Thời sự y học số 279 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ LOUIS PASTEUR : NGƯỜI CHẾ NGỰ CÁC VI TRÙNG.
Là nhà quan sát và nhà thí nghiệm ngoại hạng, nhà sinh học, hóa học và vật lý này, mặc dầu không phải là thầy thuốc, đã mang lại cho y học những bước nhảy khổng lồ.

                                        THUYẾT PHỤC
              “ Lý thuyết về tính tự phát trong y khoa đã lỗi thời ”

           Cách nay 3 năm (năm 1888), vào hôm trước Hội nghị Luân Đôn, học   thuyết vi trùng (théorie microbienne), được áp dụng để giải thích căn nguyên của các bệnh truyền nhiễm, vẫn còn bị chỉ trích một cách kịch liệt. Những đầu óc chống lại những tư tưởng tiến bộ tiếp tục lập luận rằng “ bệnh tật là ở trong chúng ta, từ chúng ta, bởi chúng ta.”  Ta có thể nghĩ rằng những người ủng hộ hết mình cho lý thuyết về tính tự sinh bệnh hoạn này sẽ có mặt ở Londre để hăng say bảo vệ nó ; những phe chống đối với học thuyết về tính chất bên ngoài (extériorité) của nguyên nhân đầu tiên của các bệnh lây nhiễm đã không dám ló dạng, và cuộc tranh luận về những chủ đề này ngay cả đã không được mở ra. Những đầu óc sáng suốt đã linh cảm rằng cái ngày mà sự tự sinh (génération spontanée) của các vi sinh vật đã có thể được gọi một cách chính đáng là lý thuyết viễn vông, và rằng mặt khác, đời sống của những sinh vật này đã xuất hiện như là nguyên nhân chủ yếu của sự phân hủy hữu cơ (décomposition organique) và của những quá trình lên men, lý thuyết về tính tự phát trong y học đã hết thời.

                          Pasteur, Ecrits scientifiques et médicaux.

Ta đã thường nhận xét rằng Claude Bernard và Louis Pasteur là những đứa con của những người thợ thủ công, người này là con của một thợ thuộc da của France-Comté, còn người kia là con của một người trồng nho của Beaujolais. Được nuôi lớn ở ngoài trời, trong một một thiên nhiên đầy các động vật và cây cối đa dạng, ta có thể tưởng tượng cả hai là những đứa trẻ tò mò ham biết về thế giới và cuộc sống, các giác quan trong tình trạng kích thích. Cả hai đã vẫn là như vậy trong suốt cuộc đời, với một khả năng kỳ lạ từ chối các phạm vi được quy định của kiến thức và sự phân vách của các môn học. Hai người này đã cho phép sinh học thực hiện những bước tiến đáng ngạc nhiên bằng cách trình bày chi tiết các vận hành của sinh vật cho đến khi đó vẫn còn bí ẩn. Thêm vào tính tò mò không thay đổi, công khai và đảm bảo là một tinh thần độ lượng đã khiến những người đương thời vinh danh họ là những “ ân nhân của nhân loại ”.
Nhưng ở Pasteur, nhà nghiên cứu tuyệt vời luôn luôn ưa thích thu thập các kết quả thực nghiệm hơn là lời phát biểu một lý thuyết tổng quát. Có lẽ đó là lý do tại sao ông đã đi xa hơn Claude Bernard, ông này đã cố chấp đặt vấn đề nghi ngờ những khám phá của Pasteur cho đến khi qua đời năm 1878. Như thế ta đã giữ từ Pasteur, sinh ở Dole trong vùng Jura, ngày 27/12/1822, và mất ở Marnes-la-Coquette, ở Seine-et-Oise, ngày 28/9/1895, hình ảnh của một nhà bác học tỉ mỉ, bị thu hút bởi những thí nghiệm của mình, chỉ mong muốn tống khứ loài người khỏi những những bệnh hành hạ. Một image d’Epinal, được tuyên truyền với sự giúp đỡ của những ông chủ tốt của Đệ tam cọng hòa ? Những người viết tiểu sử đã ủng hộ điều đó, chứng thực rằng ông không phải là người yêu nhân loại như người ta kể ; chính vợ ông, Marie Laurent, cuối năm 1849 và còn sống 15 năm sau khi vĩ nhân qua đời, đã thêm vài màu sắc đẹp đẽ vào những hình ảnh của đời ông.. Ở Trường cao đẳng sư phạm, ông để lại ký ức một người quản lý rất khắc nghiệt.
HIỂU TẠI SAO NHO LÊN MEN
Điều cần phải nhớ về Pasteur, đó không phải là “ le misérable petit tas de secrets ” mà vài người cho là đã moi ra trong các thư tín và các sổ công tác của ông. Đó là danh sách đồ sộ về các khám phá của ông : nó làm ông trở thành một trong những nhà sinh học lớn nhất của mọi thời đại. Người đàn ông đó đã gỡ rối sự chằng chịt của các bệnh lý không giải thích được (bệnh dịch tả gà, bệnh than của cừu, bệnh chó dại) mặc dầu ông không phải là thú y sĩ hay thầy thuốc.
Đậu hạng tư vào trường Cao đẳng sư phạm năm 1843, Louis Pasteur, theo học vật lý và hóa học, trước hết quan tâm đến cấu trúc của các chất hữu cơ, và nhất là sự lệch đối xứng phân tử (dissymétrie moléculaire) của acide tartrique, cho phép ông phân biệt sinh vật và vật vô tri giác, trái với những théorie vitaliste đang thịnh hành vào thời đó (1853-1854). Được bổ nhiệm làm giáo sư ở phân khoa khoa học của Strasbourg, rồi ở Lille, ông thực hiện những công trình đầu tiên của mình về sự lên men theo lời mời của Louis-Emmanuel Bigo-Tilloy, giám đốc của nhà máy chưng cất củ cải đường (distillerie betteravière) Esquermes ; con trai của ông này Emile cũng theo học ở phân khoa khoa học. Trong nhiều tuần, với chiếc kính hiển vi của mình, Pasteur đã tìm cách quan sát sự lên men đường nhờ các nấm men (levure), mà khi đó ông gọi là những men (ferment), và sự sản sinh acide lactique khi sự hô hấp diễn biến kém. Ông ghi chú một cách chính xác điều xảy ra, mặc dầu ông chưa hiểu các nguyên nhân của hiện tượng này. Tuy nhiên ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng vi trùng học hiện đại ra đời trong những tuần lễ cuối này của năm 1856, vào thời gian này Pasteur đã nắm và hiểu bằng những nét lớn những hiện tượng mà một ngày nào đó ta sẽ gọi là piqure lactique và piqure acétique.
Pasteur tiếp tục những quan sát ở các nhà làm rượu bia (brasseur) thành phố Lille, ở đây ông nghiên cứu sự lên men rượu (fermentation alcoolique) bằng nấm men bia (levure de bière), rồi ở những người trồng nho. Lần lượt ông làm sáng tỏ các bí mật của sự lên men lactic (1857), của sự lên men rượu (1857-1860) và của sự lên men của acide tartrique (1858). Mặc dầu là đứa con của France-Comté trồng nho, ngày nay được dựng tượng vinh danh ở Arbois, nhưng ông đã không khám phá những bí mật của sự sôi sục của rượu vang trong thùng ủ (bouillonnement dans la cuve), cũng như bí mật của sự biến hóa khả dĩ của nó thành dấm. Sau khi đã quan sát tất cả, ông đã mô tả tất cả và sau cùng hiểu tất cả : sự lên men phát xuất từ sự sản xuất các mầm bệnh cấu tạo các nấm men chứ không phải là do sự thối rửa của các chất sống, như địch thủ người Đức của ông, Justus von Liebig, đã tin như vậy.
Như thế Pasteur đã hiểu rằng chính nhờ sự sống chứ không phải sự chết mà nho lên men. Khám phá này về sự vận hành chức năng vi thể của sinh vật, thiết yếu cho nông nghiệp và trồng nho, kéo dài những nghiên cứu của Pasteur trong lãnh vực hóa học. Chẳng bao lâu khám phá này sẽ được tiếp nối trong những lãnh vực thú y và y khoa.
NHỮNG DANH TỪ VÀ MỘT ĐỘNG TỪ
Pasteur, vốn không tin vào sự sinh sản ngẫu nhiên (génération spontanée) và biện minh trong một báo cáo khoa học nổi tiếng, mà những kết quả được trình bày ở Viện hàn lâm khoa học năm 1860, linh cảm rằng vài căn bệnh được gây nên bởi những vi sinh vật có cùng những tính chất như những vi sinh vật cho phép quá trình lên men (fermentation).Vào thời kỳ đó, ta chưa nói đến vi trùng (microbe), mà chỉ nói đến vi khuẩn (bactérie) và nấm men (levure). Pasteur sẽ chứng tỏ rằng chúng biến mất khỏi các môi trường cấy được đun sôi. Đó là điều mà ta còn gọi là pasteurisation (sự tiệt trùng theo phương pháp Pasteur). Trong khi nhiều thầy thuốc và nhà thông thái đã cho tên mình những căn bệnh mà họ đã khám phá, còn Hippocrate, Galien và Pasteur chỉ được ban thưởng một từ phái sinh (substantif dérivé). Hippocrate (hippocratique, hippocratisme) và Galien (galénique, galénisme) chỉ được vinh danh bằng một tĩnh từ hay một danh từ, trong khi đó những khám phá hóa học, sinh học và y khoa của Pasteur được bất tử hóa bởi cả một loạt những thể từ (substantifs) (pasteurien, pastorisme, pasteurisateur) và ngay cả bởi một động từ mà sự sử dụng đã được xác lập khắp toàn châu Âu ngay năm 1872 : pasteuriser !
Chữ pasteuriser, nhằm chỉ sự hủy hoại các vi sinh vật (organismes microscopiques) mà khi đó danh pháp (nomenclature) chưa được xác lập, trước hết được sử dụng phổ biến ở những nhà trồng nho, đun sôi nước ép nho trong quá trình lên men rồi làm lạnh để ngăn ngừa các căn bệnh. Chữ này chẳng bao lâu sau đó được các nhà công nghiệp biết đến ; họ học tiệt trùng theo phương pháp Pasteur (pasteuriser) những loại thực phẩm khác nhau, nhất là các sản phẩm sữa. Rồi trong y khoa và ngoại khoa, ở đây những kỹ thuật sát trùng và vô trùng, bắt buộc một cách có phương pháp ngay năm 1874, là sự kế tục logic của sự tiệt trùng theo phương pháp Pasteur (pasteurisation).
Pasteur, với con mắt có độ nhạy gây kinh ngạc, tiến bước một cách thận trọng. “ Phải chăng tôi đã phạm phải sự sai lầm lớn nhất, ông đã tự hỏi như vậy vào năm 1862, là đã gán các tên loài (espèce) cho các vi sinh vật mà tôi đã gặp trong lúc quan sát ? Không những điều đó đối với tôi rất khó thực hiện, và ngay cả hôm nay vẫn có biết bao lẩn lộn trong các tên gọi của các sinh vật bé nhỏ này, mà công trình nghiên cứu của tôi sẽ mất đi tính trong sáng ; ít nhất tôi sẽ đi xa mục đích chủ yếu của tôi là chứng thực sự hiện diện hay vắng mặt của sự sống trên quan điểm chung, chứ không hề nhằm vào sự biểu hiện của một sự sống riêng trong loài động vật hay thực vật nào đó. Vì thế tôi đã nhờ đến một cách hệ thống những từ gọi mơ hồ nhất.”
Chữ vi trùng (microbe) mà Pasteur dường như từ chối không nhận là do mình phát minh, được tạo ra vào năm 1878 bởi thầy thuốc quân y khoa ngoại Charles Sédillot, hội viên của Viện hàn lâm khoa học, và được công nhận bởi Littré trong Tự điển y khoa năm 1886. Nguyên thủy, chữ vi trùng nhằm chỉ tất cả những sinh vật không thấy được bằng mắt trần, chịu trách nhiệm các căn bệnh và quá trình thối rửa (putréfaction). Chữ này không có ý nghĩa giới hạn như ngày hôm nay để chỉ vi sinh vật đơn bào gây bệnh (microorganisme unicellulaire pthogène)
TIÊM CHỦNG CHỐNG BỆNH DẠI
Pasteur đã nghiên cứu các bệnh của tằm (vers à soie) (1865-1870), các bệnh nhiễm trùng của người và của các động vật (1877-1881) và đã chạm vi trùng trong lúc tiến hành các quan sát của mình. Chính trong lúc nghiên cứu các bệnh xảy ra ở gà mái rồi trong lúc phát triển kỹ thuật canh cấy trong phòng thí nghiệm của mình ở rue d’Ulm mà ông đã đạt được mục đích của mình. Tiếp theo ông, cộng đồng quốc tế của các nhà bác học đã cá biệt hóa những tác nhân bệnh lý khác nhau : người Na Uy Gerhard Armauer Hansen, trực khuẩn bệnh hủi năm 1874, người Đức Albert Neisser, lậu cầu khuẩn năm 1879, người Đức Karl Eberth trực khuẩn bệnh thương hàn năm 1880, người Đức Robert Koch, trực khuẩn bệnh lão năm 1882. Về phần mình, Pasteur đã phân lập 3 loại vi khuẩn giữa năm 1878 và 1880 : liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn và phế cầu khuẩn.
Vào năm 1880, thế giới của các vi trùng được xác lập một cách khá chính xác. Suốt trong gần 40 thập niên Pasteur tiến lên theo cùng một hướng. Thiên tài của ông là thiên tài của sự quan sát hệ thống và của sự kết hợp. Mặc dầu bị tranh cãi bởi vài nhà thông thái cùng thời, vì những lý do tốt và xấu, uy tín mà ông có được trở nên khắp hoàn vũ sau sự tiêm chủng đầu tiên chống bệnh dại, vào tháng bảy năm 1885. Ngày 14 tháng 11 năm 1888 ở Paris được khánh thành viện dành cho nghiên cứu cơ bản mang tên ông, rồi một bệnh viện (1894), ở bên cạnh Viện. Pasteur mất năm sau lúc ông được 72 tuổi.
(LE FIGARO 9/8/2012)

2/ TEXAS BỊ DỊCH BỆNH DO VIRUS DU NIL
Vi trùng được truyền bởi muỗi đã gây nên 41 người chết ở Hoa Kỳ
EPIDEMIE. Sunbelt (vòng đai mặt trời) Hoa Kỳ từ mấy tuần nay sống trong sợ hãi các con muỗi, mang virus du Nil occidental đáng sợ. Nhiều người đã chết do dịch bệnh trong những ngày qua, đưa số nạn nhân lên 41 người trong cả nước. 1118 trường hợp nhiễm trùng đã được liệt kê cho mãi đến hôm nay, trong đó một nửa chỉ riêng trong tiểu bang Texas, đếm được 18 trường hợp tử vong, theo CDC (Centre de contrôle et de prévention des maladies). Được thống kê trong 42 tiểu bang (trong số 50 tiểu bang), 2/3 những trường hợp có một thể thần kinh xâm nhập (forme neuro-invasive), chủ yếu là viêm não và viêm màng não. Các nạn nhân nói chung là những người trên 50 tuổi và có sức khỏe kém, bị một bệnh ung thư, đái đường hay bị ghép cơ quan. Nhưng vài bệnh nhân mới đây là những người trẻ và có sức khoẻ tốt, các ty y tế đã xác nhận như vậy.
Virus du Nil occidental, được khám phá ở Ouganda năm 1937, được muỗi truyền cho người, 80% những người bị nhiễm không cảm thấy một triệu chứng nào và ngay cả sẽ không bao giờ biết rằng họ đã bị lây nhiễm, trừ phi thực hiện những xét nghiệm y khoa. 20% còn lại có thể cảm thấy đau đầu, nôn, mửa, tiêu chảy, đau cổ và ngứa, sốt dữ dội, mất thị lực tạm thời và bại liệt không hoàn toàn. Những triệu chứng này, nếu không được xử lý điều trị nhanh chóng, có thể dẫn đến những di chứng nghiêm trọng, và tử vong.
Bị thúc đẩy, Michael Rawlings, thị trưởng Dallas, thành phố lớn thứ 9 của Hoa Kỳ, với 1,19 triệu dân, đã ra quyết định ngày 16/8 nhờ đến những chiến dịch rải thuốc trừ sâu từ trên không lên khu vực thành phố, một chiến dịch đầu tiên từ năm 1970 ở Texas. “ Tôi chịu trách nhiệm về quyết định này, Rawlings đã quả quyết như vậy. Tôi không muốn có thêm những trường hợp tử vong khác trong lương tâm ”
Thuốc trừ sâu, một hỗn hợp chứa chất pyréthrine được gọi là Duet, nhằm vào hệ thần kinh trung ương của các côn trùng, bị phân hủy khi tiếp xúc với ánh sáng và không khí, trong 24 giờ sau khi sử dụng. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc trừ sâu này dấy nên một làn sóng lo ngại mặc dầu EPA (Agence de protection de l’environnement) đã xác nhận tính vô hại của nó, ngoại trừ đối với động vật dưới nước. “ Không có một vấn đề hô hấp nào đã được quan sát trong các bệnh viện, vị thẩm phán vùng Texas Clay Jenkins đã đảm bảo như vậy, cũng như ở những nơi khác trong những thành phố được rải thuốc từ 20 năm nay. ”
KHÔNG MỘT LỜI GIẢI THÍCH
“ Chiến dịch rải thuốc trừ sâu là một công cụ an toàn và hiệu quả, nhưng nó không thay thế những biện pháp thận trọng cần thiết ”, David Lakey, trưởng các ty y tế Dallas đã nói như vậy. Có 4 biện pháp : vì lẽ hiện không có điều trị phòng ngừa, nên cần bôi thuốc đuổi muỗi (répulsif antimoustique), mang quần áo che người, rộng và có màu nhẹ, tránh ra ngoài lúc rạng đông và lúc hoàng hôn và cần che mình kỹ ban đêm.
Hiện nay không có một yếu tố nào được đưa ra để giải thích quy mô của hiện tượng, ngoại trừ một mùa đông 2011-2012 ôn hòa và có những đợt mưa quan trọng. “ Chúng ta chưa biết xuất phát từ đâu sự gia tăng hoạt động này so với những năm trước, nhà dịch tễ học Marc Fischer của CDC đã nói như vậy. Điều chắc chắn đối với các chuyên gia, tình trạng khẩn cấp phải được kéo dài vào tháng 9. “ Cao điểm hoạt động chỉ vừa mới đạt được, Kristy Murray, thuộc Baylor College đã xác nhận như vậy, ông dự đoán một sự giảm chậm của hiện tượng trong tháng đến.
(LE FIGARO 23/8/2012)

3/ DỊ ỨNG TRỨNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG TRỨNG
Dĩ độc trị độc. Đó là nguyên tắc của miễn dịch liệu pháp bằng đường miệng (immunothérapie orale), nhằm uống vào những liều lượng tăng dần của một dị ứng nguyên (allergène) để làm gia tăng sự dung nạp (tolérance) bởi cơ thể. Một phương pháp vừa được trắc nghiệm thành công chống lại dị ứng trứng, trong một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 được chỉ đạo bởi thầy thuốc chuyên khoa dị ứng (allergologue) Wesley Burks (Duke University Medical Center, Hoa Kỳ) và được tiến hành trên 55 trẻ em. Sau 22 tháng điều trị, 75% các trẻ em đã uống vào mỗi ngày bột lòng trắng trứng đã được giải cảm ứng (désensibilisé) (nghĩa là chúng có thể dung nạp nhiều hơn một quả trứng). Ngoài ra, 28% những đứa bé này, sau khi đã tiêu thụ trứng mà không bị phản ứng dị ứng nhiều tháng sau khi ngừng điều trị , được xem là được chữa lành. Hướng điều trị đầy hứa hẹn, nhưng một vấn đề vẫn còn phải được tháo gỡ : những loại bệnh nhân nào khả dĩ nhất đáp ứng với điều trị ?
(SCIENCE ET VIE 9/2012)

4/ NÃO BỘ CÁC PHỤ NỮ NHẠY CẢM HƠN ĐỐI VỚI MIGRAINE.
Lần đầu tiên chụp hình ảnh y khoa cho thấy rằng sự cảm nhận đau khác nhau ở hai giới tính.
NEUROLOGIE. Các phụ nữ thường bị migraine hơn đàn ông và họ thường đau đầu nhiều hơn. Một bí ẩn thường được quy cho các hormone nữ, nhất là có những cơn được phát khởi bởi những thay đổi của kinh kỳ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa tìm thấy một lời giải thích khác cho tính chất bất bình đẳng của giới tính trước căn bệnh : các phụ nữ phải chăng lắng nghe những cảm giác của mình hơn đàn ông ?
Đó là lần đầu tiên mà ta đo được, nhờ những kỹ thuật chụp hình ảnh hiện đại bằng cộng hưởng từ cơ năng (résonnance magnétique fonctionnelle), không những những khác nhau về cấu trúc mà còn những dị biệt về vận hành cơ năng của não bộ các phụ nữ bị bệnh migraine so với não bộ những người đàn ông và những phụ nữ không bị migraine. Một cách tượng hình, nếu não bộ là một cái nhà, điều đó có nghĩa rằng không những khác nhau về kiến trúc mà thiết bị điện cũng khác nhau.
Bởi vì đứng trên quan điểm sinh thần kinh, các phụ nữ bị migraine cảm nghiệm một cách khác những thông tin đau đớn mà não bộ họ nhận được. Đường vòng của các cảm xúc gây khó chịu (circuit des émotions déplaisantes) liên kết với sự đau đớn hoạt động mạnh hơn nhiều ở phụ nữ so với đàn ông, GS Nasim Maleki và các đồng nghiệp của ông ở đại học Havard, tác giả của công trình nghiên cứu được công bố trong số tháng tám của tạp chí quốc tế Brain đã tóm lượt như vậy.
Lại còn kỳ lạ hơn, vòng khen thưởng (circuit de récompense) của não bộ đàn ông bị migraine bị kích thích trong trường hợp đau trong khi vẫn im lặng ở các phụ nữ. “ Chúng tôi chưa giải thích được điều đó ”, nhà nghiên cứu đã công nhận như vậy.
MỘT CĂN BỆNH THÔNG THƯỜNG.
Đối với cùng một triệu chứng đau, những người đàn ông bị migraine như thế ít bị khó chịu hơn so với phụ nữ. Thế thì, ta có thể nói về một tính nhạy cảm chung đối với tất cả loại đau lớn hơn ở các phụ nữ bị migraine ? “ Ta có thể giả định như vậy, bởi vì ở các phụ nữ này, hệ thống quản lý các cảm xúc phản ứng hơn ”, GS Maleki đã giải thích như vậy.
Migraine là một căn bệnh thông thường, rất phổ biến vì lẽ nó gây bệnh một cách đều đặn cho khoảng 5 triệu phụ nữ và 3 triệu người đàn ông ở Pháp. Triệu chứng đau của bệnh rất đặc trưng, chỉ ảnh hưởng lên một nửa đầu. Đau gia tăng cường độ khi ta gắng sức và cho cảm giác theo nhịp đập của tim (douleur pulsatile). Nói chung đau đầu thường kèm theo những cảm giác buồn nôn hay mửa, cũng như không chịu được những tiếng động hay ánh sáng. Tiến triển bằng các cơn (từ vài giờ đến vài ngày) với những thời kỳ thuyên giảm giữa các cơn.
Ở não bộ, một con migraine được phát khởi do sự kích hoạt bất thường của một dây thần kinh, dây thần kinh tam thoa và dây thần kinh này lúc phóng thích những neuropeptide quanh các huyết quản, gây triệu chứng đau điển hình này. Ngoài ra vài bệnh nhân migraine, trong trường hợp của họ, có khả năng xác định điều làm phát khởi sự kích hoạt này : một thức ăn, một nước uống, stress, thiếu ngủ.
Sự khám phá của kíp nghiên cứu của Harvard không phải tập trung vào điểm phát xuất của cơn cũng như không phải về sự xuất hiện của đau đầu, mà nhằm vào phương cách mà thông tin đau được xử lý bởi não bộ. “ Do cách mà bệnh migraine được biểu hiện ở đàn ông và phụ nữ, và sự tiến triển của nó giữa thời kỳ thơ ấu và tuổi trưởng thành, nên tôi nghĩ rằng đó là một căn bệnh khác và không hàm chứa cùng những vòng não bộ (circuits cérébraux) theo giới tính ”, GS Maleki đã đánh giá như vậy.
Các thầy thuốc đã có thói quen xét từng trường hợp khi điều trị migraine, chẳng bao lâu họ có thể áp dụng những chiến lược khác nhau đối với đàn ông và phụ nữ.
NÃO BỘ GIỮ TẤT CẢ CÁC NĂNG LỰC
Những tác dụng của migraine lên não bộ vẫn còn không được biết rõ và vẫn là chủ đề gây tranh cãi. Vài công trình nghiên cứu đã cho thấy một sự gia tăng nguy cơ bị những thương tổn não bộ ở những người bị bệnh lý này, đặc biệt là những người bị bệnh migraine với tiền triệu (aura), nghĩa là có những triệu chứng báo hiệu trước khi triệu chứng đau đầu xuất hiện. Điều này khiến thấy trước một sự sụt giảm những năng lực nhận thức (capacité cognitive) gia tăng với tuổi tác. Những công trình nghiên cứu Pháp-Mỹ có quy mô lớn được công bố đầu tháng 8 trong British Journal of Medicine cho thấy đúng điều ngược lại. Các nhà nghiên cứu của Havard Medical School và của Inserm-université de Bordeaux đã theo dõi khoảng 6000 bệnh nhân hơn 65 tuổi, bị migraine hay không. Những câu hỏi hướng vào tiền sử migraine của họ và vào sự đánh giá những năng lực trí nhớ và nhận thức (capacité mnésique et cognitive) của họ. Kết quả : migraine, với aura hay không, dường như không ảnh hưởng những năng lực này. Một tin có tầm cỡ đối với những thầy thuốc sẵn sàng can thiệp để gìn giữ những năng lực nhận thức của những bệnh nhân mình.
Công trình nghiên cứu dẫu sao cũng cho thấy một nguy cơ gia tăng đối với các phụ nữ bị migraine với tiền triệu, và đã từng là nạn nhân của một tai biến mạch máu não. Những nghiên cứu mới phải nhắm tốt hơn những mối liên hệ giữa bệnh migraine và những bệnh khác để cải thiện những điều trị hiện nay.
(LE FIGARO 21/8/2012)

5/ SAU CÙNG TA CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN BỆNH ALZHEIMER
25 năm trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên, bệnh Alzheimer bắt đầu để lại dấu ấn trong não bộ. Sự chứng minh vừa được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của đại học Washington ở Saint-Louis (Hoa Kỳ). Các nhà nghiên cứu này đã theo dõi trong 2 thập niên 128 người có profil di truyền làm họ khả dĩ bị một dạng sớm của bệnh. Những thăm dò X quang đều đặn đã cho những kết quả đáng ngạc nhiên. Chỉ dấu trước tiên hết của bệnh mà một sự sụt giảm nồng độ beta-amyloide trong dịch bao quanh não bộ. Những peptide này, có thể nhìn thấy bằng chụp hình ảnh não bộ, là nguồn gốc của các mảng đặc trưng của bệnh Alzheimer.
“ Lợi ích của nghiên cứu này là có thể can thiệp vào giai đoạn đầu tiên hết, một thời gian lâu trước khi xuất hiện các triệu chứng, bằng cách sử dụng những liệu pháp kháng amyloide, John Morris (đồng tác giả của công trình nghiên cứu ) đã giải thích như vậy, nhằm ngăn cản sự xuất hiện của các triệu chứng.” Vào cùng lúc, những nhà nghiên cứu của Nữu Ước đã trình bày những kết quả của một điều trị đầy hứa hẹn : một miễn dịch liệu pháp kháng amyloide có khả năng làm ngừng lại sự suy sụp của bệnh. Tác động đúng lúc nhờ một điều trị nhắm đích (thérapeutique ciblée). Sau cùng một điều trị đầu tiên có hiệu quả sẽ xuất hiện ?
(SCIENCE ET VIE 9/2012)

6/ ALZHEIMER : MỘT ĐIỀU TRỊ MIỄN DỊCH GÂY HY VỌNG.
Những kết quả rất sơ khởi, nhưng đầy hứa hẹn, đã thu được với một miễn dịch liệu pháp để kềm hãm sự tiến triển của bệnh.
NEUROLOGIE. Ngày nay ở Pháp 800.000 người bị bệnh Alzheimer. Do sự kéo dài của tuổi thọ, con số này sẽ gia tăng, vì lẽ nguy cơ càng tăng cao khi càng lớn tuổi. Sau 80 tuổi, 10 đến 15% dân chúng có thể bị bệnh. Đứng trước tình hình đáng quan ngại này, vấn đề cấp cứu là hiệu chính những điều trị, vì thuốc men hiện nay bất lực không thể kềm hãm sự tiến triển của bệnh.
Tuần này, nhân hội nghị của Hiệp hội quốc tế chống bệnh Alzheimer, được tổ chức ở Vancouver (Canada), các nhà nghiên cứu đã cho thấy, mặc dầu chỉ được thực hiện trên một số nhỏ những trường hợp, rằng một điều trị dựa trên miễn dịch liệu pháp có thể kềm hãm sự tiến triển của bệnh. Thật vậy, điều trị dựa trên các kháng thể đã cho phép làm chậm lại trong 3 năm sự sa sút trí tuệ của những người tham dự, trong khi đó một sự sa sút nói chung được quan sát ngay 6 tháng sau khi phát bệnh. Tuy nhiên vẫn phải thận trọng : tính hiệu quả chỉ có thể được đánh giá về lâu về dài, vì đó là một bệnh tiến triển tương đối chậm và xảy ra trên một nhóm lớn các bệnh nhân.
Chính ở Nữu Ước mà kíp của BS Norman Relkin của Weill Medical College đã tiến hành công trình nghiên cứu này ở 16 bệnh nhân. 11 trong số những bệnh nhân này đã nhận mỗi 2 đến 4 tuần (tùy theo thể trọng của họ) những tiêm truyền Gammagard, một loại thuốc mà chất căn bản là gammaglobuline, đã được sử dụng để bù những thiếu hụt miễn dịch. 5 bệnh nhân khác tạo thành nhóm placebo. Những kháng thể này có một tác dụng kháng viêm và kích thích lên tính miễn dịch. Sau 36 tháng, trí nhớ, những năng lực nhận thức (capacité cognitive) và khí chất của 11 bệnh nhân được điều trị với Gammagard chỉ bị suy thoái nhẹ. 4 bệnh nhân đã nhận liều mạnh nhất của điều trị thấy tình trạng của mình vẫn hoàn toàn không thay đổi. Những kết quả này dương tính đến độ nhóm placebo cũng đã bắt đầu điều trị 6 tháng sau khi bắt đầu thử nghiệm, các nhà khoa học khi đó đã chứng thực rằng trí nhớ của họ bị suy thoái ít nhanh hơn.
Các nhà nghiên cứu gợi ý rằng các kháng thể của Gammagard đã chống lại sự tiến triển tự nhiên của bệnh bằng cách trung hòa những protéine beta-amyloide đặc trưng của bệnh Alzheimer. Những protéine này kết tụ thành các mảng độc (plaques toxiques) đối với các neurone và dẫn đến sự đánh mất những năng lực trí tuệ. Điều trị, rất tốn kém, cũng làm giảm quá trình viêm gây nên bởi những protéine này. Thử nghiệm được theo đuổi ở 390 bệnh nhân để xác nhận hay không những kết quả này, với những kết luận được dự kiến vào 6 tháng đầu tiên năm 2013. Đối với GS Françoise Forette, chủ tịch của Fondation nationale de gérontologie, cần tiết chế bớt những hoài vọng đối với miễn dịch liệu pháp. Không những số lượng các bệnh nhân là ít trong thử nghiệm này “ nhưng cũng cần phải chờ đợi ít nhất 4 hay 5 năm trước khi chứng thực một hiệu quả rõ ràng ”, bà đã báo động như vậy.
Ngay cả trong trường hợp này, không có một sự cải thiện nào của các chức năng nhận thức (fonction cognitive) được trông chờ trong những thử nghiệm này : trước hết đó là ngăn căn bệnh tiến triển. Thật vậy, các bệnh nhân ở vào một giai đoạn trong đó nhiều tế bào thần kinh đã biến mất và không có thể tái tạo được nhờ các kháng thể, thầy thuốc lão khoa đã giải thích như vậy.
CẦN KIỂM TRA SỰ AN TOÀN
Nếu tính hiệu quả để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh được chứng tỏ, các liệu pháp miễn dịch sẽ được dành cho những người ở giai đoạn sớm, khi những dấu hiệu thần kinh chưa rõ ràng. Nhưng trước khi xác định tính hiệu quả, chính mức độ an toàn của những điều trị này phải được kiểm tra, GS Forette đã cảnh cáo như vậy. Những thử nghiệm trước đây với những liệu pháp miễn dịch khác đã gây thất vọng do những tác dụng phụ nghiêm trọng, nhất là những trường hợp phù não, BS Sylvie Pariel, thầy thuốc lão khoa thuộc bệnh viện Charles- Foix đã xác nhận như vậy. Một trắc nghiệm vaccin đầu tiên cũng đã bị đình chỉ vì sự dung nạp kém.
(LE FIGARO 20/7/2012)

7/ TIÊN ĐOÁN SỚM NGÀY CHẾT

                                    Những điểm chủ yếu
        – Các nhà khoa học đã tiên đoán thời gian sống của các oiseaux mandarin trên cơ sở chiều dài của các télomère của ADN.
        – “ Điều đó không đánh giá đúng tính biến thiên của sự sống ở người ”, các chuyên gia đã cảnh giác như vậy.

Ta sẽ có thể, trong một tương lai không xa lắm, tiên đoán ngày tháng chết của mình ? Khoa học viễn tưởng ? Không hẳn là như vậy. Các nhà nghiên cứu của Glasgow đã thành công tiên đoán một cách rất chính xác thời gian sống trên cơ sở một phân tích ADN. Hiện nay, phương pháp này chỉ có hiệu lực ở diamant madarin, một loại chim Á châu, nhưng các nhà nghiên cứu có ý định rút ra những bài học có thể chẳng bao lâu nữa có lợi cho sức khỏe của con người.
Những kết quả này, được công bố trong tạp chí Pnas, cho thấy rằng ta có thể có được một chỉ dẫn về thời gian sống căn cứ trên sự đo lường các télomère ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống. Các télomère nằm ở các đầu của các nhiễm sắc thế. Hơi giống như các nút chai, chúng đảm bảo sự bảo vệ các tận cùng nhiễm sắc thể đồng thời tránh không cho nhiễm sắc thể bị tháo tơi.
Kíp đã nghiên cứu chiều dài của các télomère của các tế bào máu lấy ở các mandarin có tuổi thọ thay đổi từ 210 ngày đến gần 9 năm. Họ đã quan sát chiều dài của các télomère vào nhiều thời kỳ của cuộc sống : một cách rất đáng ngạc nhiên, chính chiều dài của télomère khi chỉ mới 25 ngày của tuổi đời là chỉ dấu tốt nhất của tuổi thọ. Giả sử một ngày nào đó ta có thể áp dụng quan sát này ở người, khi đó những télomère của một em bé 9 tháng sẽ chỉ cho biết là nó có sống đến 50 hay 90 tuổi. Bác Sĩ Britt Heidinger giải thích rằng “ mặc dầu có một sự biến thiên lớn giữ các cá thể, nhưng những con chim đã sống lâu nhất là những con chim có các télomère dài nhất ”. Sự biến thiên của chiều dài của các télomère một phần có thể qui cho tính chất di truyền, nhưng có thể thay đổi tùy theo các yếu tố môi trường như sự tiếp xúc với stress. Đối với GS Pat Monaghan, “ còn cần phải biết thêm về phương cách mà những tình trạng lúc bắt đầu cuộc sống có thể ảnh hưởng lên sơ đồ đánh mất các télomère, và tầm quan trọng của các yếu tố di truyền và môi trường trước khi có thể mơ mộng, hay ác mộng về một máy đếm đếm những năm tháng của cuộc đời còn lại. “ CON NGƯỜI KHÔNG SỐNG TRONG MỘT CÁI LỒNG ĐƯỢC BẢO VỆ ”
GS Christian Swine là trưởng service de médecine gériatrique của CHU Mont-Godine (UCL)
Hỏi : Mối liên hệ này giữa chiều dài của télomère và tuổi thọ có phải là một điều bất ngờ ?
GS Christian Swine. Chẳng chút nào, vì lẽ các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng chiều dài của các télomère này giảm đi với dòng đời trôi qua. Mặt khác, những công trình nghiên cứu ở những bệnh nhân già có sức khỏe kém hơn đã cho thấy rằng những người, đã từng bị nhiều biến chứng, những bệnh kèm theo hơn hay bị tiếp xúc nhiều hơn các radical libre, thật ra có những télomère ngắn hơn. Điều đó cũng hơi tương tự như các carte de métro cũ, cứ mỗi trận giao tranh của hệ miễn dịch ta rút ra một đồ bị vỡ. Chúng có thể tái tạo một phần.
Hỏi : Thế thì trong 10 hay 15 năm nữa ta có thể tưởng tượng rằng chúng ta sẽ biết còn sống được bao lâu bằng một xét nghiệm máu đơn giản ?
GS Christian Swine. Đối với tôi điều đó vẻ bất khả thi. Bởi vì sự chuyển cho người những nghiên cứu như thế là điều tế nhị. Bạn có biết rằng mandarin đực sống lâu hơn mandarin cái, trái với điều xảy ra ở con người ? Nhưng phải biết rằng các động vật này được giữ trong lồng để tránh những can thiệp bên ngoài, nhằm tiêu chuẩn hóa nguy cơ. Con người không sống như vậy ! Chúng ta chịu một môi trường rất thay đổi và chúng ta có thể biến đổi nó, thí dụ bằng cách chọn một lối sống lành mạnh hơn những lối sống khác. Nếu télomère là một chỉ dẫn, thì đúng hơn đó là chỉ dẫn về tình trạng sức khỏe vào lúc ta phân tích, nhưng tính chất tiên đoán của nó đối với tôi có vẻ bị hạn chế. Đúng hơn đó là một phản ánh (reflet) hơn là một nguyên nhân, một chỉ dấu tình trạng mỏng manh (un marqueur de fragilité) hơn là một lời hứa chấm dứt cuộc sống.
Hỏi : Và giả sử, dầu thế nào đi nữa, ta có thể tiên đoán ngày chết..
GS Christian Swine. Phải làm gì với một thông tin như vậy ? Nếu người ta nói trước với anh một bệnh và nếu anh có thể hành động để làm giảm các nguy cơ mắc phải nó, như một bệnh đái đường, thông tin khi đó có thể hữu ích. Anh có thể làm giảm stress, uống thuốc phòng ngừa, thay đổi chế độ ăn uống. Nếu người ta đo huyết áp cho anh, đó là để điều trị sớm sự quá mức của huyết áp. Nếu như điều người ta loan báo với anh không thể biến đổi được, như một bệnh Alzheimer, đó là một thông tin hủy hoại. Có những télomère đẹp sẽ không ngăn cản anh hóa lão.
(LE SOIR 24/2/2012)

8/ CAI THUỐC BENZODIAZEPINE : ĐỢT CHỮA NƯỚC NÓNG ĐỂ ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC BỆNH.
BS Olivier Dubois, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, tổng giám đốc các nơi điều trị bằng nước khoáng nóng (thermes) ở Saujon giải thích việc điều trị đặc hiệu này cho phép các người được điều trị giải thoát khỏi tình trạng phụ thuộc như thế nào.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi tần số của các trường hợp phụ thuộc benzodiazépines.
BS Olivier Dubois. Ở Pháp, ta liệt kê trung bình 7 triệu người tiêu thụ đều đặn benzodiazépines (các thuốc ngủ, những thuốc giải ưu), trong khi đó những thuốc này, trừ trường hợp đặc biệt, chỉ nên được kê đơn trong vài tuần. Các thuốc ngủ (hypnotique, somnifère) nhằm điều trị các rối loạn giấc ngủ ; những thuốc khác để điều trị những tình trạng lo âu.
Hỏi : Đối với những người tiêu thụ đều đặn này, những nguy cơ là gì ?
BS Olivier Dubois. Nguy cơ là họ trở nên phụ thuộc về mặt tâm thần đối với các loại thuốc được tiêu thụ. Ngoài ra khi họ quyết định ngừng thuốc, có sự tái xuất hiện đột ngột, thậm chí trầm trọng thêm, của những triệu chứng. Ở những người già, sự phối hợp kéo dài với những loại thuốc khác có thể làm dễ những tác dụng phụ, như hạ huyết áp, những rối loạn trí nhớ, của sự cân bằng
Hỏi : Tại sao khó ngừng thuốc và những thất bại là do đâu ?
BS Olivier Dubois. Có nhiều lý do. 1. Những người lo âu sợ tái xuất hiện tình trạng angoisse của họ, các thuốc làm họ an lòng. Họ khó có động cơ để không cần đến thuốc. 2. Nhiều bệnh nhân không giảm một cách khá từ từ sự sử dụng các benzodiazépine của họ. 3. Môi trường họ sống có nhiều căng thẳng mà họ không thể rút ra khỏi, do đó duy trì mức độ căng thẳng của họ. 4. Cũng không phải dễ có được một accompagnement psychothérapeutique thích đáng.
Hỏi : Ông đã có ý tưởng thành lập ở Saujon đợt điều trị bằng nước nóng (cure thermale) làm dễ sự cai thuốc benzodiazépines như thế nào ?
BS Olivier Dubois. Một công trình nghiên cứu quan trọng (Stop-Tag) mà tôi chỉ đạo đã chứng minh tính hiệu quả của đợt điều trị bằng nước nóng (trong 3 tuần) để làm giảm tình trạng lo âu. Chúng tôi đã đánh giá rằng những người theo đợt điều trị (curiste) có thể hưởng khung cảnh điều trị bằng nước nóng này với sự theo dõi y khoa để dần dần thoát khỏi tình trạng lệ thuộc của họ đối với benzodiazépines.
Hỏi : Suốt trong ba tuần của đợt điều trị, mục đích nhằm vào những gì ?
BS Olivier Dubois. Một protocole đặc biệt đã được soạn thảo với các cán bộ đại học, các chuyên gia về cai nghiện. Mục tiêu là làm giảm từ từ sự sử dụng benzodiazépines để tiến đến một sự dừng thuốc hoàn toàn. Tùy theo các trường hợp, người thầy thuốc sẽ quy định một programme balnéothérapeutique “ sur mesure ” (tùy theo từng cá thể) gồm có tắm nước nóng (bains bouillonnants), massage dưới nước, douches thermales et sous-marines en piscine và, đối với vài bệnh nhân, những buổi liệu pháp hành vi theo từng nhóm, được chủ trì bởi một psychologue được đào tạo. Những séance de groupe này có mục đích làm cho bệnh nhân hiểu những cơ chế gây nên sự phụ thuộc thuốc, nhưng cơ chế phát triển tình trạng lo âu, dạy cho những người tham dự những kỹ thuật thư giãn để làm giảm những angoisse của họ … một theo dõi y khoa được đảm bảo nhờ những buổi khám bệnh hàng tuần.
Hỏi : Những lợi ích của nước khoáng nóng (eau thermale) trong chương trình này ?
BS Olivier Dubois. Nước khoáng nóng có một tác dụng an thần quan trọng. Công trình nghiên cứu “Stop-Tag” đã chứng minh đến mức độ nào tác dụng này sâu đậm và dài lâu trong ít nhất 6 tháng. Những kết quả ngoạn mục này mới đây đã được công bố trong tạp chí khoa học “ Complementaries Therapies in Medicine ”. Chính nhờ sự giảm quan trọng của tình trạng lo âu của họ mà hầu hết những người theo đợt điều trị được tạo động cơ để khiến sự cai nghiện của họ được thành công. Vài bệnh nhân chỉ giảm được sự tiêu thụ các benzodiazépines.
Hỏi : Trong những người sau cùng này, thế thì đâu là hy vọng để cai thuốc vĩnh viễn ?
BS Olivier Dubois : Kinh nghiệm chứng tỏ rằng, đối với vài bệnh nhân, sự lặp lại hàng năm các đợt điều trị cho phép họ ngừng dần dần các thuốc an thần mà họ sử dụng.
(PARIS MATCH 8/5 – 16/5/2012)

9/ CHỨNG NGHIỆN RƯỢU : SỬ DỤNG BACLOFENE TÙY THEO TỪNG TRƯỜNG HỢP.
Cơ quan dược phẩm từ nay chấp thuận sự sử dụng baclofène trong điều trị chứng phụ thuộc rượu.
ADDICTION. Đó không phải là một sự cho phép thật sự, nhưng đó là một tiến triển chắc chắn. Lần đầu tiên, Cơ quan an toàn các sản phẩm y tế (Afssaps) đã chấp nhận rằng các thầy thuốc từ nay có thể kê đơn baclofène trong điều trị chứng nghiện rượu, những chỉ tùy theo từng trường hợp. Loại thuốc này, vốn thường được sử dụng như chất duỗi cơ (décontractant musculaire) trong khoa thần kinh, có thể làm giảm sự thèm rượu.
Từ 4 năm qua, thế giới của addictologie đang sôi sục về vấn đề baclofène, được vài thầy thuốc sử dụng một cách lén lút ở những người bị phụ thuộc rượu. Vài chuyên gia đánh giá rằng đó là một bước tiến thật sự để điều trị một bệnh lý mà để chống lại chúng y khoa tương đối còn bất lực. Những chuyên gia khác cho rằng hiện nay đã không có gì được chứng mình một cách rõ ràng. Lập trường mới này của Cơ quan hữu trách dược phẩm, hẳn làm an lòng các thầy thuốc hiện nay đang kê đơn thuốc cho hơn 30.000 bệnh nhân, ngoài khuôn khổ luật pháp, vì lẽ baclofène cho đến nay đã chỉ được cho phép sử dụng để chống lại vài rối loạn thần kinh.
“ Mặc dầu tính hiệu quả của baclofène trong điều trị chứng phụ thuộc ruợu (alcoolodépendance) cho đến nay vẫn chưa được chứng minh, nhưng những dữ kiện mới cho thấy những lợi ích lâm sàng ở vài bệnh nhân, Afssaps đã nhấn mạnh như vậy. Về việc sử dụng này ngoài khuôn khổ AMM (autorisation de mise sur le marché) hiện nay, những dữ kiện của pharmacovigilance tuy rất hạn chế nhưng không đặt lại vấn đề về sự theo đuổi của loại điều trị này.” Một cách rõ ràng, Afssaps bật đèn xanh cho sự tiếp tục những điều trị đã được thực hiện.
Baclofène được thương mãi hóa dưới dạng thuốc viên bởi groupe pharmaceutique Novartis với tên Liorésal và bởi Sanofi dưới tên Baclofène Zentiva.
Vào năm 2008, Olivier Ameisen, thầy thuốc chuyên về tim, công bố một tác phẩm tự thuật, Le Dernier Verre, trong đó ông kể lại những năm tháng nghiện rượu của mình và sự hồi sinh của ông nhờ một loại thuốc được sử dụng với liều mạnh, baclofène, đã khiến ông trở nên hững hờ với rượu. Ông đã khám phá loại thuốc này lúc đọc những tạp chí khoa học nêu lên tác động của baclofène trong sự cai nghiện thực nghiệm của cocaine và rượu ở động vật phòng thí nghiệm. Nhiều thầy thuốc đa khoa ở Pháp quyết định sử dụng baclofène đối với những bệnh nhân không thể thoát khỏi một sự phụ thuộc rượu, làm suy mòn cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp.
Vào tháng ba năm 2012, tạp chí Alcohol Alcoholism công bố những kết quả đầu tiên của một điều tra về những lợi ích và những nguy cơ của bacloène ở những người phụ thuộc rượu, được tiến hành dưới sự chỉ đạo của GS Philippe Jaury (đại học Paris V). Những kết quả cho thấy rằng thuốc hiệu quả trong 56% các trường hợp, tuy nhiên với những tác dụng phụ và nhất là một trạng thái ngủ gà năng lúc đầu điều trị. Có lẽ chính sự công bố công trình nghiên cứu này đã khiến Cơ quan các sản phẩm y tế chấp nhận một cách chính thức sự kê đơn baclofène tùy theo từng trường hợp. Thật vậy kê đơn trong loại thuốc ngoài những bệnh lý được xác định lúc cho phép đưa ra thị trường là bất hợp pháp.
“ Một sự hiểu biết tốt hơn về profil an toàn sử dụng của baclofène trong khuôn khổ này là tuyệt đối cần thiết và biện minh cho việc duy trì một sự theo dõi rất tích cực của Afssaps và của những người hành nghề y tế ”, cơ quan các sản phẩm y tế đã ghi chú như vậy. Cơ quan này nhắc lại rằng sự điều trị chứng phụ thuộc rượu hàm ý một phương pháp toàn bộ bởi các thầy thuốc có kinh nghiệm trong sự theo dõi loại các bệnh nhân này. Theo Afssaps, việc nhờ đến baclofène phải được xét đến theo từng trường hợp và với một sự thích ứng liều lượng theo từng cá thể nhằm đảm bảo trong thời gian liều hữu ích đối với mỗi bệnh nhân.
Thật vậy, trong khuôn khổ của chứng phụ thuộc rượu, baclofène được sử dụng với những liều cao hơn nhiều những liều được sử dụng trong thần kinh học để điều trị bệnh xơ cứng rải rác hay ở những người bị bại liệt hai chi.
Sau hết, bằng cớ xác định về tính hiệu quả của baclofène chỉ được chứng tỏ với những kết quả của một thử nghiệm so sánh loại thuốc này với một placebo. Trong mục tiêu này, Afssaps vào tháng tư 2012 tuyên bố đã cho phép khởi động một thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát, được mệnh danh là “bacloville”, ở những bệnh nhân uống rượu với nguy cơ cao, sẽ được theo dõi trong ít nhất một năm.
(LE FIGARO 26/4/2012)

10/ NGUYÊN NHÂN NỘI TẠI CỦA CHỨNG ĐÁI DẦM
Ngủ là một hoạt động phức tạp hơn nhiều điều mà ta hằng tưởng ! Để ngủ được điều đó, nhiều tham số phải được điều hòa, như tần số tiểu tiện (fréquence d’urination), nói chung giảm rất nhiều vào ban đêm. Như thế nào ? Đó là điều mà các nhà nghiên cứu Nhật Bản vừa khám phá : đồng hồ sinh học nội tại (horloge biologique interne) của chúng ta được lập chương trình để làm gia tăng khả năng tích trữ của bàng quan trong khi ta ngủ. Thật vậy, ở những con chuột lành mạnh, lượng connexine 43, một protéine có liên hệ trong hoạt động của các tế bào cơ bao quanh bàng quang, giảm trong thời kỳ ngủ. Những cơ này khi đó co thắt ít hơn, và bàng quang tống xuất nước tiểu ít hơn. Tuy nhiên, ở các con chuột mà đồng hồ nội tại bị rối loạn, lượng protéine này vẫn không thay đổi và tần số tiểu tiện gia tăng. Khám phá này mở ra một hướng giải thích, và nhất là một hướng điều trị đối với những trường hợp đái dầm (pipis au lit) rất thường gặp của vài trẻ em, cũng như đối với những cơn buồn tiểu thường đánh thức những người già dậy. Thật vậy, “ đồng hồ sinh học ngày đêm ” (horloge circadienne) chưa hoàn toàn thành thục ở các trẻ em, và thường bị rối loạn ở những người già, Akihiro Kanematsu, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Nhà nghiên cứu này hiện đang theo đuổi một hướng nghiên cứu bổ sung liên quan đến sự điều hòa sản xuất nước tiểu bởi thận.
(SCIENCE ET VIE 7/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/9/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 279 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 506 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s