Thời sự y học số 270 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ MẤT KHỨU GIÁC : MỘT PHẾ TẬT HIẾM KHI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ, MẶC DẦU CÓ THỂ HỒI PHỤC
Các bệnh nhân thường do dự không muốn than vãn về chứng mất khứu giac (anosmie) của mình. Tuy vậy có những điều trị cho chứng bệnh này.
SENS. Các bệnh nhân thường do dự không muốn than vãn bị mất khứu giác, hay không muốn nghe trả lời với nhau là không có điều trị. Tuy vậy, các nguyên nhân và điều trị các rối loạn khứu giác từ nay được biết rõ, mặc dầu hiếm khi được thăm dò.
“ Hơn một nửa những trường hợp mất khứu giác có liên quan đến những bệnh lý viêm mãn tính mà ta có thể đề nghị một điều trị ”, BS Corinne Eloit, ORL thuộc bệnh viện Lariboisière (Paris) đã nhấn lại như vậy. Hầu hết các bệnh nhân này sau đó tìm thấy lại, ít nhất một phần, khứu giác của mình. Trong những trường hợp khác, nguyên nhân thường nhất là một nhiễm trùng virus hay hiếm hơn, một chấn thương sọ, vài loại thuốc, vài rối loạn thần kinh và tâm thần.
Khi đó khứu giác bị giảm, bị biến đổi hay biến mất, các bệnh nhân đôi khi cũng phân tích những rối loạn này như một sự mất vị giác, mặc dầu vị giác nhờ đến nhưng cơ chế rất khác nhau.
Trong tất cả các trường hợp mà sự mất khứu giác có thể đảo ngược được, tiến trình hồi phục khứu giác có thể mất nhiều tuần đến nhiều tháng. Vài công trình gợi ý rằng có thể gia tốc hay cải thiện quá trình này.

HIỆU LỰC CỦA SỰ LUYỆN TẬP.
Một công trình nghiên cứu được công bố mới đây bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ trong Nature Neuroscience cho thấy rằng sự luyện tập cho phép phục hồi hay cải thiện những năng lực khứu giác của những con chuột đã bị mất tất cả hay một phần khứu giác của chúng. “ Thật khó quy tụ những nhóm người bị những rối loạn đặc hiệu với số lượng đủ lớn để có thể chứng minh lợi ích của việc huấn luyện lên sự phục hồi chức năng khứu giác, Gilles Sicard, nhà nghiên cứu ở CNRS ở đại học Aix-Marseille đã lấy làm tiếc như vậy. Tuy nhiên tôi đã có thể chứng thực, ở những người chuyên nếm rượu vang (dégustateur de vin) bị những rối loạn khứu giác, rằng một sự huấn luyện hệ thống có thể cải thiện tri giác của họ ”.
Ở Pháp việc quy tụ những người tham gia cho công trình nghiên cứu càng khó khi chỉ có rất ít những trung tâm chuyên môn trong việc thăm dò khứu giác, những rối loạn này vốn không được xem là một phế tật đáng kể. Tuy vậy, sự biến đổi khứu giác có thể có những hậu quả nghiêm trọng lên sức khỏe và chất lượng sống.
Thí dụ hơn 80% những người đã bị mất khứu giác có một đợt trầm uất đôi khi nghiêm trọng.
NGỘ ĐỘC THỨC ĂN
Nếu con người không sử dụng (hay không sử dụng nữa) mùi của họ như các động vật, mặc dầu sự sống còn của họ tùy thuộc vào điều này.“ Những người đã đánh mất khứu giác thường bị những ngộ độc thức ăn : họ không còn phân biệt nữa mùi của một thức ăn bị hỏng ”, GS Pierre Bonfils, ORL ở Bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou (Paris) đã chỉ rõ như vậy. Hỏa hoạn và xì gaz là những mối nguy hiểm tức thời trong đó khứu giác cũng đóng một vài trò thiết yếu như là tín hiệu báo động.
Bắt đầu từ tuổi 60, khứu giác dường như giảm trong toàn bộ dân chúng, với những ảnh hưởng quan trọng lên sự thèm ăn. Khứu giác, vốn dựa trên hoạt động của những vùng đặc hiệu của não bộ, cũng thường bị ảnh hưởng ở những người bị bệnh Alzheimer.
Sự tri giác cảc mùi được thực hiện nhờ các neurone đặc hiệu của niêm mạc mũi, được kích thích bởi vài phân tử hiện diện trong không khí được hít vào. Vậy thăm dò đầu tiên nhằm kiểm tra xem không khí có vào đến tận những vùng này của xoang mũi, mà không bị chận lại bởi một niêm mạc bị phù nề do một bệnh lý viêm hay những polype hay không. Khi đó một điều trị bằng corticoides nói chung đủ đề tái lấp sự lưu thông không khí và tác dụng của những neurone khứu giác. Những neurone này liên hệ trực tiếp với hành khứu (bulbe olfactif), trong não bộ, có khả năng phân tích những phân tử này như là những mùi
NHỮNG CHỮ ĐỂ DIỄN TẢ
Một yếu tố cuối cùng dường như cần thiết để tri giác các mùi : có những chữ để mô tả chúng. “ Nhiều bệnh nhân đến và nói rằng họ đã đánh mất khứu giác, BS Eloit đã nhắc lại như vậy. Với một trắc nghiệm đơn giản từ các lọ chứa các mùi, tôi khiến họ phải chứng thực rằng thật ra họ có khả năng nói là có một mùi, mặc dầu họ không thể xác định mùi đó. Vậy họ đã không đánh mất khứu giác ”.
Vậy công cụ để tri giac các mùi thật ra không bị thương tổn trong hầu hết các trường hợp. “ Một khi nguyên nhân đã được nhận diện, và một điều trị đã được thực hiện, khi đó phương tiện tốt nhất để tìm thấy lại khứu giác là … ngửi ” (sentir), GS Bonfils đã nhấn mạnh như vậy.
Đi vào trong các tiệm bán nước hoa, các tiệm bán fromage đưa mũi ngửi các mùi quen thuộc như các chất gia vị hiện diện trong bếp là những bài tập đơn giản để đảm bảo về khả năng tri giác các mùi của mình. Cần thực hiện không tiết độ, và không chờ đợi cho đến khiđã đánh mất khứu giác.
(LE FIGARO 14/5/2012)

2/ VỊ GIÁC : MỘT LỤC ĐỊA CÒN CHƯA ĐƯỢC KHÁM PHÁ NHIỀU.
“ Vị giác dựa vào 4 vị (saveur), có lẽ thầy/cô giáo đã dạy cho bạn ở trường, vị ngọt (sucré), vị mặn (salé), vị axit và vị đắng (amer), được cảm nhận trên 4 vùng được xác định rõ của lưỡi. ” Thêm vào đó là umani, chữ có nguồn gốc Nhật bản để chỉ vị đậm và lâu dài trong miệng của một nước canh, một nước tương đậu nành hay của glutamate.
Sai, và ngay cả càng ngày càng sai ! Nghiên cứu càng tiến triển, các chuyên gia càng xích sinh lý vị giác lại gần sinh lý khứu giác, hơn nữa khứu giác là một bộ phận của vị giác… Đúng như vậy, bởi vì không có khứu giác thì không có vị giác. Tất cả điều này há không là rõ ràng chăng ?
Chúng ta hăy làm một thí nghiệm nhỏ. Khi ta đặt một quả dâu tây (fraise) trước mũi, ta cảm thấy rằng nó có một mùi dâu tây (une odeur de fraise) nhưng ta không biết vị giác mà nó có là gì chừng nào ta đã không cắn vào nó. Lúc nhai quả dâu tây, ta có thể nhận thấy rằng nó có một vị dâu tây (un gout de fraise), cuối cùng giống với mùi của nó. Mặc dầu vào giây phút đó ta hít không khí vào mũi, không còn mùi thơm dâu tây nữa.
Vị của quả dâu tây được xác định như là vị ngọt, hơi axit, nhưng cũng bởi một kết cấu giòn tan bên ngoài, mềm dưới vỏ, với một lòng rỗng. Và những hạt nhỏ cũng thêm vào những cảm giác khác. Tất cả những thông tin này mang lại một hình ảnh rất chính xác về trái dâu tây.
VỊ, MÙI VÀ KẾT CẤU
Ta thường tưởng tượng khứu giác như là một trong những yếu tố của vị giác mà chẳng biết tại sao : không khí đi qua miệng, chứa đầy những phân tử có mùi (molécules odorantes) của trái dâu tây, đi lên tận các hố mũi. Đó là rétro-olfaction. Những phân tử khác đến kích thích những thụ thể ở miệng, để ta có thể cảm thấy điều ta xác định như các vị, như vị mặn hay ngọt, đó là vị giác (gustation). Các răng, lưỡi, lợi răng, các thành của má cũng bị kích thích và cung cấp những thông tin thiết yếu để tạo vị giác : đó là sensibilité trijumique, ghi kết cấu (texture), nhiệt độ hay piquant.
Annick Faurion, phụ trách nghiên cứu ở CNRS của Institut de neurobiologie Alfred-Fessard (Gil-sur-Yvette) và say mê về thành phần miệng của vị giác, cho rằng đó là một giác quan phức hợp (sens complexe), dựa trên những tri giác có lẽ hoạt động như là những phối hợp được cung cấp bởi những neurone khứu giác. Code de décryptage của vị giác thay đổi theo từng cá thể cũng như khứu giác, và không thể được tóm lược thành 4 hay 5 cảm giác cơ bản.
Nhiều công trình nghiên cứu đặt lại vấn đề lý thuyết 4 vị (théorie des 4 saveurs). Annick Faurion dựa trên một quan sát đơn giản để đưa ra sự phê phán của mình : khi ta khiến nhiều người cùng nếm cùng phân tử, vài người sẽ xác định là ngọt và những người khác bảo là ngọt hay đắng. “ Thật ra, điều mà mọi người xác định là ngọt, đó là điều mọi người cảm thấy lúc ăn đường ”, bà đã giải thích như vậy. Một chữ chung đã được xác định để có thể thông báo về cảm giác này, nhưng, nếu phải xác nhận tất cả các cảm giác mà đường gây nên trong miệng, mọi người sẽ dùng một chữ khác.
Trái với khứu giác, vị giác là một giác quan vững chắc, dựa trên 8 dây thần kinh, và những rối loạn vị giác rất hiếm xảy ra. Sự đánh mất nhiều răng, thuốc lá, dùng nhiều thuốc cũng như vài điều trị chống ung thư là những nguyên nhân thường gặp của giảm tính nhận cảm của vị giác, thường có thể phục hồi lại được.
(LE FIGARO 14/15/2012)

3/ MỘT CHÂN TRỜI CÁC GIÁC QUAN ĐƯỢC XÂY DỰNG VỚI THỜI GIAN
Những tế bào cảm thụ của biểu mô khứu giác, một bộ phận của niêm mạc mũi phụ trách về khứu giác, có khả năng bắt một cách đặc hiệu một loại phân tử hóa học nào đó. Thông tin được truyền lên não bộ và não bộ phân tích sự phối hợp của những tế bào bị kích thích để nhận diện mỗi mùi.
Não bộ có thể định đặc điểm hàng ngàn mùi từ một số hạn chế các capteur. Quy tắc giải mã (code de décryptage) các mùi khác nhau đối với mỗi người và được thành hình với thời gian tùy theo những mùi được gặp. Chân trời khứu giác và vị giác này có tính cách duy nhất, bởi vì nó phản ánh lịch sử bản thân của mỗi cá thể.
Những tê bào của biểu mô khứu giác, mặc dầu chịu nhiều tấn công bởi vì ít được bảo vệ chống lại môi trường bên ngoài, nhung được đổi mới rất nhanh. Tuy nhiên “ code ” này không bao giờ bị đánh mất bởi vì sự đổi mới này diễn ra từ từ : cần phải nhiều tuần để toàn bộ các tế bào được đổi mới.
HÓA HỌC LIỆU PHÁP TẤN CÔNG
Tuy vậy trong vài tình huống tất cả các tế bào cùng biến mất với những hậu quả quan trọng đối với khứu giác. Nhiều hóa học liệu pháp, được sử dụng chống lại ung thư, nhằm một cách đặc hiệu hơn vào những tế bào có khả năng tăng sinh một cách nhanh chóng, vì lẽ đó là một trong những đặc điểm của các tế bào ung thư. Vậy những điều trị này thường có một tác dụng lên niêm mạc mũi và lên những tế bào vị giác, cũng có khả năng đổi mới nhanh. Vậy khứu giác và vị giác có thể bị biến đổi hay ngay cả biến mất trong thời gian điều trị. “ Chúng ta đã có thể đo lường sự mất vị giác, ngày lại ngày lúc thực hiện vài hóa học liệu pháp, vậy điều đó có thể diễn biến rất nhanh ”, Annick Faurion, phụ trách nghiên cứu ở CNRS có trụ sở ở Institut de neurobiologie Alfred-Fessard (Gif-sur-Yvette) đã chỉ rõ như vậy.
Cũng như đối với tất cả những trường hợp mất có thể phục hồi của vị giác và khứu giác, sự phục hồi được thực hiện từng ít một ngay khi chấm dứt điều trị, chủ yếu dựa vào những mùi và những vị quen thuộc, dễ nhận diện hơn. Những trắc nghiệm phân tích khứu giác và vị giác có thể làm dễ sự phục hồi này, bằng cách đo một cách khách quan những tiến bộ được thực hiện.
Tuy nhiên vài bệnh nhân có cảm tưởng không bao giờ tìm lại nữa vị giác và khứu giác và không thể thích ứng được, như vài thầy thuốc vẫn còn khuyên họ điều đó. Thật vậy họ đã đánh mất chân trời khứu giác và vị giác của họ, một sự mất mát đôi khi không thể nguôi được bởi vì nó liên hệ mật thiết với những kỹ niệm, bản sắc của mỗi người.
Thật vậy có một mối liên hệ trực tiếp giữa hoạt động của hành khứu (bulbe olfactif) và trí nhớ. “ Vài kỹ niệm, có thể tiếp cận dễ dàng nhờ khứu giác, không còn nữa khi khứu giác biến mất ”, BS Corinne Eloit, TMH thuộc bệnh viện Lariboisière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Khi đó phải tái tạo và thuần hóa một phong cảnh mới các cảm giác để tìm lại, bằng một cách khác vị giác của bánh madeleine nổi tiếng được nhúng vào một tách trà.
(LE FIGARO 14/5/2012)

4/ VỊ GIÁC MỠ ĐƯỢC GHI TRÊN LƯỠI CỦA CHÚNG TA.
Ham mê frites, nghiện mayonnaise ? Tại sao vài người theo một chế độ ăn uống nhiều mỡ hơn những người khác ? Thủ phạm có thể đúng là trên lưỡi của chúng ta. Thật vậy vài người có một dạng đặc biệt của gène CD36, mang lại một tính nhạy cảm của lưỡi đối với vị giác mỡ lớn hơn. Những nhà nghiên cứu của đại học Washington ở Saint-Louis vừa chứng mình điều đó bằng cách cho trắc nghiệm ở những người, bịt mũi và bịt mắt, những dung dịch chứa những nồng độ mỡ quan trọng ít hay nhiều. Kết quả : những người mang biến dạng này của gène CD36 có thể phát hiện vị mỡ ở những nồng độ 8 lần thấp hơn so với những người khác. Protéine, được mã hóa bởi gène CD36, theo những công trình nghiên cứu trước đây, hiện diện trên vài phần của lưỡi, như thế tạo nên một dạng thụ thể vị giấc (récepteur gustatif) thứ sáu ! Khi đó mỡ là một vị căn bản, ngang hàng với các vị mặn, ngọt, acide. Còn về tính nhận cảm (sensibilité) đối với vị mỡ, tính nhận cảm này là do một lượng quan trọng hơn protéine CD36 trên lưỡi. Giai đoạn kế tiếp : “ Nhìn xem tính nhạy cảm với mỡ này có gây nên một sự biến đổi những hành vi ăn uống hay không ”, Yanina pepino, tác giả của công trình nghiên cứu đã phát biểu như vậy. Thật vậy, trong một trường hợp như vậy, CD36 có thể tỏ ra là một công cụ thiết yếu trong sự phòng ngừa bệnh béo phì.
(SCIENCE ET VIE 4/2012)

5/ ĐẠI TRÀNG : MỘT TRẮC NGHIỆM TIÊN ĐOÁN CÓ HIỆU QUẢ

                                                 NHỮNG ĐIỂM MỐC 
    – 40.500 trường hợp ung thư đại tràng mới mỗi năm ở Pháp.  
    – 60% đến 80% những ung thư đại trực tràng phát triển từ một u hiền tính (polype hay adénome) trong khoảng thời gian 10 chục năm 
    – Trên 1000 adénome, 25 tiến triển thành ung thư 
    – 1,2 triệu nội soi đại tràng được thực hiện mỗi năm ở Pháp và gần 500.000 polype được lấy đi.

Mặc dầu chưa có danh xưng nhưng trắc nghiệm này có thể cách mạng hóa phương cách mà các thầy thuốc tiên đoán sự xuất hiện của một ung thư đại tràng. Trắc nghiệm mới này, được hiệu chính bởi một nhóm nghiên cứu Inserm thuộc Centre de recherches en cancérologie de Toulouse, xô nhào một giáo điều của gastroentérologie. Cho mãi đến nay, ta vẫn tin rằng chỉ có một loại cục u nào đó của niêm mạc đại tràng, các adénome, mới có thể biến đổi thành ung thư. Và điều này, tương phản với những polype được gọi là tăng sản (hyperplasique), rất thường gặp (một người trên 4), được xem như là hiền tính. “ Sự tin chắc này đã khiến các thầy thuốc không đề nghị một sự theo dõi đặc biệt đối với những người mang polype hyperplasique được khám phá lúc nội soi đại tràng ”, Catherine Seva, nhà nghiên cứu chỉ đạo công trình nghiên cứu Toulouse đã xác nhận như vậy. Thế mà nhà nghiên cứu này đã chứng minh rằng vài bệnh nhân mang một polype hyperplasique đã phát triển một ung thư 2 đến 10 năm sau khi lấy nó đi (được thực hiện một cách hệ thống). Chính xác là những bệnh nhân nào ? Một phân tích rétrospective các polype hyperplasique đã cho phép tìm thấy ở chúng một điểm chung : ung thư đã chỉ phát triển ở những người mà các polype hyperplasique có một tỷ lệ tăng cao của một protéine, progastrine. Protéine này đã được biết là có can dự trong sự phát triển của những ung thư đại trực tràng. Từ nay protéine này sẽ cho phép nhận diện những người có nguy cơ. Vậy trắc nghiệm mới nhằm đo nồng độ progastrine trong một polype hyperplasique được lấy ra khi thực hiện nội soi đại tràng. “ Trắc nghiệm này, được trắc nghiệm trên khoảng vài chục bệnh nhân, phải được hợp thức hóa ở một quy mô lớn hơn trước khi được đề nghị nhằm mục đích tiên đoán ”, nhà nghiên cứu đã ghi nhận như vậy.
Một ngày nào đó trắc nghiệm này sẽ thay thế trắc nghiệm cổ điển Hémocult, nhằm tìm kiếm sự hiện diện của máu trong phân ? Là nền tảng của chiến dịch điều tra phát hiện của ung thư đại trực tràng, trắc nghiệm Hémoccult được đề nghị mỗi hai năm cho các đàn ông và phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi. “ Trắc nghiệm mới này sẽ không bao giờ thay thế công tác điều tra phát hiện, Jérome Viguier, trưởng département dépistage ở Viện ung thư quốc gia đã xác nhận như vậy. Ngược lại, có lẽ nó sẽ làm biến đổi việc theo dõi các bệnh nhân. Những bệnh nhân có trắc nghiệm dương tính với progastrine sẽ được theo dõi đều đặn bởi nội soi đại tràng. ”
(SCIENCE ET AVENIR 5/2012)

6/ KHẢ NĂNG SINH SẢN : PHỤ NỮ CHE DẤU MỘT TIỀM NĂNG

                      NHỮNG SỰ KIỆN VÀ NHỮNG CON SỐ
      Từ giữa những năm 2000, hơn 20.000 trẻ em sinh ra đời mỗi năm nhờ những phương pháp thụ thai nhân tạo (fécondation médicalement assistée). Thế mà những cơ may thành công của những phương pháp này giảm với tuổi tác của người phụ nữ : 12% lúc 38 tuổi và 6% lúc 42 tuổi. Nguyên nhân, chủ yếu, số lượng và chất lượng của các noãn (ovule) (những noãn bào trưởng thành và có khả năng thụ tinh).

Trong các buồng trứng yên ngủ những tế bào gốc có khả năng tiến triển thành các noãn bào (ovocyte). Các nhà nghiên cứu đã thành công “ đánh thức ” chúng dậy. Một khám phá mang lại những viễn ảnh mới lạ, nhất là trong trường hợp mãn kinh sớm hay hóa học liệu pháp.
Một giáo điều vừa sụp đổ. Từ lâu các nhà khoa học đã cho rằng, trái với những người đàn ông chế tạo suốt đời những tinh trùng mới, các phụ nữ có một kho dự trữ các noãn bào giới hạn và không thể đổi mới được ; kho dự trữ này được tạo thành khi các phụ nữ còn trong bụng mẹ. Một kho dự trữ cạn dần không những sau những lần phóng noãn liên tiếp mà còn và nhất là do sự lão hóa của những tế bào này, làm cho người phụ nữ mất khả năng sinh sản một khi đạt đến tuổi mãn kinh.
EXIT LA LIMITE BIOLOGIQUE ?
Thế mà, nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ của Jonathan Tilly, thuộc bệnh viện toàn khoa Massachusetts vừa cho thấy rằng chiếc đồng hồ sinh học này, vốn làm đau xót các phụ nữ, có lẽ không phải là không cứu chữa được : nhóm nghiên cứu đã thành công nhân diện những tế bào gốc trong mô buồng trứng, những tế bào có khả năng, một khi được trích ra khỏi môi trường của chúng và đặt trong một môi trường cấy, tiến triển thành những noãn bào.
Thật vậy, đây không phải là chiến công đầu tiên của nhà sinh học Hoa Kỳ. Ngay vào năm 2004, ông đã loan báo là đã nhận diện những tế bào như thế trong các buồng trứng của các con chuột. Nhưng lần này, chính trong những mô buồng trứng được lấy ở 6 phụ nữa tuổi từ 20 đến 30, mà Jonathan Lilly và nhóm nghiên cứu của ông đã khám phá những tế bào gốc ! Được cấy in vitro, những tê bào gốc này sau đó đã tiến triển thành những noãn bào một cách ngẫu nhiên. Và không phải thế là hết. Kỳ công cũng đã được thực hiện lại in vivo, khi các nhà nghiên cứu đã tiêm trở lại những tế bào này vào trong những mô buồng trứng của người, rồi ghép tất cả lên các chuột cái. Các noãn bào đã được tạo thành, lần này ở chính các con chuột.
Điều này phải chăng có nghĩa rằng một ngày nào đó ta sẽ có thể tái kích hoạt kho dự trữ những tế bào gốc yên ngủ này để một phụ nữ có thể rụng trứng, và như vậy có thể có con trong suốt cuộc đời ? “ Khám phá này chắc chắn là một scoop và một hy vọng điều trị đối với những phụ nữ mãn kinh sớm, hay từng được điều trị bởi hóa học liệu pháp đã phá hủy những noãn bào của họ, Bernard Jégou, trưởng nhóm nghiên cứu về sinh sản người ở Inserm de Rennes, đã bình luận như vậy.Tuy nhiên vẫn còn nhiều trở ngại không nhưng về mặt kỹ thuật mà còn luân lý, trước khi có thể áp dụng vào y khoa.” Đặc biệt, phái chăng ta có thể trích đủ các tế bào gốc để sản xuất các noãn bào, mặc dầu Jonathan Tilly công nhận rằng chúng là hiếm ?. Những noãn bào được sản xuất phải chăng sẽ có chất lượng tốt sau bao nhiêu thao tác như vậy ? Chúng có thể được thụ tinh và cho ra đời một cá thể lành mạnh ? Phải chăng chúng không có một nguy cơ gây ung thư, nguy cơ đã được chỉ rõ bởi những công trình nghiên cứu được tiến hành trong những năm qua trên các tế bào gốc ? Bấy nhiêu câu hỏi cần được trả lời trước khi rung lên hồi chuông báo tử chiếc đồng hồ sinh học của người phụ nữ.

AUTOGREFFE OVARIENNE ĐÃ CHO PHÉP VƯỢT QUA TÌNH TRẠNG VÔ SINH.
      Sau một hóa học liệu pháp, nhiều cô bé hay thiếu nữ trở nên vô sinh. Nếu việc khám phá của Jonathan Tilly mang lại niềm hy vọng đối với những phụ nữ này, thì những giải pháp khác đã ra đời trong những năm qua. Thí dụ đó là trường hợp ghép bản thân các buồng trứng (autogreffe d’ovaires), những buồng trứng này vốn được lấy trước khi điều trị, được làm đông lạnh, rồi được ghép trở lại. Vào năm 2009, một bệnh nhân người Pháp đã sinh ra đời một bé gái nhờ phương thức này.“ Đó là trường hợp sinh đầu tiên ở Pháp nhờ autogreffe de tissu ovarien, và đó chỉ là lần sinh thứ sáu trên thế giới “, GS Christophe Roux, CHU de Besançon, vào thời kỳ đó là một trong những người khởi xướng phương thức này, đã lấy làm phấn khởi.

(SCIENCE ET VIE 5/2012)

7/ GHÉP THẬN KHÔNG CẦN CÁC THUỐC LÀM SUY GIẢM MIỄN DỊCH.
TRANSPLANTATION.
Một phương thức nhằm thay thế những loại thuốc “ chống thải bỏ ” (médicaments antirejet) đã được trắc nghiệm thành công trên những bệnh nhân ghép thận.
Khả năng ghép các cơ quan một cách lâu dài đã là một trong những chiến thắng lớn của y khoa. Nhưng để để ghép cơ quan thành công điều này đòi hỏi một sự bó buộc quan trọng, đó là phải dùng suốt đời một loại thuốc làm suy giảm miễn dịch (immunosuppresseur) nhằm tránh phản ứng thải bỏ của cơ quan được ghép (greffon) bởi cơ thể. Một điều trị như thế không phải là không có những tác dụng phụ vì lẽ nó có thể gây nên những nhiễm trùng, ung thư, bệnh đái đường. Nhưng ở Northwestern Memorial Hospital de Chicago, một bước quyết định vừa mới được vượt qua. 8 bệnh nhân đã được ghép thận và đã bảo tồn cơ quan ghép mà không cần phải điều trị bằng một loại thuốc làm suy giảm miễn dịch nào.
Để đạt được điều đó, các thầy thuốc đã tinh luyện một kỹ thuật nhằm tiem vào người nhận (receveur) những tế bào gốc phát xuất từ tủy sống. Được mệnh danh là những tế bào gốc sinh huyết (CSH : cellules souches hématopoiétiques), chính những tế bào này sinh ra các bạch cầu. Ý tưởng cho rằng một khi được sản xuất trong cơ thể của người bệnh, các bạch cầu của người cho ngăn cản sự thải bỏ cơ quan được ghép, bởi vì cơ thể sẽ xem cơ quan được ghép này như là một bộ phận của nó. Nhưng, cũng như trong công trình nghiên cứu này, người cho và người nhận đôi khi không có cùng những đặc điểm miễn dịch học ; trong trường hợp này, vài bạch cầu của người cho (chủ yếu là những tế bào lympho T) có thể tấn công các mô của người nhận mà chúng xem như là lạ mặt ; một loại thải bỏ ngược được gọi là bệnh của cơ quan ghép chống ký chủ (maladie du greffon contre hôte).
COCKTAIL CELLULAIRE.
Sự thành công của thử nghiệm này của Hoa kỳ dường như có thể quy cho những tế bào mà các nhà nghiên cứu đã thêm vào các tế bào gốc sinh huyết (CSH) của người cho trước khi tiêm trở lại vào bệnh nhân. Cũng phát xuất từ tủy xương của những người cho, những tế bào này được cho là làm dễ sự ghép của các CSH vào trong tủy xương của người nhận, và làm giảm nguy cơ maladie du greffon contre l’hôte. Những tế bào này tác dụng bằng cách ức chế sự tăng sinh của những tế bào lympho T. “ Tuy nhiên, trong thử nghiệm này, bản chất của những tế bào này, cũng như phương pháp đã cho phép phân lập chúng, vẫn khá bí hiểm ”, Olivier Thaunat, chuyên gia về ghép thận và miễn dịch học ở CHU de Lyon, đã ghi nhận như vậy.
Vậy chính “ coctail cellulaire ” này đã được tiêm vào 8 bệnh nhân. Trước khi ghép thận, các bệnh nhân đã được điều trị bởi phóng xạ liệu pháp và hóa học liệu pháp để loại bỏ một phần những tế bào gốc sinh huyết (CSH) của chính mình, và như thế nhường chỗ cho những tế bào CSH của người cho ; trước và sau khi ghép, các bệnh nhân cũng đã nhận một liều cyclophosphamide, một điều trị tấn công vào những tê bào lympho T. Kết quả : “ Không một phản ứng thải bỏ thận cũng như không có một maladie du greffon contre l’hôte nào đã được chứng thực, Suzanne T.Ildstad thuộc đại học Louisville, người đã chỉ đạo công trình nghiên cứu này, đã chỉ rõ như vậy. Một năm sau khi được ghép, 5 trong số những người tình nguyện đã không cần đến những thuốc làm suy giảm miễn dịch.” Sau cùng, những bạch cầu của những người cho vẫn được duy trì lâu dài trong cơ thể của những người được ghép, điều mà những công trình nghiên cứu trước đây không thực hiện được.
“ Đó là một bước tiến y khoa quan trọng, nhưng, trước khi phổ biến thực hành này, phải tiến hành những thử nghiệm trên một số lượng các bệnh nhân lớn hơn, Olivier Thaunat đã phát biểu như vậy. Cũng phải cần đảm bảo rằng tác dụng kéo dài trong 12 năm, hoặc thời gian trung bình của một quả thận được ghép với điều trị làm suy giảm miễn dịch ”.
(LA RECHERCHE 5/2012)

8/ BỆNH SÓN TIỂU Ở PHỤ NỮ : MỘT ĐIỀU TRỊ CẢI TIẾN VI XÂM NHẬP
GS François Haab, trưởng khoa niệu học thuộc bệnh viện Tenon, trinh bày những lợi ích của phương pháp mới nhất nhằm hủy bỏ phế tật thường gặp sau thời kỳ mãn kinh.
Hỏi : Tần số mắc bệnh són đái (incontinence uriniare) ở các phụ nữ mãn kinh ?
GS François Haab. Ta ước tính rằng sau thời kỳ mãn kinh khoảng 20% phụ nữ bị liên hệ bởi chứng són tiểu, do cơ vòng (sphincter) bị giãn. Khi lớn tuổi, cơ đóng niệu đạo (urèthre) mất sức mạnh và trương lực của nó.
Hỏi : Những đợt rò tiểu (fuites urinaires) không đúng lúc này gây nên những phế tật nào ?
GS François Haab. Hậu quả gây phế tật nhất là về mặt xã hội : Những phụ nữ không còn có thể tự kềm chế sẽ tránh những tình huống nguy cơ như những buổi hội họp giữa bạn bè, những buổi trình diễn, những cuộc du lịch kéo dài.
Hỏi : Những phụ nữ bị vấn đề són tiểu có tiết lộ một cách dễ dàng vấn đề này với thầy thuốc của họ không ?
GS François Haab. Bất hạnh thay là không, bởi vì chúng són đái vẫn là một chủ đề cấm kỵ. Dưới 1/3 các phụ nữ bị liên hệ bởi vấn đề này đi thăm khám nhưng thường nói : “ Tôi có một vấn đề bọng đái.” Chữ “ són tiểu ” (incontinence) dường như làm giảm giá trị đối với họ. Phải biết rằng, không được điều trị, vấn đề gia tăng và bệnh nhân càng ngày càng tự cô lập.
Hỏi : Điều trị thông thường chứng bệnh này là gì ?
GS François Haab. Điều trị ưu tiên dựa trên những buổi phục hồi chức năng tầng sinh môn (rééducation périnéale) mà mục tiêu là thêm sức cho cơ vòng. Nhung buổi phục hồi này chỉ có hiệu quả nếu các phụ nữ bị bệnh luyện tập những bài tập đã được giảng dạy. Trong trường hợp thất bại, giải pháp thứ hai là ngoại khoa. Phẫu thuật nhằm đặt (implanter) một dải (bandelette synthétique) bằng chất tổng hợp polypropylène nhằm làm cho cơ vòng mạnh hơn, tác dụng như một đai (sangle) bao quanh cơ vòng (25.000 đến 30.000 phẫu thuật ở Pháp).
Hỏi : Để thực hiện động tác ngoại khoa này, những đường xẻ nằm ở đâu ?
GS François Haab. Nhà phẫu thuật thực hiện 3 đường xẻ : một trong âm đạo (để đưa vào những bandelette) và hai đường xẻ khác ngoài da dài khoảng 1 cm để cho phép điều chỉnh sức căng của các bandelette lên cơ vòng.
Hỏi : Hậu phẫu diễn ra như thế nào ?
GS François Haab. Bệnh nhân được nhập viên trong 1 đến 3 ngày. Lúc ra viện, ta yêu cầu bệnh nhân tránh mọi gắng sức trong 3 tuần, ngay cả không được có một cử động thô bạo nào. Một số lớn những bệnh nhân được mổ kêu đau trong những ngày sau khi mổ, có thể kéo dài 3 đến 4 tuần, và đôi khi khó tiểu. Những các kết quả đều tốt : khoảng 80% đỡ bị rò tiểu.
Hỏi : Để tránh những bất tiện này, kỹ thuật mới nhất là gì ?
GS François Haab. Kỹ thuật mới nhất này sắp được công bố trong tạp chí khoa học quốc tế niệu phụ khoa. Một quan niệm mới về hỗ trợ cơ vòng : một hệ thống cải tiến các bandelette cho phép quá trình hậu phẫu đơn giản hơn nhiều và cùng với một tính hiệu quả giống như vậy. Thay đổi đầu tiên là ở kỹ thuật đặt : thầy thuốc ngoại niệu khoa không còn thực hiện 3 đường xẻ nữa nhưng chỉ một đường duy nhất, ở âm đạo, để đưa vào những yếu tố nâng đỡ. Sự cải tiến thứ hai : những bandelelette này được trang bị bởi những móc câu (harpon) nhỏ được cắm vào hai bên cơ vòng.
Hỏi : Những kết quả của công trình nghiên cứu với hệ thống mới này ?
 GS François Haab.Với một thời gian nhìn lại hai năm, ở 80% trong số 100 bệnh nhân được mổ, ta đã chứng thực những kết quả rất là thỏa mãn, với sự biến mất gần như hoàn toàn các rò tiểu. Ta đã đơn giản hóa kỹ thuật mà không làm giảm chất lượng của những kết quả.
Hỏi : Nói tóm lại, những ưu điểm của phương pháp vi xâm nhập mới nhất này ?
GS François Haab.
1. Không cần phải mở da do đó làm giảm đau đớn hậu phẫu.
2. Một phẫu thuật được thực hiện ngoại trú, bệnh nhân trở về nhà cùng ngày.
3. Hoạt động trở lại ngay.
(PARIS MATCH 5/4 – 11/4/2012)

9/ RUỘT THỪA VIÊM : KẾT THÚC DAO MỔ ?
Chấm dứt các cuộc mổ lấy ruột thừa : chỉ cần một liều kháng sinh cũng có thể đủ để chữa lành những ruột thừa viêm thông thường nhất, theo những nhà nghiên cứu người Anh của các bệnh viện đại học Nottingham. Các nhà nghiên cứu này đã sưu tập và phân tích những kết quả của 4 công trình nghiên cứu, so sánh ngoại khoa và điều trị bằng kháng sinh trong điều trị những thể không biến chứng của bệnh viêm ruột thừa hồi manh tràng (appendice iléo-coecal) này.Theo họ, tính hiệu quả của liệu pháp kháng sinh rõ rệt đến độ nó sẽ là lựa chọn đầu tiên của các thầy thuốc. Nhất là điều này cho phép làm giảm 1/3 tỷ lệ các biến chứng.
Tuy nhiên lập trường của họ không được sự nhất trí. Corinne Vons, thầy thuốc ngoại khoa thuộc bệnh viện Jean-Verdier de Bondy (Seine-Saint-Denis) và là tác giả của một trong những công trình nghiên cứu được phân tích bởi những người Anh, tỏ ra thận trọng hơn : “ Những nghiên cứu của chúng tôi đã chưa cho phép kết luận tính ưu việt của các kháng sinh, nhất là bởi vì nguy cơ tái phát và viêm phúc mạc quan trọng ”, bà đã tâm sự như vậy.
Thế thì tin ai bây giờ ? Trên thực tế tất cả tùy thuộc vào chẩn đoán. “ Các kháng sinh chắc chắn có thể có lợi đối với những thể hiền tính nhất. Nhưng vấn đề là cần phải biết làm sao ta có thể chẩn đoán chúng một cách chắc chắn, Jérome Loriau, trưởng khoa ngoại tạng (chirurgie viscérale) thuộc bệnh viện Saint-Joseph (Paris) đã giải thích như vậy. Thật vậy, chụp hình ảnh y khoa không được thực hiện một cách hệ thống để xác nhận một chẩn đoán. Chính vì thế, mặc dầu các tiến bộ đã được thực hiện ở Pháp, ta vẫn còn mổ nhiều ruột thừa viêm nhưng kết cục không phải là viêm ruột thừa ”.Điều này làm sai lệch những kết quả của các công trình nghiên cứu so sánh ngoại khoa với điều trị bằng thuốc. Vậy việc chấm hết giáo điều bách niên “ viêm ruột thừa = ngoại khoa ” không phải được áp dụng ngay tức thời ! Và kháng sinh liệu pháp hiện nầy vẫn dành cho những bệnh nhân không thể mổ được hay một tình huống như vậy : không có một thủy thủ tàu ngầm nào, một nhà phi hành vũ trụ nào hay một nhà thám hiểm nào ra đi mà không mang theo những viên thuốc kháng sinh.Điều đó tốt hơn là phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa dự phòng.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2012)

10/ HAI NHÓM MÁU KHÁC ĐƯỢC NHẬN DIỆN
Mọi người đều biết các nhóm máu được xác lập từ sự xếp loại ABO và của hệ rhésus. Nhưng tổng cộng có tất cả 30 nhóm máu, được căn cứ trên cả một loạt những kháng nguyên khác, những phân tử này có thể được nhận biết bởi hệ miễn dịch. Và thế là hai nhóm máu mới vừa được nhận diện bởi Viện truyền máu quốc gia (Pháp), cộng tác với các nhà nghiên cứu nước ngoài. Tên gọi của hai nhóm máu mới này ? Langereis và Junior. Những kháng nguyên đặc hiệu này được mang bởi các protéine, được mệnh danh là ABCB6 đối với Langereis và ABCG2 đối với Junior. Những protéine này thuộc một tổng hợp đông đảo những phân tử có vai trò trong việc chuyển vận các chất xuyên qua các màng sinh học. Trước đây các nhà khoa học từng nghi ngờ sự hiện hữu của hai nhóm máu này nhưng đã không bao giờ thành công phát hiện chúng.“ Những khám phá này sẽ cải thiện sự điều trị truyền máu và sản khoa cho những người có liên hệ ; chúng cũng có thể là nguồn gốc của những chiến lược mới trong hóa học liệu pháp ”, Lionel Arnaud, người chỉ đạo các công trình, đã giải thích như vậy.
(SCIENCE ET VIE 5/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/5/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 270 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. longhau nói:

    Hoan hô anh Thịnh đã đóng góp thật nhiều cho blog Tiếng Sông Hương, dành nhiều thì giờ để đưa đến bạn bè những hiểu biết về Y Khoa trong rất nhiều lãnh vực. Chúc anh vui khoẻ.
    Long Phúc Hậu

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s