Thời sự y học số 275 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ NHÃN KHOA

1/ DỊCH CẬN THỊ Ở CHÂU Á
Cùng khuynh hướng được quan sát ở châu Âu. Giả thuyết : các thanh niên thường cứ ru rú mãi trong nhà.
OPHTALMOLOGIE. Không ai tranh cãi yếu tố di truyền của chứng cận thị, nhưng ảnh hưởng của yếu tố môi trường rõ ràng đóng một vai trò ngày càng rõ rệt, đặc biệt trong thời kỳ thanh niên. Chỉ cần nhìn điều đang xảy ra ở châu Á. Điều đã được thực hiện bởi GS Ian Morgan, thuộc Đại học Canberra (Úc), cũng là consultant ở Trung Quốc, với các đồng nghiệp người Nhật và Singapore của ông, trong số mới nhất của tạp chí khoa học quốc tế The Lancet. Các tác giả không đề xuất việc kéo dài của thời kỳ học vấn để giải thích hiện tượng này, như người ta thường làm. Theo họ, đúng hơn chính là “ sự thiếu tiếp xúc với ánh chói thiên nhiên đóng một vai trò quan trọng.”

Trong khi ở châu Âu cứ khoảng 36 người thì có một bị cận thị, thì trong những vùng đô thị của các nước phát triển của châu Á (Trung quốc, Nhật bản, Đài loan, Đại hàn), tình hình đáng hãi hùng vì lẽ 80 đến 90% những thanh niên lúc tốt nghiệp đều bị cận thị. Còn quan trọng hơn, 10 đến 20% bị cận thị nặng.
Phải chăng tình hình y hệt như ở chúng ta ? “ Tần số thấp hơn ở châu Âu. Có lẽ có một yếu tố di truyền quan trọng hơn ở châu Á, BS Marc Timsit, thầy thuốc ngoại nhãn ở Paris đã đưa ra giả thuyết như vậy. Ở Pháp, tỷ lệ lưu hành được chuyển từ 20% lên 40% trong khoảng 10 năm. Một khuynh hướng cũng được quan sát ở Bắc Mỹ và châu Âu. Một cách sơ đồ, có hai nguyên nhân lớn gây cận thị cổ điển : di truyền và môi trường. Yếu tố di truyền là không thể tranh cãi đối với một phần những trường hợp cận thị vì lẽ nguy cơ tăng gấp đôi khi có bố hay mẹ bị cận thị, và tăng gấp ba khi cả hai đều bị, BS Timsit đã xác nhận như vậy. Nhưng đối với Morgan và các đồng nghiệp của ông, một yếu tố rất biện hộ cho ảnh hưởng quan trọng và gia tăng của những yếu tố môi trường : sự gia tăng nhanh chóng các trường hợp cận thị từ năm 1996, được thể hiện với cùng quy mô đối với những người Hoa, những người Ấn và những người Mã lai sống ở Singapour, gợi ý rằng tất cả họ đều bị một sự nhạy cảm như nhau đối với những yếu tố nguy cơ. ”
Trong số những yếu tố nguy cơ, sự thiếu ánh sáng thiên nhiên. Thật vậy, Morgan giải thích rằng một chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteur) được sản xuất trong võng mạc dưới tác dụng của ánh sáng, dopamine, đóng một vai trò quyết định trong sự dẫn truyền tốt các thông điệp lên não bộ, nhưng không phải chỉ có thế. Ánh sáng cũng tránh một sự tăng trưởng quá mức của mắt từ lúc sinh đến giữa 20 và 25 tuổi. Thật vậy chính trong thời kỳ này mà mắt lớn lên, để chuyển từ một đường kính trước sau 16 mm lên khoảng 22mm. Thế mà ở một người cận thị, mắt lớn quá và có thể đạt đến một đường kính từ 30 đến 32 mm. “ Một chênh lệch đáng kể khi ta biết rằng chỉ cần một milimet cũng đã có những hậu quả lên thị giác ”, GS Philippe Denis, chủ tịch của Société française d’ophtalmologie và trưởng khoa mắt ở bệnh viện Croix-Rousse (Lyon) đã giải thích như vậy. Trải qua hàng giờ để đọc, chơi hay làm việc trên một màn ảnh làm dễ bệnh cận thị, theo Morgan đó là một cách gián tiếp bởi vì khi đó ta ít có thời gian ở ngoài trời. ”
MỘT MỐI LIÊN HỆ VẪN CẦN ĐƯỢC CHỨNG MINH.
“ Đó là một lý thuyết rất đang quan tâm, GS Denis đã bình luận như vậy. Vai trò của dopamine trong sự tăng trưởng của nhãn cầu đã được chứng minh bằng thí nghiệm ở động vật. Ta cũng biết rằng, trong bệnh Parkinson, những bệnh nhân bị đồng thời một sự thiếu hụt dopamine và những rối loạn thị giác với khó nhận thức những tương phản (contraste). Những rối loạn một phần có thể đảo ngược với điều trị bằng dopamine. ” Morgan đề nghị với các trẻ em và các thanh niên cần dành thời gian ở bên ngoài nhiều hơn. Mối liên hệ nhân quả giữa sự thiếu tiếp xúc với ánh sáng và bệnh cận thị vẫn cần phải được chứng minh, những thử nghiệm đã được phát động ở Trung Quốc và Singapour để xem một chương trình hoạt động bên ngoài có thể làm giảm sự xuất hiện của những trường hợp cận thị hay không.
(LE FIGARO 5/5 et 6/5/2012)

2/ SỰ BÙNG NỔ CỦA NHỮNG KỸ THUẬT NGOẠI KHOA CỦA BỆNH CẬN THỊ
Sự an toàn là điều bắt buộc đối với phẫu thuật này vì lẽ đó vẫn là một intervention de confort.
OPHTALMOLOGIE. Trong khi chứng cận thị ảnh hưởng 20 đến 30% dân chúng Pháp, khuyết tật thị giác này ảnh hưởng lên một nửa dân số châu Á mà đến hiện nay ta đã không bao giờ giải thích được những dị biệt này.
Người cận thị nhìn xa kém và các hình ảnh bị mờ. Ngược lại, thị giác nhìn gần hoàn toàn đúng đắn. Nếu các kính đeo và các thấu kính (lentille) điều chỉnh tốt trong cuộc sống hàng ngày, giải phẫu cận thị là một giải pháp vĩnh viễn. Ngoại khoa của bệnh cận thị, đã bắt đầu cách nay khoảng 20 năm, và ngày nay được hâm mộ đặc biệt. Ta ước tính 210.000 con số những bệnh nhân chịu can thiệp này mỗi năm ở Pháp.
Tuy nhiên, can thiệp này không có tính chất sinh tử. Vậy nó phải đảm bảo một sự an toàn tuyệt đối vì lẽ mổ để đáp ứng một rối loạn ít nghiêm trọng mà để chống lại đã có những giải pháp đơn giản khác. Mới đây, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã góp phần để cải thiện những kết quả của phẫu thuật này.
Từ nay ngoại khoa của giác mạc (chirurgie de la cornée) này chủ yếu được thực hiện bằng laser. Kỹ thuật thường được sử dụng nhất đối với cận thị nhẹ hay trung bình (dưới 9 dioptries) là LASIK, nhằm điều biến (remodeler) giác mạc bằng laser tùy theo những đặc điểm của thị giác, với một cánh cửa giác mạc (volet de cornée) (được gởi là “ capot ” ) cũng được cắt trước bởi laser. Sự điều biến (remodelage) trực tiếp của giác mạc (PKR) được dành cho những trường hợp chống chỉ định của LASIK (bề dày của giác mạc nhỏ, độ cong đặc biệt..). “ Đã có những tiến bộ lớn với sự xuất hiện của laser Femtoseconde, cho phép chuẩn bị volet cornéen một cách rất chính xác đồng thời với mức độ an toàn cao, BS Jean-Jacques Saragoussi (thầy thuốc nhãn khoa, Paris) đã xác nhận như vậy. Vật liệu này, rất tốn kém, đã được phổ biến trong các khoa ngoại nhãn (chirurgie ophtalmologique) suốt trong 3 năm qua.”
NHỮNG IMPLANT MỚI ĐƯỢC DUNG NẠP TỐT HƠN.
Trên thực tế, trường hợp phức tạp nhất liên quan đến chứng cận thị nặng nhất (trên 9 dioptries). Laser có nguy cơ quá độc hại đối với giác mạc, GS Cochener đã quan sát như vậy, khi đó chúng tôi thực hiện ngoại khoa nội nhãn cầu (chirurgie intraoculaire). Đó là đưa vào một implant réfractif (như một lentille de contact), nhưng vào bên trong tiền phòng hay hậu phòng của mắt, tùy theo trường hợp. Cách nay 3 năm, nhiều trong số những implant này đã được rút ra khỏi thị trường bởi Afssaps do các biến chứng. “ Từ vài tháng qua, những implant mới được đánh giá trong thử nghiệm dài hạn dường như cho những kết quả tốt về mức an toàn, với một sự dung nạp tốt hơn ”, BS Jean-Jacques Saragoussi (thầy thuốc chuyên khoa mắt, Paris) đã giải thích như vậy. Ngoại khoa tế nhị này vẫn được dành cho cho vài trường hợp đặc biệt.
Để có thể hưởng một can thiệp bằng laser, nhất thiết giác mạc phải chắc chắn, đều và phải có “ bề dày trên 500 micron bởi vì can thiệp bằng laser nhằm làm mỏng nó ”, GS Thành Hoàng Xuân, trưởng khoa mắt ở Hopital américain de Neuilly đã giải thích như vậy. “ Thế mà nếu giác mạc quá mảnh, nó sẽ đề kháng kém hơn với áp suất nội nhãn. Với thời gian, giác mạc có nguy cơ bị căng ra và dẫn đến một biến chứng hiếm, nhưng đáng sợ, đó là sự tái xuất hiện chứng cận thị.”
Điều bức thiết khác đối với một can thiệp là tôn trọng những tiêu chuẩn về tuổi tác với những nhu cầu thị giác khác nhau và khuyết tật cần được ổn định (ít nhất từ hai năm).“ Thế mà bệnh nhân cần được can thiệp tương đối sớm mới có kết quả lâu dài càng lâu càng tốt trước khi bị lão thị ”, thầy thuốc chuyên khoa đã nói thêm như vậy. Vậy tuổi lý tưởng nằm giữa 20 và 45 tuổi.
10 NGƯỜI ĐƯỢC MỒ THÌ HẾT 9 RẤT THỎA MÃN
Thế các nguy cơ ? BS Jean-Michel Murate, thầy thuốc nhãn khoa ở Pamiers, gần Toulouse, là webmaster của site Internet du Syndicat des ophtalmologistes (snof.org). Ông tiếp nhận những lời chứng của các bệnh nhân đã được mổ trên toàn thế giới. Hơn chín người trên mười rất thỏa mãn can thiệp ngoại khoa. Dưới một trên mười bị những biến chứng nhẹ (khô mắt) cần dùng thuốc giọt trong vài tháng. Các bệnh nhân có thể cảm thấy một quầng chung quanh các ánh sáng khi họ lái xe ban đêm.
“ Những vấn đề thật sự nghiêm trọng vô cùng hiếm, ông đã đánh giá như thế. Chính các đôi mắt bị biến đổi sau một phẫu thuật mặc dầu diễn biến tốt. Và điều này xảy ra ngay với những thầy thuốc ngoại giỏi nhất trên thế giới ! ”. Nhưng, ông nói, loại nguy cơ này gắn liền với mọi cuộc mổ. “ Đó là một ngoại khoa mang lại chức năng (chirurgie fonctionnelle), GS Gilles Reanrd (trưởng khoa mắt, Hotel-Dieu, Paris) đã đánh giá như vậy. Do đó chúng ta có nghĩa vụ mang lại kết quả (une obligation de résultat).”
Điều quan trọng là phải chọn lựa tốt thầy thuốc ngoại khoa của mình. Theo BS Catherine Letouzey, vào năm 2009, 34 đơn kiện ngoại khoa khúc xạ (chirurgie réfractive) (chủ yếu đối với cận thị và viễn thị ), với 6 hay 7 trường hợp những biến chứng nghiêm trọng (giảm quan trọng thị giác).
Can thiệp được thực hiện với gây tê tại chỗ. Cuộc mổ kéo dài nửa giờ và thị giác trở lại hoàn hảo hoặc là tức thời, hoặc là 2 hay 3 ngày sau.
(LE FIGARO 31/5/2010)

3/ PHẪU THUẬT BỆNH ĐỤC THỦY TINH THẾ PHẢI CHĂNG LÀ KHÔNG NGUY HIỂM
Professeur LE HOANG PHUC
Membre associé de l’Académie nationale de chirurgie
Chef du service d’ophtalmologie du groupe hospitalier de la Pitié-Salpêtrière, Paris

Bệnh đục thủy tinh thể (cataracte) được gây nên do sự mờ đục (opacification) của một thấu kính (lentille), nằm sau mống mắt bên trong nhãn cầu, được gọi là thủy tinh thể (cristallin). Điều trị khả dĩ duy nhất hiện nay là ngoại khoa và đã nhận được những tiến bộ kỹ thuật đáng kể trong 30 năm qua. Điều trị nhằm nhũ hóa (émulsifier) thủy tinh thể rồi lấy hết đi các chất bên trong nó để đặt thay thế vào đó một thấu kính nhân tạo tổng hợp (lentille artificiel synthétique), xuyên qua một đường xẻ nhỏ vào trong giác mạc từ 1,5 đến 2,75 mm tùy theo các kỹ thuật. Đó là kỹ thuật phacoémulsification, sử dụng một sonde rung lên trong nhãn cầu, phát ra những siêu âm. Trái với tin đồn, đó là một động tác ngoại khoa quan trọng vì lẽ động tác này bao hàm sự đưa vào trong nhãn cầu những dụng cụ để làm vỡ thành mảnh cái chứa trong thủy tinh thể. Trong đại đa số các trường hợp, động tác ngoại khoa được thực hiện ngoại trú với gây tê tại chỗ, chỉ bằng nhỏ các giọt thuốc gây tê hay bằng chích những thuốc gây tê quanh mắt. Người được mổ đến centre chirurgical vào buổi sáng và có thể trở về nhà vào buổi chiều cùng ngày. Trong vài trường hợp rất đặc biệt, người được mổ được cho phép ở lại một đêm trong centre chirurgical. Điều đó có thể trong trường hợp bị những bệnh toàn thân hay mắt nghiêm trọng cần theo dõi sát.
NHỮNG KỸ THUẬT MỚI.
Trong số 500.000 phẫu thuật đục thủy tinh thể được thực hiện hàng năm ở Pháp, tần số những biến chứng mổ và sau mổ vô cùng thấp và giống hệt với tần số được gặp trên phần còn lại của thế giới. Tuy nhiên, cũng như mọi phẫu thuật, các nguy cơ mặc dầu ở mức tối thiểu không thể là không có.
Tỷ lệ toàn bộ những biến chứng nhẹ hay nặng không vượt quá 1 đến 1,5%. Tỷ lệ này thay đổi tùy theo tình trạng tổng quát của bệnh nhân. Các nguy cơ cao ở những bệnh nhân có sức khỏe kém như các bệnh nhân đái đường, những người bị suy giảm miễn dịch hay những người bị những bệnh nhãn cầu có trước khi mờ đục thủy tinh thể. Đó chủ yếu là những bệnh nhân đã có những bệnh của các cấu trúc khác của nhãn cầu như giác mạc, mống mắt, dịch kính (vitré), màng mạch (choroide) hay võng mạc.
Vấn đề và những khó khăn xuất hiện trong khi mổ rất là hiếm và thường không thể tiên đoán được. Phẫu thuật viên đã đánh giá cẩn thận toàn bộ trường hợp của mỗi bệnh nhân trước khi mổ nhưng vài vấn đề liên hệ đến tình trạng mỏng manh và bản chất của mỗi nhãn cầu có thể xuất hiện trong lúc mổ. Những sự cố này có thể khiến phải đặt thủy tinh thể nhân tạo trước mống mắt chứ không phải trong vỏ của thủy tinh thể, thậm chí quyết định không đặt thủy tinh thể nhân tạo, quyết định lấy đi một mảnh của mống mắt, lấy đi một phần của dịch kính (vitré) nếu xảy ra một kẻ hở trong vỏ của thủy tinh thể, đi tìm kiếm một mảnh thủy tinh thể rơi trong dịch kính. Rất ngoại lệ, một xuất huyết có thể xảy ra và dẫn đến mất thị giác hay mù mắt.
Sau khi mổ, trong vài ngày mắt phục hồi rất nhanh một thị giác tốt với điều kiện không có những thương tổn trước đó của mắt. Ở 25% các bệnh nhân, vỏ của thủy tinh thể có thể trở nên mờ đục trong những năm sau khi mổ. Sau đó ta cảm thấy một sự mờ thị giác (flou visuel) như thể đục thủy tinh thể tái xuất hiện, đó là đục thủy tinh thể thứ phát : chỉ cần mở vỏ mờ đục của thủy tinh thể bằng laser Yag để mang lại một thị giác tốt.
Sau phẫu thuật, mặc dầu cuộc mổ diễn biến tốt, vẫn có thể gặp vài sự cố. Những biến chứng nặng rất là hiếm. Đôi khi những biến chứng này buộc phải mổ lại và trong trường hợp rất ngoại lệ có thể dẫn đến mất thị giác mắt được mổ hay làm hỏng luôn cả con mắt. Hai biến chứng nghiêm trọng nhất là những nhiễm trùng hậu phẫu (1 đến 3 trường hợp trên 1000 trường hợp), có thể làm hỏng mắt, và bong võng mạc (dưới 1 trường hợp trên 100), cần phải mổ lại. Có thể gặp những sự cố khác : sụp mi trên, máu tụ mí mắt hay ở kết mạc, nhìn thấy ruồi bay, song thị (vison double), sợ ánh sáng mạnh, va chạm do tai nạn lên mắt được mổ, rối loạn giác mạc, sẹo không kín, gia tăng áp lực nội nhãn, biến dạng giác mạc, lấy đi không hoàn toàn thủy tinh thể, độ tụ của thủy tinh thể nhân tạo không được thích ứng, thủy tinh thể nhân tạo bị di lệch, viêm mắt, bong võng mạc do kính hiển vi chiếu sáng trong lúc mổ, phù võng mạc ở điểm vàng.
Một lần nữa, những biến chứng nghiêm trọng là ngoại lệ và trong tất cả các trường hợp những biến chứng này được ghi lại trong một fiche d’information, được soạn thảo bối Hiệp hội nhãn khoa của Pháp. Trước khi quyết định mổ, fiche này được thầy thuốc phẫu thuật bình luận và trả lời các câu hỏi của các bệnh nhân và sau đó sau một thời hạn suy nghĩ được bệnh nhân ký nhằm cho phép thực hiện động tác ngoại khoa ở một người được đả thông đầy đủ.
Vài biến chứng có thể xuất hiện ngày sau khi mổ nhưng cũng có thể sau nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, do đó cần thiết phải theo dõi tốt các bệnh nhân sau mổ.
Như thế ngoại khoa đục thủy tinh thể được quy tắc hóa một cách hoàn hảo. Các phẫu thuật viên có nhiều kinh nghiệm và quá trình đào tạo cho phép họ xử trí những bất ngờ liên quan đến cuộc mổ. Những kỹ thuật mới nhằm hoặc là làm giảm kích thước của đường xẻ (phacoémulsification biaxiale đã được thực hiện một cách thông thường) hoặc robot hóa những giai đoạn khác nhau của cuộc mổ (sử dụng một laser femtoseconde để thực hiện những đường xẻ và nhũ hóa (émulsification) chất chứa trong thủy tinh thể, kỹ thuật chẳng bao lâu nữa sẽ được sử dụng) cho phép làm giảm hơn nữa những nguy cơ vốn đã thấp của ngoại khoa đục thủy tinh thể.
(LE FIGARO 11/11/2011)

4/ THÀNH CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA GHÉP TẾ BÀO CHO NHỮNG NGƯỜI NHÌN KÉM
GS José-Alain Sahel, giám đốc của Viện thị giác (đại học Pierre-et-Marie-Curie, Inserm, CNRS, hopital Quinze-Vinghts), giải thích những kỹ thuật của liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) đã thu được một thành công đối với những thương tổn của giác mạc.
Hỏi : Lần đầu tiên, những bệnh nhân bị thương tổn giác mạc đã phục hồi một hoạt động thị giác nhờ liệu pháp tế bào. Những thương tổn giác mạc thường gặp nhất là gì ?
GS José-Alain Sahel : Kératocône (tật giác mạc hình nón), trong đó giác mạc mỏng đi ở trung tâm, có dạng hình nón (nguyên nhân thông thường nhất của ghép giác mạc) ; herpès và zona, gây nên một sự mờ đục (opacification), những vết bỏng gây nên bởi các chất axit, các sản phẩm như soude, có thể dẫn đến mù lòa. Đối với tật giác mạc hình nón (kératocône), chúng tôi nhờ đến, với một sự thành công lớn, các thấu kính (lentille), ghép giác mạc, laser hay quang liệu pháp (photothérapie). Trong những trường hợp herpès, ghép (tùy theo các giai đoạn) có hiệu quả khoảng 1 trường hợp trên hai.
Hỏi : Còn về bỏng, những hậu quả là gì ?
GS José-Alain Sahel : Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, bất hạnh thay không có điều trị. Những thương tổn bỏng làm mất những tế bào gốc vòng rìa (cellules souches limbiques) nằm ở ngoại biên của giác mạc, cần thiết bởi vì chính chúng làm tái sinh biểu mô. Một vết loét phát triển và sẽ tấn công phần sau của mắt. Cho đến mãi gần đây, ghép đã không khi nào có thể thay thế được những tế bào vòng rìa (cellules limbiques) bởi vì nó chỉ làm đổi mới trung tâm của giác mạc.
Hỏi : Do đó tầm quan trọng của kỹ thuật mới bằng tự ghép tế bào (autogreffe de cellules). Protocole là gì ?
GS José-Alain Sahel : Thật vậy những kết quả ngoạn mục thu được bởi các chuyên gia về giác mạc (BS Carole Burillon, Lyon) đánh dấu một giai đoạn rất quan trọng. Sau nhiều cuộc thử khó khăn khác nhau để tự ghép tế bào (autogreffe cellulaire), các nhà khoa học đã nảy sinh ý nghĩ lấy những tế bào của niêm mạc miệng của bệnh nhân để cấy chúng trong phòng thí nghiệm trên một film được cấu tạo bằng polymère thermosensible, nhằm « thao tác » (manipuler) chúng để tạo một mẫu ghép (greffon) có thể dính vào giác mạc, kể cả ở phần ngoại biên, như thế thay thế những tế bào vòng rìa (cellules limbiques).
Hỏi : Liệu pháp tế bào sẽ được áp dụng cho những bệnh lý khác của mắt ?
GS José-Alain Sahel : Nhiều hướng mới liên quan đến những thoái hóa võng mạc (dégénérescences rétiniennes). Những thành công đã đạt được ở động vật. Kíp của GS Robin Ali, ở Luân Đôn, đã ghép cho các con chuột trưởng thành những tế bào lấy ở các chuột con, ngay trước khi chúng trở thành những tế bào nhận cảm ánh sáng hình que (cellules photoréceptrices à batônnets), như thế phục hồi một thị giác hoàng hôn bị mất do những biến dị tương tự với những biến dị được quan sát ở vài bệnh nhân.
Hỏi : Sau những thành công đầu tiên này ở động vật, khi nào ta sẽ chuyển qua những thử nghiệm ở người đối với những bệnh của võng mạc ?
GS José-Alain Sahel : Cần phải có khả năng cấy những tế bào của các phôi thai người (cellules d’embryons humains) (xuất phát từ các thai bị sẩy) ở tam cá nguyệt thứ hai của thai nghén, điều này không được phép thực hiện. Giải pháp duy nhất là lấy những tế bào này ở một giai đoạn phôi thai sớm hơn và làm cho chúng trưởng thành ở phòng thí nghiệm để đạt một giai đoạn tối ưu để cho phép một sự hội nhập tốt. Chính chiến lược này, được theo đuổi bởi nhiều kíp nghiên cứu trên thế giới, mà hiện nay những công trình của Olivier Goureau ở Viện thị giác, cộng tác với I-Stem (GS Peschanski, Genopol d’Evry) đang hướng vào. Chúng tôi phải nghiên cứu, trong một khung cảnh phá lệ, những tế bào gốc phôi thai xuất phát từ nước ngoài vì lẽ luật pháp ở Pháp còn cấm chỉ điều đó. Vào lúc này, những kết quả rất đáng phấn khởi. Liệu pháp tế bào là một niềm hy vọng rất lớn đối với tương lai.
Hỏi : Đối với những thương tổn võng mạc, đâu là những niềm hy vọng khác ?
GS José-Alain Sahel : Những niềm hy vọng này liên quan đến những bệnh võng mạc di truyền (40.000 trường hợp ở Pháp). Ở Viện thị giác, những dự án về liệu pháp gène (thérapie génique) của chúng tôi đã rất là đầy hứa hẹn. Trong lúc chờ đợi sự hiệu chính một điều trị, những bệnh nhân bị bệnh viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) ở một giai đoạn rất tiến triển có thể sử dụng một võng mạc nhân tạo (rétine artificielle), một implant điện tử được nối kết với một caméra, cho phép đọc các mẫu tự, định vị trí các đồ vật, định hướng đi, tìm lại các điểm mốc của mình. Nhờ những tiến bộ của khoa học, ta đã chuyển từ khoa học viễn tưởng sang hiện thực.
(PARIS MATCH 31/5 – 6/6/2012)

5/ MÙ : NHỮNG HƯỚNG MỚI CỦA LIỆU PHÁP TẾ BÀO
Nhờ kỹ thuật này, các nhà nghiên cứu đã mang lại thị giác hoàng hôn (vision nocturne) cho các chú chuột.
OPHTALMOLOGIE. Bệnh thoái hóa điểm vàng do lớn tuổi (DLMA : dégénérescence maculaire liée à l’âge), có thể gây nên mù lòa do trung tâm võng mạc bị phá hủy, gây bệnh cho 1 triệu người ở Pháp, chủ yếu sau 65 tuổi. Bên cạnh bệnh lý này mà từ nay ta đã biết rõ, còn khoảng 40.000 người bị những bệnh khác, phần lớn do di truyền, cũng phá hủy võng mạc. Đối với tất cả những bệnh này, liệu pháp tế bào là một phần của những hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn, phát triển khắp nơi trên thế giới.
Kíp nghiên cứu của GS Robin Ali của Luân Đôn (UCL Institut d’ophtalmologie) đã phục hồi thị giác ban đêm (vision de nuit) của những con chuột nhìn kém, bằng cách ghép những tế bào nhận cảm ánh sáng (cellules photoréceptrices) của võng mạc. Để đạt được điều đó, kíp nghiên cứu đã tiêm những tế bào nhận cảm ánh sáng còn non, có liên quan trong thị giác hoàng hôn (những tế bào que : batonnets), phát xuất từ những con chuột nhỏ lành mạnh, trực tiếp vào trong võng mạc của những động vật gặm nhấm trưởng thành không có các tế bào quy chức năng (batônnets fonctionnels). 4 đến 6 tuần sau, những tế bào được ghép đã tạo nên những nối kết (connexions) cần thiết để truyền thông tin thị giác về não bộ và hoạt động tốt như những tế bào que bình thường
“ KHÔNG HY VỌNG HẢO ”
Các con chuột được ghép đã chịu một cách thành công những trắc nghiệm mê cung (tests de labyrinthe), trái với những con chuột không được ghép. “ Lần đầu tiên chúng tôi đã cho thấy rằng những tế bào nhận cảm ánh sáng được ghép có thể hội nhập vào circuit rétienien đã có và thật sự cải thiện thị giác ”, GS Ali đã nhấn mạnh như vậy. Công trình nghiên cứu này cho thấy rằng khi ta tác động vào một giai đoạn rất sớm, lúc võng mạc không bị thoái hóa, ta sẽ thu được một kết quả chức năng ”, GS José-Alain Sahel, giám đốc Institut de vision đã phân tích như vậy.
Đối với các thầy thuốc nhãn khoa này, con đường phải trải qua trước khi áp dụng điều trị vẫn còn dài. “ Quan niệm thật thanh lịch, nhưng tôi không thấy được sự áp dụng trực tiếp ”, GS Sahel nói tiếp. “ Những công trình nghiên cứu này là một hướng đáng lưu ý, nhưng chúng ta sẽ không thấy áp dụng lâm sàng trong 5 năm đến. Đừng mang lại những niềm hy vọng hảo cho bệnh nhân ”, GS Jean-Franois Korobelnik, thầy thuốc nhãn khoa thuộc CHU de Bordeaux cũng hưởng ứng như vậy. Đối với các chuyên gia, liệu pháp tế bào trong nhãn khoa chỉ mới ở giai đoạn mò mẫm ban đầu. Thái độ thận trọng là đúng đắn, mặc dầu trong tháng giêng vừa qua những trường hợp ghép những tế bào gốc phôi thai người đầu tiên đã cho những kết quả sơ khởi đáng phấn khởi trên hai bệnh nhân bị những thương tổn trầm trọng của mắt, trong đó một bị bệnh DMLA, theo các kết quả được công bố trong the Lancet. Trên giấy tờ, đó là những lý luận khoa học rất thông minh, nhưng chúng phải đương đầu những thử nghiệm quy mô lớn ” , GS Korobelnik đã nhấn mạnh như vậy.
Trong lúc chờ đợi, những hướng điều trị khác có vẻ đạt kết quả hơn để điều trị hai thể bệnh của DMLA. Thể ướt (forme humide), trầm trọng nhất, được đặc trưng bởi một sự mất nhanh chóng thị giác. Đối với thể này, hậu quả của sự phát triển bất thường các tân huyết quản trong mô võng mạc và những biến chứng xuất huyết và hóa sẹo, có một loại thuốc làm dừng sự tiến triển của bệnh. Đối với dạng teo (forme atropique), thường xảy ra hơn nhưng tiến triển chậm hơn, vào lúc này không có điều trị. “ Một yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance) đang được thử nghiệm trên người. Đó là điều trị gần mang lại kết quả nhất nếu những thử nghiệm lâm sàng có kết quả ”, GS Michel Weber, thầy thuốc nhãn khoa của CHU de Nantes đã giải thích như vậy. Đó là đặt (implanter) một capsule trong mắt, phát ra yếu tố tăng trưởng và cho phép bảo tồn bề dày của võng mạc điểm vàng (rétine maculaire). Điều này có nghĩa rằng cần điều trị trước khi các tế bào nhận cảm ánh sáng bị biến mất.
(LE FIGARO 20/4/2012)

6/ MỘT LIỆU PHÁP GENE CẢI THIỆN THỊ GIÁC CÁC TRẺ EM MÙ
12 trẻ em bị một bệnh di truyền của võng mạc đã nhận trực tiếp vào trong mắt một gène réparateur.
MALADIES ORPHELINES. Các nhà nghiên cứu của trường y thuộc Đại Học Pennsylvanie đã thành công, nhờ một liệu pháp gène (thérapie génique), cải thiện một cách đáng kể thị giác của những trẻ em bị bệnh amaurose congénitale de Leber, một bệnh di truyền của võng mạc sớm hay muộn sẽ dẫn đến mù lòa. Những thử nghiệm giai đoạn 1 (rất sơ khởi) đã được tiến hành vào tháng 10 năm 2007 ở 12 bệnh nhân tuổi từ 8 đến 44, ở Hoa Kỳ, ở Bỉ và ở Ý.
Những kết quả được công bố trên site Internet của Lancet, một tạp chí y khoa của Anh, là “ ngoạn mục ”, theo các nhà nghiên cứu : tất cả những trẻ em tham gia thử nghiệm đã có một sự cải thiện thị giác đủ để cho phép chúng bước mà không cần sự giúp đỡ. Một trẻ em, từ khi sinh ra, đã chỉ phân biệt được ánh sáng và bóng tối, đã có thể phân định màu mắt của bố nó và chơi đá banh với ông ta.
Nguyên tắc của thí nghiệm thành công của Hoa Kỳ là đơn giản : đó là thay thế bên trong những tế bào của võng mạc gène bị thiếu hay bị bệnh bằng một bản sao lành mạnh để mang lại những chức năng bình thường của nó cho mắt. Mặc dầu tin này mang lại hy vọng cho 1000 đến 2000 trẻ em ở Pháp bị chứng bệnh này, tuy vậy cần phải vạch ra những giới hạn.
Amaurose congénitale de Leber là một tổng thể các dấu hiệu lâm sàng, nói một cách khác, một syndrome “ fourre-tout ”. Hội chứng này bao gồm những bệnh di truyền rất khác nhau. Rất nhanh sau khi sinh các trẻ em bị bệnh bị mất thị giác nghiêm trọng và có những cử động bất thường của các nhãn cầu. Bệnh trở nên trầm trọng dần và bệnh nhân bị mù hoàn toàn khoảng 30 đến 40 tuổi. Mặc dầu đáy mắt cho phép các thầy thuốc hướng định chẩn đoán về một dạng nào đó của bệnh, nhưng chính nhờ génotypage mà ta biết được gène nào bị bệnh. Ta đã khám phá ít nhất 13 gène chịu trách nhiệm. Lúc biến dị, chúng làm đình chỉ sự sản xuất bình thường của các men của chu kỳ thị giác, hay sự sản xuất những protéine cấu thành của các thụ thể nhận cảm ánh sáng của võng mạc (chính chúng bắt những độ dài sóng ánh sáng khác nhau) hay sau cùng sự sản xuất của những protéine vận chuyển các luồng thần kinh tải thông tin ánh sáng lên não bộ.
Nhà nghiên cứu Hoa Kỳ Joan Bennet và nhóm nghiên cứu đã khảo sát một gène duy nhất trong số những gène này, RPE 65. Nó đóng một vài trò chủ yếu trong sự chế tạo, ở lớp sâu nhất của võng mạc, những sắc tố nhạy cảm với ánh sáng. Trên 2000 thanh niên người Pháp bị bệnh Leber, chỉ 100 đến 150 có liên quan. “ Sự lựa chọn của các nhà nghiên cứu được giải thích : khi amaurose de Leber do khuyết tật của gène RPE65, có một thời kỳ dài giữa lúc bắt đầu bệnh và sự chết do thoái hóa của các tế bào võng mạc. Do đó tầm bắn rộng hơn đối với liệu pháp gène ”, Fabienne Rolling, nhà nghiên cứu ở Inserm của Nantes đã giải thích như vậy. “ Điều đó không đúng với những gène khác, bà ta đã nói thêm vào như thế.
Để có thử nghiệm này, một virus cúm (adénovirus) được làm trở thành vô hại đã được sử dụng như vecteur để vận chuyển một bản sao lành mạnh của gène. Tất cả được tiêm trực tiếp xuyên qua mắt vào trong những tế bào võng mạc. Vào năm 2006, nhóm Inserm của Fabienne Rolling đã thành công mang lại thị giác, với cùng liệu pháp gène, cho 6 con chó mù bị cùng căn bệnh. Đó là điều đã cho phép phát khởi thử nghiệm trên người này.
Sự thành công lâm sàng sơ khởi làm phát khởi trở lại liệu pháp gène trên người. Và đặc biệt liệu pháp gène của những bệnh thi giác, vì mắt là cơ quan dễ tiếp cận. Liệu pháp gène trên người đột ngột bị đình chỉ cách nay vài năm do nhiều trường hợp ung thư xuất hiện sau khi điều trị ở những người bị thiếu sót miễn dịch nặng (bébés bulles)
(LE FIGARO 31/10- 1/11/2009)

7/ LÀM SAO LÀM NGỪNG BỆNH GLAUCOME CỦA MẮT
Các nhà nghiên cứu của Inserm đã thành công phong bế tiến triển của bệnh glaucome. Căn bệnh này được liên kết với một sự gia tăng bất thường của áp lực nội nhãn, trong những thể bệnh cấp tính nhất có thể dẫn đến mù lòa. Đó là nguyên nhân đứng thứ hai gây mù lòa trên thế giới và glaucome gây bệnh cho 50 đến 60 triệu người, trong đó 7 triệu bị mù lòa. Ở Bỉ hơn 100.000 người được điều trị vì bệnh glaucome. Bệnh được đặc trưng bởi một sự phá hủy dần dần dây thần kinh thị giác và một sự biến đổi không thể đảo ngược của chức năng thị giác, các bờ của hình ảnh càng ngày càng thu hẹp về phía trung tâm.
Áp lực nội nhãn lớn được tạo nên do một sức cản lên sự chảy bình thường của thủy dịch (humeur aqueuse) tại một cấu trúc của mắt, trabéculum. Tuy nhiên, sự thoái hóa của các mô của trabéculum vẫn không được hiểu rõ. Những điều trị hiện nay không nhắm một cách trực tiếp đến cơ chế này, điều này một phần có thể giải thích sự thất bại điều trị thường được quan sát. Đôi khi mặc dầu được điều trị tối ưu, ta vẫn quan sát thấy trường hợp mù lòa.
Chính vì vậy một nhóm nghiên cứu ở Viện thị giác Paris đã phát giác ra vai trò của vài phân tử của quá trình viêm, được gọi là chimiokinine. Họ công bố các kết quả trong một bài báo của Plos One.
MỘT SỰ CÂN BẰNG BỊ PHÁ VỠ.
Các nhà nghiên cứu chứng tỏ sự hiện hữu của một sự cấn bằng giữa dạng lành mạnh của chimiokine được gọi là CXCL12 và một dạng cụt (forme tronquée) của nó. Chimiokine làm dễ khả năng sống của các mô của trabéculum qua thụ thể CXCR4, dạng cụt trái lại gây nên sự chết của các mô qua thụ thể CXCR3. Dường như sự chuyển từ một dạng “ lành mạnh ” sang dạng cụt được làm dễ bởi các cytokine và métallo-protéinase có liên hệ trong bệnh glaucome.
Do đó các nhà nghiên cứu cố gắng phong bế CXCR3 gây sự chết của các mô. Điều đó đã cho phép làm giảm áp lực nội nhãn, tái lập chức năng lọc của trabéculum, và như thế gìn giữ chức năng thị giác do bảo vệ võng mạc.
Và điều đó đã thành công…trên chuột được gây bệnh glaucome. Bệnh đã không còn tiến triển nữa sau khi phong bế thụ thể đặc hiệu này. Theo Alexandre Denoyer, tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu, “ những công trình này cho phép cải thiện sự hiểu biết về bệnh glaucome. Chiến lược mới lạ được sử dụng nhắm vào những chimiokine ở trabéculum có thể dẫn đến sự phát triển một điều trị cải tiến thay thế hay bổ sung những điều trị lâu dài bằng những thuốc giọt hiện nay.
(LE SOIR 6/6/2012)

8/ MỘT VŨ KHI MỚI CHỐNG NHỮNG THƯƠNG TỔN VÕNG MẠC.
Đó là biến chứng thông thường nhất liên kết với bệnh đái đường : sự tạo thành một phù nề trong võng mạc của mắt dẫn đến sự mất dần dần thị giác. Những thương tổn võng mạc được tìm thấy ở gần 1/3 những người trưởng thành bị bệnh đái đường và bệnh đái đường là nguyên nhân đầu tiên của mù lòa đối với những người dưới 70 tuổi. Tiến triển của bệnh là chậm bởi vì thị giác chỉ thật sự sụt giảm khi điểm vàng (macula), vùng trung tâm của võng mạc mang lại thị lực tối đa của mắt, bị thương tổn. Ít có vũ khí chống lại tiến triển này. Một loại thuốc mới, VEGF-Trap-Eye vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó chống lại sự thoái hóa này trong một thử nghiệm mà những kết quả được công bố trong ấn bản mới nhất của tạp chí quy chiếu Ophthalmology.
VEGF-Trap-Eye là một protéine tác dụng như một chất ức chế của VEGF, yếu tố tăng trưởng huyết quản nội mô, một tác nhân gây nên sự tạo thành những vi huyết quản mới sau võng mạc. Những vi huyết quản này, mảnh dẻ và sốp, có thể vỡ, tạo nên một vết (tache) trong thị trường. Nhưng các bệnh này cũng có thể làm rối loạn thị giác bên (vision latérale) và ảnh hưởng thị giác các thể tích và đường cong (vision des volumes et des courbes),. Chắc là ta có thể tác động một phần lên các nguyên nhân của sự thoái hóa, như bệnh đái đường hay cao huyết áp. Trong vài trường hợp, ta cũng có thể sử dụng một điều trị laser. Nhưng chưa hẳn là đủ. Trong những năm qua đã phát triển một kỹ thuật mới, nhằm chích vào trong xoang của vitré của mắt những chất ức chế yếu tố tăng trưởng. Nhưng việc tiêm này phải được lập lại một cách khá đều đặn.
“ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG TIỀM TÀNG ”
VEGF-Trap-Eye, căn cứ trên một cơ chế tác dụng khác, có thể chỉ cần tiêm mỗi 4 tháng. Những kết quả mới nhất cho thấy rằng sau một năm điều trị, sư phù nề của võng mạc của các bệnh nhân đã được thu giảm từ 165 đến 227 micromètre, trong khi sự phù nề của những bệnh nhân được điều trị bằng laser, kỹ thuật tiến bộ nhất được sử dụng hiện nay, đã chỉ được giảm 58 micromètre. Điều đó cho phép các tác giả kết luận rằng tính hiệu quả của điều trị với VGF-Trap-Eye là cao hơn những điều trị hiện nay và có thể cách mạng hóa việc xử trí nguyên nhân quan trọng của phế tật này. Một công trình nghiên cứu giai đoạn III, giai đoạn cuối cùng trước khi thương mãi hóa, hiện đang được tiến hành ”, Diana Do, tác giả chính của công trình nghiên cứu, thuộc Johns Hopkins University School đã giải thích như vậy.
“ Nếu những kết quả này được xác nhận và nhất là nếu hiệu quả được bảo tồn theo thời gian, điều đó có thể làm thay đổi sâu xa sự điều trị những bệnh nhân bị bệnh đái đường.Thật vậy căn bệnh này là nguyên nhân đầu tiên gây mù lòa ở những người trưởng thành ở các nước phương tây, BS Laurent Crenier , thầy thuốc chuyên khoa bệnh đái đường thuộc bệnh viện đại học Erasme (ULB, Bỉ) và thư ký của Hiệp hội bệnh đái đường Bỉ đã giải thích như vậy. Cách yếu tố tăng trưởng gây nên thương tổn này ở võng mạc vẫn còn không được biết rõ. Tuy vậy vẫn có ít giải pháp dành cho các bệnh nhân. Dĩ nhiên, giúp đỡ họ kiểm soát bệnh đái đường hay chứng cao huyết áp của họ. Những điều trị bằng laser cho phép đốt (cautériser) những vi phình mạch (micro-anévrisme), những huyết quản sinh từ bệnh lý này. Nhưng đó là một kỹ thuật không thể áp dụng trên hoàng điểm (macula), bởi vì nó sẽ làm mờ đục thị giác. Vậy tác dụng của các loại thuốc nhằm ức chế sự tăng trưởng bất thường này của huyết quản là một con đường đầy hứa hẹn. Tuy nhiên vẫn phải thận trọng. Cơ thể con người là phức tạp. Không loại trừ rằng con đê mà ta dựng lên như thế sau đó sẽ bị đi vòng bởi một cơ chế tác dụng khác.
(LE SOIR 17/5/2012)

10/LÀM SAO PHÁT HIỆN MỘT RỐI LOẠN THỊ GIÁC Ở TRẺ EM ?
Professeur Jean-Louis Dufier
Service d’ophtalmologie
Necker Enfnats malades
Membre de l’Académie nationale de médecine

Trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ, đặc biệt trong lãnh vực thị giác. Chính vì vậy phải cho đến năm 6 tuổi để mắt và các đường thị giác có thể được xem như hoàn thành. Suốt trong thời kỳ này, một sự cố có thể ngăn trở sự phát triển hài hòa và được xác định trước về mặt di truyền (génétiquement programmé) này ; những biện pháp thích hợp khả dĩ khôi phục điều đó, với điều kiện không được chờ đợi. Dĩ nhiên ta nghĩ đến sự hồi phục chức năng (réducation) của chứng giảm thị lực (amblyopie), mặc dầu không hiệu quả bao nhiêu sau 6 tuổi. Vài dấu hiệu rất đơn giản hẳn lôi kéo sự chú ý của các bố mẹ vốn không hay không đủ lo sợ lắm về tình trạng thị giác của con em mình.
Trong những nước phát triển, một cách sơ đồ, 10% các trẻ em bị một rối loạn thị giác có thể điều chỉnh dễ dàng bằng các kính đeo hay những lentille de contact. Chỉ 1% cần điều trị nội nhãn hay ngoại nhãn khoa, và dưới 1/1000 những trẻ em bị một sự suy yếu thị giác nặng, thậm chí mù mắt, thường nhất là do di truyền.
Ở những trẻ sơ sinh, tất cả các thành phần của hệ thị giác được thiết lập. Để cho chức năng thị giác phát triển, những kích thích thị giác đầu tiên, ví dụ gương mặt của người mẹ cách 30 cm, làm phát khởi những nối kết neurone giữa võng mạc và vỏ thị giác, nằm ở phía sau não bộ. Chính vì thế những ngại ngùng không muốn làm những trẻ nhỏ tiếp xúc với một kích thích thị giác nhân tạo bởi những hình ảnh 3D không phải là hoàn toàn vô căn cứ. Thật vậy, ngay những tuần lễ đầu tiên nhũ nhi sẽ ban cho bố mẹ một nụ cười đáp trả toe toét. Khi nhìn chằm chằm vào em bé cách 30 , bố mẹ có thể bắt được cái nhìn của nó và ngay cả nhận được một sự theo đuổi của đôi mắt như thể những cái nhìn bị thu hút bởi nam châm (regards aimantés).
Ngược lại, một sự hờ hững kéo dài với những người chung quanh, những cử động nhãn cầu bất thường, một sự lệch thường trực của một nhãn cầu, một em bé quá trầm tĩnh, với những ngón tay và nắm tay đè mạnh trên các mí mắt, một sự sợ hãi thật sự ánh sáng môi trường hẳn phải báo động bố mẹ và khiến họ thăm khám một thầy thuốc nhãn nhi đồng. Dẫu sao đi nữa, một thăm kham hệ thống các con mắt được dự kiến theo định kỳ trong sổ sức khỏe. Thăm khám lâm sàng này có thể hoặc là đủ để chẩn đoán và để khế dọn một điều trị, hoặc biện minh những thăm khám phụ với gây mê tổng quát.
Tật lác mắt (strabisme) buộc phải thăm khám nhãn khoa và lập một bilan orthoptique dầu đứa bé được quan sát ở lứa tuổi nào. Thật vậy đó là một căn bệnh thường có tính chất gia đình, nhưng cũng có thể phát hiện một bệnh mắt tiềm tàng và không được nhận biết. Tiên lượng của nó sẽ càng tốt hơn khi sự điều trị càng được thực hiện sớm, đặc biệt là khi sử lệch vẫn luôn xảy ra ở cùng con mắt, khiến nghi ngờ nhiều một giảm thị lực (amblyopie). Nói chung tật lác mắt có thể được chữa lành trước 6 tuổi với 3 điều kiện : một sự chỉnh thị (correction optique) chính xác, một sự hồi phục chức năng được theo dõi đúng và sự hợp tác tích cực của đứa bé và bố mẹ của nó. Nếu cần, một phẫu thuật trên các cơ nhãn cầu sẽ điều chỉnh sự tổn hại thẩm mỹ còn sót và tránh cho đứa trẻ khỏi bị bạn bè trêu chọc.
KIỂM TRA HỌC ĐƯỜNG
Sự đánh giá thị lực có thể được thử ngay ở tuổi 6 tháng nhưng những công cụ phát hiện đặc biệt (carton de Teller ; bébé vision), những sự đo lường chính xác chỉ hữu hiệu vào khoảng 3 tuổi. Sự đánh giá này được thực hiện một cách hệ thống khi kiểm tra học đường và phải được đặc biệt theo dõi hơn ở trẻ nhấp nháy mắt hay nheo mắt, nhìn quá gần vở, truyền hình hay màn ảnh máy vi tính. Mọi sự khó khăn khi tập đọc và tập viết và, một cách tổng quát, mọi sự giảm sút học tập phải khiến bộ mẹ tự hỏi : nó có thấy rõ không ? nó có nghe rõ không ?
Về phần mình, thầy thuốc nhãn khoa sẽ đo trị số quang học (valeur optique) của hai mắt sau khi nhỏ thuốc nhỏ mắt atropine trong vài ngày. Trong trường hợp này ta sẽ có thể lợi dụng một kỳ nghỉ hè để không làm xáo trộn học vấn của đứa trẻ, bị trở ngại khi phải nhìn gần. Như thế sẽ có thể điều chỉnh những khuyết tật thông thường nhất, cận thị, loạn thị, viễn thị, thương đã được biết trong gia đình. Bố mẹ sẽ ưu tiên các lunettes à pont bas bởi vì ensellure mũi ở đứa trẻ ngắn, như thế tránh cho đứa trẻ phải nhìn qua kính, nhất là khi nó được điều trị để phục hồi chức năng của chứng giảm thị lực. Được trang bị, theo dõi và cải tạo như thế, đứa trẻ sẽ ở trong những điều kiện tốt nhất để đương đầu với một môi trường, suốt cuộc đời, sẽ đòi hỏi nó phải nhìn.
(LE FIGARO 21/3/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(20/7/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 275 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 604 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s