Biến “Phản ứng phụ” thành… “Thần dược”

Phản ứng phụ cũng giống như một sự trêu ngươi: thực vậy, nhiều công trình nghiên cứu đã “biến chế” các phản ứng phụ thành những phương thuốc thần kỳ. Nhưng đó mới chỉ là những trường hợp ngẫu nhiên và cũng hiếm hoi. Từ đây, có thể nghiên cứu để chế biến các phản ứng phụ của thuốc để cho ra đời những loại thuốc mới, không phải bằng ngẫu nhiên, cục bộ mà trên phương diện vĩ mô.
Hy vọng tìm ra những phương thuốc mới để chữa trị những căn bệnh nan y đối với ngành công nghiệp dược, sẽ là một giải pháp mang tính đột phá. Bởi vì tất cả các loại thuốc đều có tác dụng phụ. Tác động trên các protêin mà một sự thay đổi hoạt tính hoặc định lượng có thể mang lại hậu quả cho cơ thể. Theo TS Atul Butte thuộc Viện đại học Stanford, Hoa Kỳ, cho biết “Làm sao mà một thứ thuốc lại chỉ có một tác dụng duy nhất được”, thí dụ như Mediator, thuốc gây chán ăn để giảm béo bằng cách làm tăng sự tổng hợp glycogen ở gan lại gây ra tổn thương các van tim. Tương tự, thuốc Pandemrix, văcxin phòng chống cúm H1N1 lại là tác nhân gây ra chứng buồn ngủ. Những thí dụ về tác dụng phụ độc hại đối với sức khoẻ con người còn nhiều lắm… Tuy nhiên, vấn đề đó còn phụ thuộc vào đối tượng bởi vì tác dụng phụ có hại cho người này nhưng lại có ích cho kẻ khác. Ta thử hình dung xem trường hợp sau: một loại thuốc làm tăng lượng protêin như là phản ứng phụ thì điều này lại vô cùng lợi ích cho những người suy dinh dưỡng!

HIỆU ỨNG CÓ LỢI
Tìm kiếm những hiệu ứng có lợi từ đằng sau phản ứng phụ đã mở ra một hướng mới cho ngành công nghiệp dược.
Trên bình diện vĩ mô, nghệ thuật tái chế này sẽ cho ra đời vô số loại thuốc mà chưa ai từng nghĩ đến. Cho đến tận bay giờ, chưa có ngành công nghiệp dược nào có thể tiên lượng trước việc biến chế phản ứng phụ thành “thần dược” này được. Lâu nay chỉ do ngẫu nhiên trong quá trình điều trị hay thử nghiệm lâm sàng mà thu hái được thành quả. Đây là khúc quanh lịch sử của ngành dược bằng cách biến đổi các tác dụng phụ thành thứ thuốc “tiên khởi” đầy hiệu quả. Mặc dù vậy, đây mới chỉ còn là một con số rất khiêm tốn.

MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH
VIAGRA : Từ cơn đau thắt ngực đến rối loạn cường dương.
Đây là phản ứng phụ kỳ diệu nhất trong lịch sử y học! Vào năm 1991, công ty Pfizer đã cho tiến hành một cuộc thử nghiệm lâm sàng với chất Sildenafil, một phân tử chủ yếu dùng để điều trị chứng đau thắt ngực. Tác dụng đối với tim mạch chỉ ở mức…thường thường bực trung nhưng các đối tượng thử nghiệm đều than phiền phản ứng phụ rất khó chịu: họ đều bị cương dương vật rất mạnh và rất lâu. Tức thì, một cuộc thử nghiệm được tiến hành trên 3.700 người bị chứng liệt dương kéo dài trong 3 năm từ 1993 đến 1995. Và như vậy, “thần dược” Viagra đã ra đời! Mười triệu hộp thuốc được tiêu thụ mỗi năm.

ASPIRIN: Từ thuốc chống đau hạ nhiệt đến phòng ngừa tai biến mạch máu.
Một công dụng thiết yếu được ứng dụng ngày hôm nay của Acid acetylsalicylic, xuất phát từ phản ứng phụ gây xuất huyết dạ dày đã được biết đến từ lâu. Thực vậy, trong khi nghiên cứu tìm hiểu tại sao thuốc chống đau này lại dễ gây ra xuất huyết mà các nhà nghiên cứu đã chế biến thành thuốc chống đông máu từ năm 1967. Tuy nhiên, phải chờ đến thập niên 1970, Aspirin liều thấp (lúc đầu 100mg, nay còn 81mg) mới được sử dụng rộng rãi trong phòng ngừa tai biến mạch máu.

BACLOFEN: Từ chứng vẹo cổ đến cai nghiện rượu.
Liệu pháp thần kỳ để cai nghiện rượu đã “ẩn núp” từ nhiều năm nay trong một loại thuốc điều trị chứng vẹo cổ. Trong tác phẩm “Le Dernier Verre” (Ly rượu cuối cùng) được xuất bản năm 2008, chuyên gia tim mạch lừng danh người Pháp, GS Olivier Ameisen đã diễn tả thật ấn tượng bằng cách nào mà ông đã thoát ly được chứng nghiện rượu “trầm kha” của ông. Do đau vẹo cổ, ông đã “liều lĩnh” dùng liều rất cao loại thuốc Baclofen và điều kỳ diệu đã xảy ra: cơn nghiền rượu của ông đã tiêu mất!
Một cuộc thử nghiệm lâm sàng vừa mới được khởi sự và kết quả công trình sẽ được công bố vào năm 2013.

AVASTIN: Từ chữa trị ung thư đại tràng đến thoái hoá võng mạc do tuổi tác.
Với giá chỉ bằng 1/40, Avastin trước đây được sử dụng để chữa trị bệnh ung thư đại tràng thì sắp đến sẽ được chuyển hướng sang điều trị căn bệnh thoái hoá võng mạc do tuổi tác, thay cho thuốc đặc hiệu Lucentis, quá đắt tiền.
Tác dụng kỳ diệu này được chuyên gia mắt bị mắc cả 2 chứng bệnh trên phát hiện ngẫu nhiên vào năm 2005. Từ đây, rất nhiều bác sĩ chuyên khoa mắt ưa thích, kê đơn thuốc Avastin mà liệu trình điều trị chỉ tốn khoảng 30 euro thay vì phải mất đến 1200 euro khi dùng Lucentis.

HƯỚNG PHÁT TRIỂN MỚI
Tuy nhiên, mọi việc đang trên tiến trình đổi thay: Một nhóm nghiên cứu đã tìm được bằng cách đối chiếu, sử dụng các kỹ thuật khác nhau để tiên lượng được những tác dụng chữa trị từ các phân tử thuốc mới, được thử nghiệm trên người. Họ đã theo dõi được dấu vết mà trước đây chưa bao giờ được nghĩ đến…
Trước tiên, nhóm nghiên cứu của TS Atul Butte thuộc Viện đại học Stanford, Hoa Kỳ, bao gồm công việc đối chiếu so sánh 2 cơ sở dữ liệu miễn phí trên mạng internet :
– đầu tiên là thống kê lại hiệu ứng của 164 loại thuốc có biểu hiện gen trong tế bào người.
– thứ hai là mô tả hiệu ứng của 100 dạng bệnh lý khác nhau liên quan đến biểu hiện gen này.
Sau đó, các nhà nghiên cứu đã đối chiếu các dạng biểu hiện gen dựa trên giả thuyết là tất cả các loại thuốc đều có một tác dụng di truyền ngược lại với tác dụng của một bệnh lý sẽ là ứng cử viên sáng giá cho loại liệu pháp này. Thật vậy, một lý luận rất logic, rất nhiều liên hệ được đề xuất từ phương pháp này tương ứng với những liệu pháp đã được tung ra trên thị trường, khẳng định sự khả thi của sự tiên đoán. Nhất là các nhà nghiên cứu đã chứng thực trên lâm sàng giá trị của sự liên kết“thuốc-bệnh”. Cimetidine, hiện nay đang đuợc kê đơn để điều trị loét dạ dày-tá tràng, lại có tác dụng làm giảm sự tăng trưởng của ung thư phối trên chuột như tiên đoán. Tương tự, thuốc chống động kinh Topiramate lại có tác dụng làm giảm triệu chứng của viêm đại tràng ở chuột như dự đoán.
Tổng cộng, trên 16.400 khảo sát “thuốc-bệnh” thì có gần 1500 có biểu hiện trái ngược cho phép nghiên cứu phản ứng phụ có lợi ích. Như vậy, một nửa trong số các ứng cử viên đó đã cho thấy được bệnh căn. Tỉ lệ trên còn được cải thiện hơn nữa bởi vì dữ liệu về thuốc sẽ được nhân rộng trong những năm đến.
Đó chưa phải là tất cả. Tháng 6/2011 vừa qua các nhà nghiên cứu thuộc Viện đại học Tel Aviv đã cho thấy sự hiệu quả của một phương pháp khác, được đặt tên là Baptisée Predict. Phương pháp này nhắm đến việc tập hợp lại các thuốc và bệnh có chức năng tương ứng với phản ứng phụ trên cơ thể. Sau đó, các nhà nghiên cứu thử nghiệm mỗi loại thuốc trên các loại bệnh tương ứng với phản ứng phụ của thuốc để tìm ra thuốc mới. Và ngược lại, họ thử nghiệm trên mỗi loại bệnh các loại thuốc có tác dụng tương ứng.
Đồng thời, ở Lille, thành phố lớn của Pháp, TS Benoit Deprez và Terrence Beghyn đã thử nghiệm một phương pháp khác. Họ thử nghiệm các hiệu ứng của thuốc trên các tế bào nuôi cấy của bệnh nhân mắc bệnh di truyền hiếm gặp để tìm ra loại thuốc có khả năng giúp gen trở lại trạng thái bình thường. Theo TS Benoit Deprez cho biết đã tìm ra được một phân tử có hiệu quả rất đáng khích lệ.
Lợi ích của ngành công nghiệp dược là rất hiển nhiên. Phát triển nhiều loại thuốc mới khác nhau mà chỉ từ cùng một hoạt chất thì quả là nhanh và ít tốn kém hơn rất nhiều so với việc sản xuất một loại thuốc mới cho từng bệnh. Đây sẽ là bước đột phá của ngành công nghiệp dược trong tương lai.

(Theo Science&Vie, 12/2011)
BS NGUYỄN VĂN THÔNG
Email: DrThong007@gmail.com

Bài này đã được đăng trong Khoa học ngày nay. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s