Thời sự y học số 277 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ ĐIỂM G SAU CÙNG ĐƯỢC XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ.
SEXUALITE. Một giải phẫu tử thi phát hiện những bí mật của cơ quan mang lại khoái lạc này.

                                                Những điểm chủ yếu     

      – Điểm G có phải là một vùng của âm đạo hay là một cơ quan riêng biệt phản ứng lại với kích thích ?
      – Những kết quả của một giải phẫu tử thi ủng hộ giả thuyết về một tuyến tiền liệt phụ nữ (prostate féminine).
      – Đối với chuyên viên sexologie Esther Hirch, sự khám phá này xác nhận sự cần thiết phải tiếp tục thăm dò những khả năng cảm nhận khoái lạc của chúng ta.

Sau cùng ta đã tìm ra điềm G ! Tầm quan trọng trong sự kích thích tính dục (excitation sexuelle) của phần trước và trên này của âm đạo mặc dầu được xác nhận bởi những lời chứng phụ nữ từ nhiều thập niên và mặc dầu các chuyên gia tình dục học (sexologue) xem là điều được khẳng định. Nhưng phần lớn các chuyên gia vẫn còn gặp phải sự chống đối về sự hiện hữu cơ thể học của điểm G này ở vài “ người không tin ”.
Lần đầu tiên vào năm 1950, sự hiện hữu của điểm G đã được đề xuất bởi BS Ernest Grafenberg, vì vậy điểm G mang chữ đầu của tên ông. Ông xác định nó như là một vùng kích dục (zone érogène) cực kỳ nhạy cảm, cho phép có được một sự kích thích tình dục lớn và một khoái lạc mạnh khi bị kích thích, điều này làm gia tăng thể tích của nó.
Ngày nay, không còn nghi ngờ gì nữa về sự hiện hữu của điểm G sau khi một bài báo quy chiếu đưa ra những kết quả của một cuộc phẫu tích tử thi còn tươi, được công bố trong ấn bản vừa qua của “ The Journal of sexual medicine ”.
BS Adam Ostrzenski, thuộc Institut de gynécologie de St-Petersbourg (Florida), đã phát hiện cơ quan này, mà ông mô tả là có dạng hình thang : với chiều cao 8 mm và chiều rộng thay đổi từ 3,6 đến 1,5 mm và chiều sâu 0,4 mm. Ở phụ nữ này, cơ quan mà vị thầy thuốc nhấn mạnh rằng các mô tương tự với các mô cương (tissu érectile), nằm cách niệu đạo 16 mm, và tạo một góc 35 độ với ống thoát tiểu.
“ Khi tôi mở cơ quan có dạng chiếc túi nhỏ này, khi đó xuất hiện một tổ chức mô với dạng vẻ chùm nho. Cuối phần sâu nhất, một cấu trúc có hình dạng một sợi thừng đi sâu vào các mô lân cận, như thế ủng hộ lý thuyết cho rằng thật vậy điểm G được cấu tạo bởi các mô rất giàu những sợi nối kết nhau. Vài nhà khoa học đã cho rằng điểm G chỉ là một cách để chỉ một loạt các tuyến Skene (các tuyến Skene là những tuyến nằm khuếch tán dọc theo niệu đạo và chịu trách nhiệm sự phóng tinh phụ nữ (éjaculation féminine). Trái lại công trình nghiên cứu này cho thấy rằng đó là một cơ quan riêng biệt, được nối kết mạnh qua các dây thần kinh với phần còn lại của các cơ quan sinh dục của phụ nữ và ủng hộ giả thuyết về sự hiện hữu của một loại tuyến tiền liệt nữ (prostate féminine), Adam Ostrzenski đã giải thích như vậy.
“ KHOÁI LẠC VẪN LÀ MỘT LỤC ĐỊA CẦN THĂM DÒ
Thật ra, trước đây vẫn còn ít nghi ngờ về sự hiện hữu của một vùng nhạy cảm trong phần này của cơ thể. Chỉ vào năm 1981 mà người ta đã phát hiện sự hiện hữu của một khoái lạc cực độ chỉ riêng cho âm đạo (orgasme vaginal), gây nên do sự đưa vào một dương vật hay những ngón tay. Trước đó, những sexologue như Alfred Kinsey nổi tiếng chỉ tin vào sự hiện hữu của một khoái lạc cực độ chỉ riêng cho âm vật (orgasme clitorien), BS Esther Hirch, sexologue thuộc bệnh viện đại học Erasme (ULB, Bỉ) đã giải thích như vậy. « Sự xác nhận này bằng một giải phẫu tử thi minh họa đặc biệt tính đa dạng cơ thể học của các phụ nữ và nhiều cách gây khoái lạc khác nhau. Phần lớn các phụ nữ chỉ biết biết một khoái lạc cực độ âm vật (orgasme clitorien) và đôi khi cũng cảm nhận khoái lạc khi dương vật được đưa vào, trong khi đó một số ít hơn dường như kinh qua khoái lạc cực độ âm đạo (orgasme vaginal). Nhưng có lẽ, một cách đáng ngạc nhiên, vài phụ nữ khám phá khoái lạc cực độ âm đạo khá muộn, khoảng 35 hay 40 tuổi. Vài phụ nữ sẽ cũng khám phá khoái lạc cực độ âm đạo với một người phối ngẫu khác, trong khi một người khác không bao giờ kích thích vùng chính xác này của cơ thể và sẽ không gây nên phản ứng kích thích hay khoái lạc. Khi ta làm tình, ta có hai người và sinh lý những người phối ngẫu có thể ảnh hưởng vào, cũng như cách thực hành của họ.
Đối với nữ chuyên gia, sự khám phá cơ thể học này chủ yếu cho phép nhấn mạnh rằng ta còn biết rất ít về khoái lạc cực độ phụ nữ. “ Não bộ của chúng ta là tuyến sinh dục thật sự và tính kích dục (érotisme) được nuôi dưỡng bằng cõi vô thức của chúng ta. Những fantasmes nocturnes mang lại một cơn kích dục một phần và không hoàn toàn cho cõi vô thức của chúng ta. Có thể có sự dị biệt giữa thực tế cơ thể học tình trạng vô thức. Thí dụ một phụ nữ với fantasme có những khoái lạc cực độ âm vật, có thể chỉ đạt được khoái lạc khi khi dương vật được đưa vào. Hay ngược lại. Chúng ta không giống nhau trước tình dục ”, BS Esther Hirch đã khẳng định như thế.
“ MỘT KHÔNG GIAN CẦN PHÁT TRIỂN ”
Đối với nữ chuyên gia, tính chất đa dạng của các khoái lạc cực độ là lớn : Vài phụ nữ sẽ cảm thấy khi thì khoái lạc âm vật khi thì khoái lạc âm đạo. Chúng không chống đối nhau và không loại trừ nhau. Cũng vậy, sự việc không cảm thấy loại khoái lạc này hay loại khoái lạc kia không có nghĩa là một phụ nữ không được hoàn toàn hay bị bất lực. Hiển nhiên mặc dầu sự vắng mặt hoàn toàn khoái lạc có thể biểu hiện một vấn đề. Nếu ta đứng trước những hạn chế trong khoái lạc, hãy uyển chuyển những giới hạn của mình có thể là một cách để tìm ra một con đường hướng về khoái lạc. Vaginalité có thể được phát triển và điểm G có một vị trí quan trọng. Đó cũng là một espace để tập trung vào điều được cảm nhận nội tại. Đối với BS Esther Hirch, sexualité và các con đường khoái lạc vẫn còn là những lục địa cần thăm dò : “ Thí dụ có ai bao giờ đã giải thích tại sao, sau khi đạt được khoái lạc, người đàn ông trải qua một giai đoạn đề kháng (phase réfractaire), không có thể cảm nhận ngay một khoái lạc khác, trong khi đó người đàn bà hoàn toàn có khả năng cảm nhận nhiều khoái lạc cực độ. ”
(LE SOIR 9/5/2012)

2/ CHÂM CỨU HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI VIÊM PHẾ QUẢN MÃN TÍNH
Ở Pháp, 3 triệu người bị chứng bệnh rất gây phế tật này, 80% các trường hợp do thuốc lá.
PNEUMOLOGIE. Thật đáng ngạc nhiên Đó là chữ thường được lặp lại khi ta trình bày cho các thầy thuốc chuyên khoa phổi những kết quả của công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các đồng nghiệp của họ ở các đại học y khoa Tokyo, Kyoto và Osaka (Nhật bản). GS Masao Suzuki và các đồng nghiệp đã phân chia một cách không chủ ý, thành hai nhóm 34 người mỗi nhóm, những bệnh nhân bị viêm phế quản mãn tính (BPCO giai đoạn 2,3 hay 4) và được điều trị vì chứng bệnh này. Trong 12 tuần lễ thử nghiệm, nhóm thứ nhất nhận được một buổi châm cứu mỗi tuần, trên 20 huyệt được xác định một cách chính xác trong protocole nghiên cứu. Nhóm kia được hưởng những buổi châm cứu giả bởi vì các kim châm không được ấn vào trong da.
Thật vậy, theo y học Trung Hoa, nguyên tắc của châm cứu nhằm giải thoát năng lượng sinh tử lưu thông trong cơ thể bị phong bế. Năng lượng đi theo các lộ trình, những đường kinh (méridien) và những đường kinh này phần lớn đi qua các cơ quan như phổi. Những ý niệm mất quân bình (khô hay ấm, lạnh hay nóng, rỗng hay thái quá), nguyên nhân của các bệnh tật, theo những nền tảng của châm cứu không bao trùng hợp với những ý niệm Tây Phương. Ngoài ra, không có một chữ nào về viêm phế quản mãn tính với tính cách là thực thể bệnh lý được đề cập đến trong 1600 trang của cuốn sách quy chiếu, La Pratique de la médecine chinoise, của Giovanni Maciocia (éditions Elsevier Masson), được xuất bản năm vừa rồi.
Mặc dầu tất cả những kết quả đều thuận lợi cho châm cứu, nhưng chúng vẫn gây bối rối cho các môn đồ của y học tây phương cổ điển, GS Nicolas Roche, thầy thuốc chuyên khoa phổi của bệnh viện Hôtel-Dieu (Paris), trong công trình nghiên cứu được công bố ngày 11 tháng sáu trong tạp chí Archives of Internal Medicine, đã giải thích như vậy. Trong những trắc nghiệm bước, những bệnh nhân sau khi đã nhận châm cứu thật sự ít khó thở hơn (ít hơn 3,5 điểm trên thang điểm gồm 10 điểm đánh giá khó thở), đi một đoạn đường dài hơn trong 6 phút (trung bình thêm 80 m, cơ bản khoảng 400 m) và ngay cả có một oxygénation tốt hơn.
Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã áp dụng tất cả những biện pháp thận trọng để cho sự đánh giá những hiệu quả của châm cứu nghiêm túc chừng nào có thể được. Điều này được nhấn mạnh bởi GS Alain Didier, thầy thuốc chuyên khoa phổi của CHU de Toulouse và chủ tịch của Société de pneumologie de langue française : “ Điều này rất là quan trọng bởi vì rất khó mà có một hiệu quả placebo thật sự (tác dụng có lợi vì bệnh nhân tin là mình đã nhận một điều trị trong khi đó là điều trị giả) với châm cứu. Các bệnh nhân nhận thức điều đó. ”
MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÂN ĐƯỢC XÁC NHẬN
Thật vậy, trong công trình nghiên cứu Nhật bản, các bệnh nhân theo những buổi châm cứu giả đã mô tả những cảm giác khác nhau khi được kích thích giả vào các huyệt. Lý tưởng là chọn những bệnh nhân đã không bao giờ được châm cứu, nhưng thực hành này lại rất phổ biến ở Nhật Bản. Một hạn chế của công trình nghiên cứu đối với GS Didier. “ Ta sẽ có cùng những kết quả ở dân châu Âu không ? ” ông tự hỏi như vậy.
Những tác dụng có lợi dẫu sao trực tiếp được cảm nhận bởi các bệnh nhân được châm cứu. “ Chất lượng sống của họ được cải thiện một cách rất đáng kể, cũng như tình trạng dinh dưỡng, biên độ của các cử động lồng ngực giữa thở vào và thở ra, lực của các cơ hô hấp và, ở một mức độ ít hơn, vài chỉ dấu chức năng hô hấp ” , GS Roche đã nêu lên chi tiết như vậy. Nhưng nhà chuyên gia này cũng đưa ra vài dè dặt, nhất là “ số lượng hạn chế ” các bệnh nhân (mỗi nhóm chỉ 34 người), “ và dị biệt trong các đặc điểm của hai nhóm được nghiên cứu ” hay “ thời gian theo dõi quá ngắn ”. Thật vậy, “ ngay khi ta cải thiện sự khó thở, thường bệnh nhân mất dần tính hiệu quả dầu điều trị được theo như thế nào ”, GS Didier nói tiếp như vậy. Vậy, một bilan được thực hiện chỉ sau 3 tháng châm cứu không đủ.
Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng trong một căn bệnh mà nguyên nhân hơn 80% là do thuốc lá, sự tiến triển ầm ĩ của triệu chứng khó thở cuối cùng dẫn đến một phế tật hàng ngày mà để chống lại y khoa ngày nay vẫn còn bất lực.
3/ KHI THỂ THAO MANG LẠI ORGASME.

                                                  Những điểm chính

– Đối với một phụ nữ trên năm, thể thao cường độ mạnh (sport intensif) có thể là nguồn của những khoái lạc cực độ (orgasme) và điều này mặc dầu không có một kích thích tính dục nào.
 – Những môn thể thao khả dĩ nhất phát khởi cảm giác này là những môn thể thao đòi hỏi vận dụng các cơ bụng.

Một phụ nữ phải chăng có thể đạt được khoái lạc cực độ bằng cách tập luyện vài môn thể thao không có một hàm ý tính dục nào ?
Câu hỏi có vẻ được đặt ra một cách đều đặn bởi các tạp chí phụ nữ ở Mỹ. Nhưng đó là một huyền thoại hay là một thực tế ? Ở Đại học Indiana, BS Debra Herbanick, đồng giám đốc của Centre pour la promotion de la santé sexuelle, đã muốn làm sáng tỏ điều này.
Như thế bà giám đốc đã tiến hành cuộc điều tra. Và bà đã tìm thấy : vâng, vài môn tập luyện thể thao có thể gây nên một cảm giác khoái lạc cực độ ở vài phụ nữ ! Và trong số nhưng vận động viên thể thao nữ, có đến 24% đã kinh qua loại những cảm nghiệm này.
“ Từ nhiều năm nay, những hiện tượng này, đôi khi được gọi trong các báo phụ nữ là “ coregastre ” vì lẽ sự liên kết của chúng với những môn thể dục cơ bản để làm chắc các cơ bụng (core tiếng Anh có nghĩa là “ cơ bản ”), trở lại đều đặn trong các bài báo. Nhưng theo chỗ chúng tôi biết, đã không bao giờ có một công trình nghiên cứu khoa học về chủ đề này được thực hiện ”, nhà khoa học đã giải thích như vậy.
“ Chúng tôi đã phỏng vấn tất cả 530 phụ nữ, nhà nữ nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Trong số những phụ nữ này, 124 đã giải thích cho chúng tôi là họ đã cảm nhận những khoái lạc gây nên bởi luyện tập thân thể (EIO : Exercise- induced orgasm). 246 phụ nữ khác đã xác nhận là đã cảm nghiệm một loại khoái lạc nhục dục (plaisir sexuel) được phát khởi bởi sự thực hành một môn thể thao (EISP trong tiếng lóng anglo-saxon để chỉ Exercise-induced sexual pleasure) nhưng tuy vậy không đạt đến khoái lạc cực độ (orgasme). Chúng tôi sau đó đi xa hơn trong những nghiên cứu của chúng tôi nhằm xác định tần số của loại các biến cố này và tính chất của các môn thể thao có liên hệ. ”
Những kết quả của các nghiên cứu của bà vừa được công bố trong tạp chí khoa học Sexual and Relationship Therapy.
“ Những thực hành thể thao thông thường nhất liên kết với cảm giác khoái lạc cực độ gây nên bởi sự luyện tập thân thể là những bài tập vận động các cơ bụng (exercices de musculation des abdominaux), leo trèo bằng dây, đua xe đạp hay cử tạ.” Debra Herbenick đã xác nhận như vậy. Chạy bộ cũng ở trong nhóm dẫn đầu.
“ Những dữ kiện này đáng lưu ý bởi vì chúng gợi ý rằng cảm giác khoái lạc cực độ không chỉ xuất hiện độc nhất trong một khung cảnh tính dục. Chúng cũng có thể cho chúng ta biết nhiều hơn về những quá trình của cơ thể được biểu hiện qua những cảm nghiệm này ở các phụ nữ.”
Các phụ nữ đã tham gia vào công trình nghiên cứu này trong lứa tuổi từ 18 đến 63. Phần lớn những người này sống lứa đôi hay được cưới hỏi và phần lớn (70%) dị tính luyến ái (hétérosexuel). Những phụ nữ đã cảm nghiệm khoái lạc cực độ gây nên bởi luyện tập thân thể (“ EIO ”) ở trong lứa tuổi từ 18 đến 56. Lứa tuổi của những vận động viên thể thao nữ đã kinh qua một khoái lạc nhục dục (“ EISP ”) là từ 16 đến 63 tuổi, bài bao khoa học đã xác nhận như vậy.
Đối với hai nhóm, loại kinh nghiệm này không phải là một trường hợp riêng rẻ. Thật vậy hơn 40% các phụ nữ này đã xác nhận với nhà nghiên cứu nữ rằng họ đã kinh qua loại cảm nghiệm này hơn 10 lần trong quá khứ, 20% các phụ nữ được phỏng vấn cũng đã xác nhận là không có thể kềm chế chúng được.
Ngoài các con số, công trình nghiên cứu này thật sự mang lại cho khoa học những gì ? “ Công trình nghiên cứu cho chúng ta thấy rằng cảm giác khoái lạc cực độ không phải là một biến cố liên kết với một thực hành tình dục, Debby Herbenick đã đánh giá như vậy. Điều đó cũng chất vấn chúng ta về vai trò của nó, quan trọng hay không, trong quá trình sinh sản của con người ”, nhà nữ nghiên cứu đã kết luận như vậy.

      Những hoạt động thể thao có khả nhất phát khởi một khoái lạc cực độ (orgasme) hay một khoái lạc nhục dục (plaisir sexuel)

         Một khoái lạc cực độ (EIO : exercise-induced orgasm)
               Các cơ bụng                           45,3%
               Leo trèo                                  9,3%
               Đua xe đạp                             8,1%
               Cử tạ                                       7%
               Chạy bộ                                  7%       

Một khoái lạc nhục dục (plaisir sexuel) gây nên bởi thể thao (EISP)
               Đua xe đạp                            19,2%
               Cử tạ                                      14,5%
               Các cơ bụng                           12,2%
               Chạy bộ                                   9,9%
               Yoga                                        8,7%

       Những tỷ lệ này được xác lập trên cơ sở những kinh nghiệm được kinh qua bởi các phụ nữ được hỏi trong khung cảnh của cuộc điều tra của BS Herbenick. 45,3% các phụ nữ đã cảm thấy một EIO khi thực hiện những luyện tập vận động các cơ bụng. Nhưng điều này không có nghĩa rằng 45,3% phụ nữ, trong một mẫu nghiệm tổng quát, thực hành luyện tập vận động cơ bụng đều cảm nghiệm một EIO !

               Khoái lạc cực độ (orgasme)  : một cách chính xác đó là gì ?“

Cảm giác khoái lạc cực độ phụ nữ (orgasme féminin) nói chung đó là cao điểm và giai đoạn cuối của kích thích tính dục (excitation sexuelle), Larousse médical đã xác nhận như vậy. Giai đoạn khoái lạc cực độ (phase orgastique) này theo sau giai đoạn kích thích (phase d’excitation) và giai đoạn bình nguyên (phase en plateau). Nó được đánh dấu bởi sự phát khởi không kềm chế được, trong vài giây, những co cơ và được tiếp theo sau bởi một giai đoạn mềm ra (phase de résolution), được đặt trưng bởi một sự sụt giảm của tình trạng kích thích

(LE SOIR 22/5/2012)

4/ NGƯỜI PHÁP THIẾU VITAMINE D.
Viện hàn làm y khoa chủ trương gia tăng những cung cấp hàng ngày đối với các thiếu niên và những người già.
SANTE PUBLIQUE. Những sự thiếu hụt càng ngày càng thường gặp, những cung cấp không đủ và những khuyến nghị không thích ứng với nhu cầu : Viện hàn làm y khoa đưa ra một bức tranh khá u tối về tình hình vitamine D ở Pháp. “ Khoảng ½ dân chúng Pháp thiếu vitamine D ”, GS Bernard Salle đã giải thích như vậy nhân dịp trình bày với báo chí báo cáo “ Statut vitaminique, rôle extra-osseux et besoins quotidiens en vitamine D ”. “ Nhưng nếu ta cho rằng trị số ngưỡng (valeur seuil) là 30 nanogramme 25 OHD (hoạt chất xuất phát từ vitamine D) đối với mỗi mililit huyết thanh, mà không phải là 20 ng/ml, thì tỷ lệ những người bị thiếu hụt chuyển lên 70% ”, ông đã nhấn mạnh như vậy.
Điều chứng thực này là một vấn đề bởi vì vitamine D, do làm dễ sự hấp thụ calcium qua ruột, đảm bảo một sự cốt hóa tốt và phông ngừa một số những bệnh lý nghiêm trọng nào đó như chứng loãng xương (ostéoporose) hay chứng nhuyễn xương (ostéomalacie), nguồn gốc của những trường hợp gãy xương ở người già. Dĩ nhiên đó là chưa kể bệnh còi xương (rachitisme) ở trẻ em, chứng bệnh này được chống lại một cách hiệu quả từ những năm 1920 bằng cách uống mỗi ngày một muỗng cà phê dầu gan cá thu.
Thật vậy, các loại cá mỡ hoang dã (saumon, morue, flétan…) là một trong những nguồn thức ăn hiếm hoi của vitamine D. Phần còn lại được cung cấp cho cơ thể nhờ tác dụng của những tia tử ngoại B (UVB) lên da, với điều kiện tiếp xúc đủ (nhưng không quá mức đến độ làm dễ nguy cơ xuất hiện một khối u ớ da…) với ánh nắng hè, nghĩa là từ tháng tư đến tháng chín, ở các vĩ độ của chúng ta. Và đừng lạm dụng crème solaire écran total…
“ Vào mùa thu và mùa đông, mặt trời quá thấp ở chân trời nên các tia tử ngoại không đến tận đất, ngoại trừ ở núi, vì ở độ cao. Như vậy, chỉ các tia tử ngoại đến chúng ta nhưng chúng không có khả năng tổng hợp vitamine D ”, BS Jean-Claude Souberbielle, thầy thuốc nội tiết ở bệnh viện Necker (Paris) và đồng tác giả của báo cáo đã giải thích như vậy.
Xét vì sự thành công của điều trị chống lại bệnh còi xương, chính do định lượng nồng độ của vitamine D được chứa trong một muỗng dầu cá thu mà những nhu cầu hàng ngày đã được xác lập bởi giới hữu trách y tế, hoặc 400 đơn vị quốc tế hoặc 10 mcg vitamine D mỗi ngày. Nhưng từ 15 năm nay, khuyến nghị này, có từ những năm 1930, được đánh giá là không đủ bởi nhiều nước, đã quyết định tăng cao lượng mỗi ngày, đặc biệt ở Hoa Kỳ, là nơi liều lượng đã chuyển thành 800 đơn vị quốc tế, tức là tăng gấp đôi.
Ở Pháp vẫn luôn luôn mức chuẩn cũ “ không được thích ứng ”. “ Mục đích của báo cáo này là chứng minh với giới hữu trách y tế rằng họ phải xét lại lập trường của mình ”, GS Sale đã giải thích như vậy. Với lý lẽ cứng cỏi : “ Ở Pháp, các cung cấp trung bình là khoảng 100 ui mỗi ngày cho mỗi người. Thế mà phải cần 10 lần nhiều hơn để đạt ngưỡng tối thiểu 20 ng/ml, mặc dầu mức này không đủ nếu các cung cấp bổ sung calcium quá thấp để đảm bảo một sự hóa xương tốt.”
NHIỀU LỢI ÍCH.
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng để làm giảm một cách đáng kể những nguy cơ té ngã hay gãy xương ở những người già, nồng độ huyết thanh 25OHD phải trên không phải 20, mà 30 ng/ml máu. Ta còn ở xa mức đó. “ Sự hấp thụ một ampoule vitamine D mỗi tháng sẽ phải được thực hiện một cách hệ thống sau 50 tuổi ”, GS Salle đã nói tiếp như vậy. Điều này không gây nguy cơ tăng canxi-huyết, một bệnh nặng nhưng rất hiếm, gây nên do dùng quá nhiều vitamine D.
Mặc dầu bệnh còi xương nhũ nhi do thiếu vitamine D (rachitisme carentiel du nourrisson) đã gần như biến mất ở Pháp, đặc biệt nhờ sự cho bổ sung tốt vitamine D sữa mẹ, nhưng nhiều thiếu niên vẫn bị thiếu ở một lứa tuổi bản lề (giữa 10 và 20 tuổi) cần thiết cho sự cấu tạo khối xương (masse osseuse) của chúng. “ Từ một chục năm nay, chúng tôi chứng thực rằng vào cuối mùa hè, 25% các thiếu niên không bị bệnh lý nào có một nồng độ vitamine D trong máu dưới 20ng/ml ”, GS Jean-François Duhamel, thầy thuốc nhi khoa của CHU de Caen và đồng tác giả của báo cáo chủ trương cho bổ sung 100.000 đơn vị hai đến ba lần mỗi năm để phòng ngừa, đặc biệt ở những người tăng thể trọng hay béo phì, đã báo động như vậy.
Bởi vì ngoài tác dụng lên khung xương, vitamine D mang lại nhiều lợi ích. Bằng cách kích thích hệ miễn dịch, vitamine D cho phép phòng ngừa một cách hiệu quả vài bệnh nhiễm trùng như bệnh lao và chống lại chúng. Mặt khác, tính hiệu quả của các séjours en sanatorium được giải thích bởi sự kích thích sản xuất vitamine D dưới tác dụng của thời gian có ánh mặt trời tốt hơn ở độ cao. Vitamine D cũng có tác động dương chống lại những bệnh tim mạch hay thận, và vài bệnh tự miễn dịch (xơ cứng rải rác, đái đường loại I). Ngược lại, tác dụng bảo vệ của vitamine D chống lại vài bệnh ung thư, được gợi ý bởi vài công trình nghiên cứu rất được quảng bá, vẫn cần được xác nhận, Viện hàn lâm y học đã ghi nhận một cách thận trọng như thế.
(LE FIGARO 26/6/2012)

5/ UNG THƯ VÚ : NGUY CƠ GIA TĂNG Ở NHỮNG NGƯỜI LÀM VIỆC BAN ĐÊM ?
Một nhóm nghiên cứu của Inserm thuộc Centre de recherche en épidémiologie et santé des populations đã tiến hành một công trình nghiên cứu được công bố trong “ International Journal of Cancer ”. Các tác giả đã so sánh lý lịch nghề nghiệp của 1200 phụ nữ, bị ung thư vú từ năm 2005 v 2008, với hành trình nghề nghiệp của 1003 phụ nữ khác. Ở những phụ nữ làm việc với giờ giấc chênh lệch, loại ung thư này tỏ ra gia tăng.
(PARIS MATCH 2/8-8/8/2012)

6/ MỘT LOẠI THUỐC CHỐNG MÙ BỊ CẤM CHỈ
Các thầy thuốc chỉ trích quyết định cấm sử dụng Avastin, một loại thuốc hiệu quả và ít tốn kém.
OPHTALMOLOGIE. Tổng giám đốc y tế tuần qua đã gởi một thông tư cho tất cả các giám đốc cơ quan y tế vùng để yêu cầu họ cấm các bệnh viện sử dụng Avastin để điều trị bệnh thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (DMLA : dégénérescence maculaire liée à l’âge), một bệnh của mắt đe dọa thị giác. “ Préparartion de seringues par répartition aseptique một dung dịch bévacizumab (Avastin) để chích vào dịch kính (injection intravitréenne) bị cấm chỉ, xét vì đã có một biệt dược thích ứng (Lucentis, ranibizumab), thuốc này đã có giấy phép thương mãi hóa để điều trị DMLA và được formulé và trình bày đặc hiệu để tiêm vào dịch kính, văn thư do tổng giám đốc y tế Jean-Yves Grall ký, đã kết luận như vậy.
Sự cấm chỉ này đã gây nên một mối kinh hoàng thật sự trong tất cả các khoa mắt lớn của các bệnh viện Pháp. Vào giờ phút mà các chi phí y tế bùng nổ, quyết định này dường như rất đáng ngạc nhiên : Avastin, thuốc bị cấm chỉ, phí tổn từ 30 đến 50 euro một liều ; Lucentis, được cho phép giá 800 euro !
MỘT SỰ CHO PHÉP TẠM THỜI.
Hiện nay, ở Tây Ban Nha và ở Ý, các thầy thuốc chỉ kê đơn Avastin, cũng như một phần lớn ở Hoa Kỳ và ở Thụy Sĩ. Trong những nước khác, sự sử dụng Avastin vượt quá sự sử dụng Lucentis, quá đắt đối với các hệ assurance- santé. GS Gilles Aulagner (Hospices civils de Lyon), thực hiện một thử nghiệm điều trị so sánh hai loại thuốc này, đã viết cho Bộ Trưởng y tế để yêu cầu ông ta xem lại quyết định này. Sự cấm chỉ này càng gây ngạc nhiên khi giáo sư Jean-Luc-Harousseau, tổng giám đốc Y Tế rất mới đây đã dự kiến yêu cầu một “ khuyến nghị sử dụng tạm thời ” đối với Avastin, trong nhãn khoa.
Hiện nay, bệnh thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (dégénérescence maculaire liée à l’âge : DMLA) gây bệnh từ 15 đến 20% những người trên 80 tuổi, dưới hai dạng xuất hiện dần dần, một dạng được gọi là khô (forme sèche) (70% các bệnh nhân), đối với dạng này hiện nay không có điều trị, và dạng kia, được gọi là “ ướt ” (forme humide), được đặc trưng bởi một sự tăng sinh huyết quản sau võng mạc. Trong những năm 1990, một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Judah Folkman, phát triển ý tưởng cho rằng bằng cách tấn công vào yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance), VEGF, có tác dụng kích thích các huyết quản, ta có thể phá hủy vascularisation của một khối u, và do đó có thể tiêu hủy chính khối u Hãng Genentech sau đó hiệu chính các kháng thể chống lại yếu tố tăng trưởng này và bán hai brevet. Một cho Roche, hiệu chính Avastin, một loại thuốc chống lại ung thư đại tràng, và một cho Novartis, thương mãi hóa Lucentis, một loại thuốc tỏ ra có hiệu quả khi tiêm vào mắt trong dạng ướt của DMLA, như thế tránh mù lòa cho hàng trăm ngàn người.
Vào năm 2006, một thử nghiệm điều trị xác nhận rằng Lucentis ngăn cản sự thoái biến thị giác và cải thiện thị lực trong những dạng ướt. Lucentis được cho phép khắp nơi trên thế giới để chống lại DMLA với giá rất đắt 1200 euro mỗi liều và cần tiêm khoảng một lần mỗi tháng. Vào cùng thời kỳ, một thầy thuốc chuyên khoa mắt của Hoa Kỳ đã nhận xét một sự cải thiện rất rõ rệt thị giác của mình sau khi đã nhận nhiều tiêm truyền Avastin để điều trị ung thư đại tràng. Tin tức này lưu hành và rất nhanh chóng các thầy thuốc Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng một cách hoang dã Avastin tiêm vào mắt để điều trị những bệnh nhân đang mất thị giác với phí tổn 30 đến 50 euro mỗi liều, mặc dầu không được giới hữu trách y tế cho phép. Hàng chục công trình nghiên cứu tiền phong xác nhận lợi ích của Avastin trong DMLA. Tuy nhiên, thuốc duy nhất được cho phép một cách chính thức ở Pháp, ở châu Âu, và ở Hoa Kỳ là Lucentis.
Sau đó nhiều thử nghiệm quy mô lớn so sánh hai loại thuốc được phát động. Thử nghiệm mới nhất, được gọi là Catt, được công bố trong tạp chí Ophtalmology, vào tháng tư năm 2012, được thực hiện trên gần 1200 bệnh nhân, đã kết luận rằng tính hiệu quả của hai thuốc Lucentis và Avastin là giống hệt nhau. Tỷ lệ tử vong cũng tương tự nhau. Hơi nhiều tác dụng phụ toàn thân hơn được quan sát với Avastin (39,9%) so với Lucentis (31,7%). Một thử nghiệm của Anh Ivan, cũng được công bố vào tháng năm 2012, được thực hiện trên 610 bệnh nhân, xác nhận rằng hai loại thuốc có tính hiệu quả và mức độ an toàn tương tự nhau, với một ít nhiều tai biến tim hơn được quan sát, nhưng lần này với Lucentis. Công trình nghiên cứu mới của Anh, được công bố trong báo Ophtalmology, sẽ kết thúc cuộc bàn cãi về chủ đề này và xác nhận sự tương tự giữa hai thứ thuốc, ngoại trừ giá cả. Ở Pháp, một thử nghiệm Gefal chẳng bao lâu sẽ được công bố. “ Chúng tôi đã không quan sát thấy những khác nhau giữa hai nhóm ve mặt các tác dụng phụ ”, GS Laurent Kodjikian (Hospices civils de Lyon), nhà nghiên cứu chính của thử nghiệm này, đã xác nhận như vậy. Mãi cho đến trước khi bị lệnh cấm chỉ này ở Pháp, nhiều khoa mắc bệnh viện đã sử dụng các liều Avastin được bào chế bởi khoa dược để tiêm vào mắt vì thuốc chỉ có sẵn dưới một dạng được sử dụng trong ung thư.
(LE FIGARO 30/7/2012)

7/ LOẠN NHỊP TIM : Ở PHÁP IMPLANTATION MỘT THIẾT BỊ MỚI.
GS Didier Klug, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc CHU de Lille trình bày những lợi ích của hệ thống Watchman nhằm ngăn cản sự tạo thành một cục máu đông ở những bệnh nhân bị rung nhĩ.
Hỏi : Trong trường hợp rung nhĩ, điều gì xảy ra ?
GS Didier Klug. Đó là một rối loạn nhịp thường xảy ra. Một phần của tim đập loạn xạ. Các tâm nhĩ đập nhanh hơn và một cách không đều, chúng không còn co bóp một cách đúng đắn nữa. Sau 65 tuổi, hơn 4% dân chúng bị bệnh rung nhĩ.
Hỏi : Những triệu chứng báo động là gì ?
GS Didier Klug. Bệnh nhân cảm thấy tim đập một cách không đều, vài bệnh nhân đau ở ngực, khó thở. Nhưng thường thường bệnh nhân không có một triệu chứng nào và rối loạn nhịp của họ được khám phá do tình cờ lúc đi khám bệnh. Mặc dầu bệnh nhân không cảm thấy gì hết, rung nhĩ mang lại hai nguy cơ : 1. suy tim. 2. sự tạo thành một cục máu đông trong tim, sẽ đi chuyển lên não, gây tai biến mạch máu não (từ 20 đến 30% trong số 130.000 trường hợp tai biến mạch máu não ở Pháp là do rung nhĩ).
Hỏi : Ta điều trị những rung nhĩ này như thế nào ?
GS Didier Klug. Một khi chẩn đoán được xác lập, mục đích đầu tiên của chúng tôi là làm đều nhịp tim đập. Ta bắt đầu cho những thuốc chống loạn nhịp bằng đường miệng. Với thời gian, những thuốc này tỏ ra không có hiệu quả (khoảng 50% trường hợp thất bại sau 1 năm). Khi đó ta kê đơn những thuốc làm chậm tần số tim, chúng sẽ điều trị những triệu chứng nhưng không điều trị nguyên nhân. Mặc dầu ta tái lập được một tần số bình thường của các co bóp tim, nhưng ngược lại, những co bóp tâm nhĩ không được như vậy. Ở một số nhỏ những bệnh nhân, ta có thể đề nghị triệt phá vùng chịu trách nhiệm rối loạn nhịp. Can thiệp này có hiệu quả nhưng hàm chứa những khả năng gây các biến chứng. Trong đại đa số các trường hợp, ta phối hợp với liệu pháp này sự sử dụng một thuốc chống đông để tránh sự tạo thành cục máu đông. Điều này cần thiết đối với những bệnh nhân trên 65 tuổi, những bệnh nhân bị cao huyết áp, bị bệnh đái đường, bệnh tim mạch hoặc với các tiền sử tai biến mạch máu não.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với sự sử dụng các thuốc chống đông máu không ?
GS Didier Klug. Có nhiều chống chỉ định. Thí dụ, những người có một tiền sử chảy máu quan trọng không thể nhận các thuốc chống đông máu bởi vì những thuốc này ngăn cản sự đông máu, làm dễ sự chảy máu. Chúng cũng có nguy cơ ở những bệnh nhân bị một vấn đề thận hay gan nghiêm trọng, ở những bệnh nhân mà huyết áp không hoàn toàn được kiểm soát, ở những người già có nguy cơ té ngã
Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi nguyên tắc của hệ Watchman đối với những bệnh nhân này ?
GS Didier Klug. 90% các cục máu đông này được tạo thành trong một phần vô dụng của tim : tiểu nhĩ trái (auricule gauche). Với kỹ thuật này, mục đích là bịt nó lại để không còn một cục máu đông nào có thể được tạo thành. Và điều đó không phải bắt bệnh nhân dùng thuốc kháng đông.
Hỏi : protocole là gì ?
GS Didier Klug. Thầy thuốc chuyên khoa tim can thiệp (cardiologue interventionnel) đưa một cathéter vào trong tĩnh mạch đùi (ở vùng bẹn) và hướng nó đến tận tiểu nhĩ trái. Sau đó ông chuồi vào trong cathéter một guide, ở đầu được trang bị bởi một hệ thống giống một chiếc dù nhỏ xíu được khép lại. Chiếc dù này khi đến mép của tiểu nhĩ, được mở ra và bịt nó lại.
Hỏi : Sau Hoa Kỳ và Đức, kíp của ông là kíp đầu tiên implanter hệ thống Watchman ở Pháp. Ông đã điều trị bao nhiêu bệnh nhân ?
GS Didier Klug. Chúng tôi đã mổ 6 bệnh nhân, trong đó vài bệnh nhân cách nay 6 tháng. Tất cả đều mạnh khỏe (ở một trong những bệnh nhân này, chúng tôi đã không thể bịt được hoàn toàn tiểu nhĩ). Thời gian nhập viện là 4 ngày. Sau can thiệp, các bệnh nhân được điều trị tạm thời với các thuốc kháng đông trong 45 ngày.
Hỏi : Những nguy cơ của những implantation này ?
GS Didier Klug. Vì ta đưa hệ thống Watchman vào trong những vùng rất mỏng manh, nên nguy cơ là tạo nên một vết thương tim có thể cần sự can thiệp của một thầy thuốc ngoại khoa.
Hỏi : Ta có thể mổ những bệnh nhân mà một cục máu đông đã được tạo thành hay không ?
GS Didier Klug. Vâng, nhưng trước hết phải cho các bệnh nhân này những thuốc kháng đông trong một tháng để làm tan cục máu đông trước khi có thể can thiệp. Có một chống chỉ định : sự hiện diện của các phong thấp khớp cấp tính (rhumatisme articulaire aigu) bởi vì những bệnh nhân này có thể phát triển những cục máu đông ở những nơi khác với tiểu nhĩ trái (auricule gauche).
(PARIS MATCH 2/8 – 8/8/2012)

8/ NHỮNG TẾ BÀO GỐC ĐƯỢC HỒI SINH 14 NGÀY SAU KHI CHẾT.
Một nhóm nghiên cứu người Pháp mở cánh cửa cho việc lấy sau khi chết (prélèvement post mortem) những tế bào của cơ và tủy xương.
BIOLOGIE CELLULAIRE. Thế thì nếu các xác chết là một réservoir những tế bào gốc có thể sử dụng cho những người sống ? Trước hết, điều đó giống như kịch bản của một film de Frankenstein. Ngoại trừ đó là một công trình nghiên cứu khoa học mở ra những triễn vọng điều trị hoàn toàn hiện thực. Một nhóm các nhà khoa học, do các giáo sư Fabrice Chrétien và Shahragim Tajbakhsh, thuộc Viện Pasteur, vừa cho thấy rằng vẫn còn có khả năng thu hồi các tế bào có thể sống được (cellules viables) trong các cơ của các tử thi người, 17 ngày sau khi chết.
Đó là những tế bào gốc (cellules souches), những tế bào sinh ra những tế bào trưởng thành (cellules matures) và ngày nay là đối tượng của những công cuộc nghiên cứu mạnh mẽ không những trong các bệnh cơ (myopathie) mà cả trong bệnh Alzheimer hay suy tim. Trong thí nghiệm gây ngạc nhiên này, được công bố trong tạp chí on line Nature communications hôm 12 tháng sáu này, các nhà nghiên cứu đã thành công, với sự thực hiện cùng thao tác ở chuột, sau đó ghép những tế bào còn sống sót này để tái sinh những tế bào cơ trong tình trạng hoạt động hoàn hảo.
“ Ý tưởng của những thí nghiệm này đã đến với tôi lúc quan sát bằng kính hiển vi những tế bào cơ được lấy lúc giải phẫu tử thi ”, nhà cơ thể bệnh lý thần kinh Fabrice Chrétien, cũng là giáo sư thuộc đại học Versailles Saint-Quentin đã giải thích như vậy, “ trong khi tất cả những tế bào chung quanh hoàn toàn bị phá hủy, những tế bào gốc vẫn bảo tồn một dạng vẻ đẹp ”. Làm sao những tế bào gốc này sống sót được trong một môi trường biết bao là thù địch, không oxy, bị dội dồn dập bởi những tín hiệu chết tế bào (signaux de mort cellulaire) và bị nhận chìm trong một bồn tắm acide ? Rất đơn giản bằng cách ngừng thở và đi vào một giấc ngủ sâu. “ Để còn sống, những tế bào này loại bỏ những cơ quan tử (organite) vốn có nhiệm vụ làm cho chúng thở, các mitochondrie, GS Chrétien đã giải thích như vậy. Chính vì thế, chúng làm cạn stock năng lượng và bắt đầu ngủ đông (en hibernation).” Như một người lặn bỏ những bình oxy của mình vì hết oxy, và nín thở lâu chừng nào tốt chừng ấy.
Đối với GS Jean-Marc Lemaitre, thuộc Institut de génomique fonctionnelle (Montpellier), “ ý niệm yên ngủ sâu (quiescence profonde) của các tế bào gốc, cho phép chúng đề kháng và gia tăng khả năng sống của chúng, là điều đáng quan tâm ”. Vì lẽ nếu khả năng sinh sống đã không được chứng minh sau 17 ngày, đó chỉ là bởi vì các nhà nghiên cứu đã không có thể có được những xác chết lâu hơn !
(LE FIGARO 13/6/2012)

9/ AMPHETAMINE BIẾN ĐỔI NÃO BỘ

                                                  Điểm chủ yếu 

 – 2 đến 7% các thiếu niên châu Ẩu đã kinh qua amphétamine
 – Một công trình nghiên cứu trên chuột cho thấy rằng tác dụng của amphétamine kéo dài ngay cả sau khi cai thuốc.
 – Đối với một chuyên gia, điều thiết yếu là phải giúp một cách nhanh chóng thiếu niên đang trong cơn nguy khốn.

Sự tiêu thụ amphétamine ở tuổi thiếu niên có thể gây nên những rối loạn sinh thần kinh (dérèglement neurobiologique) và làm gia tăng mức độ lưu hành những hành vì có nguy cơ. Nhất là, những tác dụng này có thể còn tồn tại đến tuổi trưởng thành, mặc dầu những người nghiện không còn tiêu thụ các chất ma túy nữa.
Đó là những kết luận của một công trình nghiên cứu mới được tiến hành trên chuột bởi BS Gabriella Gobbi, nhà nghiên cứu nữ của Centre universitaire de santé McGill (Montréal). Bà đã công bố phần chủ yếu của công trình này trong International Journal of Neuropsychopharmacology. Theo các tác giả đó là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên phát hiện hậu quả của amphétamine về lâu về dài. “ Chúng tôi đã quan sát những tác dụng mà sự tiêu thụ amphétamine có thể có lên các chất dẫn truyền thần kinh quan trọng.”, nhà nữ nghiên cứu về các bệnh tâm thần và nghiện ma túy đã giải thích như vậy.
Amphétamine là một chất ma túy với một chức năng kích thích tâm thần (psychostimulant), làm gia tăng năng lực tập trung, nhưng cũng có thể gây mất ngủ …điều này giải thích vì sao amphétamine đặc biệt được tìm kiếm bởi các sinh viên trước khi thi cử hay bởi những người muốn kéo dài cuộc vui về đêm. Những tác dụng này cũng được kèm theo bởi một sự giảm các cảm giác đói và mệt.
Thuốc ma túy này, thường được gọi là “ speed ” lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trong Đệ Nhị Thế Chiến để cải thiện các thành tích và khả năng chịu đựng của các người lính. Theo một báo cáo của Cơ quan chống ma túy và tội ác của Liên Hiệp Quốc, từ 2 đến 7% những thiếu niên châu Âu đã từng tiêu thụ amphétamine.
Các con chuột đã nhận 3 liều amphétamine khác nhau trong thời kỳ thiếu niên. Vào tuổi trưởng thành, sự cho các thuốc ma túy đã được ngừng lại. Những hoạt động thần kinh sinh lý của chúng được thăm dò bởi điện não đồ và hành vi có nguy cơ của chúng được khảo sát. “ Chúng tôi đã chú ý đến các chất dẫn truyền thần kinh chủ yếu, sérotonine, dopamine và norépinéphrine. Chúng tôi đã phát hiện những bất thường của hoạt động não, liên kết với những rối loạn tâm thần và những bệnh tâm thần như bệnh trầm cảm và tình trạng phụ thuộc.” Các nhà nghiên cứu cũng đã quan sát những thay đổi về hành vi, vài động vật tỏ ra tăng hoạt (hyperactif), trong khi những động vật khác có những hành vi có nguy cơ (comportements à risque), như những “ explorations avancées ”, trong khi đó những động vật không bị cho amphétamine vẫn giữ một thái độ chuẩn trước nguy cơ.
(LE SOIR 9/11/2011)

10/ COCAINE GÂY TEO NÃO.
NEUROLOGIE. Những người tiêu thụ cocaine mãn tính đánh mất hai lần nhanh hơn những tế bào thần kinh của họ trong quá trình lão hóa so với những người không sử dụng chất ma túy này, một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Molecular Psychiatry đã tiết lộ như vậy. “ Chúng tôi có bằng cớ sinh lý mới rằng cocaine co thể gây nên một bệnh thật sự của não bộ ”, Laurent Karila, thầy thuốc chuyên tâm thần học phụ trách Trung tâm giảng dạy và nghiên cứu điều trị các chứng nghiện (Certa) của CHU Paul-Brousse ở Villejuif (Val-de-Marne) đã bình luận như vậy.
Để thu được kết quả này, các nhà nghiên cứu của đại học Cambridge (Vương Quốc Anh) đã đo lường bằng chụp hình ảnh não bộ lượng các tế bào thần kinh hiện diện trong não bộ ở 120 người, trong đó 60 người nghiện cocaine (cocainomane) tuổi từ 18 đến 50 và những người phụ thuộc từ nhiều năm.“ Mối liên hệ giữa thời gian tiêu thụ cocaine và sự suy giảm chất xám đã được biết đến ”, Karen Erschen đã xác nhận như vậy.
Những vùng trước trán và thái dương của não bộ có vẻ đặc biệt bị thương tổn, thế mà những vùng này quan trọng đối với trí nhớ, sự chú ý và sự đưa ra quyết định, những chức năng này rất bị xáo trộn ở những người tiêu thụ đều đặn cocaine. Nguồn gốc của tác dụng có hại này của chất ma túy, theo Karen Erschen, có thể là do một sự gia tăng của stress oxydant ở các tế bào thần kinh, vốn đã được quan sát ở động vật. Độc tính này được thêm vào nhiều biến chứng, đặc biệt là tim mạch, phổi và tâm thần, do sự tiêu thụ cocaine. Cocaine, với tác dụng gây nên một sự phóng thích ồ ạt dopamine, noradrénaline và sérotonine trọng não bộ, gây nên một sự khoái trá và một cảm giác hùng mạnh nhưng đồng thời cũng gây nên cao huyết áp, co thắt tất cả những huyết quản, do đó phong bế oxygénation các mô và gây đau ngực, đó là chỉ kể những triệu chứng thông thường.
Ở Hoa Kỳ, cocaine đã trở thành nguyên nhân dẫn đầu của những trường hợp đến phòng cấp cứu trong số những chất bất hợp pháp, đi trước cả rượu bởi vì cocaine nhân gấp 20 lần các nguy cơ tai biến tim mạch và nhân 14 các nguy cơ đột qụy. “ Ở Pháp, chúng ta đã chứng kiến một sự lan tràn rất đáng lo ngại về sự tiêu thụ cocaine trong tất cả mọi giới và ở tất cả mọi lứa tuổi, Laurent Karilla lấy làm kinh hãi. Vào năm 2011, 3% các thiếu niên 17 tuổi đã từng kinh qua chất ma túy này.” Tuy nhiên, không phải tất cả những người tiêu thụ đều đặn cocaine đều trở nên phụ thuộc, tỷ lệ nghiện là 5% vào năm đầu sử dụng và 20% khi tiêu thụ dài lâu, theo nhà chuyên gia.
Một tính nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique) cũng là nguyên nhân, như Karen Erschen và kíp nghiên cứu đã chứng tỏ điều đó trong một công trình nghiên cứu được công bố mới đây trong Science. Thật vậy, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những bất thường đặc hiệu của não bộ đối với tình trạng phụ thuộc cocaine ở những anh chị em bị nghiện cocaine mãn tính. Những bất thường này của não bộ được thể hiện chủ yếu bởi một tính xung động (impulsivité) lớn hơn được đo ở những người này so với toàn dân. Do đó cần tính đến những biện pháp phòng ngừa ở những người được phát hiện là có nguy cơ phụ thuộc các chất mà túy. Lúc xuất hiện rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) đầu tiên, sự kiêng cữ và những luyện tập tâm thần có thể cho phép phục hồi một phần lớn những năng lực tâm lý (faculté psychologique) của bệnh nhân. Cái khó khăn đối với người nghiện ma túy là thay đổi đời sống trong khi cocaine làm suy yếu chính những khả năng tự kiềm chế và lấy quyết định của bệnh nhân.
SỰ TIÊU THỤ DỄ CHE DẤU.
“ Có lẽ đó là loại ma túy thâm hiểm nhất, Laurent Karila đã đánh giá như vậy, bởi vì cocaine là chất ma túy gây nhiều trường hợp tự tử nhất và gây những biến chứng đáng sợ đối với sức khỏe trong khi đó sự tiêu thụ nó dễ được che dấu.” Vậy có thể tránh trở nên phụ thuộc cocaine, ngay cả đối với những người có nguy cơ, bằng một sự phòng ngừa hay một điều trị thích ứng. Ngược lại, những tổn hại gây nên bởi quá trình lão hóa gia tốc của não bộ dường như không thể đảo ngược. “ Sự ngừng tiêu thụ chất ma túy có lẽ sẽ tái lập một tốc độ lão hóa bình thường của não bộ, Karen Erschen đã xác nhận như vậy, nhưng tôi không tin rằng ta có thể phục hồi những thương tổn đã xảy ra.”
(LE FIGARO 18/6/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(15/8/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s