Thời sự y học số 274 – BS Nguyễn Văn Thịnh

ĐIỂM BÁO SCIENCE ET VIE

1/ VIÊM RUỘT THỪA : PHẪU THUẬT SẼ KHÔNG CÒN ĐƯỢC THỰC HIỆN MỘT CÁCH HỆ THỐNG NỮA

Đó là an toàn hơn và ít tốn kém hơn. Một công trình nghiên cứu vừa cho thấy rằng chỉ cần một liều kháng sinh cho phép trong 63% các trường hợp tránh phải mổ cắt bỏ ruột thừa. Phương tiện để bảo tồn ruột thừa cho ngày mai trong lúc chờ đợi để biết xem nó có công dụng gì !
Chịu trách nhiệm 80.000 trường hợp nhập viện mỗi năm ở Pháp, ruột thừa viêm là cấp cứu ngoại khoa thường gặp nhất. Tuy vậy việc phải qua phòng mổ sẽ có thể trở thành một trường hợp ngoại lệ. Theo một công trình nghiên cứu quốc tế quy mô lớn, viêm ruột thừa (cái cục bướu bé nhỏ của đại tràng) cũng sẽ được điều trị một cách hiệu quả chỉ bằng một đợt kháng sinh ! Một cuộc cách mạng. Ít bị nguy cơ và tốn kém hơn, giải pháp thay thế này cũng có ưu điểm tránh cắt bỏ ruột thừa mà ta chưa rõ vai trò sinh học chính xác của nó.
Sử dụng các kháng sinh : ý tưởng không phải là mới. Mặc dầu những yếu kém về phương pháp học, những công trình nghiên cứu trước đã gợi ý khả năng của các kháng sinh trong 80% các trường hợp (viêm ruột thừa cấp tính không bị biến chứng). Sức thuyết phục của các công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện bởi kíp của Krishna Varadhan của Queen’s Medical Centre ở Nottingham (Vương Quốc Anh) ở chỗ đó là một phân tích méta của 4 công trình nghiên cứu trước đây được công bố giữa năm 1995 và 2011, được thực hiện trên 900 bệnh nhân. Một nửa trong số những bệnh nhân này đã được điều trị bằng cắt bỏ ruột thừa, một nửa kia bằng các kháng sinh (amoxicilline và acide clavulanique ; céfotaxime và métronidazole ; hay céfotaxime và timidazole). Kết quả : tỷ lệ thành công sau một năm với các kháng sinh là 63% ! Nói một cách khác, chỉ 37% những người được điều trị với các kháng sinh đã phải bị điều trị lại, bằng các kháng sinh hay phẫu thuật, do sự phát trở lại các triệu chứng. Chủ yếu, nguy cơ bị các biến chứng đã được giảm 31% so với phẫu thuật.
MỘT RUỘT THỪA GÂY TRANH CÃI
“ Phân tích của chúng tôi cho thấy rằng các kháng sinh có thể được sử dụng như điều trị ưu tiên đối với viêm ruột thừa không biến chứng ”, các tác giả đã giải thích như vậy. Và công trình nghiên cứu này càng đáng lưu ý khi đến nay, sự tranh luận về tính hữu ích của ruột thừa trong hoạt động chức năng của thân thể con người chưa hẳn đã được giải quyết. Vài nhà nghiên cứu tin chắc rằng đó là một vết tích vô ích của quá trình tiến hóa, trong khi đó những nhà nghiên cứu khác dánh giá rằng ruột thừa có thể đóng một chức năng sinh học thiết yếu. Vào năm 2009, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã đưa ra ý tưởng (nhưng không chứng minh được điều đó một cách chính xác) rằng cục bướu nhỏ này chứa những “ vi khuẩn tốt ” có khả năng recoloniser ruột khi quần thể (flore) của nó bị phá hủy, thí dụ bởi một ỉa chảy. Do đó lợi ích cần tránh cắt bỏ nó. Nhưng các thầy thuốc ngoại khoa có thể vì thế mà phải mất một mối lợi béo bở.
Giới hạn thật sự cho việc phổ biến những điều trị kháng sinh, đó là những dạng biến chứng của ruột thừa viêm, vẫn còn phải được mổ cấp cứu. Thế mà hiện nay, cách duy nhất để kiểm tra tính chất nghiêm trọng của một trường hợp ruột thừa viêm lại là… phải mổ. Vậy chủ yếu phải dựa vào sự cải thiện của chụp hình ảnh y khoa và đảm bảo rằng các scanner cho phép chẩn đoán những trường hợp biến chứng, Corinne Vons (bệnh viện Jean-Verdier, Bondy), tác giả của một trong 4 công trình nghiên cứu liên quan đã xác nhận như vậy. “ Trong lúc chờ đợi, bà ta đã báo động như vậy, chủ yếu không nên quyết định chỉ dựa vào các kháng sinh.”
(SCIENCE ET VIE 7/2012)

2/ TÌM RA VACCIN CHỐNG BỆNH SỐT RÉT

Năm 2102 có lẽ sẽ là năm của vaccin đầu tiên chống lại căn bệnh tàn phá nhất trong số những căn bệnh nhiệt đới đã gây nên vào năm 2009 khoảng 800.000 người chết trên thế giới. Và lần này, không phải là bluff như năm 1986, khi thầy thuốc Columbia Manuel Patarroyo tuyên bố ầm ĩ nhưng cuối cùng vaccin thử nghiệm tỏ ra không có hiệu quả. Không, vaccin chống bệnh sốt rét đúng là đang được thực hiện. Và đúng hơn, hai vaccin hơn là một vì lẽ hai ứng viên đang tranh nhau.
CHUYỆN CHƯA BAO GIỜ THẤY CHỒNG LẠI BỆNH SỐT RÉT
Một mặt, có vaccin của xí nghiệp dược phẩm hùng mạnh của Anh GSK (GlaxoSmithKline), được mệnh danh Mosquirix. Một sản phẩm được phát triển từ gần 30 năm qua với sự công tác của chương trình PATH Malaria Vaccine Initiative, ngày nay được hỗ trợ bởi Fondation Bill&Melinda Gates, và đã xác nhận tính hiệu quả của nó trên nhiều ngàn người. Chúng ta đang ở đêm trước của vaccin chống sốt rét đầu tiên trên thế giới. Vaccin này có tiềm năng cải thiện một cách đáng kể triễn vọng sống (perspective de vie) đối với những trẻ sống trong vùng dịch bệnh ở châu Phi, nơi bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét nhất thế giới, Andrew Witty, tổng giám đốc GSK, vào tháng mười năm 2011 đã lấy làm sung sướng như vậy. Mặt khác, còn có challenger : vaccin MSP3 được phát triển bởi kíp nghiên cứu của Pierre Druihe (virologue) thuộc viện Pasteur de Paris, cũng vừa chứng tỏ tính hiệu quả của nó trên thực địa, nhưng ở một quy mô nhỏ hơn. Và Mosquirix của GSK cũng như MP3 của Institut de Pasteur de Paris năm nay đều chuẩn bị chứng tỏ rằng sau cùng họ đã tìm ra một parade chống lại Plasmodium Falciparum, ký sinh trùng được truyền bởi các con muỗi gây nên bệnh sốt rét mà cho đến nay không có một vaccin nào có hiệu quả chống lại nó. Đó không chỉ là một chiến thắng lớn chống lại bệnh sốt rét : đó là lần đầu tiên mà sự tiêm chủng có khả năng bảo vệ con người chống lại một ký sinh trùng !
Phải nói rằng nhắm vào một con vật là rất khó. Ký sinh trùng đơn bào này, có một nhân bảo vệ di sản di truyền của nó, về mặt sinh học phức tạp hơn nhiều một virus hay một vi khuẩn. Ta hãy xét đoán xem : ký sinh trùng được cấu tạo bởi 3500 phân tử (gần 500 lần nhiều hơn virus HIV), tiến triển ít nhất bằng với những phân tử của virus sida. Điều tệ hại : ký sinh trùng hiện hữu dưới 4 loại có khả năng gây nên bệnh sốt rét người, và mỗi loại biến thái thành 4 dạng vào lúc chu kỳ nhiễm ký sinh trùng, tùy theo nó nằm trong con muỗi hay trong cơ thể con người. Một tính chất phức tạp như thế làm cho việc tìm kiếm một đích hiệu quả để vaccin có thể chỉ cho hệ miễn dịch nhắm vào là đặc biệt tế nhị. Nhất là ở đây không có vấn đề sử dụng một tác nhân nhiễm trùng làm giảm độc lực hay bị giết chết, như trong những vaccin cổ điển : những công trình trước đây đã chứng tỏ một cách rõ ràng rằng, mặc dầu có thể chủng với những ký sinh trùng được bức xạ (parasites irrdiés), nhưng phải cho người bị chủng chịu 1000 mũi chích của những con muỗi được phóng xạ. Không, để chống lại kẻ thù khủng khiếp này, phải tưởng tượng ra những phương tiện phức tạp hơn nhiều.
Chiến lược được chọn bởi xí nghiệm dược phẩm Anh là con đường cổ điển : nhà ký sinh trùng Joe Cohen (chercheur aux laboratoires GSK) trước hết tìm kiếm một protéine hiện diện ở ký sinh trùng và sau đó ông ta sẽ đưa nó vào trong một vaccin để hướng dẫn tác dụng của hệ miễn dịch. Câu chuyện của sản phẩm của chúng tôi đã bắt đầu vào cuối những năm 1970, khi Ruth và Victor Nussenzwei ở đại học Nữu Ước đã khám phá, lúc tiêm vào các con chuột, tiềm năng vaccin của một protéine của ký sinh trùng được mệnh danh là CSP, Joe Cohen đã kể lại như vậy. Phân tử này, hiện diện trên bề mặt của ký sinh trùng khi ký sinh trùng được muỗi chích vào, là phân tử đầu tiên đã được nhận diện một cách rõ ràng. Chính dựa vào những công trình này mà GSK đã bắt đầu, vào năm 1984, sự phát triển của vaccin. Những prototype đầu tiên này đã tỏ ra không có hiệu quả ở người.Vậy cần phải cải thiện nó. Chúng tôi đã có ý tưởng hợp nhất các đoạn của CSP với protéine bề mặt của virus viêm gan B bởi vì chúng tôi biết rằng các phân tử giống với các virus có tác dụng kích thích tính miễn dịch hơn những protéine tự do, Joe Cohen đã giải thích như vậy. Được chế tạo nhờ những công cụ của génie génétique, Mosquirix được chế tạo nhằm khích hệ miễn dịch chống lại protéine bề mặt của ký sinh trùng và ngăn cản nó đi vào trong gan. Giả thuyết này được trắc nghiệm thành công trên người vào năm 1992, nhận một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I nhằm trắc nghiệm tính vô hại của nó, trên 26 người trưởng thành tình nguyện khỏe mạnh ở Hoa Kỳ.
Vào cùng thời kỳ, chiến lược mà kíp của Viện Pasteur theo đuổi độc đáo hơn : đó không phải là đi từ nệm rơm đến người mà từ người đến nệm rơm. Nói rõ hơn : thay vì nhắm vào ký sinh trùng, Pierre Druilhe quan tâm đến những người trưởng thành châu Phi đề kháng tự nhiên với ký sinh trùng. Và ông ta tìm kiếm protéine nào làm phát khởi đáp ứng miễn dịch bảo vệ này. Bằng cách đối chiếu huyết thanh của những người được miễn dịch này với protéine ký sinh trung, dần dần sau đó ông chọn lọc những protéine được nhận biết bởi các kháng thể được chứa trong huyết thanh. Chính như thế mà ông đã tìm ra protéine MSP3, một mảnh của một protéine hiện diện trên ký sinh trùng xâm nhập các hồng cầu. Chúng tôi đã không thể nhận diện đích này với chiến lược của GSK bởi vì nó không phải là phân tử của ký sinh trùng gây nên đáp ứng miễn dịch mạnh nhất ở chuột, nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Thế mà protéine MSP3 đã tỏ ra là một hoạt chất rất tốt cho vaccin người ! Tác dụng của vaccin MSP3 khác với tác dụng của vaccin của GSK. MSP3 không ngăn cản nhiễm trùng như Mosquirix, nhưng hướng phòng vệ miễn dịch chống lại các hồng cầu bị nhiễm ký sinh trùng, như thế tránh những triệu chứng gây chết người của bệnh sốt rét (sốt, thiếu máu). Tuy nhiên cách tác dụng của nó không được làm sáng tỏ rõ ràng. Chính qua sự hợp tác giữa các kháng thể hướng chống MSP3 và những bạch cầu được gọi là monocyte mà ký sinh trùng trong các hồng cầu bị tiêu diệt, Pierre Druihle đã giải thích như vậy.
Tuy nhiên, trong cuộc chạy đua tìm vaccin chống sốt rét, GSK vẫn luôn luôn đi trước một đoạn đường khá dài. Vào năm 2001, trong khi vaccin của Viện Pasteur được trắc nghiệm thành công ở 36 người tình nguyện châu Âu lành mạnh nhận một thử nghiệm lâm sàng đầu tiên giai đoạn Ia, vaccin của hãng dược phẩm Anh đã ở giai đoạn II của thử nghiệm lâm sàng, ở châu Phi, để thử tính hiệu quả của nó trên nhiều trăm người. Những trắc nghiệm này (khoảng mười hai thử nghiệm trải dài trong 10 năm) đã chứng tỏ rằng vaccin đã mang lại “ một bảo vệ không hoàn toàn nhưng đáng kể ”. Một kết quả được xác nhận trong công trình nghiên cứu có quy mô lớn nhất, được công bố vào tháng mười năm 2011: giai đoạn thiết yếu trước khi thương mãi hóa, thử nghiệm giai đoạn III này được tiến hành trên 6000 trẻ em tuổi từ 6 đến 17 tháng, được theo dõi trong 12 tháng sau khi tiêm chủng, với một tính hiệu quả từ 47 đến 56%. “ Đó là một première mondiale và một bước tiến khoa học quan trọng ”, Joe Cohen đã lấy làm phấn khởi.
“ Đó là một thành tich to lớn, bởi vì đã không có một vaccin nào khác đạt được một giai đoạn nghiên cứu tiến xa đến như vậy, Pierre Druihe đã công nhận như thế. Nhưng tính hiệu quả có lẽ không đủ để đưa ra thị trường ; một vaccin cổ điển có một tính hiệu quả 70%… ” Nhưng Joe Cohen cho rằng “ ngay cả với một tính hiệu quả 50%, vaccin của chúng tôi có thể có một ảnh hưởng y tế rất quan trọng ở châu Phi dưới Sahara nếu vaccin được sử dụng bổ sung cho những công cụ phòng ngừa khác hiện có nhưng chỉ hiệu quả một phần (mùng chống muỗi tẩm các chất diệt côn trùng,..) ”. Tất cả tùy thuộc vào trắc nghiệm tính hiệu quả (test d’efficacité) trên các nhũ nhi tuổi từ 6 đến 12 tuần mà phòng thí nghiệm đang chờ đợi những kết quả năm nay : nếu mọi chuyện diễn biến tốt đẹp, OMS sẽ đưa ra một khuyến nghị để sử dụng Mosquirix ở châu Phi ngay năm 2015.
EQUIPE FRANCAISE SUR LE FIL ?
Mặc dầu sức mạnh của groupe pharmaceutique Anh, nhà nghiên cứu Pháp vẫn tin tưởng vào dự án của mình. “ Thuốc chủng của chúng tôi dường như hiệu quả hơn ”, ông ta nhấn mạnh như vậy khi viện dẫn những công trình được công bố vào tháng 9/2011 bởi nhóm nghiên cứu của ông. Mục tiêu của thử nghiệm giai đoạn Ib được tiến hành ở Burkina Faso trên 45 trẻ em tuổi từ 14 đến 24 tháng là kiểm tra tính vô hại của vaccin. Nhưng các nhà nghiên cứu đã có thể đánh giá tính hiệu quả của nó ; thế mà MSP3 mang lại một sự bảo vệ từ …64 đến 77% ! Tuy nhiên, như Adrian Hill đã nhấn mạnh (ông là chuyên gia các bệnh nhiệt đới ở đại học Oxford), “ để xác nhận tính hiệu quả này, phải chờ đợi những kết quả trên một mẫu nghiệm lớn hơn, trong thử nghiệm giai đoạn II ”.
Chính những dữ kiện chủ yếu này được chờ đợi vào tháng 2 năm nay (xem Thời Sự Y Học số 273). “ Lần này phân tích được thực hiện trên 800 trẻ em tuổi từ 12 đến 48 tháng trong 8 ngôi làng ở Mali ”, Pierre Druilhe đã xác nhận như vậy. “ Cũng như toàn thể cộng đồng khoa học, chúng tôi chờ đợi một cách quan tâm những kết quả của công trình nghiên cứu này ”, Joe Cohen dã tâm sự như vậy. Điều này cũng dễ hiểu : nếu những kết quả đầu tiên này được xác nhận ở quy mô lớn, MSP3 có thể cướp mất tiếng tăm của Mosquirix của géant GSK.
(SCIENCE ET VIE 1/2012)

3/ MỘT VACCIN CHỐNG HEN PHẾ QUẢN CÓ THỂ RA ĐỜI.
Một thuốc chủng thí nghiệm (vaccin expérimental) chống lại các cơn hen phế quản vừa được trắc nghiệm một cách thành công. Được thực hiện trên những con chuột bị dị ứng với các acarien, vaccin cho phép làm giảm một nửa phản ứng dị ứng và làm giảm một cách rõ rệt những triệu chứng của bệnh. Nhạy cảm một cách bất thường đối với những chất hiện diện trong môi trường, hệ miễn dịch của những người hen phế quản phát triển quá trình viêm các phế quản và tiểu phế quản và làm biến đổi sự hô hấp. Một phần lớn các bệnh nhân phải theo một điều trị suốt đời. Và những cures de désensibilisation không phải luôn luôn có hiệu quả. Do đó một vaccin có khả năng giải mẫn cảm cơ thể một cách chắc chắn sau vài mũi chích là một niềm hy vọng thật sự đối với 300 triệu bệnh nhân trên thế giới. Đối với những thử nghiệm đầu tiên, kíp của Institut de thorax (Inserm, Nantes) đã nhắm vào một trong những acarien thông thường nhất ở châu Âu : Dermatophagoides farinae. Chế phẩm thuốc chủng (préparation vaccinale) chứa những mảnh nhỏ AND mã hóa cho một dị ứng nguyên (allergène) của acarien và dính vào trên các polymère. Những phân tử tổng hợp này sẽ được sử dụng như những transporteur để vận chuyển AND và làm dễ phản ứng sinh miễn dịch (réaction d’immunisation). Chiến lược này có thể áp dụng cho người ? Có lẽ. Nhưng những phản ứng miễn dịch của người khác với chuột. Những trắc nghiệm tiền lâm sàng trên người sẽ bắt đầu trong năm nay.
(SCIENCE ET VIE 6/2012)

4/ MỘT CĂN BỆNH CỦA PHỔI LẠI RA ĐỜI TRONG LÒNG XƯƠNG.
Là căn bệnh hiếm, cao áp động mạch phổi (hypertension artérielle pulmonaire) gây 600 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp. Bệnh được đặc trưng bởi sự tắc dần dần những động mạch nhỏ của các lá phổi, điều này làm giảm năng lực hô hấp. Mặc dầu sự cải thiện của các điều trị, chung cục thường vẫn là tử vong. Những nguyên nhân của căn bệnh vẫn là một bí mật cho đến khi một nhóm các nhà nghiên cứu của Inserm, được lãnh đạo bởi Luc Maroteaux, làm sáng tỏ các cơ chế. Và trái với dự kiến, chính ở trong lòng các xương mà nhóm nghiên cứu đã tìm ra câu trả lời. Chính xác hơn trong tủy xương, nơi đây các thụ thể của một hormone (sérotonine) điều biến những biến hóa của các tế bào gốc của tủy xương, điều này có thể gây nên những bất thường trong cấu trúc của các huyết quản phổi. Sự khám phá này làm đảo lộn hai điều chắc chắn. Một mặt yếu tố gây bệnh nằm ở ngoài phổi. Thế mà cho mãi đến nay, các nghiên cứu đều tập trung vào cơ quan này. Như thế điều đó mở đường cho những hướng thăm dò mới để tìm kiếm những điều trị cho tương lai. Mặt khác, những tế bào gốc là nguyên nhân gây bệnh. Như thế thay đổi thành kiến cho rằng những tế bào gốc là luôn luôn có lợi.
(SCIENCE ET VIE 6/2012)

5/ MỘT TRẮC NGHIỆM SẼ TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ BỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG.
Các nhà nghiên cứu của Toulouse đã phát hiện một chất chỉ dấu rất đặc hiệu và rất nhạy cảm của nguy cơ ung thư đại trực tràng (ung thư thứ hai thường xảy ra ở Pháp) : progastrine. Protéine này bình thường không hiện diện ở niêm mạc ruột lành mạnh, nhưng xuất hiện trong những tế bào ung thư, ở đó nó tác động như một yếu tố tăng trưởng. Các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng các polype, mặc dầu là những u hiền của đại tràng và trực tràng, cũng có thể có một nồng độ cao progastrine. Thế mà, ở những bệnh nhân mang loại polype này (40% trong nhóm được khảo sát), nguy cơ ung thư sẽ là tối đa. Như thế, tất cả những bệnh nhân có nồng độ cao progastrine này đã phát triển những thương tổn tiền ung thư trong 10 năm sau khi chẩn đoán. Ngược lại, nếu không có progastrine, những thương tổn tiền ung thư này đã không xuất hiện. Cho mãi đến hôm nay, không có một sự theo dõi đặc biệt nào được khuyến nghị sau khi cắt bỏ các polype bằng nội soi đại tràng. Và tuy vậy “ Chúng tôi tin chắc rằng sự tìm kiếm một cách hệ thống progastrine trong các polype sẽ cho phép cải thiện một cách đáng kể sự phát hiện sớm ung thư đại trực tràng, Catherine Seva, nhà sinh học tế bào của Inserm đã xác nhận như vậy. Nhưng chúng ta phải xác nhận những kết quả này trên một số lượng những bệnh nhân lớn hơn. ” Ngay cả với trắc nghiệm này, việc cắt bỏ các polype sẽ vẫn là cần thiết.
(SCIENCE ET VIE 5/2012)

6/ CÁC BỆNH TIM MẠCH : NGUY CƠ TRUYỀN BỆNH CHA CHO CON ĐƯỢC XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ TRÊN NHIỄM SẮC THỂ Y.
Một công trình nghiên cứu của Anh sau cùng đã khám phá ra sự truyền nam giới của yếu tố nguy cơ gây bệnh động mạch vành. Giải thích.
Nhồi máu cơ tim, suy tim, xơ vữa động mạch.. Từ cha đến con, những dòng dõi nam giới dường như được đánh dấu bởi sự lặp lại của vài bệnh tim mạch. Mặc dầu những hành vi có nguy cơ (comportements à risque) (chế độ ăn uống quá nhiều mỡ, tình trạng thiếu hoạt động vật lý) giải thích một phần điều chứng thực này, tuy vậy các thầy thuốc biết rằng di truyền cũng là một chỉ dấu nguy cơ (indicateur de risque).
NHỮNG YẾU TỐ VIÊM
Thế mà, sự giải thích vì sao sự truyền bệnh đặc biệt xảy ra ở nam giới vẫn còn không được họ nhận thấy. Cho mãi đến khi vài séquence génétique của nhiễm sắc thể nam được quy kết một cách chính xác trong việc làm gia tăng nguy cơ mắc phải các bệnh động mạch vành, những bệnh gây thương tổn các động mạch của tim.
Kíp nghiên cứu của Maciej Tomaszewski và Lisa Bloomer (đại học Leicester, Anh) đã khảo sát các nhiễm sắc thể Y của 3233 người đàn ông. Các nhà nghiên cứu đã xem xét tỉ mỉ những biến dị của 11 séquence génétique chỉ hiện diện trên vùng đặc biệt cho nam giới của nhiễm sắc thể Y, vùng kia chung cho các nhiễm sắc thể X và Y. Phân tích này đã cho phép họ xếp loại những người đàn ông này thành 13 nhóm, được gọi là “ haplogroupes ”. Và thật ngạc nhiên, các nhà di truyền đã khám phá rằng những người thuộc về haplogroupe I, một nhóm gần như duy nhất hiện diện trong dân nguồn gốc châu Âu, đặc biệt bị liên hệ bởi những bệnh động mạch vành. Trong nhóm này, nguy cơ ngay cả cao hơn 50% so với những nhóm khác.
“ Điều này không những giải thích những dị biệt giữa đàn ông và đàn bà trong sự xuất hiện những bệnh động mạch vành mà còn giải thích tại sao các dân châu Âu đặc biệt bị ảnh huởng bởi những bệnh lý này ”, Lisa Bloomer đã nhấn mạnh như vậy.
Để giải thích những kết quả này, các nhà nghiên cứu đề xuất vai trò viêm của vài gène được mang bởi nhiễm sắc thể Y, những yếu tố viêm được biết là làm dễ sự tạo thành các mảng xơ vữa trong các động mạch.
Tuy nhiên không thể quy một mình nhiễm sắc thể Y cho tất cả các tai họa của nam giới. Vai trò bảo vệ của oestrogène cũng như sự kiện các phụ nữ hút thuốc ít hơn đàn ông cũng giải thích tại sao các phụ nữ trong thời gian lâu ít bị bệnh tim mạch hơn đàn ông. Mặc dầu khuynh hướng đang đảo ngược.
Tuy nhiên, François Cambien, thuộc đại học Pierre-et-Marie-Curie (Paris), cũng đã từng tham gia vào công trình nghiên cứu, đã đề xuất ý kiến, “ mục đích của chúng tôi không phải để phân biệt vai trò của môi trường với vai trò của di truyền mà là nhằm hiểu rõ căn bệnh để có lẽ trong tương lai đề nghị những đích điều trị mới ”. Một viễn ảnh mặc dầu dường như còn xa xăm.
(SCIENCE ET VIE 4/2012)

7/ MỘT SỰ BIẾN DỊ LÀM DỄ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN.
Chẳng bao lâu nữa chỉ một trắc nghiệm di truyền (test génétique) sẽ cho phép tiên đoán một người đàn ông có bị nguy cơ đặc biệt cao phát triển một ung thư tuyến tiền liệt hay không. Khi đó thầy thuốc sẽ đề nghị với bệnh nhân một sự theo dõi đều đặn. Dẫu sao đó là một viễn ảnh được mở ra nhờ sự nhận diện một biến dị nhỏ trên gène HOXB13, được biết có vai trò trong thời kỳ phát triển phôi thai của tuyến tiền liệt. Những người đàn ông mang biến dị này thấy nguy cơ của mình gia tăng 10 đến 20% so với những người khác. Để có được kết quả này, hai nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ thuộc các đại học Johns-Hopkins và Michigan đã khảo sát génome của 94 gia đình trong đó nhiều người đàn ông đã bị mắc phải ung thư này. Đã cần hơn 20 năm nghiên cứu để có thể nhận diện sự biến dị đầu tiên làm gia tăng một cách đặc hiệu nguy cơ di truyền của tuyến tiền liệt này. “ Cho đến nay, gène de prédisposition duy nhất được biết đối với những thể gia đình của ung thư tuyến tiền liệt là BRCA2, gène này cũng liên kết với ung thư vú ”, Olivier Cussenot, thầy thuốc niệu khoa thuộc bệnh viện Tenon (Paris) đã xác nhận như vậy. Và nguy cơ phát triển một khối u ít hơn với biến dị mới này. Nhưng trước khi sử dụng khám phá này để điều tra phát hiện sớm, “ sẽ phải nghiên cứu chính xác hơn sự phát triển của các khối u ở những người đàn ông này ”, ông ta đã báo trước như vậy.
(SCIENCE ET VIE 3/2012)

8/ TÔI ĐÃ TÌM RA CÁCH LÀM CHẬM SỰ LÃO HÓA
Jan Van Deursen
Professeur de biochimie et biologie moléculaire
Mayo Clinic (Rochester, USA)
Hỏi : Làm sao đã đến với ông ý tưởng này ?
Jan Van Deursen : Một cách tự nhiên. Bởi vì ta biết rằng khi ta càng già, ta càng tích tụ trong các mô và các cơ quan của chúng ta những tế bào được gọi là “ hóa già ” (cellules sénescentes), không còn có khả năng tăng sinh nữa. Thế mà, nhiều yếu tố chỉ rõ rằng sự tích tụ những tế bào này góp phần vào sự xuất hiện những căn bệnh liên quan đến tuổi già. Vậy chúng tôi đã tự hỏi, cùng với những đồng nghiệp của chúng tôi, liệu việc loại bỏ những tế bào “ hóa già ” này có thể có một tác dụng điều trị hay không… điều mà chúng tôi đã chứng minh được !
Hỏi : Bằng phương tiện nào ?
Jan Van Deursen : Chúng tôi đã lấy những con chuột bị một dạng của bệnh progeria, nghĩa là những con chuột mang một biến dị làm cho chúng trở nên già rất nhanh. Và chúng tôi đã loại bỏ gần như toàn bộ những tế bào hóa già hiện diện trong cơ thể chúng nhờ một phân tử tấn công một cách đặc hiệu vào những tê bào này. Lúc cho loại thuốc này các chú chuột bị bệnh progeria, mỗi 3 ngày, bắt đầu từ khi tuổi của chúng được 3 tuần, chúng tôi đã quan sát rằng những chú chuột này phát triển chậm hơn nhiều những chú chuột khác những bệnh lý liên quan đến tuổi già (tan cơ và mỡ, phát triển một đục thủy tinh thể) Sự sử dụng loại thuốc này ở một lứa tuổi cao hơn (5 tháng) cũng làm chậm lại sự tiến triển của những căn bệnh này khi chúng đã thành hình. Chúng tôi hy vọng có thể chứng minh rằng, trên những con chuột bình thường, sự phá hủy những tê bào hóa già cũng cho phép kéo dài hy vọng sống.
Hỏi : Những công trình của ông có thể được sử dụng trong y khoa không ?
Jan Van Deursen : Công trình nghiên cứu của chúng tôi, mặc dầu chỉ là một bằng cớ về nguyên tắc (une preuve de principe), nhưng là một bước lớn hướng về một áp dụng điều trị. Thật vậy chúng tôi đã chứng minh rằng sự phá hủy những tế bào hóa già là không nguy hiểm và ngay cả có lợi. Còn cần phải phát triển những loại thuốc có tác dụng loại bỏ những tê bào này ở người. Điều đó hẳn tương đối dễ : kỹ thuật của các liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée), trong đó một loại thuốc được hướng một cách đặc hiệu chống lại một loại tế bào, vốn đã được sử dụng để điều trị ung thư. Thế mà, những tê bào hóa già là yếu ớt hơn nhiều so với những tế bào ung thư : chúng không có khả năng tăng sinh. Những xí nghiệp dược phẩm tỏ ra rất quan tâm đến đường hướng nghiên cứu này.
Hỏi : Ta có thể tưởng tượng đến một loại thuốc “ cải lão hoàn đồng ” không ?
Jan Van Deursen : Không ! Bởi vì khi ta loại bỏ những tế bào hóa già, ta loại bỏ một hậu quả của quá trình lão hóa, nhưng không loại bỏ nguyên nhân của nó. Tuy nhiên những loại thuốc như thế có thể cho phép làm gia tăng hy vọng sống khoẻ, bằng cách làm chậm lại sự xuất hiện những căn bệnh liên quan đến tuổi già. Điều này đã rất là quan trọng : chúng tôi mong ước mọi người đều lão hóa một cách mạnh khỏe…
(SCIENCE ET VIE 2/2012)

9/ MÀNG TRINH CÓ ÍCH LỢI GÌ KHÔNG ?
Về phương diện sinh lý, chẳng có lợi ích gì hết. Cái màng này, nằm cách 1 đến 2 cm trong âm đạo và bít nó một phần, là đối tượng của nhiều nghi vấn, và cũng nhiều điều fantasme. Bởi vì nếu nó bị chọc thủng bởi một lỗ qua đó máu kinh nguyệt chảy ra, nó sẽ bị xé rách (và lỗ mở rộng ra) vào lúc giao hợp đầu tiên. Biến cố này đánh dấu, trong nhiều nền văn hóa, sự mất trinh tiết. Tuy nhiên cũng cần biết rằng màng trinh có thể bị rách một cách ngẫu nhiên khi thực hiện vài cử động, hoặc có thể nó đủ mềm mại hay đủ mở để không bị rách vào lần giao hợp đầu tiên. Trái với một ý nghĩ rất phổ biến, màng trinh không làm chức vụ hàng rào ngăn cản chống lại những nhiễm trùng âm đạo, rất thông thường ở các cô gái nhỏ. Trái lại, ở những trẻ nhỏ, màng trinh là nguồn gốc của những nhiễm trùng : khi tiểu tiện, màng trinh mở ra dưới tác dụng giãn của các cơ vòng. Nước tiểu, một khi đã có thể đi vào trong âm đạo (mà các mép âm hộ quá nhỏ không bảo vệ tốt), bị màng trinh giữ lại trong nếp da. Khi đó một nhiễm trùng có thể phát triển.
MỘT VẾT TÍCH RẤT LẠ KỲ.
Vô ích về phương diện sinh lý, màng trinh chỉ đã được bảo tồn suốt trong quá trình tiến hóa ở ít động vật có vú, thoạt đầu rất tạp nham : cá voi, chimpanzé, cobaye, voi, lama, heo, chuột…sau cùng màng trinh chỉ là một vết tích của phôi thai. Thật vậy, âm đạo được cấu tạo bắt đầu từ tuần lễ phát triển phôi thai thứ 13, khi các mô đóng lại phần dưới của cơ thể (sàn chậu : plancher pelvien) được chọc thủng bởi một lỗ ở phôi thai nam giới (hậu môn), và hai lỗ ở phôi thai nữ giới. Lỗ thứ hai sẽ tạo thành âm hộ nhưng sàn chậu không mở hoàn toàn ; vẫn còn một màng nhỏ, màng trinh, sẽ thủng ít lâu sau khi sinh.
(SCIENCE ET VIE 7/2012)

10/ MỘT TRẮC NGHIỆM MÁU CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN NHỒI MÁU CƠ TIM
Khi một nhồi máu cơ tim xuất hiện, những tế bào bình thường phủ bên trong các huyết quản (những tế bào nội mô : cellules endothéliales) được tìm thấy với số lượng lớn trong tuần hoàn máu. Đó là một khám phá tuyệt vời được thực hiện bởi kíp nghiên cứu của Eric Topol (Scripps Research Institute, la Jolla, Californie). Trong vòng một năm, các nhà nghiên cứu đã phân tích những mẫu nghiệm máu của những người được nhập viện sau một nhồi máu cơ tim (crise cardiaque) và đã so sánh những mẫu nghiệm này với những mẫu nghiệm của những người lành mạnh. Khi đó họ đã chứng thực rằng máu của những người bị nhồi máu cơ tim trung bình chứa 19 tế bào nội mô mỗi mililit so với 4 đối với máu của những người lành mạnh.
Ngoài sự gia tăng số lượng của những tế bào nội mô, các nhà nghiên cứu cũng đã khám phá rằng trung bình những tế bào này lớn hơn những tế bào của những bệnh nhân lành mạnh và rằng đôi khi chúng có nhiều nhân. Các nhà khoa học bây giờ muốn biết xem những đặc điểm này có thể dùng làm cơ sở cho một trắc nghiệm tiên đoán (test prédictif) bệnh nhồi máu cơ tim hay không.
(SCIENCE ET VIE 6/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(9/7/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s