Liệu pháp sinh học trong điều trị Viêm Khớp Dạng Thấp (Rhumatoid polyarthritis) – BS Nguyễn Văn Thông

Liệu pháp mới nhất và có hiệu quả nhất đối với viêm khớp dạng thấp là liệu pháp sinh học. Liệu pháp sinh học là phương pháp điều trị bằng cách sử dụng các protêin biến đổi gen được chiết xuất từ gen người. Các protêin này có tác dụng ức chế một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong phản ứng viêm, một yếu tố then chốt của bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT).

Liệu pháp sinh học (LPSH) thường được sử dụng khi các loại thuốc chữa trị khác không làm giảm phản ứng viêm của VKDT. LPSH còn có thể làm chậm hoặc chận đứng tiến triển của VKDT khi các loại thuốc khác đã tỏ ra không hiệu quả.

LPSH TÁC DỤNG NHƯ THẾ NÀO ?
Liệu pháp sinh học là các protêin biến đổi gen được chiết xuất từ gen người. Chúng có tác dụng ức chế một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong phản ứng viêm, một yếu tố then chốt của bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT). LPSH khác biệt chủ yếu với các liệu pháp kinh điển khác ở chỗ LPSH nhắm chủ yếu vào một số thành phần đặc biệt của hệ miễn dịch trong khi LP kinh điển lại tác động trên diện rất rộng của hệ miễn dịch.

TÁC DỤNG PHỤ CỦA LPSH LÀ GÌ ?
– Tương tự như các loại thuốc làm giảm miễn dịch khác, LPSH có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn hoặc các bệnh khác. Vì vậy, những người sử dụng LPSH cần phải theo dõi nếu phát hiện sốt kéo dài hoặc có các triệu chứng bất thường khác.
– LPSH còn có thể làm bùng phát một số bệnh đã “ngủ yên” như bệnh lao hoặc suy tim. Tất cả bệnh nhân cần thử test tuberculin trước khi tiến hành LPSH.
– Một bất lợi khác của LPSH là phải dùng đường tiêm, truyền tĩnh mạch.
– Phụ nữ có thai được khuyến cáo không nên sử dụng LPSH.

CÁC “VŨ KHÍ” CỦA LPSH
1. ENBREL VÀ HUMIRA
Enbrel và Humira đều có tác dụng làm giảm triệu chứng viêm và các tổn thương của VKDT bằng cách ức chế một hoạt chất của phản ứng viêm, được gọi là Yếu tố hoại tử khối u (TNF =Tumor necrosis factor).
Enbrel và Humira là chất ức chế TNF được dùng dưới dạng tiêm. Enbrel và Humira có thể sử dụng bằng cách tự tiêm dưới da một hoặc 2 lần mỗi tuần. Bệnh nhân được tập huấn cách tự tiêm thuốc hoặc nhờ người thân trong gia đình hay y tá tiêm cho. Bộ dụng cụ để tiêm được chế tạo rất dễ sử dụng. Hơn nữa, thuốc đã được chứa sẵn trong ống tiêm, sẵn sàng cho việc tự tiêm.

Enbrel và Humira đều có thể gây kích thích tại chỗ tiêm. Để làm giảm tác dụng phụ này, chỉ cần đặt đá lạnh lên chỗ tiêm trước và sau khi tiêm.
Enbrel và Humira đều có thể làm giảm hệ miễn dịch dẫn đến nhiễm trùng. Mặc dù hiếm gặp nhưng vẫn có một số ít bị nhiễm trùng trầm trọng sau khi tiêm.
2. REMICADE
Tương tự như Enbrel và Humica, Remicade làm giảm phản ứng viêm và tổn thương của chứng VKDT bằng cách ức chế một hoạt chất hoá học của hiện tượng viêm, được gọi là Yếu tố hoại tử khối u (TNF).
Remicade được cho bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch tại các cơ sở y tế do bác sĩ chỉ định. Mỗi lần truyền tĩnh mạch kéo dài trong 2 giờ. Remicade còn được biết đến như là chất ức chế TNF bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch. Liệu pháp chuyền tĩnh mạch được thực hiện 3 lần trong 6 tuần đầu tiên của liệu trình, sau đó cứ mỗi 8 tuần. Remicade thường được sử dụng phối hợp với Methotrexate để điều trị VKDT.
Bởi vì Remicade được sử dụng bằng đường tiêm truyền, nên Remicade rất dễ gây ra choáng phản vệ, vì vậy cần phải theo dõi trong suốt quá trình tiêm truyền. Cũng giống như các liệu pháp sinh học khác là làm giảm hệ miễn dịch, nên dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy, nếu thấy bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng nào như sốt, ra mồ hôi hoặc ớn lạnh, da nổi mận đỏ… thì phải báo ngay cho bác sĩ điều trị biết.
3. KINERET
Kineret là một loại protêin có tác dụng làm giảm phản ứng viêm bằng cách ức chế chất truyền tin hoá học là Interleukin-1. Kineret được chỉ định tiêm mỗi ngày một mũi (có thể tự tiêm hoặc nhờ người thân tiêm). Kineret không được dùng rộng rãi trong điều trị bởi vì hiệu quả không cao.

Cũng giống như các liệu pháp sinh học khác là làm giảm hệ miễn dịch, nên dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy, nếu thấy bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng nào như sốt, ra mồ hôi hoặc ớn lạnh, da nổi mận đỏ… thì phải báo ngay cho bác sĩ điều trị biết.
4. RITUXAN
Rituxan được chỉ định đối với những bệnh nhân VKDT thể trung bình và nặng mà không đáp ứng với các liệu pháp ức chế TNF khác như Enbrel, Humira hoặc Remicade. Rituxan là một protêin kháng thể có tác dụng chủ yếu làm giảm các tế bào bạch cầu chuyên biệt, được gọi là tế bào B, ở trong máu. Rituxan được sử dụng bằng đường chuyền tĩnh mạch 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 tuần lễ, kếy hợp với methotrexate. Liệu trình Rituxan có thể được dùng lần nữ nhưng phải cách 4 đến 8 tháng sau.

Bởi vì Rituxan được dùng bằng đường tĩnh mạch, nên nó có thể gây sốc phản vệ và bệnh nhân phải được theo dõi trong quá trình truyền dịch. Triệu chứng của sốc phản vệ bao gồm sốt, run lạnh, nôn ói và nhức đầu. Cũng giống như các liệu pháp sinh học khác là làm giảm hệ miễn dịch, nên dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy, nếu thấy bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng nào như sốt, ra mồ hôi hoặc ớn lạnh, da nổi mận đỏ… thì phải báo ngay cho bác sĩ điều trị biết.
5. ORENCIA
Orencia thường được dùng để điều trị VKDT thể trung bình và nặng. Orencia là một protêin kháng thể có tác dụng ức chế các tín hiệu chủ yếu để kích hoạt lympho-bào T của hệ miễn dịch. Lympho-bào T được hoạt hoá đóng một vai trò quan trọng trong sự tiến triển của bệnh VKDT. Orencia cho thấy có tác dụng làm giảm các triệu chứng và ngăn chận tiến triển của bệnh ở những bệnh nhân không dùng methotrexate hoặc các liệu pháp sinh học khác. Orencia có thể sử dụng đơn độc hoặc kết hợp với các liệu pháp khác ngoại trừ liệu pháp sinh học.
Orencia được dùng bằng đường chuyền tĩnh mạch mỗi tháng. Các phản ứng phụ bao gồm nhiễm trùng và sốc phản vệ. Triệu chứng của sốc phản vệ bao gồm sốt, run lạnh, nôn ói và nhức đầu. Cũng giống như các liệu pháp sinh học khác là làm giảm hệ miễn dịch, nên dễ bị nhiễm trùng. Vì vậy, nếu thấy bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng nào như sốt, ra mồ hôi hoặc ớn lạnh, da nổi mận đỏ… thì phải báo ngay cho bác sĩ điều trị biết. Cần cảnh giác khi sử dụng Orencia đối với những bệnh nhân bị viêm phổi tắc nghẽn mạn tính.

(Theo WebMD.com)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG
DrThong007@gmail.com

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s