ XIX ở châu Âu, một thầy thuốc đã bị khai trừ bởi các đồng nghiệp, bị đuổi khỏi các bệnh viện và các nhà hộ sinh, bị xem là nửa điên nửa khùng, bởi vì ông khuyên nhân viên rửa tay trước mọi can thiệp và lau chùi kỹ càng những dụng cụ được sử dụng. Ngày nay, kẻ nào không tôn trọng những quy tắc như thế sẽ bị phạt tù. Philippe Ignace Semmelweis, thầy thuốc người Hung gia lợi, đã phát biểu những nguyên tắc cơ bản của phương pháp vô trùng (asepsie) (chống lại sự đưa các vi trùng vào trong cơ thể), sau khi đã có trực giác thực nghiệm (intuition expérimentale) về tính chất nhiễm trùng của sốt hậu sản (fièvre puerpérale), kiểu nhiễm trùng huyết đã là nguyên nhân của một cuộc tàn sát thật sự các sản phụ trong các nhà hộ sinh châu Âu vào những thế kỷ XVIII và XIX.

Vào năm 1846, ở dưỡng đường toàn khoa thành phố Vienne, nơi Semmelweis hành nghề, khoa sản được tách đôi do tầm quan trọng về số lượng các bệnh nhân. Những sinh viên y khoa làm việc dưới sự lãnh đạo của GS Klin làm việc trong khu đẻ (pavillon d’accouchement) thứ nhất, còn những học trò nữ hộ sinh thì dưới sự chỉ đạo của GS Bartch trong khu đẻ thứ hai. Là phụ tá của GS Klin, Semmelweis ngay khi đến đã xác minh điều mà mọi người ở Vienne đều biết : Người ta chết nhiều ở khu đẻ của GS Klin hơn là khu đẻ của GS Bartch.
Điều chứng thực này là cốt yếu cho con đường tri thức và khoa học của ông. Bởi vì ở Semmelweis, sự quan sát (observation) luôn luôn đi trước sự thí nghiệm (expérimentation). Và người đàn ông này không thừa nhận mọi hình thức của định mệnh. Dưới cái nhìn của Céline (người đã dành cho ông luận án y khoa của mình) Semmelweis là một anh hùng của sự sống (un héros de la vie). Lòng nhiệt thành của người chữa khỏi bệnh nơi ông đã khiến ông rời bỏ những con đường, không đưa đến đâu, những con đường của nếp cũ và của sự nhẫn nhịn.
“ NGƯỜI TA CHẾT ÍT HƠN Ở GS BARTCH ”
Những sự kiện làm ông bối rối. Ở Vienne, các phụ nữ đẻ ở nhà ít bị sốt hậu sản hơn những phụ nữ đẻ ở khoa sản ; ngay cả trong tình trạng đơn độc và lạnh lẽo của đường phố, những nguy hiểm ít hơn. Semmelweis không ngừng trở lại nhận xét ban đầu : Người ta chết ít hơn ở GS Bartch. Được cho phép thực hiện những nghiên cứu, ông gợi ý rằng các nữ hộ sinh ở khu đẻ thứ hai nên được hoán đổi với những sinh viên y khoa năm thứ nhất. Rất nhanh chóng, mọi người đều chứng thực rằng, từ nay người ta chết ít hơn ở GS Klin. Thế là GS Bartch khiếp sợ đòi các học sinh nữ hộ sinh trở lại làm việc ở khu đẻ của ông. Kinh nghiệm này đã cho phép Semmelweis thực hiện một bước khổng lồ về phía ánh sáng. Ông đã hiểu rằng vấn đề là phải tìm kiếm về phía những sinh viên tập sự.
Để nắm lại tình hình, GS Klin tầm thường buộc tội những sinh viên ngoại quốc và ra lệnh trục xuất họ. Trong 4 tuần tỷ lệ tử vong hạ xuống, nhưng câu hỏi vẫn tồn tại. Được triệu tập bởi Louis XVI vào năm 1774 sau một trận dịch sốt hậu sản, Collège de médecins de Paris đã tìm một cách hoài công câu trả lời về phía sữa. Ở Vienne, 70 năm sau, người ta lần lượt lên án sự thô bạo của các sinh viên, đạo đức đáng ngờ của các bà mẹ trẻ, sự lạnh lẽo, chế độ ăn uống, mặt trăng và ngay cả chiếc chuông nhỏ của các linh mục đến để làm lễ xức dầu thánh cuối cùng : chiếc chuông này sinh lo âu.
Nhưng Sommelweiss, mặc dầu bị khiển trách là bất kính, vẫn không chịu buông tha : những nguyên nhân thuộc về vũ trụ, về đất, về độ ẩm mà người ta nêu ra để giải thích sốt hậu sản không thể có giá trị vì người ta chết ở GS Klin nhiều hơn ở GS Bartch, ở bệnh viện nhiều hơn ở thành phố, nơi này mặc dầu vậy những điều kiện về vũ trụ, về đất và tất cả những gì mà người ta muốn đều giống như nhau. Đôi mắt hướng về phía các sinh viên, ông tưởng ra rằng có một mối liên hệ giữa những tai nạn chết người gây nên do những vết cắt tử thi ở những buổi phẫu tích và sự tử vong của các phụ nữ khi sinh đẻ. Mặc dầu không có một dụng cụ nào cho phép ông quan sát những chất vi thể mà ông buộc tội. Ông gợi ý rằng các sinh viên phải rửa tay trước khi vào phòng đẻ. Thật bất hạnh cho ông là ông không có thể đề nghị một lý thuyết. Vào ngày 20/10 năm 1846 ông bị cách chức.
Từ đó, cơ quan ông làm việc sẽ trở thành một nỗi ám ảnh. Vào tháng ba năm 1847, cái chết của người bạn thân của ông BS Kolletschka, chết vì một nhiễm trùng toàn thể sau khi bị thương ở ngón tay do một sinh viên gây nên trong lúc phẫu tích xác chết, soi sáng Semmeilweiss một cách vĩnh viễn. “ Ý niệm về sự giống hệt của căn bệnh chết người này với nhiễm trùng hậu sản gây tử vong các sản phụ đến đột ngột trong tâm trí tôi, một cách rõ ràng, đến độ tôi từ đó ngừng không đi tìm kiếm những nơi khác. Viêm tĩnh mạch..viêm mạch bạch huyết..viêm phúc mạc..viêm màng phổi …viêm màng ngoài tim…viêm màng não …tất cả đều ở đó ! ” Semmelweis hăng say đã hiểu rằng nguồn gốc của tử vong phải được tìm kiếm về phía những dịch tiết tử thi làm bẩn các ngón tay của các sinh viên khi đi ra khỏi phòng giải phẫu tử thi. Nhưng ở giữa thế kỷ XIX, những hạt này vẫn còn không thấy được bởi kính hiển vi. Điều duy nhất có thể đoán sự hiện diện của chúng, đó là mùi của chúng !
“ ĐỤNG CÁC VI TRÙNG MÀ KHÔNG THẤY CHÚNG ”
Vào tháng năm 1847, khi Semmelweis, sau khi đã tìm lại được chức vụ của mình, đòi hỏi các sinh viên phải rửa tay với một dung dịch chlorure de chaux trước khi vào phòng chuyển dạ, nhiều người nhìn ông như một người cuồng tưởng. Và không ai muốn hiểu rằng tỷ lệ tử vong trong khoa của BS Klin sụt xuống từ 12% còn 3%. Nhưng Semmelweis vẫn bướng bỉnh. Vì nghi ngờ không những chất độc từ tử thi, mà còn tất cả những chất đang quá trình thối hỏng, ông yêu cầu rửa tay phải được thực hiện một cách hệ thống trước khi đỡ đẻ và ông mở rộng mối ưu tư khử trùng bằng dung dịch chlorure de chaux này cho tất cả các y cụ và tất cả dụng cụ. Ai sẽ tin ông ? Ở Vienne, những khám phá này mang lại cho ông một mối hận thù và ganh tỵ hầu như khắp nơi. Semmelweis viết khắp toàn châu Âu, nhưng không nhận được bao nhiêu hỗ trợ. Sau hai năm thử nghiệm mặc dầu có kết quả, một lần nữa ông bị cho thôi việc.
Mệt mỏi, hay cáu giận và bực tức cau có, Semmelweis trở nên một thầy thuốc lang thang. “ Các bàn tay, chỉ cần đụng chúng cũng có thể gây nhiễm, ông nhắc lại cho tất cả những ai sẵn lòng muốn nghe ông. Người ta tin là ông nửa điên nửa khùng. Cái bất hạnh của ông là “ chạm vi trùng mà không thấy chúng ” , Céline đã viết một cách đúng như vậy. Ông phải chờ đợi hai năm trước khi tìm lại một việc làm trong một khoa sản của Budapest, thành phố quê quán của cha ông. Nhưng ở đó người ta cấm ông không được nói đến chuyện rửa tay. Đừng nhiều chuyện..Vào năm 1861, ông công bố một cuốn sách mà ông đã soạn thảo một cách bí mật để biện minh cho học thuyết của ông : Căn nguyên của sốt hậu sản, thực chất và sự phòng ngừa. “ Không phải các cảm giác của tôi có vấn đề, mà chính mạng sống của những kẻ không tham gia vào cuộc đấu tranh. Mối an ủi của tôi là ở niềm tin đã xây dựng một học thuyết về chân lý.”
Không được ai biết đến, không được đánh giá đúng mức, bị khinh bỉ, Semmelweis bất hạnh rơi vào trong một tình trạng nguy khốn tận cùng. Vào tháng bảy năm 1865, ông làm rối loạn một buổi họp của phân khoa y của đại học Budapest lúc đọc lời thề của các nữ hộ sinh. Các đồng nghiệp dẫn ông vào nhà thương điên của thành phố Vienne. Không phải sự mê sảng đã giết chết ông mà là một nhiễm trùng mắc phải lúc chích ngón tay giữa trong khi giải phẫu tử thi một trẻ sơ sinh. Viêm mạch bạch huyết..viêm phúc mạc..viêm màng phổi … Semmeilweiss biết rõ đường đi của bệnh tật. Ông là người thầy thuốc đầu tiên đã vạch ra nó. Ông mất ngày 14 thnag 8 năm 1865 do bị nhiễm mủ huyết (pyohémie), một căn bệnh mà ông đã xác định vài nguyên nhân nhưng không ai sẵn lòng nghe ông trong chuyên luận của ông L’étiologie de la fièvre puerpérale, trong đó ông đã viết : “ Sốt hậu sản là một loại mủ huyết.”
“ LUÔN LUÔN HAI HOẶC BA KẺ CHẾT VÌ LÝ TƯỞNG ”
Chỉ sau khi Semmelweis qua đời mà lý thuyết về những nhiễm trùng mới được soạn thảo. Ở Pháp, vài thập niên sau Semmelweis mới sẽ được phục hồi danh dự và được một sự vinh danh hậu tử rất đặc biệt. “ GS Chauffard, khi mang lại cho chúng tôi vinh dự biện luận luận án của chúng tôi, đã nhận xét một cách đúng đắn rằng luôn luôn có hai hoặc ba thánh tử đạo cho mỗi trường hợp khám phá ”, Louis Destouches đã viết như vậy vào tháng sáu năm 1925 trong Presse médicale. Ở tuổi 31, thầy thuốc trẻ, vào nghề năm 1919, chưa được biết tiếng trong tư liệu dưới tên Louis-Ferdinand Céline. Một năm trước đó, ở đại học y khoa Paris ông đã bảo vệ luận án y khoa bác sĩ dành cho Philipe Ignace Semmelweis.
Trong luận án của mình, BS Louis Destouches nhấn mạnh về nỗi ghê sợ. Chỉ riêng năm 1846, ông đưa ra con số 96% tỷ lệ tử vong trong số những sản phụ của khoa sản của GS Klin. Vài tuần sau khi công bố bài báo của mình trong Presse médicale, BS Tiberius de Gyory, giáo sư đại học Budapest, đã làm giảm bớt những thông kê này đồng thời thú nhận sự thân phục của mình đối với công trình của thầy thuốc vệ sinh học trẻ tuổi. “ Sự thật là tỷ lệ tử vong đạt con số 16 và 31 trên 100 trường hợp đẻ (lần lượt trong các khoa sản của GS Barth và GS Klin). Phải bằng lòng với những con số khủng khiếp này.” Vậy Tiberius de Gyory đã chỉnh Louis Destouches lúc viện dẫn bài học khai trương về Semmelweis được thực hiện ở bệnh viện sản khoa Baudelocque ở Paris, ngày 9 tháng 11 năm 1906, bởi GS Adolphe Pinard, một trong những cha đẻ của puériculture hiện đại. Được đăng lại trong Presse médicale cùng năm đó, bài học đưa ra một cách giải thích được cân nhắc hơn, nhưng ít thống thiết hơn của Céline, về số phận của vị thầy thuốc đã bị rơi vào trong tình trạng điên rồ sau khi bị đuổi 2 lần khỏi bệnh viện toàn khoa Vienne, một lần đầu vào năm 1846, một lần thứ hai vào năm 1849.
(LE FIGARO 6/8/2012)

2/ CANNABIS LÀM RỐI LOẠN DÀI LÂU NÃO BỘ
Sự tiêu thụ trong thời kỳ thiếu niên có một ảnh hưởng đến tuổi trưởng thành.
DROGUE. Có những công trình nghiên cứu cần có thời gian. Ví dụ, việc đánh giá tác động dài lâu của sự tiêu thụ cannabis lên các hiệu năng của não bộ đã cần gần 40 năm. Chính nhờ công trình nghiên cứu Dunedin, tên của một thành phố nhỏ của Tân Tây Lan (nơi công trình nghiên cứu được tiến hành), mà ngày nay ta biết nhiều hơn về những hậu quả của một thuốc ma túy, sau cùng không phải là nhẹ như ta hằng tưởng. Một nhóm 1.037 trẻ em sinh vào năm 1972-1973 đã được theo dõi một cách đều đặn vào lúc 5,7,9,11,13,15,18,21,26,32 và 38 tuổi !
Những kết quả đáng quan ngại, bởi vì các nhà khoa học Tân tây lan, được hỗ trợ bởi những nhà nghiên cứu của Đại học Duke (Hoa Kỳ) và của King’s College de Londres, xác nhận tính dễ thương tổn lớn nhất của não bộ của các thiếu niên đối với độc tính thần kinh (neurotoxicité) của cannabis. Điều ta đã từng nghi ngờ, từ nay đã được chứng minh.
Thật vậy, ở tuổi 38, những người đã từng tiêu thụ cannabis vào thời thiếu niên đã đánh mất vài điểm của thương số trí tuệ (quotien intellectuel). Lên đến 8 điểm ít hơn đối với những trẻ của công trình nghiên cứu Dunedin ; những trẻ này đã là những người tiêu thụ đều đặn nhất trong suốt nhiều năm. Dĩ nhiên đó không phải là trường hợp đối với những người đã không bao giờ hút cannabis.
Và lần này, không thể lập luận rằng sự giảm các hiệu năng của não bộ của những người hút cannabis là do một sự dị biệt đã có trước khi tiêu thụ, vì lẽ các trẻ được theo dõi từ tuổi trẻ nhất.
Điểm mạnh khác của công trình nghiên cứu này, được công bố hôm nay trong các báo cáo của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ (PNAS), là tính chất đáng tin cậy của các câu trả lời. Các nhà nghiên cứu cũng đã thận trọng loại bỏ những yếu tố khác khả dĩ làm rối loạn tính hiệu lực của các trắc nghiệm, thí dụ sự tiêu thụ cannabis trong tuần lễ trước, tình trạng phụ thuộc rượu hay một chất ma túy khác, số năm đi học. Mỗi lần như thế một sự khác nhau được xác nhận giữa những người tiêu thụ cannabis và những người khác, ưu thế về phía những người không sử dụng cannabis.
Nhưng những bất thường không chỉ ở các test psychométrique, chúng dường như cũng được thể hiện trong đời sống hàng ngày. Như trong nhóm của Dunedin : “ Những người đã tuyên bố sử dụng đều đặn cannabis cũng là những người báo cáo, ở năm 38 tuổi, nhiều vấn đề nhất về trí nhớ và khả năng chú ý.”
NHỮNG DI CHỨNG KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC
Ngoài ra, bắt đầu hút ở tuổi thiếu niên, vào lúc mà sự thành thục của não bộ chưa được kết thúc, gây nên một sự mất lớn hơn thương số thông minh so với những người đã bắt đầu ở tuổi người lớn. Sau cùng, những di chứng không thể đảo nghịch không được loại trừ vì lẽ, các tác giả đã nhận xét như vậy, “ việc ngừng hút không phục hồi hoàn toàn các chức năng thần kinh tâm lý của những kẻ đã bắt đầu ở tuổi thiếu niên ”. Thế mà những thống kê cho thấy rằng chính ở tuổi thiếu niên có nhiều nguy cơ nhất khi bắt đầu hút cannabis.
Ngay năm 2008, những công trình nghiên cứu đã cho thấy những biến đổi hóa thần kinh (altérations neurochimiques) kéo dài của não bộ chuột bị tiếp xúc với cannabis trong một thời kỳ tương ứng với thời kỳ thiếu niên ở người. Các nhà nghiên cứu khi đó gợi ý sự hiện diện của một intervalle de vulnérabilité neurale gia tăng khi tiếp xúc với cannabis. Cách nay hai năm, chính GS John Churchwell và các đồng nghiệp neurobiologiste thuộc đại học Utah, đã nhận diện ở những thiếu niên, nhờ IRM, một sự giảm thể tích của vỏ não trước trán của những người tiêu thụ cannabis. Ngoài ra, vùng này, vốn đóng một vai trò trong sự hoạch định, ra quyết định và kiểm soát tính xung động (impulsivité), càng bị ảnh hưởng nếu những người hút bắt đầu càng sớm.
Năm vừa qua, chính một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Behavioural Brain Research đã nói về bước ngoặt quan trọng của tuổi thiếu niên, trên bình diện thần kinh : Ngay cả những bất thường thực thể không luôn luôn hàm ý những bất thường chức năng, nhưng chúng gợi ý rằng những bất thường của vỏ não và của insula được quan sát ở những thiếu niên tiêu thụ cannabis có thể ảnh hưởng lên những năng lực quyết định của chúng và làm gia tăng sự thúc đẩy phải tiêu thụ mặc dầu những hậu quả âm tính. Đối với các nhà nghiên cứu Tân tây lan, những biện pháp phòng ngừa hướng về các thiếu niên phải được tăng cường.
(LE FIGARO 28/8/2012)

3/ LÀM SAO PHÒNG NGỪA NGUY CƠ GÃY XƯƠNG Ở TUỔI MÃN KINH ?
Docteur Florence Trémollieres
Maitre de conférences-praticien hospitalier
Responsable du centre de ménopause
Hôpital de Viguier (CHU de Toulouse)

Chứng loãng xương (ostéoporose) là một bệnh khuếch tán của khung xương, được đặc trưng bởi một tình trạng mỏng manh quá mức của xương (une fragilité osseuse excessive), chịu trách nhiệm một sự gia tăng nguy cơ gãy xương lúc bị chấn thương nhẹ. Gần 200 triệu người trên thế giới bị bệnh loãng xương. Tỷ lệ mắc bệnh gia tăng với tuổi tác, đặc biệt hơn ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh, do sự đánh mất tác dụng bảo vệ của oestrogène lên khung xương.
Bệnh loãng xương có thể được chẩn đoán ở một giai đoạn sớm nhờ đo mật độ khoáng của xương (DMO : densité minérale osseuse) ở các đốt xương sống vùng thắt lưng và cổ xương đùi. Tổ chức y tế thế giới vào năm 1994 đã xác lập một định nghĩa “ densitométrique ” của chứng loãng xương căn cứ trên một sự giảm trị số của DMO trên 2,5 écarts-types của trị số cực đại của người trưởng thành trẻ (score T). Sự sụt giảm mật độ khoáng của xương (DMO) phải được xem như một yếu tố nguy cơ gây gãy xương, tương tự như huyết áp động mạch hay nồng độ cholestérol trong máu biểu hiện một yếu tố nguy cơ tim mạch. Trên bình diện cá thể, việc đo DMO đơn độc không đủ để tiên đoán nguy cơ gãy xương, cũng như một T-score – 2,5 không nhất thiết là một ngưỡng can thiệp điều trị (seuil d’intervention thérapeutique). Ngoài T-score, phải xét đến những yếu tố như tuổi tác, trạng thái mãn kinh và những yếu tố nguy cơ lâm sàng khác như thí dụ những tiền căn cá nhân về gãy xương hay ý niệm về một tố bẩm gia đình (prédisposition familiale).
Trên thực tế, ở phụ nữ, tuổi tác, và do đó ý niệm thời kỳ mãn kinh, là những yếu tố nguy cơ quan trọng về sau của gãy xương, độc lập với trị số DMO. Nguy cơ gãy xương như thế, ngay cả trong trường hợp giảm DMO, trước mãn kinh vẫn luôn luôn thấp hơn sau mãn kinh. Sự ngấm oestrogène của mô xương ngăn cản xương bị phá hủy và gìn giữ những tính chất vi cấu trúc của nó. Những yếu tố khác phải được xét đến, nhất là một masse musculaire cao hơn và một nguy cơ té ngã rõ rệt ít hơn ở những phụ nữ già. Theo các công trình nghiên cứu, tỷ lệ gãy do loãng xương (fracture ostéoporotique) là 2 đến 5/1000 phụ nữ /năm trước thời kỳ mãn kinh trong khi tỷ lệ lên đến 16/1000 phụ nữ mỗi năm sau tuổi 50. Đối với gãy xương cổ tay, là biến cố xảy ra sớm nhất, tỷ lệ khoảng 1/1000 phụ nữ cho đến năm 55 tuổi, và chỉ gia tăng một cách đáng kể sau lứa tuổi này.
Tuổi dậy thì là thời kỳ chủ yếu đối với sự tăng trưởng và sự thành thục của khung xương. Ngay cuối thời kỳ thiếu niên, sự khoáng hóa của khung xương gần như được hoàn thành và hơn 90% toàn bộ vốn khoáng của xương (capital minéral osseux total) ở người trưởng thành đã đạt được. Mức tối đa của khối khoáng xương (masse minérale osseuse) vào cuối thời kỳ tăng trưởng là yếu tố quyết định chủ yếu của nguy cơ bị loãng xương sau này. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là yếu tố di truyền, nhưng cũng phụ thuộc vào hormone (tác động của tuổi dậy thì), cũng như hoạt động vật lý và sự dinh dưỡng (calcium, protides, vitamine D…). Vậy mặc dầu điều quan trọng là khuyến khích ở các thiếu niên một chế độ ăn uống giàu những sản phẩm sữa hay việc thực hành một hoạt động thể thao có va chạm (chạy, sports de balle..), nhưng những công trình nghiên cứu khác nhau về việc cho bổ sung calcium để tối ưu sự có được xương vào cuối thời kỳ dậy thì lại tương đối gây thất vọng.
Phần lớn những trường hợp thiếu hụt xương được tìm thấy ở một phụ nữ không mãn kinh và ở ngoài những trường hợp làm dễ (các bệnh hay những thuốc điều trị có tác dụng làm mất chất khoáng) là do không có được vốn khoáng xương (capital minéral osseux) liên kết với những yếu tố tố bẩm di truyền. Như thế, những cô gái của những bà mẹ bị chứng loãng xương có một vốn xương thấp hơn những cô gái có những bà mẹ không bị bệnh lý này. Những nguyên nhân được gọi là thứ phát (bệnh, các điều trị) chiếm từ 40 đến 60% những nguyên nhân loãng xương của phụ nữ trẻ trong khi chúng chỉ được tìm thấy trong dưới 20% các trường hợp ở phụ nữ mãn kinh.
Chẩn đoán loãng xương có thể được đặt ra ở một phụ nữ trẻ vừa bị gãy xương trong một trường hợp chấn thương nhẹ và buộc phải thực hiện một bilan căn nguyên nhằm tìm kiếm một nguyên nhân thứ phát. Nếu không có gãy xương, những chỉ định duy nhất để thực hiện một ostéodensitométrie ở một phụ nữ không mãn kinh là những bệnh lý làm mất chất khoáng (pathologies déminéralisantes) (ăn mất ngon tâm thần, tăng năng phó giáp trạng) và những thuốc điều trị gây loãng xương (corticoides, anti-aromatases…)
NHỮNG BIỆN PHÁP VỆ SINH-TIẾT THỰC.
Khi không có một nguyên nhân thứ phát, trong đại đa số các trường hợp, nguy cơ gãy xương không đủ cao ở một phụ nữ trẻ hành kinh bình thường để biện minh cho một điều trị gãy xương. Dẫu sao phải nhấn mạnh rằng những điều trị này không được phép trong những chỉ định này. Ngoài ra, vài loại thuốc (biphosphonates) đưa lên vấn đề về tính vô hại của chúng trong trường hợp thai nghén. Vậy ta nhấn mạnh chủ yếu về việc loại bỏ những yếu tố nguy cơ (thuốc lá, những chế độ ăn uống hạn chế) và ta ưu tiên những biện pháp vệ sinh-tiết thực cổ điển : cung cấp calcium khoảng 1000mg/ngày đồng thời ưu tiên nguồn cung cấp thức ăn (sữa, các sản phẩm sữa, các loại nước khoáng) ; tiếp xúc với ánh nắng mặt trời vừa phải nhưng đều đặn ; hoạt động vật lý đều đặn (bước nhanh, jogging) với nhịp độ 40-60 phút, 3 đến 4 lần mỗi tuần.
Một đánh giá mới về nguy cơ gãy xương được chủ trương vào lúc mãn kinh nhằm thích ứng sự phòng ngừa mất xương sau mãn kinh.
Như thế, những trường hợp loãng xương xảy ra ở phụ nữ không mãn kinh là hiếm hoi, thường do di truyền hay thứ phát những nguyên nhân có thể nhận diện và trong tất cả các trường hợp do một chuyên gia căn bệnh này đảm nhiệm.
(LE FIGARO 3/9/2012)

4/ CHO BỒ SUNG VITAMINE D, ĐƯỢC CHỦ TRƯƠNG SUỐT ĐỜI, CẦN THIẾT SAU 60 TUỔI.
BS Jean-Claude Souberbielle, nhà sinh học của khoa thăm dò chức năng thuộc bệnh viện Necker-Enfants malades, giải thích tại sao sự tiêu thụ này phải được phổ cập.
Hỏi : Một báo cáo mới đây trao cho Viên hàn lâm khoa học cho thấy rằng phần lớn những người Pháp bị thiếu hụt vitamine D. Lý do là gì ?
BS Jean-Claude Souberbielle. Đó không hẳn là một vitamine, vì vitamine là một yếu tố cần thiết mà cơ thể không thể sản xuất được, còn vitamine D ta có thể tìm thấy trong thức ăn. Vitamine D được tổng hợp bởi da dưới tác dụng của các tia sáng mặt trời tử ngoại B (rayons solaires ultraviolets B). Cũng có, với nồng độ thấp, vài nguồn thức ăn như cá mỡ (saumon, hareng…). Ở Pháp, chúng ta không hưởng được một thời gian có ánh nắng mặt trời đầy đủ (chỉ một hay hai tháng) để có thể đáp ứng những nhu cầu của chúng ta quanh năm. Cần phải nói thêm rằng càng già da tổng hợp vitamine D ít hơn.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi vai trò của vitamine này.
BS Jean-Claude Souberbielle. Vitamine D cho phép cơ thể hấp thụ, qua ruột, calcium và phosphore. Do đó nó làm dễ sự khoáng hóa xương, chủ yếu được cấu tạo bởi phosphate và calcium.
Hỏi : Ở Pháp, tần số của những thiếu hụt này ?
BS Jean-Claude Souberbielle. Phần lớn các chuyên gia cho rằng có một sự không đủ với một nồng độ 30 nanogramme vitamine D mỗi ml. Ở Pháp, 80% dân số ở dưới mức 30 và khoảng 50% dưới mức 20 nanogramme. Thật là to lớn !
Hỏi : Những hậu quả của một sự thiếu hụt là gì ?
BS Jean-Claude Souberbielle. Khi sự thiếu hụt quan trọng và khi có carence (tương đối hiếm trong những nước phát triển của chúng ta), nó gây nên bênh còi xương (rachitisme) ở trẻ em và, ở người trưởng thành, bệnh nhuyễn xương (ostéomalacie). Nếu sự thiếu hụt ít hơn, nó có thể làm gia trọng một bệnh loãng xương. Từ vài năm nay, nhiều công trình nghiên cứu đă phát hiện mối liên hệ giữa việc thiếu vitamine D và vài bệnh ung thư (vú, đại trực tràng), vài bệnh nhiễm trùng, những bệnh tự miễn dịch khác (viêm đa khớp dạng thấp, bệnh đái đường loại 1), những bệnh lý huyết quản. Từ nay ta biết rằng một sự bất túc vitamine D ảnh hưởng lên tính miễn dịch..
Hỏi : Trong những trường hợp nào phải tuyệt đối phải cho bổ sung vitamine D ?
BS Jean-Claude Souberbielle. Những cung cấp bổ sung này cần thiết trong những trường hợp sau đây : 1. Ở trẻ em trong thời kỳ tăng trưởng, kể cả thời kỳ niên thiếu. Khi đó những nhu cầu được đánh giá giữa 600 đến 1500 đơn vị mỗi ngày (theo toa thuốc của thầy thuốc).
2. Ở phụ nữ mang thai ở tháng thứ 7 thời kỳ thai nghén. Thường ta kê đơn một liều duy nhất với một ampoule 100.000 đơn vị.
3. Sự cho bổ sung này trở nên cần thiết, ít nhất để phòng ngừa, ở mọi người (đàn ông và đàn bà) sau 60 tuổi. Ta thường khuyên hoặc là 1000 đến 1500 đơn vị mỗi ngày, hoặc một ampoule 100.000 đơn vị mỗi 1 đến 3 tháng.
Hỏi : Những lợi ích quan trọng nhất của những cung cấp bổ sung này ?
BS Jean-Claude Souberbielle. Vitamine D cho phép :
1. Làm giảm nguy cơ gãy xương do tác dụng của nó lên mô xương.
2. Làm giảm nguy cơ té ngã ở những người già.
3. Tối ưu hóa nhưng thuốc điều trị bệnh loãng xương, như biphosphonates.
4. Vài công trình nghiên cứu gợi ý một sự bảo vệ chống lại những bệnh nhiễm trùng.
5. Những tài liệu xuất bản khác phát hiện những tác dụng có lợi vừa phải lên huyết áp.
6. Theo vài nhà nghiên cứu, vitamine D cải thiện tính nhạy cảm đối với insuline, một tác dụng quan trọng đối với những người bị bệnh đái đường loại 2.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với việc cho bổ sung này hay không ?
BS Jean-Claude Souberbielle. Vitamine D phải được kê đơn bởi thầy thuốc, đó là điều ta thường quên. Với những liều rất mạnh, vitamine này có thể gây độc, dẫn đến tăng canxi-huyết liên kết với một tình trạng mệt mỏi cực kỳ, mửa, chán ăn, những vấn đề về thận… Những chống chỉ định, hiếm, chỉ liên quan đến những người bị bệnh granumomatose (thí dụ sarcoidose). Cũng có vài bệnh nhân có một sự tăng nhạy cảm đối với vitamine này.
Hỏi : Vào mùa hè, ông cho những lời khuyên gì để da có thể hấp thụ tối đa các tia tử ngoại B ?
BS Jean-Claude Souberbielle. Tôi chủ trương phải tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ¼ giờ không bôi kem bảo vệ (nhưng không được nhiều hơn ! vì như thế nguy hiểm đối với da) bởi vì những loại kem bảo vệ này tác dụng như màn chắn đối với các tia tử ngoại B. Nhưng tôi không phải là thầy thuốc bệnh ngoài da..
(PARIS MATCH 26/7 – 1/8/2012)

5/ VITAMINE D CHỒNG LẠI BỆNH LAO
“ Sinh tố của mặt trời ” (vitamine du soleil) làm giảm một cách rõ rệt phản ứng viêm liên kết với nhiễm trùng.
INFECTIOLOGIE. Tác dụng dương tính của vitamine D chống lại bệnh lao được xác nhận. Một công trình nghiên cứu của Anh được công bố hôm thứ ba này trong Pnas (Proceedings of the National Academy), tạp chí của Viện hàn lâm khoa học, dự kiến ngay cả cho bổ sung vitamine D những người được điều trị kháng vi trùng chống lại những nhiễm trùng khác của phổi như những trường hợp viêm phổi.
Hiện diện trong vài loại thức ăn (đặc biệt những cá mỡ), vitamine D có đặc điểm được tiết tự nhiên bởi cơ thể nếu được tiếp xúc (nhưng không quá mức, để tránh phát triển một ung thư da) với những tia tử ngoại B được phát ra bởi mặt trời, chủ yếu là vào mùa hè. Vai trò có lợi của vitamine D chống lại bệnh còi xương của trẻ em hay những bệnh của khung xương, như bệnh loãng xương (ostéoporose), bệnh nhuyễn xương (ostéomalacie), đã biện minh sự sử dụng hàng ngày bởi nhiều thế hệ trẻ em muỗng dầu gan cá thu nổi tiếng. Dầu gan cá thu này đã được thay thế từ 40 năm nay bởi vitamine D tổng hợp, có vị ít mạnh hơn, được cấp phát dưới dạng giọt hay ampoule.
Ngược lại, công chúng biết ít hơn rằng sinh tố mà ta mệnh danh là “ vitamine của mặt trời ” có đặc điểm kích thích hệ miễn dịch và do đó giúp cơ thể của chúng ta chống lại vài tác nhân gây bệnh. Năm vừa qua, nhóm nghiên cứu được chỉ đạo bởi Adrian Martineau, thuộc National Institute of Medical Research, ở Londres, công bố trong Lancet một công trình nghiên cứu cho thấy rằng trực khuẩn Koch (tác nhân gây bệnh lao) bị trừ khử nhanh hơn ở những bệnh nhân được điều trị bởi kháng sinh và được cho bổ sung vitamine D, so với những bệnh nhân khác được điều trị với cùng những kháng sinh và một placebo.
LÀM GIẢM ĐAU
Phân tích đờm cho thấy rằng trực khuẩn Koch biến mất trong 36 ngày ở những người nhận bổ sung vitamine D so với 43,5 ngày ở những người nhận một placebo. Hoặc một dị biệt 7,5 ngày ít đáng kể. Ngoại trừ ở những bệnh nhân mang một biến thể đặc biệt của gène của thụ thể của vitamine D, trong trường hợp này dị biệt rõ rệt hơn nhiều. “ Điều đó cho thấy rằng vitamine D tối ưu điều trị kháng sinh ở những người có profil di truyền “ tốt ”, BS Jean-Claude Souberbielle, thầy thuốc chuyên khoa nội tiết thuộc bệnh viện Necker Paris, đã giải thích như vậy.
Công trình nghiên cứu, được công bố hôm nay trong Pnas bởi cùng nhóm nghiên cứu, vượt qua một bước bổ sung khi cho thấy rằng vitamine D cũng làm giảm những tác dụng viêm của nhiễm trùng ở những bệnh nhân cùng nhóm đã tiếp tục nhận bổ sung vitamine D cho đến cuối thử nghiệm, và điều này dầu statut génétique của họ như thế nào. “ Khám phá này rất là đáng lưu ý nhất là trong trường hợp bệnh lao não hoặc tim, trong đó phản ứng viêm đặc biệt có hại , GS Jean-Paul Viard, thầy thuốc chuyên khoa truyền nhiễm thuộc bệnh viện Hôtel-Dieu (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Ngoài ra đây là lần đầu tiên mà ta tìm thấy một mô tả hoàn chỉnh như vậy về tác dụng của vitamine D lên những chỉ dấu của hệ miễn dịch.” Sau cùng, nhờ làm gia tốc quá trình chữa lành bệnh, vitamine D làm giảm thời kỳ trong đó người bệnh có khả năng lây nhiễm cũng như sự đau đớn do những thương tổn phổi gây nên.
(LE FIGARO 4/9/2012)

6/ NGÁY VÀ NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ : NHỮNG HIỆU NĂNG CỦA MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI BẰNG LASER.
BS Yves-Victor Kamani, thầy thuốc ORL thuộc bệnh viện Saint-Claud, giải thích những lợi ích của kỹ thuật vi xâm nhập mới nhất này.
Hỏi : Những hậu quả khả dĩ của những đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnées du sommeil) là gì ?
BS Yves-Victor Kamani. Đó là một vấn đề rất thường xảy ra ở những người ngáy (1 đến 5% dân số). Những đợt ngừng hô hấp này kéo dài ít nhất 10 giây nhưng không đánh thức dậy. Tuy nhiên, khi chúng xuất hiện quá thường xuyên, ta xem chúng như là một bệnh bởi vì những hậu quả của chúng là tai hại : mệt mỏi vào buổi sáng, tình trạng ngủ gà, nguy cơ gia tăng bị cao huyết áp, những biến chứng về tim… Ngáy ồn gây khó chịu khiến thường phải ngủ riêng phòng.
Hỏi : Những nguyên nhân nguồn gốc của chứng ngáy và những đợt ngừng thở ngắn ?
BS Yves-Victor Kamani : Tất cả đều có nguồn gốc là một sự tắc của đường hô hấp ở 3 mức. 1. Mũi : hoặc do vẹo vách ngăn, hoặc do các polype hay các cornet (những chỗ xương nhô của các hố mũi) quá to lớn. 2. Màng hầu (voile du palais) : quá dài, quá dày, làm tắc phần sau của họng. 3. Lưỡi : khi, quá lớn, lưỡi lệch ra sau, chận không cho không khí đi qua. 3 vấn đề này thường được liên kết với nhau.
Hỏi : Làm sao ta bảo đảm chẩn đoán ?
BS Yves-Victor Kamani : Trước hết bằng pharyngométrie acoustique, phương pháp siêu âm đường dẫn khí. Thăm dò này được tiếp theo bởi một ghi ngủ được thực hiện tại gia (enregistrement du sommeil à domicile) bằng các capteur và các điện cực.
Hỏi : Ngoài mặt nạ hô hấp (masque respiratoire) phát air pulsé, ta phải nhờ gì để tái lập một giấc ngủ bình thường ?
BS Yves-Victor Kamani : Nếu đó là những cornet cần phải giảm thể tích hay nếu đó là một vách mũi bị vẹo, điều trị thường nhất là ngoại khoa, dưới gây mê tổng quát. Bất tiện đối với bệnh nhân là phải chịu đựng các mèche trong mũi suốt hai ngày nhập viện để tránh xuất huyết (vùng mũi rất nhiều mạch máu). Trong trường hợp các polype, ta thử làm giảm kích thước bằng cách sử dụng cortisone, nhưng vài polype chỉ có thể được lấy đi nhờ phẫu thuật, và như vậy vẫn phải cần đặt mèche. Để điều chỉnh màng hầu quá dài hay quá dày, ta nhờ đến ngoại khoa và những điều trị bằng tần số phóng xạ (radiofréquence) (cần lập lại sau nhiều tháng). Đối với những người có lưỡi quá lớn, ta khuyên mang một orthèse dentaire, ban đêm giữ cho lưỡi đưa về phía trước.
Hỏi : Những tiến bộ mới nhất được thực hiện để điều trị những vấn đề hô hấp này là gì ?
BS Yves-Victor Kamani : Đã có nhiều giai đoạn. Những giai đoạn đầu, với sự xuất hiện của laser CO2, liên quan đến những vấn đề do màn hầu (voile du palais) và những cornet quá lớn. Những động tác cũng giống với ngoại khoa nhưng có ưu điểm tránh xuất huyết và nhập viện. Hai hoặc ba buổi, dưới gây mê tại chỗ, khoảng 20 phút, cần thiết để lấy đi toàn bộ màng hầu hoặc làm giảm một nửa cornet. Mặc dầu đau ít mạnh hơn sau một phẫu thuật ngoại khoa, nhưng chúng có thể kéo dài 10 đến 15 ngày ngăn cản ăn uống một cách đúng đắn. Sau thời hạn này, chứng ngáy và những đợt ngừng thở ngắn phải biến mất. Nhiều công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, được thực hiện trên hàng trăm bệnh nhân, đã được công bố trong những tạp chí khoa học như The Laryngosope. Phần lớn đã chứng tỏ cùng tính hiệu quả.
Hỏi : Kỹ thuật vi xâm nhập mới nhất còn cải thiện thêm sự thoải mái của bệnh nhân được thực hiện như thế nào ?
BS Yves-Victor Kamani : Tiến bộ này có liên quan đến màn hầu, phải hủy bỏ những rung âm, chứ không còn cần phải lấy nó đi mà mở một lối đi qua cho không khí. Ta vẫn sử dụng tia laser CO2 để cắt nhưng thay vì cắt bỏ đi, ta chỉ làm một encoche ở giữa. Điều trị mới này (dưới gây tê tại chỗ với một spray) chỉ cần một buổi khoảng 5 phút. Hậu phẫu hai lần ít đau đớn hơn hậu phẫu trong trường hợp can thiệp cổ điển bằng laser. Chứng ngáy và những đợt ngắn ngừng hô hấp nói chung biến mất sau một tuần. Hoạt động có thể tái tục ngày sau phẫu thuật. Ta bảo tồn cơ của lưỡi gà (luette), điều này sẽ cho phép duy trì một sự nuốt tốt.
Hỏi : Những thử nghiệm nào đã xác nhận những lợi ích này ?
BS Yves-Victor Kamani : Công trình nghiên cứu của Pháp được tiến hành bởi nhóm nghiên cứu của chúng tôi ở bệnh viện Saint-Cloud, đã chứng minh những ưu điểm quan trọng của tiến bộ này. Đuợc trình bày nhân hội nghị của Viện hàn lâm ORL Hoa Kỳ, chúng tôi được trao một văn bằng danh dự của hiệp hội khoa học này.
(LE FIGARO 24/5-30/5/2012)

7/ PHÁT HIỆN HIV : MỘT AUTOTEST Ở HOA KỲ
FDA, cơ quan chính phủ của Hoa Kỳ, vừa cho phép thương mãi hóa một trắc nghiệm tự làm lấy (autotest) phát hiện nhanh virus của bệnh sida (OraQuik). Mọi người Mỹ đều sẽ có thể mua tự do trong các hiệu thuốc và drugstore ngay tháng 10 sắp đến với giá 17,50 dollars (14 euro). OraQuick cho kết quả trong 20 đến 40 phút, chỉ cần lấy nước miếng ở lợi răng. Trắc nghiệm này đáng tin cậy trong 99,98% các trường hợp khi người thử không bị lây bệnh và 92% khi họ bị nhiễm sida. Lý lẽ khiến FDA bật đèn xanh chủ yếu là do sự kiện rằng Hoa Kỳ có 1,2 triệu người bị lây nhiễm, trong đó 20% không biết là mình bị huyết thanh dương tính.

8/ SỰ TÁI XUẤT HIỆN ÂM Ỉ CỦA BỆNH HO GÀ.
Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Hòa Lan..nhiều nước phát triển đang đối đầu với những đợt bộc phát dịch đột ngột.
VACCINATION. Bệnh ho gà chịu trách nhiệm 300.000 trường hợp tử vong mỗi năm trong những nước đang phát triển, nhưng căn bệnh dường như đang trở lại trong các nước phát triển.
Hoa Kỳ đang đương đầu với điều rất có thể là trận dịch ho gà quan trọng nhất từ 50 năm nay. Do đó mối lo ngại của GS James Cherry, được tiếp sức bởi ấn bản on line của một trong tạp chí y khoa quốc tế uy tín nhất, New England Journal of Medicine, ngày 15 tháng 8 vừa qua. Chuyên gia Hoa Kỳ về bệnh ho gà ngay cả tự hỏi không biết sự tái xuất hiện này phải chăng là do một sự sụt giảm tính hiệu quả của vaccin được sử dụng. “ Những trận dịch quan trọng vào năm 2005, 2010 và bây giờ đây 2012 khiến ta lo lắng về những thất bại của thuốc chủng bạch hầu, uốn ván và ho gà không tế bào (vaccin diphtérie, tétanos et coqueluche acellulaire) ”, ông đã viết như vậy.
Tuy nhiên trận dịch vẫn ở dưới mức của những trận dịch của thời kỳ trước khi tiêm chủng ; lúc đó ở Hoa Kỳ mỗi năm xảy ra hơn 270.000 trường hợp nhiễm trùng và khoảng 10.000 trường hợp tử vong. Mặc dầu vậy vài dấu hiệu cho thấy tình hình đáng quan ngại : số những trường hợp nhiễm trùng không ngừng gia tăng và các trường hợp tử vong phát triển. Bệnh ho gà đang giành lại lợi thế một cách chậm rãi : từ cao điểm 1000 trường hợp đã được quan sát năm 1973, ta đã chuyển qua 11.000 trường hợp năm 2003, và đã lên đến 21.000 trường hợp từ đầu năm nay. Và, nhất là, một trận dịch chưa từng có cách nay 2 năm đã gây tử vong cho 10 nhũ nhi ở Californie. Tính hiệu quả của vaccin khi đó đã bị đặt vấn đề.
Tình trạnh lo lắng cũng xảy ra ở Anh. Giới hữu trách y tế liệt kê 2466 trường hợp từ đầu năm, so với 311 vào cùng thời kỳ của năm vừa rồi. 5 em bé đã bị chết năm nay và bố mẹ của một trong những em bé này (đã bị mắc phải nhiễm trùng lúc 1 tháng tuổi trước khi qua đời sau hai tuần ở phòng hồi sức) đã phát ra một lời kêu gọi đến những người trưởng thành để họ đi tiêm chủng. Bởi vì chính những người ở gần trẻ em, thường không được tiêm chủng đúng đắn hay đã quên tiêm chủng nhắc lại, có khả năng làm lây nhiễm các nhũ nhi dễ bị nhiễm trùng, bởi vì không được tiêm chủng trước 2 tháng.
LÂY NHIỄM BỞI BỐ MẸ
Bệnh ho gà là một bệnh đường hô hấp, được gây nên bởi một trực khuẩn, Bordetella pertussis, có đặc điểm được truyền rất dễ dàng trong không khí. “ Bệnh ho gà rất lây nhiễm, BS Nicole Guiso, trưởng Centre national de référence de la coqueluche thuộc viện Pasteur đã nhấn mạnh như vậy. Nếu như ta đặt 15 người trong một gian phòng với một người lây nhiễm trong một giờ, 15 người sẽ bị nhiễm trùng. ”
Ngày xưa, các em bé bị lây nhiễm bởi nhưng em bé khác, nhưng từ nay chúng bị lây nhiễm bởi những người lớn. Vào năm 2011, 59% các trẻ em nhập viện ở khoa hồi sức đã bị lây nhiễm bởi bố mẹ chúng, theo mạng theo dõi Renacoq (chiếm khoảng 1/3 những trường hợp nhập viện ở khoa Nhi). Gần một nửa trong số 234 trường hợp nhập viện những trẻ em vì ho gà liên hệ đến những em bé dưới 3 tháng. Chính vì vậy các chuyên gia Pháp đã chủ trương chiến lược cocooning nhằm nhắc nhở những người thân của các nhũ nhi dưới 6 tháng rằng họ phải tiêm chủng nhắc lại chồng bệnh ho gà, để tránh nguy cơ gây nhiễm em bé.
“ Ở Pháp, GS Floret, chủ tịch của Comité technique des vaccinations đã nhận xét như vậy, chúng tôi đã cho rằng chiến lược không nhằm loại trừ bệnh ho gà, điều này có lẽ không tưởng và áp đặt những tiêm chủng nhắc lại đều đặn ở người lớn, nhưng là để tránh sự lây nhiễm ở những người suy yếu nhất tránh mắc phải những thể nặng và có thể chết vì thế, và những nhũ nhi dưới 6 tháng.”
Tình hình của chúng ta là khá thuận lợi, BS Guiso đã nói rõ như vậy : “ Ở Californie, tiêm chủng các nhũ nhi dưới 1 năm chỉ là 83% trong khi tỷ lệ này trên 95% ở Pháp.” GS Floret cũng cảm thấy an lòng : “ Ở Pháp ta không thể nói rằng chúng ta đang có một tình hình dịch bệnh đáng lo ngại vào lúc này.”
Về phía công nghiệp dược phẩm, người ta đã không phát hiện thấy sự sụt giảm của tính hiệu quả của vaccin. Đối với BS Evlyne Caulin, phụ trách các thuốc chủng của nhi đồng, ở phòng bào chế Sanofi-Pasteur-MSD, mục tiêu từ nay là “ gia tăng công tác tiêm chủng và, đặc biệt sự tiêm chủng các thiếu niên và những người lớn bởi vì các nhũ nhi được tiêm chủng tốt. ” Cách nay vài tuần, Hoa Kỳ còn đi xa hơn khi khuyến nghị tiêm nhắc lại cho những người hơn 65 tuổi. Thật vậy, những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng vi khuẩn ở lứa tuổi này thường được gặp 100 lần nhiều hơn so với những người trưởng thành trẻ tuổi hơn. Mối nguy hiển không những chỉ đến từ bố mẹ và anh chị em, mà đôi khi còn xuất phát từ ông bà nội ngoại nữa.
(LE FIGARO 24/8/2012)

9/ ALZHEIMER : MỘT BỆNH NHIỄM TRÙNG DO PRIONS ?
Stanley Prusiner, thầy thuốc thần kinh Hoa Kỳ, giải Nobel, đã chứng minh rằng những tác nhân nhiễm trùng nguồn gốc của bệnh Creutzfeldt-Jacob ở người là những protéine bất thường : những prions có khả năng tự sinh sản và tạo nên những tổn hại không hồi phục ở não. Nhóm nghiên cứu của ông ở đại học Californie là nguồn gốc của một khám phá khác : protéine bất thường beta-amyloide, chịu trách nhiệm các mảng (plaques) bóp nghẹt dần dần những tế bào thần kinh trong bệnh Alzheimer, lại là một prion. Bằng một kỹ thuật bioluminescence được sử dụng ở các con chuột được biến đổi về mặt di truyền (souris transgéniques), các nhà nghiên cứu đã chứng minh một sự tự sinh sản của protéine bị biến dị này, lan tràn trong hai bán cầu đại não. Không cần một yếu tố nào khác . cho sự tăng sinh này, một đặc điểm của prion.
(PARIS MATCH 12/7 – 18/7/2012)

10/ ALZHEIMER : MỘT ĐIỀU TRỊ MỚI ĐẦY HỨA HẸN.
Được trắc nghiệm trên chuột, một thuốc chống động kinh đã cho thấy rằng nó có thể góp phần chống lại những trường hợp mất trí nhớ.
NEUROLOGIE. Nhiều tiến bộ y khoa bắt đầu bằng những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên động vật. Và một trong những “modèle” được ưa chuộng nhất là chuột nhắt. Nhất là ngày nay các nhà nghiên cứu sử dụng các chuột nhắt được biến đổi về mặt di truyền (souris transgénique) để tái tạo vài nét của các căn bệnh của con người. Đó là trường hợp trong một công trình nghiên cứu được tiến hành từ 3 năm nay ở Viện Gladstone, thuộc đại học Californie San Francisco : các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng một loại thuốc chống động kinh làm giảm, ngoài những vấn đề khác, sự mất trí nhớ, hậu quả chính của bệnh Alzkeimer (những kết quả được công bố trong tạp chí Pnas).
Theo một báo cáo quốc tế năm 2010, sự thoái hóa não bộ này, vốn đã ảnh hưởng lên 18 triệu người, có thể gây bệnh cho hơn 100 triệu người từ nay đến năm 2050. Nhiều phòng bào chế đang tìm cách hiểu nguồn gốc của bệnh và tìm ra những điều trị để phòng ngừa, kềm chế hay làm đảo ngược những hậu quả của nó. Các nhà nghiên cứu của Viện Gladstone quan tâm đến hoạt động của các mạng neurone. “ Công trình nghiên cứu của chúng tôi dựa trên những khám phá trước đây, vốn gợi ý một mối liên hệ giữa bệnh Alzheimer và vài rối loạn động kinh ”, Lennart Mucke, giáo sư thần kinh học ở université de San Francisco đã giải thích như vậy.
Người ta theo dõi những con chuột, ở chúng được đưa vào những gène điển hình của bệnh Alzheimer, đặc biệt là gène của protéine được gọi là “ amyloide ”, tạo những mảng (plaques) trong não bộ góp phần làm rối loạn các liên lạc giữa các neuron. Một mặt, trên bình diện hoạt động não, bằng những điện cực được cắm vào bề mặt não bộ của chúng ; mặt khác, về khả năng ghi nhớ những công việc đơn giản của chúng, ví dụ ở trong một mê cung.
“ Chúng tôi đã làm thế nào để cho những con chuột này không hề bị một vấn đề gì, Pascal Sanchez, thuộc đại học Lyon và tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Vài giờ sau khi cho lévétiracétam, một thuốc được sử dụng đối với vài trường hợp động kinh, các con chuột đã cho thấy một sự giảm 50% những biến đổi hoạt động diện của não bộ chúng. ” Sau hai tuần, những năng lực học tập và ghi nhớ (capacité d’apprentissage et de mémorisation) được cải thiện rõ rệt.
“ Mặc dầu ta không biết rõ những cơ chế sinh học chính xác của các chất trung gian thần kinh cho phép sự phục hồi này, nhưng ta phải chứng thực rằng trên mô hình thực nghiệm này, điều đó có hiệu quả ”, Pascal Sanchez đã đảm bảo như vậy. Niềm tin được tăng cường bởi một công trình nghiên cứu mới đây được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu của đại học John Hopkins de Baltimore (Hoa Kỳ),đã cho thấy rằng cũng thuốc chống động kinh có những tác dụng có lợi ở những người bị rối loạn về trí nhớ.
“ Những kết quả này, mặc dầu còn sơ bộ, ổ chuột cũng như ở người, khiến chúng tôi khuyến nghị một cách nhanh chóng những thử nghiệm lâm sàng ở người trên một quy mô lớn hơn ”, Pascal Sanchez đã đánh giá như vậy. Chẳng bao lâu nữa, khoảng 100 bệnh nhân có thể được huy động để trắc nghiệm tính hiệu quả của điều trị này.
(LE FIGARO 9/8/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(13/9/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 280 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 518 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s