Thời sự y học số 278 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÁC BỆNH DI TRUYỀN : NGUY CƠ GIA TĂNG VỚI TUỔI CỦA NGƯỜI CHA
Cha già con muộn làm dễ sự xuất hiện những bệnh nặng, như bệnh tự kỷ.
PROCREATION. Trong nhiều thập niên, các phụ nữ đã bị cảnh cáo, một cách đúng đắn, không nên sinh đẻ lúc lớn tuổi, chịu trách nhiệm một nguy cơ gia tăng bị bệnh trisomie 21 hay mongolisme. Ngược lại, các người đàn ông làm cha khi lớn tuổi luôn luôn cảm thấy không bị vướng bận với mọi ràng buộc. Một người đàn ông 50 tuổi, tận hưởng niềm vui làm cha, thường gây nên sự thán phục trong khi một phụ nữ cùng lứa tuổi sinh con nhờ những kỹ thuật thụ thai nhân tạo nói chung lại là nạn nhân của sự bài xích.
Thật vậy, dĩ nhiên mặc dầu không nên lên án bất cứ người nào nhưng dường như thái độ khoan dưng đối với ông bố lớn tuổi hoàn toàn không có căn cứ. Mới đây nhất, nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong báo khoa học quốc tế đã phát hiện ảnh hưởng âm tính của tuổi người cha lên hậu duệ của mình. Một tuổi cao của người cha làm gia tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh di truyền, mặc dầu hiếm, và không phải là một bệnh duy nhất như trường hợp đối với đàn bà. Chính tính chất nhiều bệnh này có lẽ giải thích tại sao đã phải cần nhiều thời gian hơn để đánh giá vai trò của tuổi của người cha lên sức khỏe của những đứa con mình.

“ Nhân một hội nghị chuyên đề về các bệnh di truyền vào tháng sáu ở Nuremberg (Đức), nhiều báo cáo đã nói về những vấn đề này, vốn rất ít được đề cập đến cho mãi đến nay ”, GS Stanislas Lyonnet, trưởng khoa di truyền thuộc bệnh viện Necker Paris đã giải thích như vậy. Thật vậy có một sự gia tăng về mặt thống kê của tuổi người cha trong nhiều bệnh di truyền như bệnh u xơ thần kinh (neurofibromatose) hay bệnh loạn sản sụn (achondroplasie) (một dạng của nanisme). Những công trình nghiên cứu mới về bệnh tự kỷ (autisme) cũng đã cho phép hiểu rõ hơn về tác động của tuổi người cha. Nhất là, các nhà nghiên cứu bắt đầu hiểu trên bình diện sinh học tại sao những người cha già cả có một xác suất lớn hơn sinh ra một đứa trẻ bị một thương tổn di truyền.
Thật vậy, bệnh tự kỷ, một căn bệnh được đặc trưng bởi những rối loạn trầm trọng của hành vi, xuất hiện một cách nhanh chóng trong hai năm đầu của đời sống, là một bệnh thuộc loại di truyền. Một loạt các công trình nghiên cứu được công bố 5/4/2012 trong tạp chí Nature, dưới sự chỉ đạo của Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ, đã cho phép hiểu rõ hơn nguồn gốc của nó. Thật vậy, những biến dị nhỏ mới xảy ra (petites mutations de novo), nghĩa là xuất hiện vào lúc thụ thai nhưng không phải chính bố mẹ đã mang chúng, đã được phát hiện ở vài đứa trẻ bị bệnh tự kỷ. Nhưng những công trình này cũng tiết lộ rằng các người cha truyền, 4 lần thường hơn các người mẹ, những biến dị này cho các con mình. Ngoài ra nguy cơ đối với một người cha gây nên loại biến dị này gia tăng với tuổi tác của ông ta. Các ông bố có các cháu trai bị bệnh tự kỷ ở lứa tuổi 40 sáu lần thường hơn là ở lứa tuổi 20. Còn đối với các cháu gái bị bệnh tự kỷ, các ông bố 17 lần thường hơn ở trong lứa tuổi trên 40.
“ Ta đã có thể séquencer và so sánh các gène của người cha, người mẹ và sau cùng các gène của người con. Điều đó đã cho phép quan sát thấy rằng các gène của đứa con không chỉ là những gène của cha mẹ mình. Từ 70 đến 80 biến dị mới xuất hiện ở đứa trẻ và những gène bị biến dị này không hiện diện ở người cha hay người mẹ. Điều đó có thể giải thích sự xuất hiện mới của vài bệnh di truyền, và đặc biệt là bệnh tự kỷ và bệnh tâm thần phân liệt, GS Lyonnet đã nói thêm như vậy. Thế mà, trong 4 trường hợp trên 5, những biến dị mới này xảy ra trên ADN của người cha. ”
NGUYÊN NHÂN : QUÁ TRÌNH SINH TINH TRÙNG.
Đối với các nhà nghiên cứu , sự việc người cha chịu trách nhiệm một phần lớn những biến dị di truyền là do những đặc điểm riêng của quá trình sinh tinh trùng (spermatogenèse). Cháu gái được sinh ra đối với một stock giới hạn các noãn bào (ovocytes) : các tế bào này sẽ cho ra một trứng, hay noãn (ovule) nhưng chúng không còn phân chia nữa mà chịu một quá trình chín mùi vào mỗi chu kỳ kinh nguyệt sau tuổi dậy thì. Ở người đàn ông, ngược lại, quá trình sinh tinh trùng là một hiện tượng khác : bắt đầu từ những tế bào gốc, các tinh nguyên bào (spermatogonie), những tinh trùng mới được sản xuất bằng những lần phân chia kế tiếp nhau.Và sau khoảng chục lần phân chia tế bào, chúng đã tích lũy một số những biến dị nào đó. Phần lớn những biến dị này không đặt một vấn đề nào. Nhưng một số nhỏ những biến dị này có thể là nguồn gốc của những bệnh lý khác nhau và đặc biệt góp phần vào sự phát sinh bệnh tự kỷ. Như vậy, nguy cơ di truyền gia tăng đối với các người con có cha lớn tuổi là hậu quả của nhiều phân chia của những tinh nguyên bào này, càng ngày càng quan trọng khi tuổi càng cao. “ Thường người mẹ bị chỉ trỏ trong những cặp vợ chồng có một đứa con bị một bệnh lý thuộc loại di truyền, GS Lyonnet đã ghi nhận như vậy. Điều đó không đúng. Ngày nay, có đủ các dữ kiện để nói với những người đàn ông rằng một khi vượt quá một lứa tuổi nào đó, muốn có con là điều không hợp lý lắm, bởi vì nguy cơ di truyền cũng gia tăng đối với chúng.”
(LE FIGARO 8/8/2012)

2/ LÀM CHA MUỘN : TUỔI THỌ CHO ĐỨA BÉ ?
Các télomère, những “ cái nắp ” (capuchon) ADN nhỏ nằm ở đầu mút các nhiễm sắc thể, là cần thiết cho sự truyền (giống hệt) các gène từ một tế bào mẹ đến các tế bào con. Bất hạnh thay, cứ vào mỗi lần phân chia tế bào, các télomère ngắn lại cho đến khi chúng trở thành quá ngắn mà một sự đứt đoạn là một yếu tố quan trọng của sự hóa già. Một ngoại lệ : trong các tinh trùng, các télomère dài ra với tuổi tác. Các nhà nghiên cứu của một kíp nhân loại học (anthropologie) được chỉ đạo bởi Dan Eisenberg (đại học Northwesthern Evanston, Illinois) đã khảo sát những mẫu nghiệm máu lấy từ 1779 người trưởng thành trẻ tuổi người Philippine (cả hai giới tính) và những mẫu nghiệm máu của những người mẹ của những thanh niên này. Họ cũng thông kê tuổi tác của các người cha và các ông nội/ngoại của họ. Kết quả : những người đàn ông càng có con muộn, họ càng truyền các télomère lớn và những télomère này làm dễ sự trường thọ. Nhưng các ông bố lớn tuổi này cũng tạo một nguy cơ quan trọng hơn gây ra bất thường di truyền.
(PARIS MATCH 5/7 – 11/7/2012)

3/ SINH QUÁ NON THÁNG, MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH TÂM THẦN
Bệnh loạn tâm thần (psychose) và những rối loạn lưỡng cực (troubles bipoliares) hơi thường xảy ra hơn ở những trẻ sinh non.
PSYCHIATRIE. Nguồn gốc của những bệnh tâm thần vẫn còn bí ẩn. Nhiều hướng đã được đưa ra từ vài năm nay, và không nhất thiết loại bỏ nhau. Thí dụ như những công trình nghiên cứu về sinh học phân tử mới đây đã nhấn mạnh tính chất di truyền của khuynh hướng dễ bị bệnh tâm thần phân liệt và bệnh loạn tâm thần hưng trầm cảm (pychose maniaco-dépressive).
Mặc dầu các sơ đồ truyền bệnh vẫn còn phức tạp, đặc biệt với sự xuất hiện đột biến mới, có thể giải thích vài trường hợp, ngay cả trong những gia đình không bao giờ có một bệnh nhân nào đã được ghi nhận. Ngoài ra, vài rối loạn trong thai nghén và, nhất là sốt của bà mẹ tương lai, cũng đã tỏ ra là những yếu tố nguy cơ của những căn bệnh này.
Rất mới đây, các nhà nghiên cứu Anh và Thụy Điển đã công bố những công trình tiết lộ rằng tình trạng sinh non (prématurité) có thể cũng là một yếu tố nguy cơ nhỏ đối với những căn bệnh tâm thần này. Thế thì có thể nghĩ rằng vài bất thường di truyền, như sốt trong tử cung hay tình trạng quá sinh non tháng (grande prématurité) có thể là những yếu tố nguy cơ đối với những rối loạn phát triển thần kinh, có thể dẫn đến sự xuất hiện những bệnh như thế.
“ HỆ THÂN KINH KHÔNG THÀNH THỤC ”
Thụy Điển là một nước, trái với Pháp, đã biết phát triển những registre đủ loại, những registre về ngày sinh tháng đẻ, những registre khác về bệnh tâm thần, một cách nặc danh và quy tắc hóa. Mục tiêu là, nhờ đối chiếu các registre, tìm kiếm và nhiên hậu tìm thấy những mối liên hệ giữa những bệnh khác nhau với những yếu tố của đời sống. Các nhà nghiên cứu của Viện Korolinska ở Thụy Điển và những nhà nghiên cứu của Viện tâm thần của Collège royal de Londres đã phân tích các dữ kiện liên hệ đến ngày sinh tháng đẻ của 1,3 triệu người Thụy Điển được sinh ra đời từ năm 1973 đến 1985 và đã tìm kiếm trong nhóm này, những người mà chẩn đoán bệnh tâm thần được xác lập ở tuổi trưởng thành (10.523 người).
Các kết quả, được công bố trong The Archives of General Psychiatry ngày 1 /6/2012, lần đầu tiên phát hiện một mối liên hệ giữa tình trạng sinh non và bệnh tâm thần : những người sinh rất non tháng (trước 32 tuần thai nghén) có 3 lần nguy cơ bị nhập viện vì một rối loạn tâm thần sau 16 tuổi hơn là những người sinh đủ tháng (giữa 37 và 41 tuần thai nghén).
Đặc biệt, cuộc điều tra phát hiện rằng những người sinh rất non tháng có 2,5 lần nhiều hơn nguy cơ bị một loạn tâm thần khi ở lứa tuổi thanh niên, có 3 lần nguy cơ nhiều hơn bị trầm cảm và 7,4 lần nhiều hơn nguy cơ là nạn nhân của một rối loạn lưỡng cực, so với những người sinh đủ tháng. Không có một mối liên hệ rõ rệt lắm đã được phát hiện giữa tình trạng sinh non và những rối loạn về hành vi ăn uống, chứng nghiện rượu hay nghiện ma túy.
Công cuộc điều tra này cũng đã xét đến tình trạng sức khỏe của người mẹ, trình độ xã hội kinh tế, nhưng điều đó đã không hề làm thay đổi những kết quả. Sau cùng cần ghi nhận rằng nguy cơ giảm với thời gian thai nghén : nguy cơ nhập viện khoa tâm thần khoảng 6 đối với 1000 trẻ em sinh trước 32 tuần, 4 đối với 1000 trẻ em sinh trước 36 tuần và 2 đối với 1000 trẻ sinh đủ tháng. “ Chúng tôi đã tìm thấy một mối liên hệ vững chắc giữa tình trạng sinh non và vài bệnh tâm thần, BS Chiara Nosarti (Collège royal de Londres) đã xác nhận như vậy. Chúng tôi nghĩ rằng sự gia tăng nguy cơ bị những rối loạn tâm thần ở những người sinh rất non tháng có thể được giải thích bởi những biến đổi của sự phát triển não bộ. Hệ thần kinh không thành thục ở những trẻ sinh non tháng đặc biệt dễ bị chấn thương do những biến chứng của sinh đẻ. ” Mặc dầu nguy cơ liên kết với tình trạng sinh non may mắn thay vẫn còn thấp.
Tuy nhiên, những công trình như thế phải khiến ta cần cảnh giác hơn để làm giảm tối đa nguy cơ sinh non tháng. Hiện nay, ở Pháp, gần 7% các trẻ em sinh trước 37 tuần thai nghén, 1,5% là những trẻ sinh rất non tháng (grand prématuré).
(LE FIGARO 13/6/2012)

4/ RUN KHÔNG RÕ NGUYÊN NHÂN : HƯỚNG DI TRUYỀN ĐƯỢC XÁC NHẬN
Rối loạn vận động này, đừng lẩn lộn với bệnh Parkinson, ảnh hưởng lên vài trăm ngàn người ở Pháp
NEUROLOGIE. Nếu bạn cột dây giày, viết, nói hay ngay cả cầm một ly nước khó khăn, đó không nhất thiết là bệnh Parkinson đang rình chờ bạn, mà là chứng run không rõ nguyên nhân (TE : tremblement essentiel). Rối loạn vận động hàng đầu ở người trưởng thành, chứng run không rõ nguyên nhân gây bệnh cho từ 300.000 đến 600.000 người ở Pháp, GS Azulay, trưởng khoa các bệnh lý ver cử động ở bệnh viện Timone, Marseille đã đánh giá như vậy.
Chứng run này xảy ra ở các chi trên và mặt, với một tần số quan trọng (đến 12 Hertz) và xuất hiện khi bệnh nhân hoạt động. Tại sao gọi là essentiel ? Bởi vì nguồn gốc của chứng run này không được xác định một cách rõ ràng. Từ nhiều thập niên, các nhà nghiên cứu không nhất trí được về chủ đề này.
Gần đây nhất, một kíp nghiên cứu người Canada đã nghiên cứu vấn đề và công bố là đã khám phá một gène có thể sinh ra bệnh. Đối với GS Guy Rouleau, thuộc bệnh viện Sainte-Justine ở Montréal (Canada), đồng tác giả của công trình nghiên cứu được công bố trong American Journal of Human Genetics, vấn đề chính liên quan đến chẩn đoán.
Thật vậy, phải biết rằng chứng run có nhiều thể. Từ run sinh lý đơn thuần đến run của bệnh Parkinson, rồi chứng run không rõ nguyên nhân (tremblement essentiel) bí ẩn : các thầy thuốc đôi khi không hiểu tí gì về việc đó. Mặt khác, chứng run không rõ nguyên nhân này cũng gây bệnh cho các thiếu niên, bắt đầu từ 15 tuổi. Cho mãi đến hôm nay, nhiều công trình nghiên cứu đã gợi ý một nguồn gốc di truyền, nhưng giả thuyết không được sự nhất trí của những nhà khoa học. Kip nghiên cứu của GS Rouleau đã tìm ra một gène thủ phạm : FUS mà một biến dị được biết là nguyên nhân của bệnh Charcot.
Trong cái rối răm của các chẩn đoán này, khó mà khảo sát một quần thể lớn để loại bỏ những trường hợp run không rõ nguyên nhân giả hiệu. GS Rouleau đã quyết định theo dõi một gia đình trong khoảng 20 năm, trong đó 5 người bị chứng bệnh run không rõ nguyên nhân này ở một giai đoạn tiến triển. Sau khi đã thực hiện séquençage AND của những người này, nói một cách khác sau khi đã giải mã (décryptage) toàn bộ di sản di truyền (patrimonie génétique) của họ, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một biến thể duy nhất chung cho tất cả các thành viên : biến dị trên gène FUS.
NHẬN DIỆN MỘT GENE CHÍNH XÁC
Chiến thắng đối với các thầy thuốc ? Chưa phải. Bằng cách mở rộng nghiên cứu cho khoảng 200 cá thể tiềm tàng bị bệnh, họ đã nhận diện được hai biến thể mới, khác với biến thể đầu tiên ! Theo các nhà nghiên cứu, sự biến dị trên gène FUS chịu trách nhiệm những thể nặng nhất của bệnh, mặc dầu những kết quả vẫn cần phải được xác nhận. Đối với GS Azulay, mặc dầu công trình nghiên cứu đang còn ở giai đoạn sơ khởi, nhung nó có công nhận diện một gène chính xác, trong khi trong quá khứ không có một gène nào đã được nhận diện.
Hiện có những điều trị khác nhau. Ở Pháp hiện có hai loại thuốc để sử dụng, một là thuốc chống động kinh và một là thuốc chẹn beta (betabloquant), làm giảm 30 đến 40% các rối loạn nhưng các thuốc này đôi khi bệnh nhân không chịu được. Đối với những trường hợp nặng nhất, ngoại thần kinh cho phép đưa những điện cực vào trong một phần của não bộ : vùng đồi thị (thalamus). Các xung động với một tần số rất cao cho phép ức chế những triệu chứng run. Ở Marseille, bệnh viện Timone là bệnh viện duy nhất ở Pháp đề nghị một phương pháp ít xâm nhập hơn.
(LE FIGARO 14/8/2012)
Đọc thêm Thời Sự Y Học số 268

5/ CẦU NGUYỆN ? MỘT VŨ KHÍ CHỐNG LẠI BỆNH ALZHEIMER
Cầu nguyện đều đặn làm giảm 50% nguy cơ bị bệnh, theo một nghiên cứu ở Israel.
NEUROLOGIE. Cầu nguyện chống lại bệnh Alzheimer không chỉ là một lòng tin, mà còn có thể là một động tác điều trị. Theo một công trình nghiên cứu được tiến hành phối hợp ở Israel và Hoa Kỳ, với sự tài trợ của Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ, cầu nguyện là một antidote rất hiệu quả cho phép làm giảm, ở các phụ nữ, một nửa những nguy cơ mắc phải bệnh Alzheimer hay là nạn nhân của những trường hợp mất trí nhớ hay sa sút trí tuệ “ nhẹ ”. Công trình nghiên cứu được phát động vào năm 2003 trên một nhóm 892 người Á rập gốc Israel tuổi hơn 65, mới đây đã được trình bày nhân một hội nghị chuyên đề về bệnh Alzheimer ở Israel.
GS Rivka Inzeberg thuộc đại học Y khoa Tel-Aviv, đã giám sát cuộc điều tra, đã xác nhận với nhật báo Haaretz, “ rằng, trong nhóm người được chọn lựa, 60% các phụ nữ cầu nguyện 5 lần mỗi ngày (như phong tục hồi giáo chủ trương), trong khi 40% chỉ cầu nguyện một cách không đều đặn ”. Chúng tôi đã chứng thực, 10 năm sau khi bắt đầu công trình nghiên cứu, rằng các phụ nữ hành đạo thuộc nhóm thứ nhất (những phụ nữ đã cầu nguyện 5 lần mỗi ngày) có 50% nguy cơ ít hơn phát triển những vấn đề về trí nhớ hay bệnh Alzheimer so với những phụ nữ thuộc nhóm thứ hai ”, nhà chuyên gia đã thêm vào như vậy. Theo công trình nghiên cứu, cầu nguyện cũng có một ảnh hưởng hai lần quan trọng hơn giáo dục để bảo vệ các phụ nữ chống lại quá trình thoái hóa não bộ này.
“ Cầu nguyện là một tập quán cần một sự đầu tư của tư duy, có lẽ chính hoạt động trí tuệ liên kết với sự cầu nguyện có thể tạo nên một yếu tố bảo vệ làm chậm lại sự phát triển của bệnh Alzheimer ”, GS Rivka Inzelberg đã nói thêm như vậy. Những trắc nghiệm đã không được thực hiện trong số những người thuộc nhóm này vì lẽ tỷ lệ những người không cầu nguyện chỉ 10%, một tỷ lệ không đủ, đứng trên quan điểm thống kê, để dẫn đến những kết luận đáng tin cậy. Cuộc điều tra cũng đã cho phép xác nhận xác suất bị bệnh Alzheimer ở phụ nữ hai lần quan trọng hơn so với đàn ông.
Trong số những yêu tố nguy cơ khác khiến có những biểu hiện của một sa sút trí tuệ thuộc loại Alzheimer, các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy trong công trình nghiên cứu này cao huyết áp, bệnh đái đường, sự thặng dư mỡ trong máu và toàn bỏ hơn những tiền sử bệnh tim mạch.
NHỮNG LỢI ÍCH CỦA QUẾ
Chi tiết quan trọng, những kết luận này không phải là những kết luận đầu tiên xác lập mối liên hệ giữa những thực hành tôn giáo hay tinh thần và sức khỏe. Vào năm 2005, những nghiên cứu được thực hiện ở Israel đã cho phép chứng thực rằng những hoạt động tinh thần có khuynh hướng làm chậm quá trình phụ thuộc gây nên bởi bệnh Alzheimer. Một công trình nghiên cứu khác, được tiến hành v ề một chủ đề khác, cũng ở Israel, đã kết luận rằng tỷ lệ tử vong trong số các trẻ em thấp hơn trong những cộng đồng rất hành đạo so với dân thế tục.
Ngoài ra, GS Michael Ovadia, thuộc đại học Tel Aviv, mới đây đã thành công phân lập một chất trích từ quế có tác dụng kềm hãm sự phát triển của bệnh Alzheimer. Ưu điểm rõ rệt là quế không phải là một loại thuốc, mà là một sản phẩm tự nhiên không có một tác dụng phụ nào, GS Ovadia đã xác nhận như vậy. Những thí nghiệm đã được tiến hành trên chuột. Tuy nhiên vào luc này chưa có thể sản xuat ở quy mô lớn thuốc có những vertus curatives. Chỉ có điều chắc chắn, thị trường là to lớn với 70.000 người bị bệnh Alzheimer ở Israel và hơn 20 triệu trên thế giới, theo những con số của Tổ chức y tế thế giới. Ở Pháp bệnh ảnh hưởng lên 850.000 người. Những chiến lược phòng ngừa, dựa trên sự thực hành những hoạt động trí tuệ, trên mối liên hệ xã hội và thể dục, không được quên lãng.
(LE FIGARO 27/7/2012)

6/ BỆNH ALZHEIMER : BẢO VỆ BẰNG CAFEINE ?
Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ đã được tiến hành trong 4 năm bởi kíp của BS Cao Chuanhai (đại học Năm Florida) ở 124 bệnh nhân từ 65 đến 88 tuổi, tất cả đều bị những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) khởi đầu, với nguy cơ cao bị bệnh Alzheimer.
Những kết quả được công bố trong New England Journal of Medicine đã cho thấy rằng những người có nồng độ caféine trong máu trên 12000 mg/ml (tương ứng với nhiều tách cà phê được uống mỗi ngày trong vài giờ) đã không phát triển bệnh vào cuối nghiên cứu, trong khi phần lớn các bệnh nhân bị bệnh Alzheimer có một nồng độ caféine dưới 1200 mg. Thế mà nồng độ này càng thấp thì nguy cơ xuất hiện bệnh Alzheimer càng gia tăng. Nhưng BS Cao nghĩ rằng, ngay cả với những liều vừa phải (3 tách cà phê mỗi ngày) cà phê sẽ mang lại một sự bảo vệ đáng kể. Trong một công trình nghiên cứu trước đây ở chuột, kíp nghiên cứu của ông đã khám phá rằng caféine kích thích một yếu tố tăng trưởng, yếu tố này làm chậm hay ngay cả phong bế quá trình thoái hóa của các neurone.
(PARIS MATCH 2/8 – 8/8/2012)

7/ ADENOME DE LA PROSTATE : MỘT LASER MỚI CHO MỘT INTERVENTION SUR MESURE
GS Bertrand Lukacs, thầy thuốc niệu khoa chuyên về các rối loạn tiểu tiện ở đàn ông của bệnh viện Tenon (Paris), trình bày những hiệu năng của kỹ thuật vi xâm nhập mới nhất bằng photo-vaporisation.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những bất thường đặc trưng các bệnh adénome prostate (u phì đại lành tính tuyến tiền liệt), ở Pháp gây bệnh cho hơn 1 triệu người đàn ông sau 50 tuổi ?
GS Bertrand Lukacs : Trước hết tôi phải xác nhận rằng đó không phải là một ung thư, nhưng là một u hiện tính nằm ở tuyến tiền liệt. Đạt đến một thể tích nào đó, adénome gây tắc nghẽn ống niệu đạo và gây nên những triệu chứng đường tiểu khó chịu. Trong những trường hợp nghiêm trọng, adénome này có thể gây nên hai loại biến chứng. 1. Một blocage rất đau đớn (bí tiểu cấp tính) cần đặt một ống thông cấp cứu để tháo nước tiểu bàng quang. 2. Một sự giãn của bàng quang và các niệu quản, có nguy cơ gây suy thận.
Hỏi : Từ những năm qua, những điều trị quy ước vẫn còn được thực hiện là gì ?
GS Bertrand Lukacs : Ở những bệnh nhân chỉ có duy nhất những triệu chứng không biến chứng, ta bắt đầu kê đơn những loại thuốc như alpha-bloquant. Nhung nếu họ vẫn khó chịu hay trong những thể biến chứng, khi đó ta đề nghị một phẫu thuật ngoại khoa (70.000 lần mổ ở Pháp vào năm 2011). Đối với adénome có kích thước nhỏ hay trung bình (dưới 80 g), ta thực hiện một can thiệp cắt bỏ (résection) bằng những đường tự nhiên : thầy thuốc niệu khoa bào tuyến tiền liệt bằng một anse électrique để làm giảm thể tích. Đối với những adénome có thể tích quan trọng hơn, thái độ quy ước là một ngoại khoa cổ điển với mở bụng dưới. Vì tiền liệt tuyên được cung cấp rất nhiều mạch máu, nên những xuất huyết hậu phẫu buộc phải giữ một ống thông tiểu nhiều ngày, điều này giải thích một thời gian nhập viện vẫn rất cao : trung bình, 5 ngày đối với một can thiệp bằng đường tự nhiên, 10 ngày đối với một ngoại khoa mở (chirurgie ouverte). Hai kỹ thuật này có những kết quả tốt trên tiểu tiện nhưng rất thường gây nên những rối loạn phóng tinh.
Hỏi : Điều trị bằng laser đã xuất hiện vào năm nào ?
GS Bertrand Lukacs : Vào năm 1995, một laser đầu tiên được gọi là Holmium đã được hiệu chính để thay thế sự can thiệp bằng quai điện (anse électrique). Tia laser này, bistouri à photons, có ưu điểm làm giảm sự xuất huyết trong khi can thiệp. Nhưng việc sử dụng laser vẫn khó khăn và kỹ thuật không cho phép làm giảm những rối loạn phòng tính.
Hỏi : Tiến bộ mới nhất có từ khi nào và là gì ?
GS Bertrand Lukacs : Không chỉ có một laser mà nhiều loại laser và mỗi chùm laser, do những đặc điểm riêng, độ dài sóng, sức mạnh, đường kính, sẽ có một tác dụng khác nhau lên các mô. Laser mới nhất đến trên thị trường, “ green light ”, phát ra một tia màu lục, không cắt, nhưng làm bốc hơi (vaporiser) các tế bào, do đó có tên gọi của kỹ thuật : photovaporisation. Bởi vì sự phát xạ của tia laser này đi vào sâu hơn trong các mô, do đó nó có một khả năng làm đông máu còn tốt hơn. Vậy một nguy cơ gây xuất huyết ít hơn, điều này cho phép một thời gian nhập viện ngắn hơn.
Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của “ green light ” là gì ?
GS Bertrand Lukacs : 1. hệ thống photo-vaporisation này cho phép mổ những bệnh nhân già, tình trạng sức khỏe mỏng manh hơn hay đang được điều trị bằng những thuốc chống đông. 2. Thời gian nhập viện ngắn hơn nhiều : một đến hai ngày đối với những adénome to lớn và một ngày (ngoại trú) đối với những adénome khác. 3. Bằng một découpe “ sur mesure ”, nó cho phép làm giảm nguy cơ bị những rối loạn phóng tinh.
Hỏi : Về lâu về dài những kết quả là gi ?
GS Bertrand Lukacs : Một công trình nghiên cứu của Pháp được thực hiện trên 139 bệnh nhân và được công bố trong “ European Urology ” đã so sánh kỹ thuật mới này với kỹ thuật cắt bỏ (technique de résection) : thời gian nhập viện ngắn hơn nhiều với những kết quả cơ năng tương đương sau một năm nhìn lại. Một công trình nghiên cứu khác của Đức, được công bố mới đây trong cùng tạp chí khoa học, cho thấy rằng “ green light ” cũng có thể được sử dụng đối với những adénome to lớn.
Hỏi : Ở Pháp, ở đâu ta có thể hưởng được kỹ thuật mới nhất này ?
GS Bertrand Lukacs : Trong tất cả các trung tâm đã tham dự vào công trình nghiên cứu, nhất là trong CHU de Tours, de Nice, de Lyon, ở CHU de Pontoise, và trong trung tâm của chúng tôi ở bệnh viện Tenon…
(PARIS MATCH 17/5 – 25/5/2012)

8/ LÀM THẾ NÀO LÀM CHẬM LẠI SỰ LÃO HÓA CƠ ?
Chế độ ăn uống và hoạt động vật lý có thể kềm hãm quá trình lão hóa cơ .
PREVENTION. Cứ mãi tập trung vào mỡ, ta hầu như quên rằng một nửa cơ thể của chúng ta được cấu tạo bởi các cơ ! Tuy vậy, ngay ở lứa tuổi 40, con người bắt đầu mất cơ mà không nhận thức điều đó, đó là sarcopénie. Còn đáng ngạc nhiên hơn, cơ chế gia tốc một cách âm ỉ vào lứa tuổi 60.
“ Ta rất có thể có cảm tưởng bảo tồn một trọng lượng ổn định trong khi đó thành phần của cơ thể đã thay đổi, BS Christophe De Jaeger, tác giả của một cuốn sách mới đây về Le Muscle, le Sport et là Longévité, đã giải thích như vậy, nhưng trên thực tế, ta có ít cơ và nhiều mỡ hơn !. Thế mà mỡ là một yếu tố nguy cơ trong khi cơ là một yếu tố bảo vệ.” Là nhà nghiên cứu của Institut de myologie (Paris), BS Vincent Mouly nhắc lại rằng “ sự lão hóa cơ (viellissement musculaire) được đặc trưng bởi một sự mất thể tích, khối lượng và lực của các cơ. Ta gọi là tan cơ (fonte musculaire), như tan tuyết (fonte de neiges) vậy.
Để còn làm trầm trọng hơn sự việc, khi cao tuổi, cơ bất đầu hoạt động ít tốt hơn : “ Những tính chất co cơ bị biến đổi ”, GS Marc Bonne-foy, giáo sư lão khoa thuộc Hospices civils de Lyon (đại học Claude-Bernard) đã nhấn mạnh như vậy. Đó là sự lão hóa tế bào (vieillissement cellulaire) : “ Ở người có một đồng hồ nội tại (horloge interne) đếm những phân chia tế bào. Các tế bào càng phân chia, chúng càng kém hiệu quả ”, BS Mouly đã nhắc lại như vậy.
Một cơ chế mà các nhà khoa học không ngừng phân tích kỹ. Tháng vừa qua, các nhà nghiên cứu của đại học Californie đã giải thích trong tạp chí Chemistry & Biology làm sao họ đã thành công làm trẻ hóa các tế bào cơ bằng cách làm lùi lại đồng hồ nội tại này. Những cure de jouvence là tế nhị bởi vì nếu ta đi ngược lại quá xa trong thời gian tế bào, ta có nguy cơ làm bất tử hóa những tế bào này và gây nên ung thư.
Trên thực tế để giúp các cơ của chúng ta “ làm chậm lại ” quá trình lão hóa của chúng, điều đó đơn giản hơn và gồm có chế độ ăn uống và hoạt động vật lý. Với điều kiện không làm bất cứ điều gì ! Thí dụ thật vô ích vội vàng sử dụng các chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire) nhằm tăng sức các cơ, những chất này ngày càng chiếm đầy các ngăn của các hiệu thuốc. Mặc dầu các kết quả nghiên cứu đáng phấn khởi với vài acide aminé, nhưng ta còn thiếu các bằng cớ về tính hiệu quả ở những người già.
MẤT CÂN
“ Không có thứ bột màu nhiệm nào chống lại quá trình lão hóa ! Những chất bổ sung này không phải luôn luôn hữu ích và chúng chỉ được dùng với sự theo dõi y khoa, BS Mouly đã cảnh cáo như vậy. Ngược lại, điều thiết yếu là phải cung cấp đủ protéine. Ít nhất 1,2 g mỗi kilo thể trọng và mỗi ngày (hoặc 70g mỗi ngày nếu ta cân nặng 70kg) và với một cung cấp calo ít nhất 30kcal mỗi kilo thể trọng và mỗi ngày (2100 kcal/ngày nếu ta cân nặng 70kg), GS Bonnefoy đã nói rõ chi tiết như vậy. Thật vậy sự thiếu protéine có nguy cơ làm gia tốc sự mất cơ và sự thiếu calo gây nên gầy ốm. Nhưng, trừ lý do y khoa, một régime thường có nguy cơ sau 65 tuổi. Bởi vì khi đó việc làm gầy được thực hiện chủ yếu qua sự mất cơ chứ không phải qua sự mất khối lượng mỡ (masse grasse). Mất 1 kg ở tuổi 70, đó trước hết là mất 750 g cơ ! Ngược lại, có một chế độ ăn uống giàu đạm và năng lượng, liên kết với việc luyện tập thể dục, cải thiện sự chế tạo các cơ.” Ngoài ra, một sự mất cân ở một lão niên có thể là một “ fausse bonne nouvelle ” nếu sự mất cân này được thực hiện chủ yếu lên các cơ !
Nhờ một máy có khả năng đo lường một cách chính xác thành phần của cơ thể (DXA), BS Jaeger cho bệnh nhân thấy hiệu quả thật sự của hoạt động vật lý của mình không những lên khối lượng mỡ mà còn lên khối cơ : “ Ta khuyến nghị một cách đúng đắn hoạt động vật lý nửa giờ mỗi ngày, vị thầy thuốc đã ghi nhận như vậy, nhưng ta quên nói rằng phải thực hiện điều đó với cường độ thích đáng, nếu không điều đó chẳng ích lợi gì ! ”
Vì lẽ không bao giờ là quá muộn để làm điều tốt, từ nay ta biết rằng ngay những ông già 90 tuổi vẫn có thể lấy lại được một cách dài lâu khối lượng cơ với một chương trình luyện tập vật lý hợp lý. Điều lý tưởng là tiếp tục một môn thể thao thích ứng với tuổi tác và tình trạng sức khỏe của mình ngay những dấu hiệu đầu tiên của sarcopénie : “ Phải cần hơn 5 giây để đi 4 m của một hành lang là một dấu hiệu báo động ”, GS Bonnefoy đã ghi nhận như vậy. Đó là dấu hiệu chứng tỏ đã đến lúc phải hành động. “ Ngay cả hoạt động đôi khi có thể khó nhọc ở người già, Vincent Mouly đã kết luận như vậy, nhưng đó là cái giá phải trả để duy trì khả năng độc lập vật lý của mình.”
(LE FIGARO 10/10/2011)

9/ MỘT HỖ TRỢ TUẦN HOÀN MỚI : ĐỂ CẢI THIỆN TIÊN LƯỢNG SINH TỒN.
GS Christian Spaulding, thầy thuốc tim can thiệp (cardiologue interventionnel) thuộc hopital européen Georges- Pompidou, giải thích những ưu điểm của thủ thuật mới nhất này nhằm cứu sống những bệnh nhân trong tình huống gần như tuyệt vọng.
Hỏi : Những vấn đề tim nào thường cần nhất một hỗ trợ tuần hoàn (assistance circulatoire) ?
GS Christian Spaulding. Hai vấn đề thường xảy ra nhất : 1. Ở những bệnh nhân suy tim cấp tính. 2. Ở những bệnh nhân bị những di chứng của nhồi máu và sắp chịu một thủ thuật giãn động mạch vành có nguy cơ cao. Trong cả hai trường hợp, nếu không nhờ đến một sự hỗ trợ tuần hoàn, tử vong có thể xảy ra rất nhanh.
Hỏi : Cho đến nay, protocole của kỹ thuật hỗ trợ này là gì ?
GS Christian Spaulding. Đó là, trong một thời gian ngắn chừng nào có thể được, khai thông động mạch vành bị tắc nghẽn. Một course contre là montre thật sự ! Thầy thuốc tim can thiệp (cardiologue interventionnel) sử dụng một quả bóng nhỏ được gắn vào đầu của một cathéter và ông đưa vào qua động mạch đùi (ở vùng bẹn). Một khi đến được nơi hẹp, quả bóng được bơm phồng và tách các thành của huyết quản ra. Tiên lượng sinh tồn sẽ tùy thuộc vào mức độ nhanh chóng mà ta can thiệp sau tai biến. Tất cả enjeu là ở đó !
Hỏi : Một khi động mạch đã được khai thông, ta đặt hệ thống nào trong những trường hợp nghiêm trọng nhất ?
GS Christian Spaulding. Ta sẽ mổ để đặt một máy hỗ trợ tuần hoàn nhằm thay thế tim, từ vài giờ đến vài ngày tùy theo trường hợp, để cơ quan vẫn được vascularisé.
Hỏi : Nhìn toàn bộ, những kết quả mà ông thu được với điều trị này là gì ?
GS Christian Spaulding. Bất hạnh thay, điều trị không luôn luôn có hiệu quả, nhưng nó đã cho phép cứu được rất nhiều bệnh nhân trong những tình huống có vẻ tuyệt vọng !
Hỏi : Tại sao phải tìm cách hiệu chính một loại hỗ trợ tuần hoàn mới ?
GS Christian Spaulding. Bởi vì kỹ thuật quy ước nặng nề này có những bất tiện. 1. Bởi vì nó cần một phẫu thuật viên để đặt máy nên thường phải chuyển bệnh nhân từ khoa quang tuyến đến phòng mổ. Điều này làm mất thời gian. Mặt khác, trong những trường hợp cấp cứu, thầy thuốc ngoại khoa không có sẵn ngay.2. Trong hồi sức, việc sử dụng máy không thực tiễn : máy cần sự hiện diện của một kíp chuyên môn để theo dõi sự hoạt động tốt của máy được đặt. 3. Vết sẹo ở bẹn có thể là nguồn gốc của những biến chứng.
Hỏi : Hệ thống hỗ trợ tuần hoàn mới hoạt động như thế nào ?
GS Christian Spaulding. Hệ thống hỗ trợ này luôn luôn có tác dụng bổ sung một thủ thuật nong động mạch vành. Người thầy thuốc thực hành đưa vào trong động mạch đùi một cathéter được trang bị ở đầu mút một turbine. Một khi đi đến tim, turbine này sẽ hút máu khỏi tim và thải nó vào tuần hoàn máu của cơ thể, như thế cơ thể, sẽ được cấp máu tốt. Turbine được để tại chỗ vài ngày cho đến khi tím có thể phục hồi một chức năng bình thường.
Hỏi : Thật ra, những ưu điểm của tiến bộ này là gì ?
GS Christian Spaulding. 1. Hệ thống này dễ đặt, không cần sự can thiệp của nhà phẫu thuật. 2. Ta lợi được thời gian : loại máy mới này có thể đặt trong 15 phút bởi một thầy thuốc tim có kinh nghiệm. 3. Sự theo dõi, rất đơn giản, không đòi hỏi sự hiện diện của một kíp chuyên môn. 4. Ta làm giảm những nguy cơ bị các biến chứng tại chỗ như nhiễm trùng. Ta có thể so sánh sự khác nhau của hai kỹ thuật với sự khác nhau giữa một xe hơi được điều khiển bằng tay và một xe hơi khác lái tự động.
Hỏi : Thời gian nhìn lại với hệ thống vi xâm nhập này ?
GS Christian Spaulding. Những công trình nghiên cứu quốc tế, được thực hiện trên hàng trăm bệnh nhân, mới đây đã được trình bày ở American College of Cardiology. Các kết quả đã chứng minh một tính hiệu quả rất tốt của hệ thống này nhằm duy trì một sự tưới máu đúng đắn trong khi turbine hoạt động. Những công trình nghiên cứu quy mô lớn hơn đang được thực hiện cho một sự theo dõi về lâu về dài.
Hỏi : Trong những trung tâm nào ta có thể nhận được kỹ thuật cải tiến này nhằm góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân hơn ?
GS Christian Spaulding. Trong những trung tâm tim học có một cấu trúc hạ tầng gồm một kíp tim học can thiệp (cardiologie interventionnelle) có kinh nghiệm, một khoa hồi sức cho phép một sự theo dõi các bệnh nhân, một khoa ngoại tim để có thể can thiệp trong trường hợp thất bại.
(PARIS MATCH 5/7 – 11/7/2012)

10/ CHẤT NHUỘM MÀU TRONG NƯỚC UỐNG COLA CÓ GÂY UNG THƯ KHÔNG ?
DIRECTEUR DE RECHERCHE
Claude Lambré
Vice-président du comité d’experts en charge
de la réévaluation des additifs à l’Autorité
européenne de sécurité alimentaire (EFSA)

Các nước uống có cola chứa những chất phụ gia (additifs alimentaires) nhằm mang lại cho chúng những đặc điểm khác nhau về vị giác, kết cấu, tính ổn định, màu sắc. Màu của nước uống này nói chung là do sự hiện diện của một chất nhuộm màu caramel.
Những tên gọi của chất nhuộm màu caramel bao trùm 4 classe chất nhuộm màu được nhận diện như là E 150a, E150b, E150c và E150d. Vì lý đó có sắc màu đậm, E150c v E150d, đặc biệt được sử dụng trong những nước uống có cola nhưng cũng có thể hiện diện trong nhiều thực phẩm như bia, sauce, nhấm, kem và các dessert… Hai classe caramel này cần những điều kiện chế tạo đặc biệt (nhiệt độ, các hợp chất được sử dụng ngoài đường ra,…), là nguồn gốc của sự xuất hiện một chất bẩn, 4 méthylimidazole hay 4 –MEI, hiện diện trong thành phẩm.
NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Những vụ kiện đã được tiến hành mới đây ở Hoa Kỳ về chất này này bởi vì những công trình nghiên cứu thí nghiệm được tiến hành ở động vật đã cho thấy rằng chất này nó có thể gây ung thư.
Trong khung cảnh Chương trình Độc chất học Quốc gia, những công trình nghiên cứu đã báo cáo rằng 4-MEI không có một tác dụng gây ung thư nào ở các con chuột đực nhưng rằng với liều mạnh, nó có thể làm gia tăng vài loại ung thư ở chuột cái và ở những con chuột thuộc hai giới tính. Tuy nhiên, phân tích những dữ kiện này không cho phép kết luận một tác dụng sinh ung thư chắc chắn đối với động vật.Ngoài ra, 4-MEI được gọi là không độc cho gène (non génotoxique), nghĩa là nó không có khả năng làm biến đổi một cách trực tiếp di sản di truyền (patrimoine génétique). Từ sự kiện này, nhóm khoa học về những những chất phụ gia (additifs alimentaires) của Autorité européenne de sécurité alimentaire đã kết luận rằng có thể xác định một liều lượng không gây độc (80mg/kg thể trọng mỗi ngày), là liều của một chất ta có thể tiếp xúc mà tính chất gây ung thư của nó không được biểu hiện.
Ngoài các nghiên cứu về phân tử 4-MEI, những công trình nghiên cứu về sự sinh ung thư cũng đã được tiến hành với các phẩm caramel chứa 4-MEI , ở chuột và chuột nhắt (E150 c) và chuột nhắt (E 150d). Tất cả đều âm tính, ngay cả với những liều lượng cao hơn được sử dụng trong những thử nghiệm này. Trong phương pháp học được gọi là đánh giá các nguy cơ (méthodologie d’évaluation des risques), ở đây được áp dụng cho chất nhuộm màu caramel, một liều lượng mỗi ngày có thể chấp nhận được (DJA : dose journalière admissible) được ấn định, đối với một chất, từ những dữ kiện của độc chất học thực nghiệm. Sự tiêu thụ hàng ngày của sản phẩm sau đó được đánh giá và nó không được vượt quá DJA. Căn cứ trên sự đánh giá thuộc loại này, được thực hiện vào năm 2011 bởi EFSA về chất nhuộm màu caramel, ta có thể kết luận rằng các dữ kiện hiện nay cho thấy rằng một sự tiêu thụ hợp lý các nước uống có cola không bị liên kết với một nguy cơ gây ung thư do sự hiện diện của 4-MEI được chứa trong caramel được sử dụng để nhuộm màu các nước uống này.
Tuy vậy sự hiện diện của những chất bẩn như 4-MEI không được mong muốn trong một chất nhuộm màu thực phẩm như caramel. Các phương thức chế tạo phải đảm bảo rằng sự hiện diện của những chất bẩn này phải được giảm chừng nào có thể được trong thành phẩm được thêm vào các thức ăn.
(LE FIGARO 25/6/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/8/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 278 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 502 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 592 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s