Thời sự y học số 272 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYỀN ĐỀ TIM MẠCH

1/ CAO HUYẾT ÁP : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ
Một thực hành vừa phải làm giảm26% nguy cơ ở những người có tố bẩm di truyền (génétiquement prédisposé)
PREVENTION. Cao huyết áp là một bệnh sử gia đình. Khi một trong hai bố mẹ bị cao huyết áp, thì các con nhân gấp đôi nguy cơ đến lượt mình sẽ trở thành cao huyết áp. Tuy nhiên có thể xua đuổi số phận bằng cách thực hành một hoạt động vật lý đều đặn, theo những kết quả của một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ được công bố trong tạp chí Hypertension.
Nhóm nghiên cứu của BS Robin Shook thuộc đại học Caroline du Sud đã theo dõi trong 5 năm khoảng 6000 người, trong đó 1/3 có cha hoặc mẹ bị cao huyết áp. Khi công trình nghiên cứu bắt đầu, tất cả các bệnh nhân đều có sức khỏe tốt và đã không ghi nhận một chẩn đoán cao huyết áp nào. Cac nhà nghiên cứu đã đánh giá mức độ hoạt động vật lý của họ và đã theo dõi sự tiến triển của tình trạng sức khỏe của họ.

Trong vòng 5 năm, một phần tư trong số 6000 người này đã trở thành cao huyết áp. Nhưng, ở những người có những tiền sử gia đình, nguy cơ phát triển bệnh lý này giảm 34 % khi họ thực hiện hoạt động vật lý đều đặn. Đối với toàn bộ những người tham gia, một thực hành tích cực được liên kết với một sự giảm 42% nguy cơ phát triển một cao huyết áp. Tỷ lệ giảm này là 26% trong trường hợp thực hành ở mức vừa phải.
Tin vui : vô ích phải trải qua hàng giờ ở phòng tập thể dục để mong được một lợi ích. Những kết quả của công trình nghiên cứu này biểu thị một thông điệp rất thực tế : một lượng hoạt động vật lý vừa phải và hiện thực (điều đó có thể được thể hiện bởi khoảng 2 giờ bước nhanh mỗi tuần) có thể mang lại một số lớn các lợi ích, nhất là ở những người tố bẩm phát triển một vấn đề cao huyết áp vì lý do những tiền sử gia đình, BS Robin Shook đã nhấn mạnh như vậy.
Công trình nghiên cứu cũng cho thấy rằng những người chơi thể thao có một tiền sử gia đình cao huyết áp thấy nguy cơ bị cao huyết áp chỉ gia tăng 16% so với những vận động viên thể thao không có tiền sử gia đình.
Vậy trong trường hợp tố bẩm di truyền đối với cao huyết áp, sự thực hành một thể thao dai sức (sport d’endurance) có vẻ như là một phương tiện tốt để làm chậm mắc bệnh nhờ gìn giữ sức khỏe các động mạch dài lâu hơn. Bởi vì cao huyết áp là một rối loạn của quá trình lão hóa : 70% những người cao huyết áp đều hơn 60 tuổi, GS Xavier Girerd, thầy thuốc chuyên khoa về cao huyết áp thuộc bệnh viện Pitié-Salpetrière (Paris) đã nhắc lại như vậy.
Huyết áp sẽ càng tăng cao nhanh chóng khi yếu tố di truyền và môi trường càng bất thuận lợi.
Đối với GS Mourad, từ nay điều chủ yếu là làm nhạy cảm những người trong lứa tuổi 40 mà huyết áp nằm trong những vùng trên (13/8) không được xem như là bệnh lý. Bởi vì chính ở lứa tuổi này mà con người trở nên nhàn rổi không hoạt động, lên cân. Thế mà, sự lên cân giữa 30 và 50 tuổi làm gia tốc sự xuất hiện huyết áp. Ngược lại, những người tăng thể trọng mất 5 kg trong 6 tháng, duy trì tình trạng mất trọng lượng này và thực hành một hoạt động dai sức, làm giảm 60% nguy cơ phát triển một cao huyết áp trong 5 đến 10 năm.
BA LẦN MỖI TUẦN
Lợi ích khác của hoạt động thể thao : nó tác động trực tiếp lên các động mạch. “ Thể thao cải thiện chức năng của động mạch khiến động mạch vẫn trẻ lâu hơn và, do đó, sẽ tiết ít hơn những chất làm dễ sự làm cứng động mạch cũng như những lắng đọng cholestérol. Thể thao cũng làm giảm hoạt tính của dây thần kinh giao cảm có tác dụng làm gia tăng tần số tim. Thể thao cũng làm tăng hoạt tính của dây thần kinh phế vị, cũng có liên quan trong sự làm chậm của tần số tim ”, GS Claire Mounier Vehier, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc CHRU de Lille đã giải thích như vậy.
Để làm mềm các động mạch, các thầy thuốc khuyến nghị một hoạt động dai sức (activiété d’endurance) (xe đạp, jogging, bơi lội) 20 đến 30 phút 3 lần mỗi ngày. Đối với các phụ nữ, ở thời kỳ mãn kinh, thời kỳ quan trọng đối với sự xuất hiện cao huyết áp, các thầy thuốc ngay cả khuyên chuyển qua 60 phút 3 lần mỗi tuần. ..Việc đầu tư, về thời gian, có thể có vẻ nặng nề nhưng có lợi. Bởi vì một khi cao huyết áp được chẩn đoán, phải điều trị bằng thuốc suốt đời. Hơn bao giờ hết, luyện tập vật lý sẽ được khuyên để giúp làm giảm huyết áp, nhưng sẽ không bao giờ làm mất nó.
(LE FIGARO 22/5/2012)

2/ JOGGING LÀM GIA TĂNG TUỔI THỌ

                                          Những điểm chủ yếu

            – Chạy, một cách thoải mái, là tốt cho tim
            – Jogging đều đặn ngay cả kéo dài tuổi thọ (espérance de vie)
            – Đàn ông sống thêm 6,2 năm, đàn bà 5,6 năm

Một trong những công trình nghiên cứu được trình bày ở Dublin (Ái Nhĩ lan) ở hội nghị của Société de cardiologie européenne (Euro Prevnet 2012) quan tâm đến jogging và ảnh hưởng của nó lên sức khỏe. Với những kết quả rất lý thú.
“ Vào đầu những năm 1970, khi jogging đã trở nên một thời thượng, một cuộc luận chiến phát sinh sau trường hợp tử vong của vài người tham gia vào môn thể thao mới này, thầy thuốc chuyên khoa tim Đan Mạch Peter Schnohr
đã nhắc lại như vậy. Khi đó người ta kể cả gợi ý rằng jogging có thể là một hoạt động thể thao quá mạnh đối với những người ở lứa tuổi trung niên.”
Công trình nghiên cứu của chúng tôi nhằm làm sáng tỏ những luận cứ này và nhằm trả lời cho câu hỏi đơn giản này, thầy thuốc chuyên khoa tim đã chỉ rõ như vậy : jogging là tốt hay xấu đối với tim ? Những kết quả của những công trình nghiên cứu của chúng tôi (công trình nghiên cứu Copenhagen City Heart), mặc dầu chưa được công bố, nhưng đã rõ ràng. Được thực hiện một cách đều đặn và một cách tiết độ, jogging cho phép lợi được vài năm sống : 6,2 tuổi đối với đàn ông và 5,6 tuổi đối với phụ nữ.”
Và khi ta nói tập luyện đều đặn và vừa phải, điều đó có nghĩa là từ một giờ đến 2 giờ rưởi mỗi tuần, với một nhịp độ chậm, hoặc với một nhịp độ làm hơi khó thở vận động viên. Vậy ở đây không có vấn đề tạo những kỳ công ! Điều lý tưởng cũng là chia thời gian chạy thành hai hay ba buổi mỗi tuần.
Để đạt được những kết quả này, các nhà nghiên cứu có liên quan trong công trình nghiên cứu Copenhagen City Heart được bắt đầu năm 1976, đã theo dõi sức khỏe và những thói quen thể thao của khoảng 20.000 người, đàn ông và phụ nữ, tuổi từ 20 đến 93. Công trình nghiên cứu đã tập trung vào 4 thời kỳ (1976-1978, 1981-1983,1991-1994 và sau cùng 2001-2003). Tỷ lệ tử vong ở những joggeur đã được so sánh với tỷ lệ tử vong của toàn dân. Kết luận là nguy cơ tử vong ở những người chạy jogging được giảm 44% so với dân chúng nói chung, và dĩ nhiên điều này sau khi đã điều chỉnh những con số tùy theo tuổi.
“ Nhưng ngoài những con số này, kết luận cũng cho thấy rằng những lợi ích của jogging đối với sức khỏe có nhiều ”, BS Schnohr đã xác nhận như vậy. Ông nhắc lại rằng công trình nghiên cứu rộng lớn này của Đan Mạch đã dẫn đến hàng trăm ấn bản khoa học trong nhiều lãnh vực. “ Còn đặc biệt về jogging, thì ra là khi thực hành một cách chừng mực, nó cải thiện sự hấp thụ oxy, làm gia tăng tính nhạy cảm đối với insuline và cải thiện profil lipidique (gia tăng cholestérol tốt và làm giảm triglycéride). Jogging làm hạ huyết áp và cũng làm giảm những chất chỉ dấu viêm (marqueur d’inflammmation). Ngoài ra, jogging cải thiện chức năng tim, làm gia tăng mật độ xương và kích thích tính miễn dịch tự nhiên.
Dĩ nhiên, sự tập luyện thể thao đều đặn cũng phòng ngừa chứng béo phì và cải thiện, do thực hành theo từng nhóm, sự thoải mái về tâm lý ”, ông đã kết luận như vậy.
(LE SOIR 4/5/2012)

3/ SỬA CHỮA TIM KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT
Kỹ thuật cách mạng này, được hiệu chính bởi GS Cribier, ngày nay được thực hiện khắp nơi trên thế giới.
CARDIOLOGIE. Chính cách nay 10 năm, 16/4/2002, Giáo sư Alain Cribier, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện Charles-Nicolle (Rouen) đã thực hiện première mondiale khi đặt một van tim mà không cần phải mở lồng ngực. Vào thời kỳ đó, không ai tin vào điều đó : chỉ có những bệnh nhân khỏe nhất mới được mổ. Những bệnh nhân khác không còn chữa được nữa. Mười năm sau, “ ghép qua da bioprothèse aortique ” đã cho phép đặt gần 50.000 van tim trên thế giới.
Hẹp van động mạch chủ (rétrécissment aortique) là một bệnh đáng sợ mà nguyên nhân không được biết rõ. Đó là một sự dày sợi và vôi hóa (épaississement fibreux et calcifié) của van động mạch chủ, cái màng mảnh đóng vai trò soupape và nằm ở lối ra của tim, giữa tâm thất trái (bơm tim) và động mạch chủ, cái ống dẫn động mạch mà máu được phóng ra từ tim chảy qua. Một khi bị dày lên, van động mạch chủ này không còn có thể mở ra được nữa và khi đó cản trở máu đi từ tim vào động mạch chủ.
Những hậu quả rất là nghiêm trọng. Bệnh được thể hiện bởi khó thở lúc gắng sức, những cơn đau thắt ngực, chóng mặt hay ngất xỉu. “ Bệnh tiến triển rất chậm nhưng khi các triệu chứng xuất hiện, 8 bệnh nhân trên 10 sẽ chết trong vòng hai năm nếu ta không can thiệp ”, GS Alain Cribier đã giải thích như vậy. Bệnh lý này ảnh hưởng lên 6% những người trên 65 tuổi và tần số của nó gia tăng rất nhanh với tuổi tác. Đó là bệnh van tim (valvulopathie) thường gặp nhất trong các nước phát triển.
Không có một điều trị nào thuần nội khoa, giải pháp duy nhất là thay đổi van bị hỏng. Việc thay thế bằng một van nhân tạo từ lâu đã là một vấn đề của ngoại khoa. Cuộc phẫu thuật nặng nề bởi vì cần mở ngực ở xương ức và cần một tuần hoàn ngoài cơ thể cho phép làm ngừng tim trong lúc mổ. Phẫu thuật được chịu đựng tốt và vẫn là kỹ thuật quy chiếu. Bất hạnh thay, một phần ba bệnh nhân cần được mổ, không thể mổ được vì lẽ sức khỏe kém, tuổi cao hay do sự hiện diện của các bệnh liên kết.
Kỹ thuật qua da (technique percutanée) được phát triển bởi Alain Cribier dành cho những bệnh nhân không mổ được này hay dành cho những bệnh nhân có một nguy cơ cao bị những biến chứng phẫu thuật. Van tim, đuoc cấu tạo bởi mô động vật được xử lý một cách đặc biệt để tránh các vôi hóa, được đặt vào vị trí nhờ một catheter được đưa qua động mạch đùi hay hiếm hơn, qua mỏm tim. “ Đó là một cuộc cách mạng điều trị thật sự đã cho phép chúng ta giải quyết vấn đề của những bệnh nhân không thể mổ được ”, GS Thierry Lefevre, thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc Institut cardiovasculaire Paris Sud đã công nhận như vậy. Ngày nay, 33 bệnh viện được chọn lọc bởi bộ y tế có thể thực hiện cuộc ghép van tim này.
Từ năm 2008, 3500 bệnh nhân, tuổi trung bình 82 tuổi, đã được ghép van tim nhưng nhịp độ đang gia tốc : hiện nay khoảng 200 cuộc mổ mỗi tháng.
Ngoài ngoại khoa, ghép van tim qua da (implantation percutanée) cũng cho phép tránh cho bệnh nhân phải chịu một gây mê tổng quát. Một gây mê tại chỗ cũng đủ, với một thời gian nhập viện giảm còn vài ngày, dĩ nhiên đây không phải là trường hợp đối với mổ mở tim (opération à coeur ouvert).
MỘT KỸ THUẬT ÍT TỐN KÉM
Tại sao, trong trường hợp này, cuộc mổ này nhẹ nhàng hơn lại không được mở rộng cho toàn bộ các bệnh nhân, nhất là những bệnh nhân trẻ tuổi nhất ? “ Chúng ta hãy thận trọng và đừng mở rộng quá nhanh các chỉ định cho các bệnh nhân có thể mổ được. Ngoại khoa vẫn là điều trị chuẩn, Alain Cribier đã phát biểu như vậy. Chúng ta còn phải đánh giá thời gian sống của các van mà ta ghép vào bằng đường qua da. Mặc dầu đó là những bioprothèse y hệt những bioprothèse được đặt bằng mổ mở tim và chúng ta có thể nghĩ rằng chúng cũng có cùng thời gian sống (giữa 15 và 20 năm) Nhưng vì chúng ta phải điều áp (pressuriser) các van để đưa chúng qua các huyết quản, nên chúng có thể đã bị làm cho dễ vỡ ”. Mở rộng can thiệp này cho các bệnh nhân trẻ hơn do đó đòi hỏi những công trình nghiên cứu khác. Nhưng trong 10 năm, kỹ thuật này đã cứu được hàng ngàn mạng sống. Và sự thành cong ngày càng gia tăng. “ Các thầy thuốc không còn do dự nữa khi gởi cho chúng tôi những bệnh nhân mà họ nghĩ là không thể mổ được, BS Thierry Lefèvre đã chứng thực như vậy. Từ khi kỹ thuật này xuất hiện, thêm 30% các bệnh nhân được điều trị mỗi năm.”
Sau cùng, ghép qua da một bioprothèse aortique có một lợi điểm khác : phẫu thuật không tốn kém lắm : phí tổn chỉ 23.000 euro, một số tiền rất dưới phí tổn của một cuộc mổ nặng nề như một mổ mở tim (intervention à cœur ouvert)
(LE FIGARO 23/4/2012)

4/ KHÔNG CÓ GIỚI HẠN TUỔI ĐỐI VỚI NHỮNG CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH
Trong trường hợp nhồi máu cơ tim, angioplastie cũng có lợi đối với những người cao tuổi nhất.
CARDIOLOGIE. Số lượng các nhồi máu cơ tim giảm xuống một cách đều đặn ở Pháp. Mặc đầu thế, mỗi năm, 120.000 người bị một nhồi máu cơ tim và 10% chết trong cơn nhồi máu này.
Để điều trị những hậu quả của một nhồi máu cơ tim, kỹ thuật thường được sử dụng nhất là angioplastie và đặt stent. Kỹ thuật nhằm mang lại cho các động mạch vành bị tắc (nguyên nhân của cơn đau tim) một đường kính đủ cho một tuần hoàn máu hiệu quả.Trên thực hành, ta đưa vào trong động mạch một quả bóng mảnh và cho đến tận nơi bị hẹp, sau đó quả bóng này sẽ được bơm phồng để làm giãn đoạn động mạch bị bệnh. Sau đó, ta đặt trong động mạch một stent, lò xo nhỏ bằng kim loại hình trụ, sẽ giữ cho động mạch mở ở nơi mà nó đã được làm giãn ra.
Để có hiệu quả, angioplastie phải được đặt trong vòng 12 giờ sau crise cardiaque. Chính vì thế, cần cấp cứu gọi 15 và điều này dầu cho bệnh nhân bao nhiêu tuổi, theo một một báo cáo được trình bày nhân hội nghị Hoa Kỳ về cardiologie (ACC).
CHẬM CHẨN ĐOÁN.
Cần biết rằng số lượng những người tuổi 90 sẽ được nhân lên gấp 4 ở Hoa Kỳ từ nay đến 2050, BS David Larson đã tự hỏi về việc điều trị những nhồi máu cơ tim trong quần thể những bệnh nhân này. Ngày nay chúng tôi đề nghị với họ chủ yếu một giải pháp chữa tạm (solution palliative), ông ta đã giải thích như vậy trong hội nghị.
Tuy vậy, theo những dữ kiện thu được trong một registre d’observation, việc đặt một stent có thể có lợi ở vài người trong lứa tuổi bát tuần. Theo những dữ kiện này, trên hơn 3367 bệnh nhân đã bị một crise cardiaque, 64 người có ít nhất 90 tuổi. Trên 50 bệnh nhân 80 tuổi được đặt stent, dưới 30% chết trong vòng 30 ngày. Đối với những bệnh nhân khác, không một trường hợp tái nhập viện nào đã được ghi nhận và phần lớn đã có thể trở về nhà và tiếp tục cuộc sống một cách độc lập.
Ở Pháp, các angioplastie ở những người trên 90 tuổi sau khi bị nhồi máu cơ tim không phải là nhiều. Ở Rennes, trên 5000 bệnh nhân được mổ vì một nhồi máu cơ tim, 11% tuổi từ 80 đến 90 và 0,9% hơn 90 tuổi, GS Hervé Le Breton, cardiologue interventionnel thuộc CHU de Rennes đã chứng thực như vậy. Khó mà phân tích tỷ lệ thấp này. Nhưng nó có thể được giải thích bởi một sự chậm trễ trong chẩn đoán ở những người lớn tuổi nhất, gây trở ngại cho việc thực hiện angioplastie.“ Sự chậm trễ chẩn đoán ở người già vì hai lý do. Các triệu chứng thường không điển hình. Ta không tìm thấy cơn đau đặc trưng của nhồi máu cơ tim. Thay vì thế bệnh thường được biểu hiện bởi một tình trạng khó ở (malaise), nôn. Ngoài ra, những người già, do sợ làm phiền, thường than bệnh quá muộn ”, giáo sư Le Breton đã giải thích như vậy. Nhưng nếu chẩn đoán được xác lập đủ nhanh, phải chăng có một giới hạn tuổi để thực hiện angioplastie ?
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỰ LẬP
“ Tuổi tự nó chỉ can thiệp một phần nhỏ trong nguy cơ ngoại khoa. Tuổi sinh lý quan trọng hơn nhiều so với ngày sinh ”, GS Claude Le Feuvre, chủ tịch Fédération française de cardiologie đã đánh giá như vậy. Nguy cơ một cuộc phẫu thuật tim ở một người 85 tuổi tình trạng tổng quát tốt, không có vấn đề sức khỏe nào khác, hai lần ít quan trọng hơn so với một bệnh nhân 65 tuổi với một suy thận và suy tim.
Trong trường hợp nhồi máu cơ tim ở một người rất già, trước hết các thầy thuốc tìm cách đánh giá những bệnh lý liên kết và mức độ tự lập của bệnh nhân. Quyết định trong cấp cứu có thể nguy hiểm. Tôi nhớ đến một bệnh nhân 90 tuổi đã bị ngừng tìm ở một tiệm hớt tóc mà bà ta đã đến một mình. Tôi đã suy luận rằng bà ta sống tự lập và tôi đã thực hiện angioplastie ”, GS Gabrile Steg, thầy thuốc ngoại khoa đã kể lại như vậy. Vài ngày sau, bà già bảnh bao này đã trở lại tiệm hớt tóc để được cắt nốt một phần tóc còn lại. Ngược lại, GS Le Feuvre, sau một buổi nói chuyện nhanh, quyết định mổ cho một bệnh nhân 88 tuổi. Thật vậy bà ta bị bệnh Alzheimer và do đó gia đình trách ông đã kéo dài tuổi thọ của bệnh nhân. “ Nhưng ở lứa tuổi này, rõ ràng là nếu ta không revascularisation, thời gian nhập viện sẽ kéo dài hơn, nguy cơ tái nhập viện sẽ cao hơn. Hậu quả là tất cả những hệ lụy của việc nhập viện ở người già, sẽ làm mất sự tự lập ”, GS Steg đã nhấn mạnh như vậy.
TRONG TRƯỜNG HỢP BỆNH ỔN ĐỊNH
Trong khi angioplastie ở những bệnh nhân trên 90 tuổi là hiếm trong bối cảnh nhồi máu cơ tim, thủ thuật này vẫn ngoại lệ trong bối cảnh bệnh động mạch vành ổn định, một chỉ định khác của kỹ thuật này. Chỉ định một revascularisation sẽ được chấp nhận nếu lợi ích của stent lớn hơn nguy cơ của thủ thuật. “ Trong trường hợp này, điều được tìm kiếm không phải là một lợi ích so với tỷ lệ tử vong nhưng trên phương diện cơ năng. Thế mà nếu bệnh nhân suy hô hấp hay bị bệnh Alzheimer, tiến hành một angioplastie sẽ không cải thiện trên bình diện chức năng. Những ứng viên rất cao tuổi đáp ứng tốt với chỉ định không nhiều lắm ”, GS Le Breton đã ghi nhận như vậy. Nhưng đối với những người này, việc đặt stent có thể được xét đến.
(LE FIGARO 2/4/2012)

5/ VAI TRÒ CỦA SCANNER TRONG ĐÁNH GIÁ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH.
Professeur Philippe Douek
Service d’imagerie médicale
Hôpital Louis-Pradel (Lyon)

Các bệnh động mạch vành (coronaropathie) được định nghĩa bởi một sự biến đổi của các động mạch vành (nói chung là một sự hep động mạch), làm giới hạn oxygénation của tim. Bệnh động mạch vành được thể hiện bởi những cơn đau ngực gợi ý ít hay nhiều, những biến đổi của điện tâm đồ được thực hiện lúc nghỉ ngơi hay lúc gắng sức và có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim. Theo những dữ kiện dịch tễ học mới đây, số những trường hợp tử vong ở Pháp do các bệnh động mạch vành lên đến 38.000 vào năm 2007. Những phương tiện chẩn đoán từ lâu được giới hạn vào chụp động mạch vành (coronarographie), buộc phải nhập viện, để đưa một sonde vào trong các động mạch vành. Ngày nay, chụp cắt lớp vi tính động mạch vành (coroscanner) mang lại khả năng chụp động mạch vành ảo (coronarographie virtuelle) : được thực hiện ngoại trú, sau khi tiêm vào tĩnh mạch chất cản quang, sự thu được những hình ảnh cặp với một điện tâm đồ kéo dài dưới 10 giây. Mặt khác, các scanner ngày càng hiệu năng và nhanh chóng ít gây phóng xạ hơn nhiều, một thăm dò tim tương ứng với sự tiếp xúc tự nhiên hàng năm của con người với các tia ion hóa (rayonnements ionisants).
CÁC MẢNG XƠ MỠ.
Trong khung cảnh điều tra phát hiện, ở bệnh nhân không triệu chứng, scanner cho phép xác định lượng các mảng xơ mỡ vôi hóa (plaques d’athérome calcifiées) hiện diện trên những động mạch vành dưới dạng một “ score calcique ” động mạch vành, score tỷ lệ với nguy cơ xuất hiện những tai biến tim mạch không được mong muốn.
Các mảng vôi hóa động mạch vành càng nhiều, score calcique càng cao. Trái với coroscanner, việc phát hiện các vôi hóa động mạch vành không cần nhờ đến tiêm chất cản quang iode và cho phép trong vòng dưới 10 giây xác định rõ nguy cơ tim mạch của bệnh nhân.
Thí dụ, một người đàn ông 55 tuổi, hút thuốc, cao huyết áp, có một tăng cholestérol huyết nhẹ với một score calcique trên 400 (tương ứng với sự hiện diện lan rộng của các mảng vôi hóa trên các động mạch vành) chuyển từ một nguy cơ trung bình thấp (10% những biến cố tim mạch sau 10 năm) sang một nguy cơ cao hơn nhiều cần những biện pháp vệ sinh tiết thực mạnh và sự thực hiện một điều trị phòng ngừa bằng thuốc.
Trong bối cảnh cấp cứu, mặc dầu chụp động mạch vành vẫn giữ vai trò trong nhồi máu cơ tim bằng cách cho phép chẩn đoán và điều trị, nhưng scanner cho phép chẩn đoán nhanh tất cả những nguyên nhân khác của đau ngực không điển hình, như viêm phổi hay một nghẽn tắc động mạch phổi.
Ngoài những trường hợp cấp cứu, ở bệnh nhân có triệu chứng, kết quả của tất cả các công trình nghiên cứu được công bố là giá trị tiên đoán âm tính mạnh của coroscanner, gần 100%. Đó là khả năng của thăm dò này loại bỏ, một cách gần như chắc chắn mối nghi ngờ về sự hiện diện của những thương tổn động mạch vành ở một bệnh nhân. Những điều chứng thực này khiến xét đến sự sử dụng rộng rãi h ơ n của thăm dò này trong một quần thể được gọi là có nguy cơ trung bình thấp (population à risque intermédiare faible), với triệu chứng đau ngực lập lờ, như thế làm giảm số các thăm dò phụ không xâm nhập (điện tâm đồ lúc gắng sức, nhấp nháy đồ) nhưng cũng làm giảm số các chụp động mạch vành. Thật vậy, gần 35% các trường hợp chụp động mạch vành được thực hiện để loại bỏ một nguồn gốc động mạch vành và kết quả bình thường. Vậy có thể tránh chúng.
KỸ THUẬT KHÔNG XÂM NHẬP.
Ngoài ra, những chỉ định khác hiện đang được đánh giá : kiểm tra các stent động mạch vành, phát hiện những bệnh nhân có nguy cơ, thí dụ trong bối cảnh hypercholestérolémie familiale, vài trường hợp bệnh nhân đái đường hay sự đánh giá mạng động mạch vành trước một phẫu thuật nặng nề.
Kết luận, scanner tim hiện nay là kỹ thuật không xâm nhập hiệu năng nhất để thăm dò các động mạch vành. Scanner động mạch vành được xác nhận như là phương tiện thăm dò ngoại trú, có thể lập lại, không chỉ những động mạch vành mà còn tất cả những câu trúc của tim. Scanner tim đang trở thành một thăm dò thường quy dần dần chiếm vị trí trong số những thăm dò tim khác nhau.
(LE FIGARO 12/12/2011)

6/ SAU NHỒI MÁU CƠ TIM SỬ DỤNG THUỐC LÀ ĐIỀU THIẾT YẾU
Nguy cơ tái phát hay tử vong được nhân lên 1,4 ở những bệnh nhân không tôn trọng điều trị.
CARDIOLOGIE. 100.000 người Pháp, là nạn nhân mỗi năm của một nhồi máu cơ tim, biết rõ điều đó, đơn thuốc khi ra viện với khá nhiều loại thuốc. Ngoài những lời khuyên về vệ sinh đời sống, đơn thuốc gồm ít nhất 4 loại thuốc, và thường là 7 hay 8. Nhưng sau đó điều gì xảy ra, và những toa thuốc này trở thành gì trong “ cuộc sống thật sự ” ? Cứ hai bệnh nhân thì một bỏ ít nhất một trong 4 loại thuốc điều trị chính, điều này làm gia tăng một cách đáng kể nguy cơ tái phát của nhồi máu cơ tim và tử vong, một công trình nghiên cứu được tiến hành bởi GS Nicolas Danchin (thầy thuốc chuyên khoa tim thuộc bệnh viện châu Âu Georges Pompidou, Paris), cộng tác với Assurance-maladie, đã kết luận như vậy. Những kết quả của công trình nghiên cứu này vừa được trình bày nhân hội nghị hàng năm của Société américaine de cardiologie ở Chicago.
Nicolas Danchin và các cộng sự đã nghiên cứu từ cơ sở các dữ kiện bệnh viện và của Assurance-maladie. Như thế họ đã phân tích hơn 8000 hồ sơ của những người còn sống 6 tháng sau khi bị nhồi máu cơ tim, sau khi đã nhận một đơn thuốc gồm có beta-bloquant, statines, các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu và các thuốc ức chế men chuyển (inhibiteur de conversion de l’angiotensine). 4 loại thuốc này, đã chứng minh tính hiệu quả lâu dài đối với tiên lượng tim và tiên lượng sinh tồn, ngày nay là chiến lược chuẩn sau nhồi máu cơ tim.
Những kê đơn thuốc để được sử dụng bởi bệnh nhân như thế không đủ. Trong công trình nghiên cứu này của Pháp, cứ hai bệnh nhân thì có một sao lãng ít nhất một loại thuốc. Tuổi tác rõ ràng là một yếu tố quan trọng trong việc tuân thủ điều trị, GS Danchin đã xác nhận như vậy. Những vấn đề đã thường được gặp hơn ở những người trên 75 tuổi, điều này là cổ điển ; thế mà, điều gây ngạc nhiên hơn, là ở những người dưới 45 tuổi. Ở những người dưới 45 tuổi này, việc thiếu tuân thủ điều trị đôi khi có nghĩa là một cách phủ nhận bệnh. Nhất là đối với những kẻ bị chuyển một cách đột ngột, vào ngày nhồi máu, từ tình trạng khỏe mạnh sang tình trạng bệnh tật. Nhưng, dầu động cơ là thế nào đi nữa, những hậu quả không hẳn là không đáng kể. Sau 30 năm theo dõi, nguy cơ tái phát nhồi máu hay tử vong được nhân gấp 1,4 lần ở những bệnh nhân không tuân thủ điều trị.
Làm sao khiến cho bệnh nhân dùng thuốc tốt hơn ? Bằng cách phát triển những chiến lược nhắm vào những nhóm bị liên hệ nhất, các tác giả của công trình nghiên cứu đã đề nghị như vậy. Vả lại sự cần thiết giáo dục điều trị này (càng ngày càng hiện diện trong y khoa) cũng đang được thực hiện ngoài trường hợp nhồi máu cơ tim.
Nhiều cuộc điều tra đã cho thấy rằng những vấn đề tuân thủ điều trị phần lớn ở các bệnh nhân mãn tính. Từ bệnh cao huyết áp đến bệnh đái đường, các rối loạn tâm thần, trung bình cứ hai bệnh nhân thì có một không theo đúng thuốc được kê đơn.
“ Trong y khoa tổng quát, ta nghiên cứu nhiều về sự tuân thủ điều trị và những yếu tố quyết định của nó ”, BS Vincent Renard, phó chủ tịch của Collège national des généralistes enseignants đã đảm bảo như vậy. Theo ông, 3 loại yếu tố chính góp phần vào sự tuân thủ điều trị, liên quan đến bệnh nhân, thầy thuốc và môi trường. “ Các điều trị chuẩn xuất phát từ những dữ kiện của các thử nghiệm điều trị quy mô lớn, trong đó các bệnh nhân ở trong một bối cảnh đặc biệt. Nhưng những kết quả này không thể luôn luôn có thể suy diễn vào đời sống thực tế ”, thầy thuốc đa khoa đã giải thích như vậy. Ông chủ trương một sự điều hòa tốt hơn giữa những thầy thuốc bệnh viện và những thầy thuốc thuc hành của thành phố. Và không nên coi thường “ thái độ ngờ vực ” tự nhiên của vài bệnh nhân đối với thế giới bệnh viện.
Không hiếm những trường hợp lúc xuất viện, các bệnh nhân hỏi ý kiến thầy thuốc gia đình của họ về toa thuốc của thầy thuốc chuyên khoa. Thậm chí họ tự ý trở lại điều trị mà họ đã sử dụng trước đây. “ Có những tiến bộ đáng kể về sự tuân thủ điều trị trong vài lãnh vực điều trị, nhưng tình hình vẫn khá thảm hại đối với những lời khuyên vệ sinh đời sống, nhất là đối với chứng nghiện thuốc lá ” , BS Renard đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 22/11/2010)

7/ RUNG NHĨ : KHI TIM PHI NƯỚC ĐẠI

                                                       Những điểm chủ yếu

      – Cứ 4 người Bỉ thì có một có thể bị một “ rung nhĩ ”. Nhất là sau 45 tuổi.
      – Khi đó tim có thể đập đến 600 lần mỗi phút.
      – Nguy cơ quan trọng là một cục máu đông đi lên não.

Rung nhĩ, rối loạn nhịp thường xảy ra nhất, mà ta đôi khi gọi là “ hồi hộp ”, là do sự biến mất dần dần của những tế bào tim co bóp. Hai tâm nhĩ của tim khi đó đôi khi có thể phát triển một hoạt động điện mạnh, hỗn loạn và vô tổ chức đến độ “ đập ” đến 600 lần mỗi phút, không còn cho cho tim một nhịp tốt nữa.. Để bơm một cách đúng đắn máu xấu vào trong toàn bộ cơ thể và gởi trả lại máu chứa oxy, hai phần quan trọng kia của tim, các tâm thất do đó phải gia tăng nhịp.“ Đó đúng như thể trường hợp chiếc xe hơi của bạn ở tốc độ thứ nhất trong khi vẫn tiếp tục chạy nhanh. Điều đó sẽ làm hao mòn sớm máy xe ”, BS Christophe Scavée, trưởng Unité de Rythmologie des Cliniques Universitaires St-Lúc đã giải thích như vậy.
“ Ta ước tính rằng rung nhĩ gây bệnh cho hơn 150.000 người Bỉ. Và con số này sẽ tăng gấp đôi từ nay đến 2050. Hơn một nửa các bệnh nhân đã quá 75 tuổi. Nhưng sau 40-45 tuổi, việc thăm khám để kiểm tra không có rối loạn nhịp trở nên hữu ích ”
Điều này xảy ra đúng lúc : vào tuần đến, 87 bệnh viện sẽ đề nghị miễn phí một trắc nghiệm như thế đối với những ai mong muốn khám. Thủ thuật rất đơn giản : chỉ cần đặt boitier électronique dưới đáy tim trong 30 giây và phương pháp điều tra phát hiện này được thực hiện không gây đau. Chỉ những bệnh nhân mà trắc nghiệm phát hiện một nhịp lạ kỳ khi đó sẽ được làm điện tâm đồ 12 điện cực, thăm dò duy nhất có khả năng xác nhận tính hữu ích của việc thực hiện một thăm khám bởi một thầy thuốc chuyên khoa tim.
“ Việc sử dụng máy phát hiện này rất là đơn giản và cho phép người ta không phải chờ đợi lâu. Nhưng mục tiêu của chúng tôi cũng là dạy cho họ rằng còn có điều đơn giản hơn để tự mình phát hiện lấy : đó là chăm chú theo dõi nhịp tim của mình, đếm nhịp một lần mỗi hai tháng hay nếu ta cảm thấy nhịp gia tăng. Phải đếm nhịp ở tư thế ngồi, lúc nghỉ ngợi chứ không phải sau một gắng sức quan trọng. Nhưng không có gì ít tốn kém hơn là bắt mạch mình. Nếu mạch không đều và thường xảy ra, nếu ta thấy khó bắt được mạch sau một gắng sức, nếu ta cảm thấy mệt nhiều, cần phải báo cáo một cách nhanh chóng cho thầy thuốc mình. ”
MỘT NGUY CƠ GIA TĂNG BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Nguy cơ của rung nhĩ, im lặng đến độ ở 1/3 các bệnh nhân, họ không cảm thấy một triệu chứng nào, đó là rung nhĩ gây nên một sự tuần hoàn kém của máu. Rung nhĩ có thể gây ra nhồi máu cơ tim, nhưng cũng có thể gây nên sự tạo thành những cục máu đôn, sau đó đi lên não qua tuần hoàn máu. Nguy cơ được nhân lên gấp năm lần ! “ Do đó nguy cơ quan trọng là tai biến mạch máu não. Các bệnh nhân sợ điều đó còn hơn là sợ chết đột ngột, bởi vì nó có thể gây nên bại liệt quan trọng và gây nên một tình trạng phụ thuộc thường đáng sợ hơn là tử vong.”
Khi rung nhĩ đuợc phát hiện, thầy thuốc có thể đề nghị những điều trị chống lại nguyên nhân, ví dụ cao huyết áp. Thầy thuốc cũng có thể đề nghị một điều trị trực tiếp hơn, như những thuốc chống loạn nhịp hay những thuốc chống đông máu. “ Nhưng vài trong những loại thuốc này có những tương tác quan trọng với chế độ ăn uống hay lối sống, có thể ảnh hưởng nặng nề lên chất lượng sống của bệnh nhân. Ta càng có thể can thiệp sớm, ta càng có thể tác động nhiều hơn chống lại nguyên nhân của bệnh.”
(LE SOIR 15/5/2012)

8/TIM : SỬA CHỮA MỘT TRÁI TIM KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT.
Sửa chữa một trái tim không cần phải can thiệp ngoại khoa có lẽ sẽ có thể thực hiện được trong một tương lai gần đây. Li Qian, thuộc Viện tim mạch Gladstone (San Francisco, Hoa Kỳ) và nhóm nghiên cứu đã thành công trên chuột. Sau nhồi máu cơ tim, một phần của cơ tim bị phá hủy. Những tổn hại này là vĩnh viễn và không thể đảo ngược được. Trong trường hợp tệ hại nhất, tim có thể ngừng đập. Trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, cơ tim bị tổn hại có thể được thay thế bởi mô sẹo, được cấu tạo bởi các fibroblaste. Nhưng như vậy, tim trở nên ít hiệu quả hơn, vùng bị tổn hại bởi tai biến tim có ít lực hơn để co bóp. Do đó các nhà nghiên cứu thử kích thích sự tăng trưởng của những tế bào cơ mới. Thí nghiệm được tiến hành trên chuột có tim bị hỏng. Nhờ các rétrovirus, các nhà nghiên cứu đã đưa vào những gène có liên hệ trong sự phát triển bào thai của cơ tim. Như thế họ đã thành công tái lập chương trình (reprogrammer), một cách trực tiếp trong tim của các động vật gặm nhấm, những tê bào sẹo thành những tê bào tim cơ năng. Trong 3 tháng, tim của các con chuột được điều trị đã cho thấy những cải thiện thật sự.
Hầu như đồng thời, một nhóm nghiên cứu khác của đại học Duke (Hoa Kỳ) cũng đạt được một kết qua tương tự. Điểm khác nhau duy nhất là ở chỗ sử dụng micro-ARN như là vecteur biến hóa, chứ không phải là những gène được mang bởi một système rétroviral.
(SCIENCE ET AVENIR 6/2012)

9/ NHỮNG TẾ BÀO GỐC ĐỂ SỬA CHỮA TIM
Mặc dầu những kết quả còn khiêm tốn, hướng liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) trong sự tái sinh tim sau một nhồi máu vẫn đầy hứa hẹn.
CARDIOLOGIE. Một nhồi máu cơ tim, do phá hủy các tế bào, tạo nên một vết sẹo trên tim. Phần này của tim bị hoại tử không co bóp nữa và làm cho tim hoạt động kém, nhiên hậu dẫn đến suy tim. Để sửa chữa trái tim bị hoại tử này, nhiều nhóm nghiên cứu đưa vào liệu pháp tế bào. Họ tìm cách thay thế những tế bào chết bằng những tế bào gốc (nghĩa là những tế bào có khả năng tăng sinh và biến hóa) phát xuất từ chính trái tim, cơ, tủy xương hoặc thậm chí máu.
Những kết quả của những thí nghiệm này là đầy hứa hẹn nhưng hiện nay vẫn còn khiêm tốn. Một thử nghiệm, được trình bày hôm 24/3 ở hội nghị của Collège américain de cardiologie, làm nổi bật một hiệu quả vừa phải của liệu pháp tế bào này, nhưng chỉ đối với những người dưới 62 tuổi. Một công trình nghiên cứu được công bố trên site của Lancet ngày 14 tháng hai vừa qua cũng cho những kết quả không chắc chắn. Nhóm nghiên cứu của GS Edouardo Marban (Hoa Kỳ) đã lấy một mẫu nghiệm cơ tim vẫn còn lành mạnh của 17 bệnh nhân đã bị một nhồi máu cơ tim. Sau khi cấy những mẫu nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã tiêm trở lại đến 25 triệu các tế bào vào trong những động mạch bao quanh tim, hai đến 4 tuần sau khi bị nhồi máu. Trước khi điều trị, mô sẹo trung bình chiếm 24% tâm thất trái. Sau một năm, mô sẹo đã giảm đi một nửa.
“ IRM cho thấy giảm vùng hoại tử nhưng không có sự cải thiện của fraction d’éjection của tâm thất trái, vậy không có sự cải thiện lâm sàng ”, GS Philippe Menasché, thầy thuốc ngoại tim thuộc Hôpital européen Georges-Pompidou đã nhấn mạnh như vậy. Kíp của ông, năm 2000, lần đầu tiên đã thực hiện ghép trên người những tế bào gốc trong cơ tim. Mặt khác, phải tự hỏi không biết những tế bào được tiêm vào lại trong cơ tim này có đúng là những tế bào gốc có nguồn gốc ở tim hay không và không biết chúng có phải đã làm tái sinh vùng bị bệnh hay không. “ Phải biết rằng trong tim chỉ có 30% những tế bào tim co bóp (cellules cardiaques contractiles), phần còn lại được cấu tạo bởi các mô nâng đỡ ”, thầy thuốc ngoại khoa đã giải thích như vậy. Những tế bào được trích và được cấy có lẽ được cấu tạo bởi một conglomérat những tê bào khác.
Các tế bào gốc tim (cellules souches cardiaques), lúc biệt hóa, có khả năng thay thế những tê bào tim, không đủ số lượng để giải thích, chỉ một mình chúng, sự sửa chữa của cơ tim. Sự hóa sẹo được giải thích một phần bởi những khả năng nội tại tái sinh của cơ tim… Phải chăng những kết quả gây thất vọng này là dấu hiệu của sự thất bại của các liệu pháp tế bào ? Chắc chắn là không. Nhưng chúng ta còn ở trong bước đầu và sẽ phải còn một ít thời gian trước khi dẫn đến những điều trị. “ Tôi đã thực hiện thử nghiệm đầu tiên vào năm 2000, 10 năm sau chúng ta còn ở giai đoạn nghi vấn, đó là chuyện bình thường, Philippe Menasché đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên những tín hiệu là đáng phấn khởi và khiến chúng ta đi xa hơn.”
Trên thế giới, trên gần 200 thử nghiệm liệu pháp tế bào đang được tiến hành, một nửa quan tâm đến những bệnh tim mạch. Với những phương thức khác nhau tùy theo các thử nghiệm. Thí dụ, ở Pháp, công trình nghiên cứu Mesami sử dụng những tế bào gốc trung mô được tiêm trực tiếp vào trong cơ tim của những bệnh nhân suy tim. Những tê bào trung mô, hiện diện trong tủy xương nhưng cũng trong các cơ hay gân, có thể được biệt hóa thành các mô khác nhau. Về phần mình GS Menasché chuẩn bị một thử nghiệm lâm sàng từ những tế bào gốc phôi thai trong bệnh suy tim.
MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐẦY THAM VỌNG
Những tê bào sẽ được đặt trên một patch được bao phủ bởi những tế bào nuôi dưỡng, sau đó sẽ được ghép vào tim. Thí dụ khác, GS Philippe Henon, thầy thuốc chuyên khoa huyết học, đã thành lập một start-up dùng những tế bào gốc thu được từ máu của bệnh nhân. Một trong những thử nghiệm mới nhất cũng đặc biệt đầy tham vọng. Đó là một công trình nghiên cứu châu Âu được tiến hành ở 3000 bệnh nhân, sẽ đánh giá xem việc cho vào trong động mạch vành những tê bào của tủy xương có làm giảm tỷ lệ tử vong toàn thể ở những bệnh nhân có nguy cơ sau một nhồi máu cơ tim hay không. “ Hôm nay chẳng ai biết là thực hiện một ghép tế bào có mang lại một tiến bộ thật sự trong nhồi máu cơ tim hay không. Công trình nghiên cứu này có thể mang lại một câu trả lời ”, GS Menasché đã chứng thực như vậy.
(LE FIGARO 28/3/2012)

10 / NGOẠI KHOA CÓ THỂ CHỮA LÀNH VIÊM ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI
Professeur Yves Alimi
Chef du service de chirurgie vasculaire
CHU Nord de Marseille
Secrétaire général de la Société de chirurgie
vasculaire de langue française

                               Bệnh viêm động mạch qua vài con số

90% những người bị bệnh viêm động mạch là những người hút thuốc.         
800.000 trường hợp mới được chẩn đoán mỗi năm ở Pháp
5000 trường hợp cắt cụt là do căn bệnh này.

Bệnh xơ mỡ tim mạch (maladie athéromateuse) là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở Pháp và liên kết với sự xuất hiện của các mảng xơ mỡ (plaques d’athérome : bouchons graisseux) làm tắc nghẽn các động mạch nuôi dưỡng các cơ quan. Khi các mảng xơ mỡ này xuất hiện ở các động mạch chi dưới, ta gọi là viêm động mạch (artérite), nói chung ảnh hưởng người đàn ông trên 60 tuổi, sau một quá khứ dài hút thuốc lá hay bệnh đái đường, thậm chí một nồng độ cholestérol tăng cao hay sự hiện hữu của một cao huyết áp. Tuy nhiên phải ghi nhận rằng chúng ta càng ngày càng gặp thường hơn, một viêm động mạch ở những phụ nữ hay những người trẻ tuổi hơn, do chứng nghiện thuốc lá nặng thường đã bắt đầu trong tuổi ấu thơ.
Một cách điển hình, viêm động mạch sẽ tiến triển thành nhiều giai đoạn có mức độ nghiêm trọng tăng dần, nhưng cần biết rằng sự thứ tự theo thời gian này không phải luôn luôn được tôn trọng. Vào một giai đoạn sớm của bệnh, được gọi claudication intermitente, bệnh nhân đến khám vì đau được cảm thấy lúc bước, thường là ở bắp chân hay đùi chân, sau một périmètre càng ngắn khi bệnh càng nghiêm trọng. Nếu ta để bệnh tiến triển hay nếu bệnh nhân bước ít đi, đau sẽ xuất hiện lúc nghỉ ngơi, có thể ngăn cản bệnh nhân không ngủ được. Ở mức tối đa, một vết loét đau đớn sẽ xuất hiện trên các ngón chân, gót chân hay mắc cá chân thể hiện sự thương tổn của da không còn được máu nuôi dưỡng nữa, như một cành cây mà ta cắt đì chất nhựa.
Công tác với toàn thể những thầy thuốc thực hành phụ trách những bệnh nhân này (thầy thuốc gia đình, thầy thuốc chuyên về mạch máu, thầy thuốc chuyên khoa tim…), thầy thuốc ngoại mạch máu phải đánh giá mức độ nghiêm trọng của chúng viêm động mạch. Để được như vậy ông thực hiện sự thăm khám bệnh nhân, những thăm dò phụ (écho-Doppler, scanners, IRM…), sẽ cho phép xác định vị trí những chướng ngại đối với các luồng máu và mức độ lan rộng của chúng. Ngoài ra, một bilan sẽ được thực hiện nhằm xác định xem những mảng xơ mỡ khác phải chăng đã phát triển ở những định vị nhạy cảm như các động mạch cảnh (nằm ở cổ) mà sự tắc nghẽn có thể gây nên một tai biến mạch máu não hay những động mạch vành với nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Trong đại đa số các trường hợp, thầy thuốc ngoại mạch máu sẽ chữa lành bệnh nhân bằng cách thực hiện một sự cung cấp máu ở chi bị thương tổn. Để được như vậy ông có một tổng thể những phương tiện điều trị : điều trị bằng thuốc và phục hồi chức năng, những kỹ thuật giãn mạch máu và những can thiệp ngoại khoa như cắt bỏ những mảng xơ mỡ hay nối bắt cầu (pontage).
TÁI LẬP LUỒNG MÁU.
Những kỹ thuật làm giãn đã phát triển nhiều trong những năm qua, với sự hiệu chính nhiều công cụ cho phép vượt qua các mảng xơ mỡ và làm vỡ chúng vào thành động mạch nhờ những quả bóng nhỏ và những lò xo (stents). Những kỹ thuật này chỉ cần chọc (ponction), thường một gây tê tại chỗ và một nhập viện đôi khi vài giờ. Những mảng xơ mỡ càng lúc càng phức tạp có thể được điều trị bằng những kỹ thuật ít xâm nhập này và như thế cho phép bệnh nhân lấy lại một hoạt động bước thỏa mãn hay làm hóa sẹo một vết loét. Tuy vậy, chúng không phải là vô hại và không thể được sử dụng trong tất cả các trường hợp. Khi những kỹ thuật này không được thích ứng, thầy thuốc ngoại mạch máu sẽ đề nghị một kỹ thuật ngoại khoa khác cho phép điều trị những chướng ngại lan rộng hơn hay nằm ở những vị trí đặc biệt.
Sự cắt bỏ các mảng xơ mỡ cho phép giải phóng một ngã tư động mạch thiết yếu bằng cách tái lập một luồng máu bình thường trong các trục bị tắc nghẽn hơn 80%. Trong vài trường hợp tắc động mạch lan rộng, một nối bắt cầu (pontage) sẽ cho phép mang lại một sự tiếp vận máu trong phần xa của các chị bị thương tổn, bằng cách chuyển hướng tuần hoàn máu khỏi phần bị tắc. Những phẫu thuật bắt cầu này tốt nhất được thực hiện bằng cách sử dụng những tĩnh mạch của chính bệnh nhân, hoàn toàn thích ứng với sự tái tạo những huyết quản nhỏ, hay những prothèse được phát triển đặc biệt để sử dụng trong trường hợp này.
Như ta có thể thấy, thầy thuốc ngoại mạch máu có rất nhiều loại giải pháp mà ông ta biết vận dụng tốt nhất, để thích ứng với mỗi bệnh nhân nhằm mang lại cho người bệnh điều trị thích hợp nhất. Tuy nhiên kỹ thuật tốt nhất thế giới sẽ không thể bền lâu nếu không có sự tuân thủ của bệnh nhân vào một số nguyên tắc nào đó. Một sự giảm rồi một sự ngừng vĩnh viễn thuốc lá là thiết yếu, kết hợp với một vệ sinh đời sống tốt (một cố gắng bước mỗi ngày, một chế độ ăn uống lành mạnh và đa dạng), một sự sử dụng thuốc hàng ngày và một sự theo dõi đều đặn tình trạng động mạch. Bệnh nhân sẽ có thể tìm thấy ở thầy thuốc điều trị của mình và ở các thầy thuốc chuyên khoa tim mạch những lời khuyên và sự giúp đỡ cần thiết cho bệnh nhân để bảo tồn kết quả của một can thiệp cứu sống.
(LE FIGARO 12/3/2012)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/6/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s