Thời sự y học số 273 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ BỆNH NHIỄM TRÙNG

1/ BÁO ĐỘNG SỰ ĐỀ KHÁNG CỦA CÁC VI KHUẨN ĐỐI VỚI KHÁNG SINH.

Khi các vi khuẩn đề kháng

1. Tác dụng của các kháng sinh nhằm làm giảm hay làm ngưng sự tăng sinh của các vi khuẩn. Tác dụng này có thể tẩn công vào 4 mục tiêu :          
      – Thành vi khuẩn         
      – Màng bào tương (membrane cytoplsamique)           
      – Sự tổng hợp protéine         
      – Phức hợp ADN
2. Do mãi bị tấn công, các vi khuẩn trở nên thích nghi, bằng chọn lọc tự nhiên.
3. Chúng biến dị di truyền, trở nên không thể xâm nhập bởi kháng sinh hoặc sinh ra các men có khả năng phân hủy chúng. Chúng tiếp tục tăng sinh.
4. Các vi khuẩn đôi khi có thể chuyển mật mã di truyền (code génétique) của khả năng đề kháng này cho những vi khuẩn lân cận.
5. Vài vi khuẩn có thể trở nên đề kháng với nhiều kháng sinh. Chúng được gọi là đa đề kháng (multi-résistant)

Tìm ra những loại thuốc mới là một trong những thách thức của 20 năm sắp đến.
SANTE PUBLIQUE. Trong khi vài giả thuyết tai họa về các virus biến dị khiến cho dân chúng, các nhà làm phim và các chính khách nín thở, ta hầu như quên một vấn đề khẩn thiết hơn khác : vấn đề đề kháng của các kháng sinh, đã vượt quá nhiều cote d’ alerte. “ Việc kê toa quá rộng rãi các kháng sinh, dầu đó là trong y khoa người, y khoa thú y hay trong ngành chăn nuôi công nghiệp trên thế giới, đã làm cho chỉ có những vi khuẩn đề kháng nhất đã thành công sống sót hay tăng sinh. Thí dụ kịch bản theo đó chẳng bao lâu ta sẽ thiếu những điều trị hiệu quả đối với những vi khuẩn đa đề kháng (bactéries multirésistantes) không còn là một khoa học viễn tưởng nữa : ở Trung Quốc, ở Ấn Độ và Đông Âu, là nơi ta quan sát thấy những ổ đề kháng lớn nhất, đó đã là một vấn đề quan trọng. Vậy phải hết sức khẩn cấp hành động và hành động nhanh, bởi vì sự hiệu chính những loại kháng sinh mới đòi hỏi nhiều năm ”, GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa bệnh truyền nhiễm của CHU de Grenoble đã cảnh cáo như vậy.
Trong số các vi khuẩn, hai họ đặc biệt gây lo ngại các chuyên gia bệnh nhiễm trùng. Đó là những colibacille có tiềm năng gây nên những nhiễm trùng nghiêm trọng và những Klebsielles, nguồn gốc của những nhiễm trùng hô hấp loại viêm phổi. “ Những vi khuẩn này ngày càng đề kháng với các céphalosporines, một lớp kháng sinh thường được kê đơn. Sự kiện đáng quan ngại hơn, chúng bắt đầu cũng có những đề kháng đối với một lớp các kháng sinh (carbapénèmes) bình thường được dành cho những nhiễm trùng nghiêm trọng : vậy đó là phòng tuyến cuối cùng có nguy cơ bị phá vỡ. Ngoài ra, trong trường hợp đề kháng được xác nhận, các thầy thuốc bó buộc phải dùng lại một kháng sinh cũ, colistine, vốn đã bị bỏ vì độc tính của nó ”, GS Jean Carlet, réanimateur consultant cho OMS, người chủ xướng Alliance contre le développement des bactéries multirésistantes aux antibiotiques, đã lấy làm lo lắng.
Để tránh sự thụt lùi này, điều khẩn cấp là phải xem kháng sinh như là một loại thuốc tách riêng. “ Các thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm, các thầy thuốc đa khoa, các thầy thuốc thú y..phát xuất từ 50 société savante hay groupe professionnel Pháp và nước ngoài, cũng vừa nhất trí một kế hoạch hành động chung ”, GS Carlet đã nhấn mạnh như vậy. Mục đích ? Thúc đẩy những tác nhân y tế và chính trị trên toàn thế giới tiến hành những hành động khẩn cấp, như một sự quản lý tốt hơn các đơn thuốc, sự phát triển những trắc nghiệm chẩn đoán nhanh và có thể thực hiện ở phòng mạch để phân biệt những nhiễm trùng do virus (không cần kháng sinh) với những nhiễm trùng vi khuẩn, hỗ trợ sự phát triển những kháng sinh mới. Cấm sử dụng kháng sinh trong nông nghiệp chỉ với mục đích làm vỗ béo gia súc (như điều vẫn còn được thực hiện ngoài châu Âu) ngừng những điều trị dự phòng đại trà ở những động vật chăn nuôi, nhưng không được quên những biện pháp vệ sinh (như cách ly các bệnh nhân mang những mầm bệnh đề kháng trong các bệnh viện) và nhất là để tránh sự truyền các mầm bệnh đề kháng qua phân, một sự đổi mới toàn bộ những trạm thanh lọc (station d’épuration) của chúng ta. “ Thật là không bình thường khi các chất cặn, được loại bỏ của các trạm thanh lọc này và bao gồm theo định nghĩa tất cả những gì làm cho nước không thích hợp để tiêu thụ (trong đó có những vi khuẩn đa đề kháng từ phân của những bệnh nhân bị nhiễm trùng), được sử dụng để rải phân trong các cánh đồng ”, GS Carlet lấy làm giận dữ.
VIRUS BACTERIOPHAGES
“ Vài điều mới lạ được dự kiến trong những năm đến là quan trọng nhưng không đủ để bảo vệ chúng ta khỏi bị những nhiễm trùng bởi những vi khuẩn đề kháng nếu không gì thay đổi ”, GS Stahl và GS Lionel Piroth, thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm (CHU Dijon) đã tiên đoán như vậy. Chủ yếu ta chờ đợi các chất ức chế betalactamase, một lớp kháng sinh mới, trong 4 đến 5 năm đến, cũng như những trắc nghiệm mới có khả năng phát hiện tức thời những vi khuẩn đề kháng.“ Cũng có một vài công trình nghiên cứu chung quanh những virus bactériophage (siêu vi trùng thực khuẩn), được gọi như thế bởi vì chúng tiêu diệt các vi khuẩn. Đã được sử dụng trong những nhiễm trùng xương khớp khu trú nặng ở châu Phi và ở Nga, những virus thực khuẩn này có thể được sử dụng ở những nước phương tây với điều kiện những công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện tốt chứng tỏ tính hiệu quả của chúng (và mức độ dung nạp của chúng), điều này đã không bao giờ được thực hiện cho đến nay. Những hướng nghiên cứu khác : sự phá hủy kháng sinh được nhận vào (hay vô hiệu hóa nó bằng các charbon) một khi đến được ruột già, để tránh không cho những vi khuẩn như các colibacille (bình thường lưu trú trong ruột già) bị nhiễm những đề kháng. Lại còn triệt để hơn nữa : phá hủy quần thể ruột (flore intestinale) khi ta biết đã “ bị ô nhiễm ” bởi các giống gốc đề kháng và ghép một quần thể bình thường mới, GS Carlet đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 4/6/2012)

2/ TA CÓ THỂ ỨC CHẾ NHỮNG VI TRÙNG ĐỀ KHÁNG.
Làm sao để thắng được như vi khuẩn trở nên đề kháng với những điều trị cổ điển ? Bằng cách sử dụng những phân tử mang lại tính hiệu quả cho những thuốc kháng sinh cũ ! Nhóm nghiên cứu của Terry Roemer (laboratoire Merck, Hoa Kỳ) nghiên cứu về những tụ cầu khuẩn đề kháng với méthicilline, những giống gốc chịu trách nhiệm hàng ngàn những nhiễm trùng bệnh viện mỗi năm chỉ riêng ở Pháp. Các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng có thể chống lại vi khuẩn bằng cách phối hợp kháng sinh với những phân tử khác làm suy yếu tụ cầu khuẩn. Để hiệu chính coctail này, trước hết họ đã tạo nên 250 giống gốc các tụ cầu khuẩn vàng khác nhau đề kháng với méthicilline. Cứ mỗi lần, họ đã làm bất hoạt một gène duy nhất (vài gène liên kết với sự phân chia tế bào, những gène khác với sự tạo thành tế bào). Rồi, 250 giống gốc đã được cho những liều méthicilline. Bất ngờ : gần 40 trong 250 giống gốc này đã trở nên nhạy cảm với kháng sinh ! Để chống lại đề kháng, vậy chỉ cần thêm vào những điều trị hiện nay một phân tử có khả năng ức chế một trong những protéine được mã hóa bởi 40 gène này. Nhóm nghiên cứu đã xác nhận điều đó in vivo, ở những con chuột bị nhiễm trùng bởi các tụ cầu khuẩn. Vấn đề còn lại là phải tìm kiếm sự phối hợp các phân tử hiệu quả nhất, áp dụng đơn giản trong các bệnh viện mà không gây nguy cơ cho bệnh nhân. Nhưng sự lựa chọn không thiếu…
(SCIENCE ET VIE 5/2012)

3/ PHẢI SỢ NHỮNG NHIỄM TRÙNG VIRUS MỚI
“ Nhờ những tiến bộ trong chẩn đoán chúng ta có khả năng từ 15 năm nay phát hiện những virus mới : đó là trường hợp của Nipah virus, chịu trách nhiệm những vụ dịch nhỏ viêm não ở châu Á (được truyền qua heo), và của virus Hendra, nguồn gốc của một thương tổn hô hấp và thần kinh (được truyền qua ngựa). Ngay có khi ta phát hiện những virus mới, như Mimivirus, mà không thể nói là nó có khả năng gây một nhiễm trùng cho người hay không ”, GS Stahl (CHU de Grenoble) đã nhận xét như vậy.
Ý kiến được chia sẻ bởi GS Lionel Piroth (CHU Dijon), ông nhắc lại rằng “vào một lúc nào đó ta đã tin rằng vài virus mới, được gọi là F,G,…, có thể gây nên những viêm gan trước khi nhận ra rằng sự hiện diện của chúng đã không có liên hệ gì với những rối loạn được quan sát. ”
VAI TRÒ CỦA SỰ THAY ĐỔI KHÍ HẬU.
Trong vòng 31 năm qua, 35 căn bệnh nhiễm trùng mới đã được nhận diện trong đó có bệnh sida hay Ebola. Các vi khuẩn có thể sinh sản rất nhanh và cũng có thể tiến triển nhanh. Chúng cũng lan tràn nhanh hơn so với những thế kỷ trước qua những trao đổi quốc tế. Sau cùng, những thay đổi khí hậu có thể đóng một vài trò : thí dụ, những loài chim di (oiseaux migrateurs) có thể buộc phải biến đổi hành trình và do đó đưa một virus vào một nơi trước đây virus này vốn không được biết đến. Chính như thế mà ta đã phát hiện từ 7 năm qua trong miền Nam nước Pháp sự đi đến của moustique tigre (cho mãi đến khi đó định vị ở những vùng nóng nhất của quả địa cầu). “ Bởi vì loài muỗi này là một vecteur tốt của bệnh chikungunya, của bệnh dengue và fièvre à virus West Nile, ba bệnh được biểu hiện bởi sốt cao ngoài những triệu chứng khác, do đó không loại trừ rằng trong tương lai, những nhiễm trùng này xuất hiện trong vùng biển Địa Trung Hải. Nhưng hiện nay, chỉ vài trường hợp hiếm hoi được thống kê và những biện pháp được áp dụng tức thời để chống lại sự tăng sinh của muỗi đã tỏ ra có hiệu quả ”, GS Stahl đã nói tiếp như vậy.
Để theo dõi loại hiện tượng này, đất nước của chúng ta có một loại tháp kiểm soát (tour de controle) (INVS : Institut national de veille sanitaire) có chức trách báo động trong trường hợp bất thường. Đối với những ai mong muốn rằng ta tốt hơn là nên dự đoán trước sự trở lại hay sự xuất hiện những bệnh virus mới tạo nên một mối đe doạn, GS Stahl đã trả lời rằng đó là điều không thể thực hiện được : “ Không ai đã có thể nói trước về virus của bệnh sida, vốn đã hiện hữu ngay cả trước bình minh của nhân loại, nhưng đã trở nên nguy hiểm cho loài người vào thế kỷ XX, nhân dịp những biến dị khó đoán được. Ngược lại, vài người lo sợ điều tệ hại nhất đối với virus gây bệnh cúm gia cầm (grippe aviaire), trong khi cho mãi đến nay, nó đã không thành công biến dị để có khả năng gây nhiễm ồ ạt loài người. ”
Đối với GS Lionel Piroth, “ vào năm 2003, virus gây bệnh SRAS (syndrome respiratoire aigu sévère) đã có nhiều lợi thế để tỏ ra rất nguy hiểm : là nguồn gốc động vật, virus đã trở nên có thể lây truyền giữa con người với nhau. Và virus đã phát xuất từ Hong kong để lan tràn đến nhiều nước, cho đến tận Canada. Tuy vậy, những phương tiện lớn được triển khai bởi OMS đã cho phép ngăn chặn nhiễm trùng trước khi lan rộng với một quy mô không thể kiểm soát được. ”
(LE FIGARO 4/6/2012)

4/ NHỮNG ĐẠI DỊCH MỚI CỦA THẾ KỶ GÂY LO SỢ KHÔNG CHÍNH ĐÁNG.
Virus và vi khuẩn đã hiện diện trên trái đất trước khi con người xuất hiện, vậy không có một lý đó nào cho rằng hiện nay chúng chưa hề có. Nếu vài loại virus ngày nay ta hầu như không nghe nói đến nữa, như virus của bệnh đậu mùa hay virus của bệnh bại liệt, đó là nhờ sự tiêm chủng đại trà dân chúng và nhờ tình trạng sức khỏe tốt hơn của họ (những trận đói lớn mà tổ tiên chúng ta đã trải qua đã làm cho họ suy yếu).
Ngược lại, nếu những virus khác được biểu hiện dưới dạng các trận dịch, như bệnh sởi mới đây, đó là bởi vì mức độ tiêm chủng của dân chúng không khá cao để có thể làm ngừng sự lây nhiễm hay bởi vì không có vaccin có hiệu quả 100% như trường hợp cúm mùa đông (grippe hivernale). Có phải vì vậy mà ta phải lo sợ một remake của cúm Tây Ban Nha (grippe espagnole) với 40 triệu người chết trong mùa đông 1918-1919 hay không ? Đối với GS Stahl (CHU Grenoble), đó là điều không có thể. “ Khác với mùa đông 1918, chúng ta không xuất phát từ một cuộc chiến tranh thế giới, vậy chúng ta không thật sự bị suy dinh dưỡng, và những bệnh viện được trang bị bởi những khoa hồi sức mũi nhọn. Nói một cách khác, nếu một cúm gia cầm gây nhiễm cho người và gây nên một trận dịch ở các nước phương Tây, có lẽ điều đó sẽ tạo nên nhiều bệnh nhân, có lẽ làm xáo trộn nền kinh tế của các nước, nhưng không gì có phép nói rằng nó sẽ gây nên nhiều nạn nhân.”
Không còn phải lo ngại nữa về phía bệnh dịch hạch và bệnh phong hủi, bởi vì hai loại nhiễm trùng xưa cổ này gây nên bởi những vi khuẩn còn nhạy cảm đối với những kháng sinh của chúng ta.
BỆNH SỐT RÉT VẪN CÒN CÓ TÍNH CHẤT THỜI SỰ
Nếu ta vẫn còn ghi nhận cứ mỗi hai phút có một trường hợp bệnh hủi trên thế giới và vài ổ bệnh dịch hạch (17 trường hợp ở Pérou năm 2010, một trận dịch nhỏ ở Libye năm 2009, 2118 trường hợp được liệt kê bởi OMS năm 2003,…), đó là vì dân chúng khó được tiếp cận với săn sóc y tế, chứ không phải do lỗi của điều trị hiện có. “ Ngoài ra, ngày xưa có lẽ những căn bệnh này đã bị đánh giá quá mức, nhiều căn bệnh có lẽ đã bị cho nhầm là “ dịch hạch ”, vì không có những phương tiện chẩn đoán ”, GS Stahl đã xác nhận như vậy. Còn về bệnh lao, bệnh này lại được nói về nó nhưng chỉ xảy ra với những ổ dịch nhỏ trong những giới nghèo khổ, ở đây điều quan trọng là bệnh phải được phát hiện và các bệnh nhân bị lao phải được điều trị bằng những thuốc kháng lao trong một thời gian cần thiết (trung bình 6 đến 8 tháng). Còn lại là những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục : mặc dầu vài bệnh nhiễm trùng có tỷ lệ tăng cao (giang mai, bệnh lậu), nhưng chúng có thể được điều trị và sự tái xuất hiện của chúng ở Pháp vẫn hạn chế.
“ Còn virus của bệnh sida, ta vẫn còn xa mục tiêu cuối cùng là thanh toán nó. Mặc dầu tiên lượng sinh tồn của những người bị nhiễm trùng nói chung không còn bị ảnh hưởng nhờ những điều trị, mặc dầu những chiến lược mới nhằm hạn chế nguy cơ làm lây nhiễm khi giao hợp đang được đánh giá, nhưng công tác điều tra phát hiện rõ ràng là không đủ, cũng như sự tiếp cận điều trị ở vài vùng trên thế giới ”, GS Lionel Piroth (CHU Dijon) đã nói tiếp như vậy.
“ Hậu quả, ngoài những bệnh nhiễm trùng nhiệt đới, vẫn luôn luôn có tính chất thời sự và nhất là bệnh sốt rét mà thể đề kháng không ngừng lan rộng ở châu Phi và châu Á, không còn có đe dọa nhiễm trùng nghiêm trọng như trong quá khứ nữa ”, GS Stahl, đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 4/6/2012)

5/ CÁC LẬU CẦU NGÀY CÀNG ĐỀ KHÁNG VỚI CÁC KHÁNG SINH.
Tổ chức y tế thế giới đưa ra một lời kêu báo động đứng trước nguy cơ nhiễm trùng trở nên không điều trị được.
EPIDEMIE. Các chuyên gia bắt đầu lo ngại về sự đề kháng đối với kháng sinh của các lậu cầu (gonocoque), những vi khuẩn này được truyền bằng đường sinh dục và mỗi năm gây bệnh cho khoảng 20.000 người ở Pháp. Thế mà, OMS đã hô hào các chánh phủ và các thầy thuốc hãy tăng cường sự theo dõi các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn này, có thể gây nên nếu không được điều trị, những biến chứng ở đàn ông và phụ nữ, nhất là với nguy cơ vô sinh (stérilité). Các triệu chứng thường rõ rệt. “ Vi khuẩn này, gây viêm niệu đạo (uréthrite) ở đàn ông và viêm cổ tử cung ở phụ nữ, được điều trị bằng một mũi 500mg ceftriaxone (Rocéphine) tiêm mông, GS Michel Janier, trưởng trung tâm các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục của bệnh viện Saint-Louis (Paris) đã giải thích như vậy. Trước đây, chúng ta đã có những lựa chọn khác. Lậu cầu khuẩn đã trở nên đề kháng với các sulfamides vào cuối những năm 1930, rồi nó đã bắt đầu đề kháng với pénicilline, sau đó nó đã biến dị để trở nên không nhạy cảm đối với những kháng sinh khác như tétracyclines hay macrolides.” Một loại thuốc khác thuộc họ céphalosporines, céfixime, có thể được sử dụng bằng đường miệng, nhưng những nồng độ trong máu không đủ với liều lượng thường dùng để trừ khử lậu cầu khuẩn. Mặt khác, những kháng sinh thuộc họ fluoroquinolones từ năm năm nay cũng đã trở nên bất hoạt. “ Từ 10 năm nay, GS Janier nói tiếp, những giống gốc mới đã xuất hiện ở châu Á, và đặc biệt là ở Nhật Bản, mà để chống lại chúng cần những liều ceftriaxone ngày càng mạnh để có được nồng độ ức chế tối thiểu (concentration minimale inhibitrice.) ” Thí dụ, trong một thời gian lâu, một liều 125 mg ceftriaxone là đủ, rồi 250mg ; từ nay, phải 500mg mới đảm bảo chữa lành bệnh nhiễm trùng. Theo Centre de référence des gonocoques thuộc Institut Fournier (Paris), giữa 10 và 15% các giống gốc bắt đầu trở nên ít nhạy cảm hơn đối với những kháng sinh này.
Vào đầu những năm 1980, trước khi xuất hiện bệnh sida, dịch lậu cầu bùng nổ ở Pháp. Sau một thời kỳ yên tĩnh do sự phòng ngừa nguy cơ sinh dục bằng các túi dương vật (préservatifs), nhiễm trùng lại bắt đầu tái phát, đặc biệt trong số những người đồng tính luyến ái, nhưng cũng ở những người dị tính luyến ái có nhiều bạn đường phối ngẫu (hétérosexuel multipartenaire). Nhiễm trùng cũng được quan sát với một tần số gia tăng ở những cô gái trẻ thuộc tầng lớp nghèo. “ Đó là một nhiễm trùng rất lây nhiễm, với một thời gian tiềm phục rất ngắn ”, GS Janier xác nhận như vậy. Điều rất quan trọng là lấy bệnh phẩm và cấy đối với một nhiễm trùng niệu đạo hay một viêm tử cung, trước khi điều trị, để theo dõi tiến triển của những giống gốc và những đề kháng.
Ngày xưa là nỗi kinh hoàng của các thủy thủ và các quân nhân, bệnh lậu (blennorragie), cũng được biết dưới tên thân thuộc “ chaude pisse ”, được chữa lành một cách dễ dàng nhờ kháng sinh. Đó là bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục thường gặp nhất sau chlamydiae. Theo OMS, hơn 100 triệu người bị lây nhiễm mỗi năm. Đó không phải là một vấn đề châu Âu hay châu Phi, đó thật sự là một vấn đề thế giới, BS Manjula Lusti-Narasimhan (service des maladies sexuellement transmissibles de l’OMS) đã nói như vậy. Trong số những điều trị mới nhất còn có thể xét đến có céphalosporines. Từ nay đến hai năm nữa, nhiễm trùng sẽ đề kháng với tất cả những điều trị hiện có. Một quan điểm hơi quá đáng ? Mối lo ngại là chính đáng, bởi vì mặc dầu hai loại kháng sinh khác vẫn còn có thể được sử dụng, aminoside và gentamycine, tuy nhiên chúng có bất tiện là, đối với thuốc thứ nhất, không hiệu quả đối với những thể bệnh lậu đường miệng, và đối với thuốc thứ hai những tác dụng phụ không phải là không đáng kể.
(FIGARO 7/6/2012)

6/ MỘT HỢP CHẤT CỦA TỎI LÀ MỘT CHẤT GIẾT VI KHUẨN
Sulfure d’allyle đã tỏ ra hiệu quả hơn các kháng sinh để chống lại các mầm bệnh gây những rối loạn ruột.
ALIMENTATION. Tỏi đang thuận buồm xuôi gió : không những nó làm bỏ trốn các quỹ hút máu (!), nhưng tỏi cũng có những đặc tính vừa nhiều vừa đa dạng trong lãnh vực sức khỏe (ta cũng gọi nó là herbe aux neuf vertus). Tỏi cũng là một chất diệt nấm (fongicide) tốt, một chất hạ huyết áp, có những tính chất tẩy giun (vermifuges) và ngay cả chống ung thư. Một công trình nghiên cứu mới nhất được chỉ đạo bởi những nhà nghiên cứu của Washington State University vừa cho thấy rằng một hợp chất hiện diện trong tỏi có hiệu quả chống lại các vi khuẩn gây nên những rối loạn ruột hơn những kháng sinh thông thường (Journal of Antimicrobial Chemotherapy).
“ Các vi khuẩn Campylobacter, rất thường gặp và hiện diện khắp nơi trên thế giới, có khả năng gây nên những rối loạn ruột : ỉa chảy, đau bụng, quặn bụng, sốt ”, Michael Konkel, một trong những tác giả của công trình nghiên cứu, khảo sát các vi khuẩn này từ 25 năm nay, đã đánh giá như vậy. Phần lớn những nhiễm trùng phát xuất từ thức ăn hay từ gia cầm nấu không đủ chín hay bị ô nhiễm bởi những bề mặt hay những dụng cụ không được lau chùi kỹ.
Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến tác dụng của một trong những hợp chất của tỏi, sulfure d’allyle, lên những vi khuẩn Campylobacter, vốn được bảo vệ bởi một biofilm để bắt chước tốt hơn những điều kiện tự nhiên. Rồi các nhà nghiên cứu đã sử dụng trích chất tỏi và hai kháng sinh, érythromycine và ciprofloxacine. Sulfure d’allyle đã tỏ ra 100 lần hiệu quả để giết các vi khuẩn hơn so với hai kháng sinh bởi vì trích chất của tỏi đi xuyên qua được lớp biofilm tốt hơn và tác động lên một enzyme, làm thay đổi chức năng của nó và gây nên sự chết của những tế bào vi khuẩn.
SÁT KHUẨN CÁC BỀ MẶT
“ Theo tôi kết quả này rất đáng lưu ý bởi vì nó cho thấy rằng hợp chất sulfure d’allyle này có tiềm năng làm giảm những vi khuẩn nguy hiểm trong môi trường của chúng ta và trong thức ăn của chúng ta, BS Xiaonan Lu, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Sulfure d’allyle như thế có thể được sử dụng một cách trực tiếp ở giai đoạn chế biến vài thức ăn hay có thể sát khuẩn các vết thương và những đồ dùng nấu ăn. Những công trình nghiên cứu trước đây được tiến hành bởi vài trong số những nhà nghiên cứu đã phát hiện những tính chất của Sulfure d’allyle chống lại những vì khuẩn khác trong thức ăn như Listeria hay vài giống gốc E.coli.
Dĩ nhiên, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng những công trình này còn rất sơ khởi. Những công trình nghiên cứu bổ sung còn phải được tiến hành trước khi những tính chất kháng sinh có thể thật sự được sử dụng một cách thông thường. Bởi vì các nhà nghiên cứu khẳng định rằng mặc dầu ăn tỏi là khá tốt cho sức khỏe, nhưng không thể rằng điều đó đủ để bảo vệ chống lại một nhiễm trùng thức ăn.
(FIGARO 7/5/2012)

7/ NHỮNG NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH CŨNG CẦN ĐƯỢC TIÊM CHỦNG LẠI.
Vì không được bảo vệ đủ, những người này đôi khi làm lây nhiễm các em bé và các người già.
MALADIES INFECTIEUSE. Do một nghịch lý lý thú, bố mẹ theo một cách chu đáo lịch trình tiêm chủng của con mình những đôi khi cũng lơ là với sự tiêm chủng của chính mình. Mỗi năm, có những trường hợp những người lớn từ 22 đến 28 tuổi đã không tiêm nhắc lại chống bệnh ho gà và bị nhiễm trùng và gây nhiễm cho con mình trước khi đứa bé hoàn toàn được bảo vệ nhờ tiêm chủng. Năm 2010, theo những con số của mạng theo dõi Renacoq, một nửa các trường hợp trẻ em bị ho gà đã bị lây nhiễm bởi bố mẹ chúng.
Vậy mọi người cần phải xem lại sổ tiêm chủng hay kiểm tra ở thầy thuốc gia đình xem ông ta có đúng là đã tiêm nhắc lại một cách đều đặn dTPolio hay chưa (d chỉ liều thu giảm anatoxine diphtérique, T để chỉ tétanos và Polio để chỉ poliomyélite), nghĩa là cứ mỗi 10 năm kể từ 16-18 tuổi, bởi vì bây giờ ta thêm vào bệnh ho gà ít nhất một lần (dTcaPolio, ca để chỉ coqueluche acellulaire). Sau đó ta chỉ cần tiêm chủng nhắc lại dTPolio mỗi 10 năm.
KHÔNG ĐƯỢC QUÊN ROR
Đối với GS Pierre Bégué, thành viên của Hội hàn lâm y khoa, đã phát biểu nhân conférence de presse về chính sách tiêm chủng ngày 28/3 ở Paris, sự việc thật là đơn giản : “ Lịch trình tiêm chủng được thực hiện tốt. Phải theo nó.” Vì lẽ lịch trình này có tính đến tất cả những tình huống đặc biệt. Điều này không có nghĩa rằng mọi việc được khắc vào cẩm thạch : “ Lịch trình tiêm chủng người lớn có thể tiến hóa.”
Tiêm chủng nhắc lại dTP cũng bắt buộc mỗi 10 năm ở tuổi người lớn, bởi vì nó bảo vệ chống lại bệnh uốn ván đã chưa hoàn toàn biến mất ở Pháp. Viện theo dõi y tế nhắc lại rằng “ những trường hợp tử vong vẫn còn tồn tại có thể rất dễ tránh bằng cách tiêm chủng một cách hệ thống những người trưởng thành bằng anatoxine tétanique, với một sự cải thiện áp dụng chính sách tiêm nhắc lại (và, trong trường hợp vết thương, bằng tiêm chủng và cho immunoglobuline đặc hiệu người). Tuy nhiên ta không thể chỉ căn cứ trên sự xuất hiện của vết thương để nghĩ đến tiêm nhắc lại, bởi vì 10 đến 15% những trường hợp bệnh uốn ván xảy ra mà ta không nhận thấy có vết thương.
Trong một thời kỳ 10 năm (2000-2009), 175 trường hợp bệnh uốn ván đã được thống kê ở Pháp, trong đó 147 ở những người trên 70 tuổi. Mặc dầu những tiến bộ của hồi sức, 41 trường hợp tử vong đã xảy ra, điều này chứng tỏ mức độ nghiêm trọng của bệnh khi nó phát ra. 11 trường hợp tử vong liên quan đến những người dưới 70 tuổi.
Không được quên ROR (rougeole-oreillon-rubéole). Đặc biệt từ khi bùng nổ những trường hợp bệnh sởi ở Pháp (hơn 22.000 trường hợp và 6 tử vong ở Pháp từ 2008), một phần do tiêm chủng không đủ trong vài vùng của nước Pháp. Phải tiêm nhắc lại hai liều giữa năm 18 và 31 tuổi, hay một liều ROR giữa 30 và 45 tuổi đối với những phụ nữ không được tiêm chủng và muốn có thai.
Sau cùng, sự tiêm chủng hàng năm chống lại bệnh cúm là điều không thể tránh được. Trên 1942 trường hợp tử vong do cúm mùa, giữa năm 2003 và 2007, 9% liên quan đến những người trên 65 tuổi. Tuy nhiên vaccin không đảm bảo một sự bảo vệ có hiệu quả 100%. “ Quả đúng là có một sự giảm khả năng miễn dịch của những người già và còn phải cải thiện các vaccin”, Jean François Bach, chuyên gia miễn dịch học đã công nhận như vậy, đó cũng là lý do tại sao một trong những biện pháp bảo vệ những người già là tiêm chủng những người chung quanh họ ! ”.
(LE FIGARO 29/3/2012)

8/ SIDA CÓ CÒN LÀ MỘT CĂN BỆNH CHẾT NGƯỜI ?
Dominique Costagliola
Epidémiologiste
Nhiễm trùng bởi HIV dẫn đến tình trạng suy giảm miễn dịch (immunodépression) (sụt giảm tỷ lệ của vài loại tế bào, những tế bào lympho CD4) và gây nên bệnh Sida (sự xuất hiện một trong 23 nhiễm trùng cơ hội hay những khối u liên kết với tình trạng suy giảm miễn dịch). Phải cần khoảng 8 năm sau khi bị nhiễm trùng bởi HIV để tỷ lệ CD4 trở nên dưới 200/mm3 và khoảng 10 năm để bệnh sida xuất hiện. Những phối hợp của các antirétroviraux được sử dụng để điều trị nhiễm trùng cho phép kiểm soát sự tăng sinh (réplication) của virus trong máu : điều đó kèm theo một sự gia tăng trở lại tỷ lệ CD4 và một sự giảm nguy cơ bị bệnh sida và tử vong. Ở Pháp, khoảng 110.000 người bị nhiễm bởi HIV đã được điều trị năm 2010 và 87% được điều trị bởi các antirétroviraux. Gần 90% các bệnh nhân được điều trị trong ít nhất 6 tháng đã có một charge virale được kiểm soát.
TÌNH HUỐNG RẤT TƯƠNG PHẢN
Trong bối cảnh này, tỷ lệ tử vong ở Pháp đi đến đâu rồi ? Tình huống rất là tương phản tùy theo các bệnh nhân và phần lớn tùy theo giai đoạn bệnh vào lúc chẩn đoán bệnh nhiễm trùng và tùy theo sự điều trị. Khoảng 1/3 bệnh nhân lúc được điều trị đã ở giai đoạn bệnh sida hay một nồng độ CD4 dưới 200/mm3. Thí dụ, 12,7% những bệnh nhân được điều trị khi đã bị bệnh sida chết trong vòng 4 năm, trong khi tỷ lệ tử vong chỉ 1,6% đối với những bệnh nhân được điều trị lúc tỷ lệ CD4 của họ trên 200/mm3.
Ở những người không dùng ma túy bằng đường tĩnh mạch, có tỷ lệ CD4 trên 500/mm3 được điều trị bằng antirétroviraux, tỷ lệ tử vong tương tự với tỷ lệ tử vong của dân thường.
Ở các phụ nữ trong cùng tình huống, khi được điều trị, ngay sau 3 năm, thời kỳ trong đó tỷ lệ CD4 lên trên 500/mm3. Đối với những bệnh nhân bắt đầu điều trị ở giai đoạn sida, nguy cơ tử vong trên nguy cơ của dân chúng nói chung, ngay cả khi tỷ lệ CD4 trở nên trên 500/mm3 sau khi được điều trị.
CÁC UNG THƯ VÀ CÁC BỆNH GAN
Người ta chết vì sao ? Những công trình nghiên cứu “ ANRS Mortalité ” được thực hiện năm 2000 và năm 2005 đã cho thấy rằng khoảng 1700 người bị nhiễm bởi HIV đã chết vào năm 2000, và 1830 vào năm 2005. Vào năm 2005, 36% những trường hợp tử vong được gây nên bởi một căn bệnh do sida, 17% bởi một ung thư (ngoài viêm gan), 15% do một bệnh của gan, 8% do một bệnh tim mạch và 5% do tự tử. Phần của những tử vong do những nguyên nhân này đã gia tăng giữa năm 2000 và 2005 và phần của những tử vong do bệnh sida đã giảm. Thật vậy, những bệnh nhân bị nhiễm bởi HIV, kể cả những bệnh nhân có charge virale được kiểm soát, có nhiều nguy cơ phát triển các ung thư, các bệnh tim mạch và những bệnh gan hơn so với dân thường.
Hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm HIV khi được điều trị là gì ? Một công trình nghiên cứu mới đây của Anh vừa cho thấy rằng, trong thời kỳ từ năm 1996 đến 2006, hy vọng sống của một người đàn ông 20 tuổi sống với HIV và được điều trị là 39,5 năm. Con số này là 50,2 năm đối với một phụ nữ. Đối với dân chúng nói chung, hy vọng sống được ước tính lần lượt là 57,8 và 61,6. Yếu tố “ CD4 ” ở đây còn có tính chất quyết định : một bệnh nhân 20 tuổi bắt đầu điều trị khi tỷ lệ CD4 dưới 100/mm3 có một hy vọng sống 37,9 năm. Con số này là 41 năm nếu các antirétroviraux được cho khi tỷ lệ CD4 giữa 100 và 200/mm3, và 53,4% khi tỷ lệ CD4 nằm giữa 200 và 350/mm3.
Tất cả những dữ kiện này nhấn mạnh rằng chẩn đoán nhiễm trùng HIV phải được thực hiện càng sớm càng tốt để hạn chế nguy cơ gây tử vong và rằng có thể hy vọng đạt được một hy vọng sống gần với mức trung bình khi điều trị không được bắt đầu ở một giai đoạn quá muộn của nhiễm trùng.
(LE FIGARO 28/11/2011)

9/ SIDA : MỘT LOẠI THUỐC ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM ĐỂ PHÒNG NGỪA

                                Những điểm chủ yếu :
        – Lần đầu tiên, một antirétroviral được sử dụng ở những người huyết thanh âm tính (séronégatif) để là giảm nguy cơ truyền bệnh.
        – Thuốc này sẽ chỉ được sử dụng bổ sung những kỹ thuật phòng ngừa khác
        – Thử nghiệm này gây dè dặt và thận trọng

Đó là một première trong thế giới phương tây : Cơ quan nghiên cứu bệnh Sida của Pháp đã phát động thử nghiệm đầu tiên sử dụng một loại thuốc antirétroviral như là một công cụ phòng ngừa bệnh.
Ta đã biết rằng điều trị những bệnh nhân có bệnh sida đã phát triển làm giảm tỷ lệ virus trong máu và làm giảm nguy cơ gây lây nhiễm đối với những người phối ngẫu. Từ vài năm nay, các antirétroviraux cũng được sử dụng như một điều trị dự phòng (phòng ngừa) sau khi bị tiếp xúc do tai nạn với virus của sida, hoặc sau một sự cố đối với bao dương vật, hoặc khi bị hiếp dâm trong đó nạn nhân không biết tác giả có huyết thanh dương tình hay không hoặc khi một nhân viên điều trị bị tiếp xúc lúc điều trị bệnh nhân. Các thuốc antirétroviraux làm giảm một cách đáng kể nguy cơ lây nhiễm và Bỉ là một trong những nước đầu tiên bồi hoàn điều trị này cho bệnh nhân.
Ở đây đó là một sự sử dụng mới những loại thuốc antirétroviraux : Nó sẽ được đề nghị cho 300 người tình nguyện, những người đàn ông và những transsexuel huyết thanh âm tính có những quan hệ tình dục với những người đàn ông không sử dụng một cách hệ thống một bao dương vật (préservatif), với ít nhất hai partenaire sexuel khác nhau trong 6 tháng trước khi tham gia vào thử nghiệm ”, BS Bruno Spire, trưởng kíp của Inserm đang tiến hành thử nghiệm này đã giải thích như vậy. “ Thử nghiệm so sánh hai nhóm, một nhóm sẽ nhận một biothérapie antirétrovirale, nhóm kia một placebo. Những loại thuốc này sẽ không được dùng liên tục, nhưng theo nhu cầu, trong thời kỳ hoạt động sinh dục. Những người tham gia sẽ bắt đầu dùng thuốc trước những giao hợp, và chấm dứt sử dụng sau thời kỳ hoạt động sinh dục ”.
Những người chủ xướng thử nghiệm đã dự kiến rằng mọi người tham dự, dầu thuộc nhóm nào, sẽ được đề nghị một biện pháp phòng ngừa tăng cường : phân phát các túi dương vật, điều tra phát hiện đều đặn HIV và những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, tiêm chủng chống lại các bệnh viêm gan A và B. Những người tham gia có thể nhận nếu họ muốn những lời khuyên cá thể hóa về phòng ngừa.
Vậy ý tưởng là sử dụng thuốc như thành trì chống lại sự lây nhiễm. Điều đó đã được trắc nghiệm, nhưng với những kết quả không hoàn hảo : vào tháng 7 2010, “ Le Soir ” đã báo cáo những kết quả của một thử nghiệm được tiến hành ở Nam Phi, đã cho thấy rằng sự sử dụng một gel chứa một antirétroviral làm giảm 39% nguy cơ nhiễm trùng. Một thử nghiệm khác, thử nghiệm duy nhất được tiến hành ở những người đồng tính luyến ái, ở Nam Mỹ và Thái Lan, đã cho thấy rằng nguy cơ lây nhiễm được giảm 44% ở những người tình nguyện theo một điều trị thường trực. Tính hiệu quả tương đối của nó dường như do sử dụng điều trị mà không quên.
Những tỷ lệ này vẫn khiêm tốn, rất xa với những tỷ lệ mà một kỹ thuật “an toàn ” phòng ngừa chống lại nhiễm trùng sẽ đề nghị. Chính vì vậy những người chủ xướng thử nghiệm này vẫn rất thận trọng về tính hiệu quả khả dĩ của loại chiến lược này nhằm làm giảm nguy cơ nhiễm trùng, nhưng cho rằng phải đánh giá xem nó có thể được thêm vào những kỹ thuật hiện có hay không : “ Chính nhờ phối hợp những phương tiện phòng ngừa mà ta sẽ có thể kềm chế được dịch bệnh HIV, bằng cách sử dụng những phương tiện mà tính hiệu quả đã được chứng minh, như túi dương vật, và bằng cách đánh giá lợi ích của công cụ mới như chiến lược này. Đó là vai trò của chúng tôi tiến hành những nghiên cứu này ”, GS Jean-François Delfraissy, giám đốc ANRS đã giải thích như vậy. “ Nghiên cứu cần thiết chống lại bệnh sida phải tiến triển và phải chào đón sự kiện thử nghiệm này được tiền hành, Thierry Martin, giám đốc Plateforme Prévention sida đã phát biểu như vậy. Nhưng vẫn phải thận trọng, nhất là đối với nguy cơ do sự kiện những người tham dự có thể cảm thấy được bảo vệ chống lại sự lây nhiễm. Tỷ lệ giảm nguy cơ 30 hay 40%, đó là khiêm tốn so với những phương tiện làm giảm khác. Mặt khác, họ không nên làm gia tăng nguy cơ của mình do dựa vào tính hiệu quả của điều trị. Ngoài ra điều trị này có một phí tổn, khoảng 600 euro mỗi tháng, cao hơn nhiều phí tổn của một túi dương vật, lại hiệu quả hơn nhiều. Không sử dụng bao dương vật, đó cũng là tiếp xúc với những bệnh lây nhiễm đường sinh dục khác, để chống lại chúng thuốc antirétroviral không có tác dụng bảo vệ ”. Nhà chuyên gia phòng ngừa cũng tự hỏi về những tác dụng phụ khả dĩ của điều trị, cũng như khả năng đề kháng gia tăng của virus đối với thuốc nếu chiến lược này một ngày nào đó được áp dụng trên một quy mô lớn.
(LE SOIR 5/1/2012)

10/ BỆNH SỐT RÉT : MỘT VACCIN ĐẦY HỨA HẸN CỦA PHÁP
Những kết quả thu được ở Burkina Faso bởi một ứng viên vaccin mang lại niềm hy vọng một ngày nào đó thắng được căn bệnh này.
EPIDEMIE. Vaccin hiệu quả chống lại bệnh sốt rét mà thế giới mơ tưởng từ nhiều thập niên qua từ nay đang được thực hiện ? Dĩ nhiên là quá sớm để phát biểu ý kiến nhưng những dữ kiện của một thử nghiệm được thực hiện năm 2007 và được công bố hôm nay trong New England Journal of Medicine về vaccin MSP3 dẫu sao xác nhận quá trình được theo đuổi từ hơn hai mươi năm qua bởi nhóm nghiên cứu của Pierre Druilhe, cựu giám đốc của laboratoire paludo-vaccinologie (LPV) thuộc Viện Pasteur.
Rõ ràng, vaccin MSP3 từ nay là một trong hai ứng viên vaccin đã tỏ ra có khả năng bảo vệ con người trong vùng dịch bệnh, Pierre Druilhe đã giải thích như vậy. Enjeu có tầm cỡ vì lẽ mặc dầu sự phấn khởi được thể hiện bởi Roll Back Malaria, bệnh sốt rét tiếp tục đe dọa hơn hai tỷ người trên thế giới, chủ yếu ở châu Phi và châu Á, và mỗi năm gây nên 800.000 trường hợp tử vong. MSP3 hiện nay được sản xuất bởi Synprosis, một công ty sinh kỹ thuật học (société de biotechnologie) mà GS Pierre Druhle từ nay công tác.
Thử nghiệm, được tiến hành ở Burkina Faso năm 2007 và được công bố hôm nay, lúc đầu chỉ nhắm xem xét khả năng dung nạp và tính sinh miễn dịch (immunogénicité) của vaccin ở 45 trẻ em tuổi từ 12 đến 24 tháng đã nhận những liều 15 hay 30 mcg so với một vaccin placebo. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu đã không thể không ghi nhận khả năng bảo vệ mang lại bởi sự tiêm chủng như thế. “ Vì chúng tôi phải ghi chép tất cả những biến cố xảy ra trong lúc đánh giá sự an toàn của vaccin được cho, chúng tôi cũng đã nhận xét lúc phân tích các dữ kiện tần số của các cơn sốt rét ”, BS Sodiomon Sirima, thuộc Centre national de recherche et đe formation sur le paludisme ở Burkina Faso, và là nhà nghiên cứu chính của thử nghiệm, đã giải thích như vậy. Thật vậy người ta đếm được 1,2 đến 1,9 cơn sốt rét mỗi 100 ngày ở những trẻ được tiêm chủng so với 5,3 cơn đối với nhóm chứng, hoặc một tỷ lệ bảo vệ từ 64 đến 77%.
Với những kết quả này, dĩ nhiên sẽ phải được xác nhận trong một công trình nghiên cứu thật sự với quy mô lớn hơn (hiện đang được tiến hành ở Mali), vaccin MSP3 sẽ “ cạnh tranh ” với candida vaccin favori của nghiên cứu quốc tế, được mệnh danh là “ RTS,S ”. Vaccin này, được hiệu chính bởi Glaxo SmithKline, đã được sử dụng trong nhiều thử nghiệm lớn với thời gian thực hiện lâu dài và duong như chỉ mang lại một khả năng bảo vệ không hoàn toàn. Tuy nhiên cơ chế bảo vệ của hai vaccin tiềm năng này rất khác nhau. “ Có nhiều hướng vaccin, Pierre Druhle đã giải thích như vậy, ta có thể chủ yếu nhắm vào giai đoạn sớm của nhiễm trùng, đó là trường hợp của vaccin RTS,S hay nhắm vào giai đoạn của những biểu hiện lâm sàng, đó là trường hợp vaccin MSP3 mà chúng tôi đã lựa chọn.”
Một sự lựa chọn không hề do tình cờ vì lẽ tất cả đã bắt đầu cách nay hơn 20 năm khi các nhà nghiên cứu Pháp đã có thể cho thấy rằng ta có thể bảo vệ những em bé Thái lan từ 12 đến 24 tháng chống lại bệnh sốt rét bằng cách cho chúng những kháng thể của những người trưởng thành châu Phi đã được miễn dịch. Thật vậy đó là một lứa tuổi chủ chốt, bởi vì phần lớn các trường hợp tử vong do bệnh sốt rét xảy ra trước 5 tuổi, các cơn sốt rét cho đến năm 15-20 tuổi rồi ta nhận được một khả năng bảo vệ được gọi là miễn dịch tự nhiên (immunité naturelle). Nhờ những công trình nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur nhận diện “ kháng nguyên tốt ”, kháng nguyên gây một phản ứng trong hệ miễn dịch con người : MSP3, cơ sở của vaccin đang được đánh giá.
Pierre Druihle vẫn muốn lạc quan một cách thận trọng. “ Đó là những kết quả sơ bộ, được thực hiện trên quy mô nhỏ và phải chờ đợi sự xác nhận trên những quy mô quan trọng hơn.”
(LE FIGARO 15/9/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/7/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 273 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 512 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s