Thời sự y học số 276 – BS Nguyễn Văn Thịnh

ĐIỂM BÁO SCIENCES ET AVENIR

1/ BỤNG : NÃO BỘ THỨ HAI CỦA CHÚNG TA
             Ta thật sự biết gì về cái bụng của chúng ta ? Chẳng biết gì, hay gần như chẳng biết gì, nếu không đôi khi nó biểu hiện bằng triệu chứng đau đớn. Thế mà tuy vậy, từ vài năm nay, nghiên cứu tích lũy những chỉ dấu cho thấy cơ quan này rõ ràng là một não bộ thứ hai ! Được bọc bởi các neurone (nhiều bằng với tủy sống) sản xuất sérotonine (một chất dẫn truyền thần kinh chủ chốt của hệ thần kinh trung ương), bụng đối thoại thường trực với não bộ. Và điều mà những trao đổi này tiết lộ, hơi bắt đầu được khám phá, mở ra những chân trời không ngờ, thậm chí làm chóng mặt : hàng tỉ vi khuẩn sống trong ruột, như thế tạo nên căn cước dạ dày ruột (carte d’identité gastrointestinale) của chúng ta, phải chăng ảnh hưởng lên hành vi của chúng ta ? Ngày mai phải chăng ta sẽ có thể điều trị những triệu chứng đau bụng bằng các thuốc chống trầm cảm ?

         1. MỘT HỆ THỐNG THẦN KINH CẦN THIẾT CHO SỰ SỐNG CÒN
                   Hệ thần kinh này có cùng số lượng neurone với tủy sống và tuy vậy, nó không nằm trong sọ, mà nằm trong bụng của chúng ta ! Nó, đó là hệ thần kinh ruột (système nerveux entérique) hay SNE, một mạng dày đặc các neurone nối kết chặt chẽ với nhau và bao phủ toàn bộ ruột. Hệ thống thần kinh này, cần thiết cho sự sinh tồn và tự trị trong sự vận hành chức năng, đến độ nó được mệnh danh là “ não bộ thứ hai ” bởi Michael Gershon, giáo sư của Département d’anatomie et biologie cellulaire của đại học Columbia (Nữu Ước). Từ đó, các nhà khoa học đã chấp nhận thuật ngữ  và những tiến bộ của nghiên cứu đã xác nhận thực tế của ý niệm mới này. Vậy chỉ một não bộ duy nhất không đủ cho cơ thể hay sao ? “ Quá trình tiêu hóa phức tạp đến độ các bạn cần một hệ thân kinh rất quan trọng để kiểm soát và làm nó hoạt động ”, Michael Gershon, từng nghiên cứu chủ đề này từ nửa thế kỷ nay, đã đảm bảo như vậy. Chúng ta hãy nhắc lại rằng sứ mạng của bộ máy tiêu hóa là làm thức ăn lưu thông từ miệng đến hậu môn, đồng thời nghiền nát và làm hóa lỏng chúng, và làm chúng lưu thông dọc theo ruột với tốc độ tối ưu vài centimère mỗi giây. Điều đó nhằm mục đích làm cho một số lượng tối đa các chất dinh dưỡng đến tiếp xúc với thành ruột để nuôi cơ quan. Một công việc quy mô lớn khi ta biết rằng diện tích của ruột tương đương với diện tích của một sân đánh tennis (200m2) ! Những yếu tố tốt phải được lựa chọn và đi vào tuần hoàn máu (sự đồng hóa : assimilation). Những yếu tố xấu hay “ không thể đồng hóa ” (non assimilables) được thải bởi ruột già, tuy vậy đã nuôi dưỡng microbiote (toàn bộ những vi khuẩn trong ruột). Một hệ thống phức tạp đến độ nó cần sự thiết đặt một “ nhà máy ” thật sự, được phân cấp quản lý và tự trị. “ Nếu hệ thần kinh trung ương (não bộ) phải quản lý toàn bộ, thì hàng triệu và hàng triệu neurone sẽ phải bị huy động, cũng như những sợi thần kinh để nối kết chúng ! Michael Gershon đã nói tiếp như vậy. Do đó quá trình tiến hóa đã lựa chọn một phương pháp hiệu quả hơn nhiều, các neurone trong ruột. ” Hiệu quả đến độ ngay cả những vi sinh vật đa bào đầu tiên, thuộc loại méduse, đã theo phương pháp này. 

          Biệt danh “ não bộ thứ hai ” này không bị tiếm đoạt. Dĩ nhiên về cơ thể học, hệ thần kinh ruột (SNE) không giống với vỏ não, thu mình lại (ramassé) và được cấu tạo bởi những hồi não (circonvolution). Các SNE được tạo thành bởi hai manchon xếp lên nhau, cuộn quanh ống tiêu hóa. Những sợi thần kinh dẫn truyền (các sợi trục) không được bao quanh bởi gaine de myéline (làm gia tốc luồng thần kính trong não) và, nhất là, những nối kết đều đơn giản. SNE không có khớp thần kinh (synapse) mà là những “ varicosités ” tập trung những chất dẫn truyền thần kinh, nằm cạnh những tế bào đích (neurone, cơ, những tế bào biểu mô). Được cấu tạo như thế, bởi vì những quá trình tiêu hóa chính, chậm hơn nhiều, thí dụ, những quá trình điều hòa bước đi hay tim, nên SNE không cần một tốc độ dẫn truyền quan trọng.
          Ngoài vài sự khác nhau này, hệ thần kinh trung ương (SNC) và hệ thần kinh ruột (SNE) giống nhau như anh em. Hãy bắt đầu bằng nguồn gốc chung của chúng : “ Các neurone ruột phát xuất từ cùng plaque neurale phôi thai của các neurone não bộ tạo nên tube neural và đầu, Michel Neunlist, giám đốc đơn vị Inserm, chuyên gia axe cerveau-intestin, đã giải thích như vậy. Nhưng những neurone ruột coloniser ống tiêu hóa từ trên xuống dưới, cho đến 7 tuần thai nghén. Sau đó chúng nối kết với nhau để tạo thành các mạng, không có cấu trúc nào khác, y hệt như não bộ. ” Cũng y hệt như trong hệ thần kinh trung ương, những neurone này liên kết với hàng triệu các cellules gliales, các astrocytes, sẽ trợ giúp chúng trong công việc. Chúng cũng sản xuất và sử dụng khoảng 30 chất dẫn truyền thần kinh (acétylcholine, adrénaline, sérotonine,) y hệt với những chất dẫn truyền thần kinh của não bộ. Ngoài ra, chúng được bảo vệ bởi một lớp những tế bào biểu mô (cellules épithéliales), hàng rào có nhiệm vụ lọc những tác nhân không được mong muốn hiện diện trong ruột, đồng thời để đi qua những phân tử dinh dưỡng cần thiết. Y hệt như công việc của hàng rào huyết não (barrière hématp-encéphalique) bảo vệ những neurone não bộ của chúng ta. Sau cùng, cũng như alter ego của nó, hệ thần kinh ruột cần thiết cho sự sinh tồn.

              “ Ta không thể sống mà không có não bộ thứ hai của mình ! Michel Neunlist nói tiếp. Bằng cớ là bệnh Hirschsprung (một bệnh bẩm sinh gây bệnh cho một trên 5000 trẻ sinh ra đời), trong bệnh này, vì những lý do không được biết rõ, các neurone ngừng colonisation ruột trong tử cung. Khi đó đứa trẻ có một phần ống tiêu hóa không có neurone. Điều đó khiến ruột già bị tắc nghẽn, có thể gây tử vong nếu không được mổ ngay khi sinh bởi vì, không có neurone, ống tiêu hóa không hoạt động.” Những bệnh lý này của hệ thần kinh ruột bắt đầu được hiểu rõ hơn và ngay cả cho ra một môn y học mới, neuro-gastro-entérologie. Các chuyên gia lấy làm hoan hỉ vì sau cùng ruột được đánh giá đúng giá trị của nó. “ Đã lâu người ta đã nghĩ rằng ống tiêu hóa chỉ là “ cái lòng ” (tripe), một vật thẳng, hơi lố bịch, GS Stanislas Bruley des Varannes, giám đốc của Institut des maladies de l’ appareil digestif của CHU de Nantes đã nhớ lại như vậy. Rồi người ta đã nhận thức rằng nó có những dây thần kinh, cử động một cách điều hòa, có những chức năng hấp thụ, tiết các yếu tố, rất phức tạp và cần thiết cho đời sống. Thế mà, phải biết rằng ống tiêu hóa mảnh dẻ và có một hệ miễn dịch mạnh đến độ, trái với trái tim, các thủ thuật ghép hầu như không thể thực hiện được ! ”

                               200 triệu neurone trong ruột

         Để kiểm soát những nhu động và sự tiết dịch tiêu hóa, ống tiêu hóa có một hệ thần kinh độc lập và tự trị : hệ thần kinh ruột (SNE : système nerveux entérique) hay não bộ thứ hai. Hệ thần kinh này chứa gần 200 triệu neurone được tổ chức thành hai mạng (hay tùng thần kinh : plexus). Plexus myentérique kiểm soát những co cơ (để làm thực hoàn di chuyển hay gây mửa). Còn tùng dưới niêm mạc (plexus sous-muqueux) điều hòa sự tiết dịch ruột. Hệ tiêu hóa cũng giao tiếp với não bộ chủ yếu nhờ dây thần kinh phế vị, xa lộ thật sự phát sinh từ hai nhân não và phân bố thần kinh những cơ quan sinh tử. Nhánh đến (branche afférente) hay nhánh cảm giác cho não bộ hay hệ thần kinh ruột biết những gì xảy ra trong ruột. Nhánh ra (branche efférente) hay nhánh vận động gởi những mệnh lệnh đến các cơ ruột. Hai bộ não này (SNCvà SNE) hoạt động phối hợp với nhau, được thông tin về tình trạng của ruột bởi các lính canh (sentinelles) rất cảnh giác. Trước hết những tế bào biểu mô cửa hàng rào ruột phân tích các thức ăn, chọn lọc chúng và báo động trong trường hợp nguy hiểm. Nhưng cũng vậy, 100.000 tỉ những vi khuẩn ruột tạo nên microbiote (trước đây được gọi là quần thể ruột : flore intestinale). Những vi khuẩn này không những nuôi dưỡng nhưng tế bào biểu mô, mà còn bảo vệ cơ thể bằng cách kích hoạt hệ miễn dịch. Tính kín cửa hàng rào ruột là điều mấu chốt để có sức khỏe tốt của mỗi cá thể. Một thiếu sót của tính kín này và những chất chuyển hóa của các vi khuẩn gây bệnh có thể đi xuyên qua và tạo nên phản ứng viêm. Đó là một trong những lý thuyết thắng thế của bệnh ruột cơ năng (colopathie fonctionnelle)

         2. HAI NÃO BỘ ĐỐI THOẠI CHUNG QUANH MỘT SANDWICH
                  Sự việc ăn làm phát khởi một đối thoại rôm rã giữa não và ruột. Thí dụ, khi ta nhai một sandwich poulet-crudités, những capteur nằm trong miệng rồi trong thực quản, trong dạ dày và trong ruột báo động não bộ. Bắt đầu từ một lượng thức ăn nào đó, não bộ bắt đầu phát ra những tín hiệu chán ngấy (signal de satiété) để làm ngừng việc nhận thức ăn vào trong khi đó bắt đầu cuộc hành trình chậm chạp của thức ăn trong cơ thể. Được cô lại thành bột nhão (bouillie, chyme) trong dạ dày nhờ các dịch tiêu hóa và các co bóp của dạ dày, nhũ trấp sẽ du hành từ 5 đến 6 giờ trong ruột non, rồi từ 12 đến 18 giờ trong ruột già trong khi các hệ thần kinh trung ương (SNC) và hệ thần kinh ruột (SNE) gởi dồn dập cho nhau những thông điệp. Não bộ được thông báo về những gì xảy ra trong bụng nhờ vigie chính của nó, nhánh cảm giác của dây thần kinh phế vị và điều hòa những cử động ruột qua nhánh vận động của dây thần kinh này. 

           Trong khi đó, các neurone ruột, điều hòa nhịp nhàng các co bóp cơ để làm tiến bước thực hoàn (bol alimentaire) và điều biến các dịch tiết để tiêu hóa. Để thực hiện điều đó, SNE nhờ vào các thông tin của các lính canh (sentinelle) của nó, tiếp xúc trực tiếp với thức ăn : những tế bào ruột nội tiết (cellules entéroendocrines), một loại tế bào của hàng rào biểu mô (barrière épithéliale intestinale), có nhiệm vụ sản xuất sérotonine. Là những phòng xét nghiệm sống nhỏ thật sự, chúng phân tích chất chứa trong nhũ trấp (loại bỏ các chất dinh dưỡng, khả năng gây nguy hiểm) và gởi báo cáo lên hệ thần kinh trung ương cũng như hệ thần kinh ruột qua dây thần kinh phế vị. Để giúp đỡ chúng, chúng có thể trông cậy vào những vi khuẩn của quần thể ruột (flore intestinale) mà vai trò trước hết là nuôi dưỡng chúng, nhưng cũng sản xuất những phân tử báo động (molécules d’alerte). Khi mọi chuyện diễn biến tốt đẹp, buồng máy trơn tru này vận hành một cách im lặng và không gây đau đớn. Và thí dụ nếu đột ngột, một độc tố ẩn náu trong poulet được phát hiện, thế là chuẩn bị chiến đấu ! Hàng rào ruột (barrière intestinale) kích động hệ miễn dịch sản xuất các chất trung gian viêm (médiateurs inflammatoires) khiến kích thích dây thần kinh phế vị. Trong khi đó, não bộ có thể gây đau bụng như một tín hiệu báo động, một hoạt động viêm hay làm gia tăng hoạt tính của hệ thần kinh ruột, gây nên ỉa chảy hay nôn mửa.

                               “ Ruột sản xuất 95% sérotonine”                                                 
Michael Gershon
Professeur au Département d’anatomie et biologie cellulaire de l’université Columbia (NY)

       Hỏi : Ông đã tung ra ý niệm não bộ thứ hai. Điều gì mới đã xảy ra ?
       Micheal Gershon : Khi tôi viết cuốn sách của tôi, The Second Brain, cách nay 14 năm, tôi đã không ngờ đến tầm quan trọng của sérotonine trong hệ tiêu hóa. Thế mà bây giờ, ta biết rằng 95% sérotonine cửa cơ thể được sản xuất trong ruột ! Trong hệ thần kinh trung ương, chất dẫn truyền thần kinh này có liên hệ trong sự điều hòa khí chất, sự thèm ăn, giấc ngủ. Trong hệ thần kinh ruột, sérotonine vừa làm nhiệm vụ chiếc gươm và cái khiên. Là chiếc gươm (épée), bởi vì trong trường hợp nhiễm trùng, sérotonine được sản xuất phần lớn bởi những tế bào ruột nội tiết (cellules entéroendocrines) của ống tiếu hỏa để huy động hệ miễn dịch. Là cái khiên (bouclier) bởi vì nó bảo vệ các neurone chống lại những tác dụng có hại của quá trình viêm.
       Hỏi : Những hướng nghiên cứu hôm nay của ông là gì ?
       Micheal Gershon : Có khoảng 30 loạI tế bào thần kinh tiêu hóa (neurones digestifs), tại sao ? Những neurone này hẳn phải có những chức năng cần phải khám phá. Ngoài ra, làm sao mỗi loại tế bào đến đúng chỗ trong thời kỳ phát triển phôi thai ? Dường như những tế bào láng giềng ảnh hưởng lên sự chuyển đi và sự biệt hóa của những tế bào đến, như thể những tê bào mới hỏi đường những tế bào cũ. Bây giờ ta biết rằng những tế bào thần kinh tiêu hóa chuyện trò và ảnh hưởng lên nhau. Nếu ta hiểu hiện tượng này, ta có thể hy vọng tái lập một sự chuyển di đúng hay một sự biệt hóa tốt, đối với những bệnh lý hiếm như bệnh Hirschsprung. Nhưng ta cũng hiểu nhiều về sự phát sinh những bệnh thông thường như colopathie fonctionnelle.

           3. MICROBIOTIE CỦA CHÚNG TA CHỨA 100.000 TỈ VI KHUẨN
                    100.000 tỉ vi khuẩn ở trong ống tiêu hóa của chúng ta… hoặc 10 lần nhiều hơn tất cả những tế bào cửa cơ thể của chúng ta ! Chúng đại diện cho một nửa triệu gène, tương đương hơn 20 génome người trong ruột của chỉ một cá thể … Các nhà nghiên cứu không còn ngần ngại nữa khi nói đó là một cơ quan hoàn toàn tách riêng lúc nêu lên thuật ngữ “ microbiote ” này, hệ sinh thái (écosystème) sống trong ruột của chúng ta. Vào năm 2011, các nhà nghiên cứu ngay cả đã xác định rằng có 3 entérotype (A,B,C), như có 3 nhóm máu. Tuy vậy, cách nay không bao lâu, quần thể ruột (flore intestinale) của chúng ta chỉ là một terra incognita. Phải nói rằng 80% các vi khuẩn ruột không thể cấy được ở phòng thí nghiệm. Bị thuần phục nhau trong những tương tác phức tạp, phần lớn chết khi ta cố phân cách chúng. Vậy phải cần đến những công cụ mạnh của bio-informatique để đi tìm những gène trong phân.
               Thăm dò này còn ở giai đoạn tiền đề. Được bắt đầu năm 2008, MetaHIT, dự án đầu tiên thuộc loại này, được tài trợ lên đến 22 triệu euro bởi Commission européenne, đã thu góp những mẫu nghiệm trong 8 nước để séquencer toàn bộ các gène vi khuẩn. Trong khi dự án này hôm nay sắp kết thúc, những dự án khác sẽ tiếp tục nó. Ví dụ MétaGénoPolis, được đảm nhận bởi Inra (Institut national de la recherche agronomique), với Danone và Nestlé tài trợ, với một ngân sách 19 triệu euro, đề nghị xây dựng một ngân hàng quốc gia các mẫu nghiệm phân của 100.000 người tất cả, và phân tích 10.000 mẫu nghiệm mỗi năm để chứng minh tác dụng của quần thể ruột lên sức khỏe. Peter Bork, thuộc phòng thí nghiệm sinh học phân tử châu Âu (EMBL) của Heidelberg (Đức) đã mở site My.microbs. Với chưa được 1000 euro, có thể gởi một mẫu nghiệm phân cho Inra và cơ quan này chịu trách nhiệm trích các gène vi khuẩn và sau đó gởi chúng cho EMBL để phân tích hoàn chỉnh và tích trữ các dữ kiện. Mục đích không phải sinh lợi mà làm lớn lên catalogue các dữ kiện. Dự án sẽ được hoàn chỉnh, từ nay đến cuối năm, một mạng quốc tế nối kết tất cả những người tham dự mong muốn trao đổi với những người dùng khác, thí dụ về những bệnh lý. Một mạng xã hội thuộc một loại mới mà ta có thể mệnh danh là “ Fècesbook ” …

                         3 entérotypes cho 7 tỉ con người       

Microbiote (flore intestinale : quần thể ruột) của nhân loại  được cấu tạo bởi 3 entérotype, 3 cộng đồng được đặt tên tùy theo loại vi khuẩn nổi trội, mà sự hiện diện trong ruột của một cá thể không tùy thuộc vào nguồn gốc địa lý của cá thể này, cũng như không tùy thuộc vào tuổi tác hay giới tính. Tuy vậy entérotype có một ảnh hưởng không thể tranh cãi lên sự dinh dưỡng và sức khỏe. Tùy theo nhóm của bạn, các thức ăn mà bạn ăn vào sẽ không được tiêu hóa theo cùng một cách.
“ Bactroides ”
   Nhóm những người ăn thịt và mỡ động vật. Những rối loạn của entérotype này thường được liên kết với bệnh béo phì. Hiện diện ở 30% những người châu Âu
“ Prevotella ”
   Thông thường hơn ở những người tiêu thụ nhiều trái cây và rau xanh. Hiện diện ở 20% những người nguồn gốc châu Âu
“ Ruminococcus ”
   Là nhóm thường gặp nhất, ta tìm thấy ở một nửa dân châu Âu. Nhóm này dường như thích rượu và dầu thực vật.

          4. STRESS LÀM ĐẢO LỘN QUẦN THỂ RUỘT CỦA CHÚNG TA.
                   Tình yêu có thể gây nên cảm giác buớm bay (sensation de papillons) trong bụng, lo âu làm thắt dạ dày, sợ hãi làm đau bụng quặn …một cách thường nghiệm, các cảm xúc dường như có những tác động trực tiếp lên hệ tiêu hóa của chúng ta. Người ta đã chứng minh rằng stress thật sự biến đổi ruột của chúng ta, chính xác hơn là microbiote của nó (flore intestinale : quần thể ruột). Kíp của Michael Bailey, nhà nghiên cứu thuộc đại học Tiểu bang Ohio (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu chủ đề này từ nhiều năm qua. Trong một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Brain, Behavior, and Immunity năm 2011, Bailey tiết lộ rằng ở các con chuột bị stress, các vi khuẩn của ống tiêu hóa mất đi tính đa dạng và nhất là tăng sinh những vi khuẩn có tiềm năng nguy hiểm, như loài Clostridium. Vào năm 1999 kíp này đã khám phá rằng sự phân cách với mẹ làm đảo lộn quần thể ruột ở khỉ rhésus. Thật vậy, sau những phân tích vi khuẩn phân, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng sau một sự phân cách mẹ-em bé trong 3 ngày, microbiote trở nên ít đi các lactobacille. Hiện tượng này tương ứng với những hành vi stress ở người thanh niên. Ngoài ra, những người trẻ này dễ bị nhiễm trùng hơn những kẻ khác. Những kết quả này gợi ý rằng một xúc cảm mạnh do sự phân cách mẹ-trẻ em có thể làm gia tăng tính dễ thương tổn (vulnérabilité) đối với bệnh, công trình nghiên cứu đã kết luận như vậy. Kết quả : những thay đổi đáng kể microbiote (giảm mạnh số bifidobactérie và lactobacille) đã được chứng thực ở những con khỉ nhỏ trong 6 tháng đầu tiên của đời sống. Những biến đổi có thể gây nên một sự nhạy cảm cao đối với những nhiễm trùng.

          5. ỐNG TIẾU HOÁ CỦA CHÚNG TA CÓ TRÍ NHỚ
                 “ Ruột của chúng ta cũng như một gương mặt. Il fait la tête, nó sung  sướng nó có những tâm trạng, Emeran Mayer, giáo sư y khoa, giám đốc của Centre de neurobiologie de stress thuộc đại học Californie Los Angeles đã giải thích như vậy. Năm 2011, ông đã viết một bài báo dài trong Nature Review Neuroscience, về những cảm xúc của ruột (émotions intestinales). Theo ông ống tiêu hóa và hệ thần kinh của nó phản ứng lại với môi trường (thức ăn, các tác nhân gây bệnh, các cảm xúc) bằng cách gây nên khoái lạc hay sự khó chịu, cảm giác ăn ngon hay buồn nôn, đau bụng, thậm chí mửa. Những phản ứng này, vốn riêng cho chúng ta, có lẽ đã được encodé suốt trong hai năm đầu của đời sống. Trẻ sơ sinh ghi nhớ những phản ứng này khi nó kinh qua những kinh nghiệm đầu tiên về đau và khoái lạc khi ăn uống. Đó là bản đồ giác quan (carte sensorielle) đầu tiên của đứa bé. Nói một cách khác, em bé tạo cho mình những ký ức intéroceptif, liên quan đến những kích thích và những thông tin phát xuất từ các tạng. Và giáo sư đưa ra một lý thuyết gây ngạc nhiên : Ý tưởng dân gian cho rằng đôi khi ta có một quyết định một cách viscéral có thể có một cơ sở thần kinh sinh học. Mọi tình huống được gặp tương ứng với một bản đồ giác quan được mã hóa, gây nên một phản ứng ở bụng, như thế giúp chúng ta có một quyết định trực giác.

         6. TRẦM CẢM, LO ÂU, CÁC VI KHUẨN ẢNH HƯỞNG HÀNH VI CỦA CHÚNG TA.
                “ Mối liên hệ giữa ruột và não bộ là một lãnh vực nghiên cứu đang phát triển mạnh, Joel Doré, giám đốc nghiên cứu của unité Microbiologie de l’alimentation thuộc service de la santé của Institut national de la recherche agronomique (Inra) đã nhấn mạnh như vậy. Chúng ta biết rằng các vi khuẩn ruột nói với biểu mô (épithélium) của chúng ta, những tế bào người lót mặt trong thành ruột, và chúng ta cố hiểu điều chúng kể với nhau.”  Bởi vì cuộc đối thoại này có thể giải thích vài trong số những căn bệnh của chúng ta… thậm chí hành vi của chúng ta ! Thật vậy từ nay ta biết, nhờ MetaHIT, projet de séquençage  các vi khuẩn ruột của chúng ta, rằng một microbiote bị nghèo đi (cấu tạo của quần thể ruột của chúng ta) đặc biệt liên hệ với chứng béo phì hay những bệnh lý viêm (pathologies inflammatoires). Có phải chính việc lựa chọn thức ăn của chúng ta quyết định thành phần của vi khuẩn ruột của chúng ta hay ngược lại ?
            “ Trong trường hợp chứng béo phì, ta không thể loại bỏ những tương tác đi đến mức “ coconstruction ”  của các chọn lựa thức ăn ”. Joel Doré đã nói tiếp như vậy. Các vi khuẩn của chúng ta sẽ gởi các tín hiệu đến biểu mở và những tín hiệu này lên đến não bộ để buộc não bộ theo những thèm muốn của nó… Ta biết rằng nhiều bệnh đã dày ruột, trong đó bệnh syndrome du côlon irritable, thường được liên kết với lo âu và trầm cảm. Phải chăng có thể rằng những rối loạn hành vi này bắt nguồn từ sự mất quân bình của cộng đồng vi khuẩn ruột ? Vài công trình nghiên cứu được tiến hành trên chuột đi theo chiều hướng này, như những công trình của Steve Collins được công bố trong tạp chí Gastroenterology (2011). Các nhà nghiên cứu đã lựa chọn hai dòng (lignée) chuột, một dòng khá hoạt động và táo bạo, còn một dòng thì trầm tĩnh hơn. Rồi người ta đã chủng vào mỗi dòng  microbiote của dòng kia. Kết quả : một sự đảo ngược hoàn toàn của hành vi ! Các con chuột trầm tĩnh trở nên phiêu lưu và ngược lại !
           Các nhà nghiên cứu cũng đã chứng thực một sự biến đổi của nồng độ của BDNF (Brain-Derives Neurotrophic Factor), một chất trung gian thần kinh có liên hệ trong tính khí và trí nhớ. Làm sao giải thích điều đó ? “ Các vi khuẩn, đã có hàng trăm triệu năm hiện hữu, biết làm mọi chuyện và thích ứng với tất cả các môi trường, Dusko Ehrlich, giám đốc nghiên cứu ở Inra de Jouy-en-Josas đã giải thích như vậy. Vậy ta nghĩ rằng các vi khuẩn có khả năng tổng hợp những chất dẫn truyền thần kinh, một khi được phóng thích vào trong máu, đi qua hàng rào sinh lý giữa tuần hoàn máu và hệ thần kinh trung ương để tác động lên não bộ của chúng ta.” Và những công trình nghiên cứu khác cho thấy rằng những con chuột có một microbiote có một hành vi ít nguy hiểm hơn những con chuột không có nó. “ Thật vậy giả sử nếu tôi là một vi khuẩn, ông ta đã tưởng tượng như vậy, tôi không muốn rằng ký chủ của tôi chịu những nguy cơ không được suy xét : tôi sẽ làm tất cả để ông chủ của tôi phải thay đổi hành vi ! “ Phải chăng chúng ta thật sự hoàn toàn làm chủ những hành vi của chúng ta ? Còn cần nhiều công trình nghiên cứu để tháo gỡ chỉ rối mà con vi khuẩn tác động lên chúng ta.

        7. BỆNH PARKINSON CÓ THỂ CÓ NGUỒN GỐC TRONG RUỘT GIÀ.
                     Chẳng bao lâu nữa chỉ cần làm sinh thiết đại tràng sẽ cho phép chẩn đoán bệnh Parkinson trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên. Đó là bước tiến ngoạn mục được thực hiện bởi kíp nghiên cứu của Pascal Derkinderen, Michel Neunlist và Stanislas Bruley des Varannes, thuộc đơn vị Inserm 913, ở Nantes. “ Ý tưởng nảy sinh tiếp theo sau hai tài liệu xuất bản đã đánh dấu một bước ngoặt, Pascal Derkinderen, thầy thuốc thần kinh thuộc CHU de Nantes đã kể lại như vậy. Vào năm 2003, nhà cơ thể bệnh lý người Đức Heiko Braak, thuộc đại học Goethe de Franfort, phát hiện những thương tổn rất đặc biệt trong não bộ của những bệnh nhân bị bệnh Parkinson được quan sát sau khi chết : những thương tổn này xảy ra ở hành khứu giác (bulbe olfactif) và noyau moteur dorsal của dây thần kinh phế vị từ đó phát xuất nhân vận động của dây thần kinh phế vị phân bố thần kinh ống tiêu hóa.” Cho mãi đến nay, những quan sát được tập trung vào một nhân khác của não bộ, substance noire, sản xuất dopamine. Bệnh Parkinson được mô tả một cách cổ điển như là một căn bệnh thoái hóa của các neurone dopaminergique, gây nên những biến đổi vận động điển hình (run, khó bước). Sự mất neurone thường được kèm theo các đám bất thường những protéine trong các neurone được gọi là “ thể Lewy ”. “ Vào năm 2006, Heiko Braak đã lập lại nghiên cứu, nhưng lần này mở rộng lên toàn cơ thể, Pascal Derkinderen đã nói tiếp như vậy. Chính khi đó ông ta đã quan sát thấy rằng đa số những người bị bệnh Parkinson có trong hệ thần kinh ruột cùng những thương tổn như trong não bộ, với những thể Lewy ! ”. Như thế xác nhận điều mà các thầy thuốc Nhật bản đã phát hiện vào cuối những năm 1980. 
           Kíp của đơn vị 913 khi đó quyết định soạn thảo một protocole chưa từng có và phát động một cuộc thí nghiệm ở trung tâm nghiên cứu lâm sàng của CHU. Ý tưởng : tìm kiếm trong các sinh thiết của ruột già của những người bị bệnh Parkinson một dấu hiệu của bệnh não. Sinh thiết là một mẫu nghiệm lấy từ thành ruột có kích thước một hạt gạo, được thực hiện bằng nội soi. Khi đó ngón khéo là quan sát mẫu nghiệm không phải bằng lát cắt mà là trải mô để thấy những neurone ruột. Như thế cac nhà nghiên cứu đã phân tích các mẫu nghiệm của 39 bệnh nhân (trong đó 10 người chứng) và đã thành công định đặc điểm các neurone. Kết quả : “ Chúng tôi đã phát hiện những thể Lewy ở 21 trong số 29 bệnh nhân Parkinson (72%), và đã cho thấy rằng tầm quan trọng của các thương tổn tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh, thầy thuốc thần kinh đã báo cáo như vậy. Vậy ta có thể xét đến việc sử dụng những phân tích đại tràng như là những chỉ dấu sinh học (biomarqeur) về mức độ nghiêm trọng của bệnh, lúc bệnh nhân còn sống. ” Còn cần phải đơn giản hóa kỹ thuật phân tích để có thể thực hiện một cách thường quy trong 3 đến 5 năm nữa. Từ nay về sau, các nhà nghiên cứu hy vọng tìm ra những phương pháp để phối hợp sinh thiết đại tràng với những chỉ dấu sinh học khác như các trắc nghiệm khứu giác, để có được một chẩn đoán sớm, ngay trước khi xuất hiện những  dấu hiệu vận động của bệnh.
          Mục tiêu quan trọng khác : xác định xem, như Heiko Braak đã gợi ý một cách hoàn toàn chưa hề có, bệnh Parkinson có phải là do một tác nhân bệnh lý bên ngoài, một độc tố môi trường vẫn còn không được nhận biết. Tác nhân này, một khi được hít hay nuốt vào, đi xuyên qua niêm mạc mũi hay hàng rào biểu mô ruột và lên đến tận substance noire của não bộ, qua dây thần kinh phế vị và hành khứu giác. Một lý thuyết, nếu được xác nhận, sẽ cách mạng hóa việc điều trị bệnh. “Những dữ kiện dịch tễ học và lâm sàng đem lại những luận cứ hỗ trợ cho lý thuyết này, Pascal Derkinderen đã đánh giá như vậy. Thật vậy ta biết rằng những rối loạn ruột hay khứu giác là những dấu hiệu báo trước hay những yếu tố nguy cơ của bệnh.”  Nhưng vẫn có nhiều phản bác trong cộng đồng y khoa. Và nhà nghiên cứu kết luận : “ Nhà cơ thể bệnh lý thần kinh của Vienne Kurt Jellinger đã đặc biệt công bố một công trình nghiên cứu (2008) cho thấy rằng trên 71 trường hợp bệnh Parkinson, được phân tích sau khi chết, chỉ 53% phù hợp với lý thuyết ruột-não của Braak. Chúng tôi chia sẽ mối nghi ngờ của ông ta. ”

       8. THÔI MIÊN, KHÁNG SINH… NHỮNG HƯỚNG ĐIỀU TRỊ MỚI
             Có phải điều trị bụng để thấy tinh thần được cải thiện hay có phải ưu tiên tâm thần để không còn bị đau bụng nữa ? Hai não bộ của chúng ta liên quan mật thiết với nhau, do đó không ngạc nhiên rằng những phương cách điều trị chồng chéo nhau. Trước hết có một điều chắc chắn : trong thực tế hàng ngày, điều trị một cái bụng đau tỏ ra khó khăn. Những điều trị cổ điển, các thuốc chống co thắt (antispasmodique), mặc dầu được kê đơn một cách rộng rãi nhưng chúng chỉ tác dụng trên đau quặn bụng (crampe abdominale) và chỉ hiệu quả một cách trung bình, BS Jean-Marc Sabaté, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc bệnh viện Louis-Mourier de Colombes (Hauts-de-Seine) đă xác nhận như vậy. Tôi tin chắc rằng một ngày nào đó sẽ có thể nhận diện ở những bệnh nhân cơ chế hay những cơ chế nổi bật và khi đó có thể điều trị mỗi bệnh nhân một cách cá thể hóa. Trong khi chờ đợi l’heure du “ sur mesure ”, sau đây là vài hướng điều trị có ưu điểm chung là tính đến mối liên hệ giữa hai não bộ của chúng ta.

THÔI MIÊN : MỘT PHUƠNG PHÁP ĐẦY HỨA HẸN
         Thường do stress, đau bụng có thể được điều trị bằng những buổi thư giãn (relaxation), yoga, thể thao…, nhưng từ nay cũng có thể điều trị bằng thôi miên. Phương pháp này có vẻ rất đầy hứa hẹn “ với 40% lợi ích trong những công trình nghiên cứu so với placebo, trong khi những phương pháp khác không vượt quá 15% ”, BS Sabaté đã nhấn mạnh như vậy. “ Những công trình nghiên cứu được tiến hành duy nhất ở những người tình nguyện lành mạnh đã cho thấy rằng thôi miên làm biến đổi những ngưỡng hoạt hóa các vùng não bộ liên hệ trong sự kiểm soát đau đớn, GS Benoit Coffin, trưởng khoa dạ dày ruột thuộc bệnh viện Louis-Mourier đã bình luận như vậy. Ở đây, từ hơn một năm nay, các thầy thuốc đề nghị vài bệnh nhân thăm khám Nathalie Bourdin, y tá gây mê và thôi miên điều trị (hypnothérapeute) trong khoa. “ Khoảng 6 buổi, một giờ mỗi tuần, cho phép làm giảm hay làm thuyên giảm những triệu chứng đau của họ, bà đã xác nhận như thế. Lúc đầu, bệnh nhân, mặc dầu thường rất lo âu, nhưng cũng tỏ ra tò mò. Tôi trấn an họ để đưa họ ra khỏi hình ảnh của thôi miên hội chợ (hypnose de foire). Họ học nhanh chóng những kỹ thuật tự kỷ ám thị để tiếp tục thực hiện ở nhà.” Trong 1 năm, khoảng 15 bệnh nhân đã được theo dõi. Chỉ hai bệnh nhân đã bỏ cuộc. Còn cần phải dẫn chứng một cách chính xác bằng những con số về tính hiệu quả.

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG : TRÁNH CÁC CHẤT ĐƯỜNG LÊN MEN (SUCRES FERMENTESCIBLES).
                   “ Mặc dầu không có chế độ ăn uống nào chứng tỏ sự ưu việt ”, BS Sabaté đã xác nhận như vậy, tuy nhiên có hai hướng : những probiotique và những fodmap (oligosaccharides, disaccharides và monosaccharides và polyols fermentescibles). Những loại đường lên men này được chứa trong vài chewing-gums, những thực phẩm, các loại thuốc và các mỹ phẩm, từ ít lâu nay được tất cả mọi chú ý bởi vì chúng bị nghi ngờ làm dễ những triệu chứng đau từ bộ máy tiêu hóa. 

KHÁNG SINH : MỘT LỢI ÍCH CẦN XÁC NHẬN
            Thế thì tại sao không dùng kháng sinh để điều trị côlon irritable ? Vào năm 2011, một công trình nghiên cứu được tiến hành ở chuột bởi một nhóm nghiên cứu Canada lần đầu tiên mang lại bằng cớ về mối liên hệ giữa não bộ và microbiote ruột. Việc sử dụng các kháng sinh đã cho phép biến đổi quần thể ruột , cũng kèm theo bởi một sự thay đổi hành vi của các động vật gặm nhấm ! Những kết quả có thể áp dụng ở người khi ta biết những thành phần trầm cảm và lo âu của syndrome du côlon irritable. Kíp của Marc Pimentel, thuộc Cedars Sinai Medical Center à Los Angeles đã quan tâm đến không những psychisme của các bệnh nhân mà còn những triệu chứng bụng của họ. Vào năm 2011, kíp đã cho thấy rằng một điều trị ngắn ngày, 15 ngày rifaximine, một kháng sinh được sử dụng để điều trị diarrhée du voyageur, tỏ ra đáng phấn khởi. Thật vậy điều trị đã cho phép làm thuyên giảm những bệnh nhân một cách dài lâu, nghĩa là trong 10 tuần. Còn cần phải hiểu bằng cơ chế nào. 

                       “ Colopathie gây bệnh cho 5% dân số ”                                          
Pr Jean Marc Sabaté
Gastroentérologue
Hopital Louis-Mourier de Colombes

      Hỏi : Hội chứng ruột dễ kích thích (syndrome du côlon irritable) là gì ?
      GS Jean Marc Sabaté : Rối loạn này, cũng được gọi là colopathie fonctionnelle, biến cách tùy theo mức độ nghiêm trọng khác nhau. Hội chứng liên kết những triệu chứng đau bụng và/hoặc một cảm giác khó chịu, và những rối loạn nhu động (ỉa chảy và/hoặc bón), những triệu chứng này xuất hiện ít nhất ba ngày mỗi tháng và từ ít nhất 6 tháng, theo xếp loại được gọi là Rome III, được sử dụng nhất bởi các thầy thuốc trong những công trình nghiên cứu. Nhưng vẫn còn nhiều điểm không được sáng tỏ về những cơ chế của nó.
      Hỏi : Những ai bị liên hệ ?
      GS Jean Marc Sabaté : Theo các công trình nghiên cứu, hơn 5% dân số, trong đó phần lớn là phụ nữ. Tuy vậy rối loạn này phần lớn vẫn còn không được biết đến mặc dầu căn bệnh tỏ ra làm trở ngại cho cuộc sống hàng ngày, làm biến đổi nghiêm trọng chất lượng sống. Căn bệnh này, khiến cho bệnh nhân phải thăm khám nhiều lần, cũng gây nên một phí tổn quan trọng đối với xã hội.
      Hỏi : Làm sao chẩn đoán ?
      GS Jean Marc Sabaté : Không có một chỉ dấu sinh học (marqueur biologique) nào đã được nhận diện, đó là một chẩn đoán loại trừ, các xét nghiệm máu, nội soi đại tràng và các sinh thiết đều bình thường. Trên thực tế, mọi người đều lúng túng, bệnh nhân và thầy thuốc, thường bị thất bại. Chính vì thế chúng tôi đã thành lập cùng với một bệnh nhân vào năm 2011 association Apssi, để làm biết rõ hơn căn bệnh và ủng hộ nghiên cứu. Những công trình mới nhất cho thấy rằng đúng là có những bất thường ở ruột già (viêm vi thể, những bất thường của quần thể ruột, của tính thẩm thấu của thành đại tràng) hay những bất thường trong sự kiểm soát đau đớn ở não bộ và tủy sống với một tăng nhạy cảm tạng (hypersensibilité viscérale).

       Hướng về sự hiệu chính những thuốc chống trầm cảm đặc hiệu

       “ Boule au ventre”, “ stress digestif ”, mọi người đều biết chúng. Vài biến cố gây căng thẳng, hay được trải qua như thế, có thể làm phát khởi hay làm trầm trọng những triệu chứng tiêu hóa. Những kiến thức về những mối liên hệ này đang tiến triển. Thí dụ, từ vài năm nay, việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm đang được xét đến như là những phương thức điều trị, nhất là trong những trường hợp nặng nhất : thật vậy các thầy thuốc đánh giá tác dụng chống đau của các thuốc chống trầm cảm trên ruột, thêm vào những tác dụng được biết rõ lên khí chất. Tác dụng này là do sérotonine, chất dẫn truyền thần kinh từ nay được xác nhận như là một chất trung gian chủ chốt của tính nhận cảm tạng (sensibilité viscérale). Ngay cả những loại thuốc mới đặc biệt được dành cho ruột, Alosetron và Tegaserod, những chất đối kháng các thụ thể được gọi là 5HT3 và 4 của chất trung gian thần kinh này, đã được phát triển ở Hoa Kỳ. Thật vậy, các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng chúng ức chế chức năng vận động ruột và tính quá nhạy cảm được mô tả bởi các bệnh nhân. Nhưng những loại thuốc này đã không thành công như các nhà chế tạo dự kiến. Thí dụ Alosetron (GSK), được thương mãi hóa năm 2000, đã phải bị rút ra khỏi thị trường chưa được 9 tháng sau khi thương mãi hóa, vì lẽ 5 trường hợp tử vong gây nên bởi những biến chứng tiêu hóa !

Còn về Tegaserod (Novartis), hiện có bán ở Hoa Kỳ nhưng châu Âu đã không bật đèn xanh để thương mãi hóa loại thuốc này vì đánh giá rằng những lợi ích của chúng không đủ. Tuy nhiên những thuốc chống trầm cảm khác cũ hơn, thuộc họ tricycliques, đôi khi cũng được sử dụng. Một sự kê đơn vẫn còn khó hiểu và khó được bệnh nhân bị đau bụng chấp nhận. “ Chúng tôi phải giải thích cho họ nguồn gốc phức tạp, được gọi là neuropathique, của triệu chứng đau của họ bởi vì đôi khi họ bực mình khi ta nói với họ rằng họ bị trầm cảm ”, BS Philippe Ducrotté, thuộc CHU de Rouen, đã xác nhận như vậy. Những công trình nghiên cứu bổ sung sẽ xác nhận lợi ích của hướng điều trị này.

          9. VỀ VIỆC SỬ DỤNG TỐT CÁC PROBIOTIQUE
                     Có phải nuốt hàng tỉ vi khuẩn sống (được gọi là probiotiques) để cảm thấy “ bụng được mạnh khỏe ”. Câu hỏi đang được tranh cãi. Theo định nghĩa chính thức được xác lập bởi Tổ chức y tế thế giới và Tổ chức lương nông quốc tế (FAO) năm 2001, những probiotique là những “ vi sinh vật sống, khi được cho bằng những lượng thích đáng, mang lại cho ký chủ một lợi ích về mặt sức khỏe ”. Về mặt thực tiễn, đó là những vi khuẩn của sữa, được khám phá bởi giải Nobel Elie Metchnikoff (1845-1916). Ong đă quan tâm đến những lợi ích mà yaourt, được chế tạo từ sữa được lên men, mang lại cho dân Bulgarie.
                     Ngày nay có trên thị trường nhiều cocktail de probiotiques đề nghị làm dễ sự tiêu hóa, tránh ỉa chảy, khí, bón, chướng bụng nhưng cũng tăng cường phòng vệ của cơ thể.
                     Để chế tạo một probiotique tốt, phải chọn những giống gốc vi khuẩn có hiệu quả và không có những nguy cơ đề kháng với các kháng sinh, Alban Maggiar, tổng giám đốc của laboratoire Carrare và chủ tịch của Syndicat national des fabricants de compléments alimenataires, đă giải thích như vậy. Có hàng ngàn giống gốc vi khuẩn, chủ yếu thuộc hai nhóm, lactobacilles và bifidobactéries, ở trạng thái tự nhiên hiện diện trong ống tiêu hóa của chúng ta. Tối thiểu phải nuốt vào một tỷ vi khuẩn để có một hiệu quả. Trong những sản phẩm của chúng tôi , chúng tôi phát 7 tỷ mỗi liều, với 5 đến 7 giống gốc vi khuẩn khác nhau. Phải được đôi mới một cách đều đặn. Một khi đã vào trong ruột chúng sẽ làm gì ? Một khi đã vào trong ruột chúng sẽ làm gì ? Các nhà nghiên cứu của Baylor College of Medicine de Houston (Texas, Hoa Kỳ) trong một tạp chí về các công trình in vitro và ở động vật, được công bố vào năm 2010, đã xác nhận rằng các probiotique có thể gây nên một cách rõ ràng những biến đổi sinh học đáng kể trong ống tiêu hóa mặc dầu sự hiện diện của những hệ sinh thái vi khuẩn phức tạp. Còn tác dụng trên người ? Trong một tài liệu tổng hợp, Synadiet cho thấy rằng vài giống gốc cho phép phòng ngừa và điều trị những rối loạn như ỉa chảy hay những triệu chứng của colopathie fonctionnelle.
                     “ Sự kiện chắc chắn duy nhất là các probiotiques hiệu quả để điều trị bệnh ỉa chảy cấp tính ở người, Didier Raoult, giáo sư và nhà nghiên cứu thuộc đại học y khoa Marseille đã xác nhận như vậy. Còn lại dường như không có gì là rõ ràng cả. ” Lấy làm tiếc rằng các nghiên cứu về probiotiques phần lớn được tài trợ bởi các groupe agroalimentaire, thầy thuốc kiêm nhà nghiên cứu nêu lên một vấn đề tầm cỡ khác : “ Từ 50 năm nay, các nhà chăn nuôi cho các gia súc những probiotiques, như là những chất kích thích tăng trưởng, để làm cho chúng béo phì ra. Bởi vì vài vi khuẩn làm gia tăng sự hấp thụ calories ở ruột. Làm sao ta không nghi ngờ được rằng một sự tiêu thụ ở người cũng làm lên cân ? ” Trong một bài báo của tạp chí Nature tháng 9 năm 2009, Didier Raoult tự hỏi về mối liên hệ khả dĩ giữa sự tiêu thụ các sản phẩm được làm phong phú bởi vài loại probiotique và dịch bệnh béo phì. “ Đã đến lúc phải tiến hành một bản kiểm kê thật sự về tất cả những probiotiques được thương mãi hóa và về những tác dụng của chúng, nhằm kiểm tra xem vài giống gốc có đặc biết gây nên một sự biến đổi của quá trình hấp thụ calories hay không.”
           Hậu quả trực tiếp hay không của những tiếng kêu báo động, các groupe agroalimentaire vào năm 2009 đã được yêu cầu rút đi mọi lời dẫn về sức khỏe trên các sản phẩm sữa được làm phong phú bởi probiotiques, như Actimel hay Activia. “ Ngay cả khi, Didier Raoult nhấn mạnh, chúng ta đã không tìm thấy trong những sản pham này những giống gốc làm biến đổi sự hấp thụ calo.”

         10. NGÀY MAI YAOURT CHỒNG TRẦM CẢM ?
                     Một công trình nghiên cứu gây ngạc nhiên, được trình bày sắp đến bởi nhóm nghiên cứu của giáo sư Emeran Mayer thuộc đại học Californie (Hoa kỳ) có thể gây nên nhiều tiếng ồn. Theo nhà khoa học, thật vậy những kết quả cho thấy rằng lúc chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ, những vùng não bộ liên quan trong chứng lo âu phản ứng lại ít hơn trước những hình ảnh buồn nếu người bệnh trước đó đã theo một đợt điều trị với probiotiques. “ Bằng cách tác dụng lên hệ thần kinh ruột và dây thần kinh phế vị, các vi sinh vật này có thể mang lại lợi ích cho não bộ ! ”, GS của đại học Californie, dường như không lấy làm ngạc nhiên lắm, đã kết luận như vậy.
                   Thật vậy, những công trình nghiên cứu trước đây đã báo trước kết quả này, nhất là những công trình nghiên cứu của John Cryan, thuộc đại học Cork (Ireland), được công bố trong các báo cáo của Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ (Pnas, 2011). Nhóm nghiên cứu đã chứng minh rằng các con chuột được nuôi với một chế độ ăn uống giàu các vi khuẩn của giống gốc Lactobacillus rhamnosus JB-1 ít bị stress, lo âu và những hành vi trầm cảm hơn những con chuột được nuôi một cách cổ điển. Ngoài ra, việc ăn vào các vi khuẩn đã tương quan với một nồng độ thấp hơn corticostérone, hormone de stress ở động vật, cũng như tương quan với những thay đổi trong biểu hiện của các thụ thể đối với GABA. Thế mà, GABA là chất dẫn truyền thần kinh ức chế (neurotransmetteur inhibiteur) chính của não bộ, đặc biệt có liên hệ trọng chứng trầm cảm. “ Những tác dụng lên hành vi đã rất là tương tự với điều ta có thể thấy khi ta chích một mũi Valium vào những con chuột này ”, John Cryan ngay cả tuyên bố như vậy nhấn một chuộc phỏng vấn dành cho National Public Radio năm 2011. Nhà nghiên cứu cũng giải thích rằng những hiện tượng này không còn được quan sát nữa nếu ta cắt dây thần kinh phế vị của chuột, xa lộ hai chiều nối não bộ với ruột non. Do đó các tác giả gợi ý rằng “ vài vi sinh vật có thể là những adjoints thérapeutiques trong các rối loạn có liên quan đến stress như tình trạng lo âu và  chứng trầm cảm ”. Một công trình nghiên cứu đầu tiên trên người đã được công  bố vài tháng trước đó trong Journal of British Nutrition bởi kíp của Michael Messaoudi. Nhóm nghiên cứu đã cho thấy rằng ở một nhóm người tình nguyện, sự cho một cocktail de probiotiques (Lactobacillus helveticus ROO52 và Bifidobacterium longum RO175) “ làm thuyên giảm détresse psychologique của những người tình nguyện ”.
           Thế  thì ngày mai đây ta sẽ có thể mua những probiotiques “ tốt cho não bộ ” hay không ? “ Đó là một hướng tương lai, Alban Maggiar, thuộc phòng bào chế Carrare, chuyên sản xuất probiotiques đã xác nhận như thế. Nhung ai sẽ dám bảo về một lời dẫn như thế trong khi Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (Efsa) theo dõi sát chúng tôi ? Câu trả lời còn thận trọng hơn ở phòng bào chế Danone, mặc dầu theo dõi rất sát những nghiên cứu này : “ Đó là một chủ đề rất mới, Françoise Néant, người phụ trách đã trả lời như vậy. Về việc xác nhận một thức ăn làm điều tốt cho microbiote cũng sẽ làm điều tốt chỗ nào bộ của chúng ta, chúng tôi chưa ở giai đoạn đó !. ”
(SCIENCES ET AVENIR 6/2012)

2/ CHUỘT BỊ BẠI LIỆT ĐÃ HỌC BƯỚC ĐI TRỞ LẠI
         Ở Lausane, các nhà nghiên cứu đã có thể đánh thức tủy sống của một con vật nhờ những xung động điện.
         Trường bách khoa liên bang Lausane, centre de neuroprothèse, một con chuột trắng được đỡ bởi một harnais robotisé được đặt trên một thảm lăn (tapis roulant). Nó phải lê đôi chân vì chúng không còn đỡ nó nữa. Điều này dễ hiểu : tủy sống của vì đã bị cắt đứt một phần ở hai vị trí. Chính khi đó mà Grégoire Courtine, chercheur en neurosciences và giám đốc phòng thí nghiệm, khởi động một nút và điều kỳ lạ xảy ra : con chuột bước di ! Theo công trình nghiên cứu được công bố bởi nhóm nghiên cứu Thụy Sĩ trong Science, thí nghiệm đạt được tỷ lệ thành công 100%.
         Làm sao có thể như thế được ? “ Chúng tôi đánh thức tủy sống bằng cách mang lại cho phần bị thương tổn điều mà não bộ bình thường mang lại cho nó, Grégoire Courtine đã kể lại như vậy. Nghĩa là những chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteur) và những xung động điện. ” Nhà nghiên cứu trước hết đã chích vào, dưới mức thương tổn, một cocktail các chất dẫn truyền thần kinh (các mono-amines). Trong một tài liệu xuất bản trước đây, vào năm 2009, nhóm nghiên cứu đã cho thấy những monoamine này (dopamine, sérotonine, adrénaline), lúc gắn vào vài thụ thể của các neurone của tủy sống, đã tham gia vào sự điều hòa bước đi như thế nào. Ngoài ra kíp nghiên cứu đã giải thích rằng tác dụng có lợi này được tăng cường nếu được liên kết với một kích thích điện liên tục. Ở những con chuột được kích thích, tủy sống lần nữa có khả năng làm tròn chức năng của nó. Tủy sống nhận thông tin giác quan (information sensorielle) phát xuất từ vòm chân và gởi trở lại những mệnh lệnh vận động về phía những cơ của cẳng chân. Nhưng ngạc nhiên lớn nhất lại ở chỗ khác. Những quan sát cơ thể học khiến không còn có thể nghi ngờ được nữa : các neurone mới đã nối kết hai phần bị cắt đứt bằng cách đi vòng sẹo gây nên bởi thương tổn. Hơn thế, phân tích hoạt động não của vỏ vận động tiết lộ rằng sau vài tuần, não kiểm soát trở lại bước đi : cử động trở nên tự ý. Một tính dẻo của tế bào thần kinh (plasticité neuronale) như thế, hiếm khi được quan sát cho đến nay, chỉ xảy ra với hai điều kiện : “ khi kích thích dược điện (stimulation pharmacoélectrique) được áp dụng và khi sự huấn luyện được thực hiện nhờ harnais robotisé. ” Ngoài ra sự luyện tập nhờ harnais robotisé sẽ được nói đến trong một tài liệu xuất bản khác vào tháng bảy này trong Nature Medicine. Ở đây ta biết được rằng thiết bị cho phép động vật bị bại liệt phục hồi nhanh hơn so với một thảm lăn. Các kết quả gây ngạc nhiên đến độ các nhà nghiên cứu đã dự kiến thực hiện một thử nghiệm lâm sàng trên một bệnh nhân người bị liệt trong hai năm đến.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2012)

3/ 90% THANH NIÊN CHÂU Á BỊ CẬN THỊ
          Thầy thuốc chuyên khoa mắt sẽ là một nghề nghiệp có tương lai, dẫu sao cũng ở châu Á : gần 90% các thanh niên trong các nước phát triển ở vùng này của thế giới (Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Đại Hàn, Singapour…) bị cận thị sau khi tốt nghiệp. Một phần năm trong số những thanh niên này ngay cả bị cận thị nặng. Theo lời giải thích được đưa ra trong The Lancet bởi kíp nghiên cứu của Ian Morgan, thuộc đại học Canberra (Úc), nguyên nhân là một sự thiếu hụt dopamine, một phân tử được sản xuất trong võng mạc khi võng mạc được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Mối liên hệ ? Mắt tiếp tục phát triển cho đến năm 25 tuổi dưới sự kiểm soát của dopamine : khi dopamine thiếu hụt, nhãn cầu lớn lên một cách quá mức. Các vật ở xa không còn được hiện lên trên võng mạc nữa và ta tri giác những hình ảnh mờ.Thế mà, những thanh thiếu niên châu Á trải qua phần lớn thời gian ở trong nhà vì chịu sức ép mạnh của học hành, và vì bị lôi cuốn hơn bởi Internet và các vidéo.
           Những nước công nghiệp khác cũng không còn được tha miễn nữa. Ở Pháp, theo một thăm dò được thực hiện đầu tháng sáu bởi Association nationale pour l’amélioration de la vue (Asnav), chứng cận thị ảnh hưởng lên 25 đến 30% những thanh niên từ 18 đến 25 tuổi. Một tỷ lệ lưu hành sẽ tăng gấp đôi trong vòng một thập niên.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2012)

4/ HUYẾT ÁP : ĐO HAI BÊN HƠN LÀ ĐO MỘT BÊN
            Ta phát hiện tốt hơn những người có một nguy cơ tim mạch gia tăng bằng cách đo huyết áp ở hai tay. Không phải để lấy trị số trung bình giữa hai lần đo, mà để tìm một sự khác nhau đáng kể giữa tay trái và tay phải. Theo các nhà nghiên cứu của đại học Exeter ở Anh, nguy cơ bệnh tim mạch và tỷ lệ tử vong gia tăng 70% khi sự dị biệt giữa huyết ap thu tâm giữa hai tay là 1,5cm thủy ngân (cmHg), thí dụ 12 ở tay trái và 10,5 ở tay phải.
            Hiện nay, các khuyến nghị quốc tế đòi hỏi các thầy thuốc chỉ đo huyết áp ở hai cánh tay vào lần thăm khám đầu tiên nhằm xác định sau đó cánh tay quy chiếu (bras de référence) (trong trường hợp này là cánh tay có huyết áp cao nhất). Trong thực tế, điều thực hành này ít được phổ biến. Phản ứng lại với công trình nghiên cứu này, các chuyên gia quốc tế kêu gọi thực hiện hệ một cách thống việc đo huyết áp cả hai tay, dầu điều đó được thực hiện bởi thầy thuốc hay bởi bệnh nhân.Và nhất là sự bất đối xứng huyết áp không phải là điều gì hiếm, nên việc đo huyết áp trên một tay duy nhất có thể khiến không phát hiện một số lớn những người cao huyết áp.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2012)

5/ ÁNH SÁNG ĐÁNH THỨC NHỮNG KÝ ỨC
          Làm sao kích hoạt trở lại những kỹ niệm yên ngủ trong não bộ của chúng ta ? Bằng cách thắp sáng ! Điều có vẻ như một lời giễu cợt thật ra là một kết quả rất nghiêm túc được công bố trong Nature bởi kíp của giải Nobel Susumu Tonegawa, thuộc Massachusetts Institute of Technology (Cambridge, Hoa Kỳ). Thật vậy các nhà nghiên cứu đã đạt được kỳ công là định vị một cách chính xác một kỷ niệm trong não bộ của một con chuột, rồi tái kích hoạt nó bằng cách kích thích vài neurone với ánh sáng phát xuất từ một sợi quang học (fibre optique). Ta gọi là “optogénétique” để chỉ kỹ thuật này, mới xuất hiện gần đây và đầy hứa hẹn.      
          Các nhà nghiên cứu đã chứng minh như thế nào ? Trước hết họ đã đặt các con chuột vào một môi trường mà chúng không hoàn toàn biết đến. Do chịu những sốc điện có cường độ nhỏ, các con chuột hoàn toàn bị điều kiện hóa để trở thành sợ hãi : khi chúng vừa trở lại trong một chuồng mới thì chúng đứng im trong tư thế phòng vệ. Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, ký ức này đã được ghi vào trong một nhóm các neurone, nằm trong một cấu trúc nhỏ của vùng dưới đồi (hypocampe) được gọi là gyrus denté.
          Các tác giả sau đó đã biến đổi những neurone này về mặt đi truyền để làm cho chúng nhạy cảm hơn với ánh sáng. Các con chuột sau đó đã được mang trở lại lồng của chúng. Mọi chuyện khi đó có vẻ diễn biến tốt hơn cho đến khi các nhà nghiên cứu gởi các xung động ánh sáng (impulsions lumineuses) trong não bộ của con chuột. Mặc dầu không một lý do bên ngoài rõ ràng, các con chuột đột ngột bị co cứng lại. Điều này gợi ý rằng chúng đã nhớ lại mối hiểm nguy.  “ Theo những kết quả của chúng tôi, những ký ức thật sự nằm trong những neurone rất đặc hiệu, Xu Liu, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Chỉ cần tái kích hoạt những neurone này bằng một phương tiện vật lý như ánh sáng, toàn bộ ký ức có thể được nhớ lại.”
(SCIENCES ET AVENIR 5/2012)

6/ CHÌ TRONG SƠN ĐỎ BÔI MÔI
             Có khác nhau nào giữa son đỏ bôi môi Maybelline Color sensationnal n° 125 Rose pétale và Clinique Almost lipstick n° 06 Black honey ? Cái thứ nhất chứa nồng độ chì 276 lần nhiều hon cái thứ hai. Hoặc 7,19 phần trên triệu so với 0,026 ppm, một công trình nghiên cứu của FDA (Food and Drug Administration), đã phân tích 400 son đỏ bôi môi, đã tiết lộ như vậy. Những khác nhau là do những chất nhuộm màu khác nhau chứa ít hay nhiều yếu tố kim loại nổi tiếng độc cho thần kinh và gây ung thư này. Những son đỏ phủ môi nhất dường như chứa nhiều chì nhất, mặc dầu những nồng độ có thể biến thiên từ 1 đến 5 giữa hai sắc thái của cùng một thang màu. Không có một mức nào trong những nồng độ này nguy hiểm cho sức khỏe, FDA đã đảm bảo như vậy. Tuy nhiên, dưới áp lực của hiệp hội Campaign for Safe Cosmetics, cơ quan quản trị thực và dược phẩm này chẳng bao lâu phải ấn định một giới hạn chì tối đa đối với các son đỏ bôi môi. Bộ y tế môi trường của Californie đã khuyến nghị không để cho các trẻ em chơi với các son đỏ bôi môi. Một báo cáo của ủy ban tham vấn của Centers for Disease Control and Prevention xác nhận rằng không có mức độ chì nào là không nguy hiểm đối với các trẻ em, đồng thời nhấn mạnh tình trạng khẩn cấp ngăn cản sự tiếp xúc của những trẻ nhỏ, những phụ nữ có thai và cho con bú.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2012)

7/  NƯỚC LÀM HẠ HUYẾT ÁP
              Bơi lội có lợi đối với huyết áp của những người cao huyết áp. Một công trình nghiên cứu đã chứng minh điều đó ở những người thuộc hai giới tính tuổi từ 50 đến 80. Sau 3 tháng tắm trong piscine với thời gian tăng dần từ 15 đến 45 phút, được lập lại 3 đến 4 lần mỗi tuần, ta chứng thực một sự giảm đáng kể các huyết áp thu tâm và ngoại biên so với các huyết áp được quan sát ở những người chỉ nhận những buổi thư giãn (séances de relaxation). Sự hạ huyết áp này được liên kết với một sự gia tăng tính dẻo (compliance) của các động mạch cảnh.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2012)

 8/ ĂN PIZZA ĐỒNG THỜI UỐNG COCA LÀM BIẾN ĐỔI CÁC TẾ BÀO THẦN KINH
          Nếu ta ăn margheritas đồng thời uống soda làm phát phì, đó không những là do đường và mỡ mà pizza này chứa, mà còn bởi vì nó tấn công trực tiếp vào những tế bào thần kinh (neurone) ! Với sự khám phá quá trình này, các nhà nghiên cứu của Inserm mở ra một hướng mới để hiểu nhưng cơ chế của chứng béo phì. Ý tưởng là các thức ăn có một tác dụng lên 100 triệu neurone được trải dài dọc theo ống tiêu hóa, hệ thần kinh ruột (SNE : système nerveux entérique), đôi khi được gọi là “ não bộ thứ hai ” (second cerveau). Ở động vật gặm nhấm, một chế độ ăn uống giàu mỡ và đường trong 12 tuần ngăn cản sự thoái hóa bình thường các neurone này. Vì hiện diện quá nhiều, những neurone của SNE này tỏ ra rất hiệu quả và làm gia tốc quá trình tống tháo dạ dày (vidange de l’estomac). Vì thiên nhiên vốn sợ sự trống rỗng, do đó hậu quả xảy ra tức thời : càng được tống tháo nhanh, dạ dày các động vật gặm nhấm khi đó càng gởi lên não bộ, qua trung gian leptine, kích thích tố của sự chán ngấy (hormone de la satiété), ít dấu hiệu hơn về tình trạng no nê, điều này có tác dụng …làm gia tăng việc nhận thức ăn vào. Sự biến đổi neurone do một chế độ ăn uống mất quân bình do đó sẽ khiến phải ăn nhiều hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2012)

9/ LẠM DỤNG THUỐC CÓ THỂ LÀM ĐAU ĐẦU
             Đau đầu mãn tính hàng ngày (CCQ : céphalée chronique quotidienne) được đặc trưng bởi những đau đầu với thời gian hơn 15 ngày mỗi tháng, tiến triển từ hơn ba tháng, thường nhất trong một bối cảnh làm dụng thuốc. Trong 1% các trường hợp, theo kết quả theo dõi của hơn 25.000 người, một cách nghịch lý, các trường hợp đau đầu là do sự sử dụng không thích ứng những thuốc được cho là có tác dụng giảm đau. Nguy cơ xuất hiện chứng đau đầu mãn tính hàng ngày (CCQ) này hai lần quan trọng hơn ở phụ nữ dưới 50 tuổi. Tỷ lệ này gần như tăng gấp ba ở những người hút thuốc và ở những người nhàn rổi không hoạt động và 5 lần nhiều hơn trong trường hợp đau được cảm nhận trong hệ tiêu hóa hay cơ khớp, hay trong trường hợp bị rối loạn lo âu hay trầm cảm. Vì việc cai thuốc khó khăn, do đó phải loại bỏ, hay ít nhất cần xét đến những yếu tố làm dễ này nếu ta muốn làm giảm tần số căn bệnh gây phế tật và kéo dài này. (Pain, 1/2012)
(SCIENCES ET AVENIR 3/2012)

10/ ĐAU NGỰC Ở TRẺ EM : ĐỪNG HOẢNG SỢ
            Chỉ 1% những trường hợp đau ngục ở trẻ em có nguồn gốc tim.
            Đau ngực ở trẻ em là một động cơ thăm khám rất thường gặp. Chúng rất gây âu lo, đối với bố mẹ cũng như các thầy thuốc. Theo những dữ kiện thu thập được ở 3700 trẻ em hơn 6 tuổi, đau ngực xuất hiện lúc gắng sức trong 1/3 các trường hợp, và thường kèm theo hồi hộp (22%) hay khó thở (16%). Nhưng một bilan lâm sàng hoàn chỉnh cho thấy rằng chúng phát hiện bệnh tim chỉ ở 1% các trẻ em. Những bệnh được chẩn đoán chủ yếu là tim nhịp nhanh (rối loạn nhịp tim), viêm ngoại tâm mạc (péricardite) hay viêm cơ tim (myocardite). Một trường hợp trên hai (52%), những đau ngực không giải thích được. Trong những trường hợp khác, ta tìm thấy một nguồn gốc cơ hoặc xương (36%), hô hấp (7%), tiêu hóa (3%), hay lo âu (1%). Sau một thời gian nhìn lại 10 năm ở cùng nhóm những trẻ em đau ngực này, không có một trường hợp tử vong do tim nào đã được chứng thực. (Pediatrics, 10.10.2011)
(SCIENCES ET AVENIR 2/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(3/8/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s