Thời sự y học số 268 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ THẦN KINH HỌC

1/ CHỨNG RUN : ĐÓNG GÓP CỦA NGOẠI THẦN KINH.Phần lớn những rối loạn này có thể làm giảm bớt.
CERVEAU. Có nhiều định kiến chung quanh triệu chứng run : “ Vài người cò nghĩ rằng chỉ có những người già và những người nghiện rượu hay có một rối loạn trí tuệ mới bị chứng bệnh này. Những người khác tin rằng đi khám bệnh cũng vô ích, bởi vì không có điều trị hiệu quả, điều này lại còn sai. Sau cùng, những người khác cho rằng một sự run rẩy luôn luôn đồng nghĩa với bệnh Parkinson và rằng tất cả những người bị bệnh này đều run, điều này lại còn là một sai lầm nặng, GS Jean-Philippe Azulay, trưởng khoa thần kinh và bệnh lý về cử động thuộc bệnh viện La Timone (Marseille) đã nói như vậy. Vậy đã đến lúc phải tái lập vài sự thật. Có nhiều nguyên nhân gây run rẩy, có thể ảnh hưởng lên những người thuộc mọi lứa tuổi, cả hai giới tính, đôi khi không bị một rối loạn nào. Sau cùng, những triệu chứng run rẩy này phần lớn có thể được cải thiện rất nhiều, nhưng còn phải đi khám bệnh.”
Đầu tiên là những loại thuốc được kê đơn. Nhưng khi chúng không có (hay không còn nữa) tác dụng, vẫn có những giải pháp khác. “ Các neurone gởi cho nhau những message électrique để liên lạc với nhau, nhưng khi những message này bị rối, run rẩy có thể xuất hiện. Vậy mục đích chung của kích thích vùng sâu não bộ (stimulation cérébrale profonde) và của ngoại quang tuyến (radiochirurgie) bằng con dao Gamma (đã được sử dụng để điều trị tất cả những khối u nhỏ không thể tiếp cận bởi ngoại khoa), là làm ngừng tín hiệu bất thường nguyên nhân của chứng run này. Tuy nhiên, chỉ có kích thích vùng sâu não bộ là không gây nên thương tổn không hồi phục được, có thể thực hiện trên hai bán cầu đại não phải và trái trong cùng một can thiệp và nhất là, vẫn có thể điều chỉnh trong trường hợp cần sữa lại cho đúng ”, GS Stephen Chabardes, thầy thuốc ngoại thần kinh (trưởng unité fonctionnelle épilepsie-Parkinson-tumeurs cérébrales-stéréotaxie-robotique chirurgicale, CHU Grenoble) đã giải thích như vậy.
UN OPERATION BIEN CODIFIEE.
Trên thực hành, ở phòng mổ, dưới gây tê tại chỗ, những vi điện cực được cắm để xác định vị trí hoạt động điện bất thường, ở trong sâu của não (ở một cấu trúc được gọi là đồi thị). Những trắc nghiệm được thực hiện để kiểm tra sự kích thích những vi điện cực này có làm ngừng run hay không. Để được như vậy cần thực hiện một lỗ nhỏ trong sọ và đưa một hay nhiều tubesguide xuyên qua các màng não, một vi điện cực được chuồi vào trong mỗi tubesguide. Như thế vi điện cực được đặt đúng nhất được xác định : chỉ còn cần thay thế bằng một điện cực vĩnh viễn. Vì sự chính xác của việc cắm các điện cực là chủ yếu, thầy thuốc ngoại thần kinh được hỗ trợ bởi những công cụ được điều khiển bởi người máy (outils robotisés), có độ chính xác inframillimétrique, sự xác định vị trí của đích (cible) (là nơi điên cực phải được cắm vào) được thực hiện nhờ một IRM được thực hiện trước can thiệp. Sau đó điện cực vĩnh viễn được cố định và được nối, qua một dây câble được đặt dưới da, với một máy kích thích (stimulateur) (một loại pacemaker) được đặt trong vùng dưới xương đòn : chỉnh máy kích thích này sau đó được điều chỉnh bởi thầy thuốc thần kinh, GS Chabardes đã nói tiếp như vậy. Mặc dầu impressionnant, cuộc mổ này được quy tắc hóa tốt và những biến chứng (khối máu tụ, nhiễm trùng) rất là hiếm.
Khi “ người run ” (le trembleur) có những chống chỉ định với can thiệp ngoại khoa, ví dụ, bởi vì người bệnh dùng các thuốc chống đông không thể ngừng được, nên vài khoa ngoại thần kinh như ở bệnh viện La Timone (Marseille) (dưới sự chỉ đạo của GS Jean Régis, thầy thuốc ngoại thần kinh) bắt đầu đề nghị ngoại quang tuyến (radiochirurgie) bằng Gamma Knife. Để phá hủy một cách rất chính xác vùng hoạt động điện bất thường, can thiệp diễn ra thành ba thì : một khung stéréotaxique được gắn vào trên sọ của người cần mổ (đó là một loại système de contention). Sau đó là xác định vị trí của vùng nhắm đến, được thực hiện từ những dữ kiện của chụp hình ảnh. Sau cùng, điều trị có thể được thực hiện trên người được đặt nằm trong máy Gamma Knife. Máy này phát ra những tia hướng dến vùng nguyên nhân của chứng run rẩy và chỉ trên vùng này mà thôi. “ Những kết quả tương tự với những kết quả khi kích thích vùng sâu não bộ (stimulation cérébrale profonde)) mà không cần phải mổ. Tuy nhiên, cần phải nhiều tháng từ lúc mổ đến khi ngừng những dấu hiệu run (thời gian cần thiết để thương tổn được tạo nên như thế trở thành vĩnh viễn). Ta chỉ có thể hành động đồng thời trên một nửa não bộ. Và không có một khả năng nào điều chỉnh sau đó. Nhưng lần này vì ta nhắm những người dầu sao không thể chịu được cuộc phẫu thuật, nên hai kỹ thuật cuối cùng bổ sung cho nhau ”, GS Azulay đã nhấn mạnh như vậy.
Những hướng khác được thăm dò để cố kiểm soát còn tốt hơn hoạt động điện bất thường, nguồn gốc của các triệu chứng run : Việc hiệu chính các điện cực, cho phép một sự định hướng chính xác hơn dòng điện ở đầu điện cực nhằm làm giảm thiểu những tác dụng phụ, đang được đặc biệt nghiên cứu. Cũng được nghiên cứu : sự cá thể hóa tần số dòng điện được phát để thích ứng với chứng run của mỗi bệnh nhân. Sự nhờ đến các vecteur virus có khả năng chuyển các gène nhạy cảm với ánh sáng bên trong các tế bào đích (cellules cibles) trong não bộ, để sau đó kích hoạt chúng, nhờ một chùm ánh sáng. Và sự làm lạnh nhắm đích tại chỗ nhờ những thermosonde ” , GS Chabardes đă nhận xét như vậy. Hôm nay, chúng đang còn trong thí nghiệm. Nhưng trong 10 năm nữa…
(LE FIGARO 16/4/2012)

2/ CHỨNG RUN : QUÁ ÍT NGƯỜI ĐI KHÁM BỆNH
Vì lẽ nhiều người bị gây trở ngại bởi triệu chứng run nhưng không có phản xạ đi khám bệnh vì lý do này, nên số lượng những người Pháp bị chứng run không được biết rõ : “ Ta ước tính rằng 300.000 đến 600.000 người bị liên hệ ở những mức độ khác nhau, vài người thật sự bị phế tật, kể cả những động tác thông thường như uống hay ăn ”, GS Azulay (CHU Marseille) đã nhấn mạnh như vậy. Vả lại nhóm những người này không hẳn là đồng nhất : ta thấy ở đó những “ trembleur ” của mọi lứa tuổi, của hai giới tính, bị trở ngại trong đời sống hàng ngày ít hay nhiều và run có thể có những nguyên nhân rất khác nhau. Nhưng vì ít có thói quen, một thầy thuốc không cần nhiều xét nghiệm phức tạp để có thể biết ông ta đang gặp chứng run thuộc loại nào. “ Run được định nghĩa như là một cử động không tự ý và bất bình thường, thuộc loại những dao động nhịp nhàng của tất cả hay một phần của thân thể, chung quanh một tư tế cân bằng. Điều đó không hề liên quan với những cử động co giật (mouvements convuksifs) như trong một cơn động kinh ”, GS Jean-Michel Vallat, cựu trưởng khoa thần kinh (CHU Limoges) đã nói tiếp như vậy.
Nguyên nhân đầu tiên của run về mặt tần số : run bản chất hay run không rõ nguyên nhân (tremblement essentiel), được gọi như thế bởi vì ta vẫn luôn luôn không biết được nguyên nhân chính xác. Những người trẻ có thể bị chứng run này từ tuổi thiếu niên, trong khi đó đối với những người khác, những triệu chứng rung xuất hiện sau 50 tuổi. “ Các chi trên bị ảnh hưởng hơn (nhưng đầu và các dây thanh âm cũng có thể bị). Tuy vậy, phần còn lại của thăm khám thần kinh bình thường và nếu ta cho chụp IRM (điều này chẳng có một lợi ích gì), kết quả sẽ không cho thấy gì đặc biệt.Chỉ có nghiên cứu sau khi chết đã cho thấy rằng có những bất thường vi thể (micro-anomalies) ở tiểu não (là cơ quan chính có liên hệ trong sự cân bằng của chúng ta. Điều này không thấy được ở IRM lẫn scanner và ta vẫn luôn luôn không giải thích được sự xuất hiện của những bất thường vi thể này. Tuy vậy, nhiều gène có thể có liên hệ, GS Marie Vidailhet (trưởng unité fonctionnelle, pathologies du mouvement, CHU La Pitié-Salpêtrière) đã nhận xét như vậy.
NHỮNG ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ
Các chứng run không rõ nguyên nhân (tremblement essentiel) có thể được làm thuyên giảm nhiều nhờ vài loại thuốc : hoặc là bởi một betabloquant như propranolol, hoặc một thuốc chống động kinh nhưng với liều thấp hơn liều để điều trị một động kinh và không chống chỉ định việc lái xe. Việc tiêm toxine botulique trong các cơ có liên quả trong chứng run này (kể cả trong những dây thanh âm, để chống lại một giọng nói run run) cũng có thể được đề nghị, nhưng với những kết quả tạm thời. “ Sau cùng, trong khung cảnh nghiên cứu, ở Viện não và tủy sống (ICM : Institut cerveau et moelle épinière) thuộc bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, chúng tôi hiện đang tiến hành một công trình nghiên cứu tiền phong với những buổi kích thích điện từ qua số (stimulation magnétique transcranienne) được thực hiện nhiều lần. Mục đích là để kiểm tra xem có thể điều biến (moduler) một cách không gây đau đớn, hoạt động nào chịu trách nhiệm chứng run không rõ nguyên nhân này.” Nguyên nhân khác nhau thì điều trị khác nhau. “ Trong bệnh Parkinson (và những hội chứng tương cận), run xuất hiện lúc nghỉ ngơi. Những triệu chứng khác như cứng các chi (hypertonie : tăng trương lực) và các cử động chậm (akinésie) cũng được ghi nhận, GS Vallat đã giải thích như vậy. Lần này, các thuốc kích thích chế tạo dopamine (chất trung gian thần kinh bị thiếu ở những người bị bệnh Parkinson) hay mang lại dopamine, có hiệu quả lên toàn bộ những triệu chứng này.
(LE FIGARO 16/4/2012)

3/ CHỨNG RUN : MẶC DẦU HIẾM, CHỨNG BỆNH NÀY CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ
Vài bệnh lý hiếm đến độ không có một điều trị nào đã được phát triển để làm thuyên giảm chúng. Đó không phải là trường hợp đối với chứng run và vì vậy đi khám bệnh rất là quan trọng. Bởi vì, ngoài một thương tổn quan trọng, điều trị luôn luôn có thể có hiệu quả.
“ Những chứng run mà ta gọi là TOP (tremblement orthostatique primaire : run nguyên phát thế đứng) luôn luôn được thể hiện bởi cùng cảm tưởng : những người bị liên hệ bởi chứng bệnh này không thấy trở ngại, ngoại trừ khi phải đứng trong một khoảng thời gian nào đó và không động đậy, thí dụ để sắp hàng trong một hàng người chờ đợi. Trong tình huống này (đứng, dừng lại) và chỉ trong tình huống đó, người bệnh mới có cảm giác không vững và tìm kiếm một điểm tựa do phản xạ, vì sợ té ngã. Cảm giác khó chịu này biến mất ngay khi người bệnh bước. Thế mà, nếu thầy thuốc yêu cầu làm một điện cơ đồ bề mặt (électromyogramme de surface) (với các điện cực đặt đối diện các cơ để ghi hoạt động điện của chúng), một dấu hiệu run rất nhanh, tần số từ 14 đến 18 Hertz, được nhận thấy. Điều này điển hình cho TOP và không cần tiếp tục những thăm dò. Khi đó một điều trị với clonazepam (thuốc chống động kinh) có thể được đề nghị, với những kết quả tốt ”, GS Marie Vidaihet (La Pitié-Salpêtrière, Paris) đã giải thích như vậy.
Loại run khác, nhất là gây trở ngại về phương diện nghề nghiệp : run đơn thuần khi viết (tremblement pur d’écriture). Như tên chỉ rõ, loại run này chỉ xuất hiện vào lúc viết. Thật ra đó là do các cơ có nhiệm vụ trong động tác viết không được kiểm soát tốt bởi hệ thần kinh. May mắn thay vào thời đại ordinateur, ta vẫn luôn luôn có thể đánh một bức thư. Nhưng để ký một văn kiện, đó mới thật sự là vấn đề : khi đó thầy thuốc có thể kê đơn một thuốc betabloquant.
Run do vỏ não (tremblement cortical) tương tự với một dấu hiệu run nhưng thật ra được thể hiện bởi cử động giật (secousses) không đều của các chi. Nó có thể được liên kết với những cơn thị giác (crises visuelles) (nhất là được phát khởi bởi các jeux d’ombres et de lumuères). Trên thực tế, đó là một bệnh động kinh, do đó cần điều trị bằng một thuốc chống động kinh (thí dụ valproate de sodium). “ Căn bệnh di truyền này có thể phát ra ở tuổi 30, nhưng không ngăn cản có một cuộc sống bình thường, một khi được điều trị đúng đắn ”, GS Vidailhet đã xác nhận như vậy.
“ TORTICOLIS TREMBLANT ”
Ta còn tìm thấy run loạn trương lực (tremblement dystonique), được gọi như thế bởi vì chúng liên kết với những co cơ liên tục hơn, chịu trách nhiệm những tư thế bất thường (postures anormales) : thí dụ một tư thế xoay cổ. Trong trường hợp này sự việc xoay đầu có thể kèm theo run (khi đó ta nói là torticolis tremblant). Điều trị có tính cách triệu chứng : tiêm toxine botulique vào trong các cơ bị liên hệ (lập lại mới 4 đến 6 tháng) cho những kết quả tốt.
Sau cùng không nên đổ lỗi tất cả những triệu chứng run lên não bộ hay những dây thần kinh của chúng ta. Đôi khi, chính các loại thuốc được sử dụng cho một bệnh lý khác, như vài thuốc chống trầm cảm, lithium,.. là nguyên nhân và việc thay thế chúng sẽ cải thiện rất nhiều tình huống. Lại nữa đôi khi vấn đề khác hẳn. Một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của run là tăng năng tuyến giáp. Khi đó điều trị chứng bệnh này sẽ làm biến mất những rối loạn khác nhau, trong đó run là một bộ phận ”, GS Jean-Michel Vallat (CHU Limoges) đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 16/4/2012)

4/ NHỮNG CHIẾN LƯỢC MỚI CHỐNG LIỆT MẶT
Căn bệnh thần kinh này mỗi năm gây bệnh cho 15.000 người ở Pháp.
NEUROLOGIE. Với 15.000 trường hợp được liệt kê mỗi năm ở Pháp, paralysie a frigore hay paralysie de Bell, chiếm 80% những trường hợp liệt mặt, đứng xa trước các liệt mặt do chấn thương, hậu phẫu hay khối u.
“ Xuất hiện đột ngột, một bên, thương tổn này của dây thần kinh mặt (nerf facial), lúc đầu có thể được giới hạn vào một cảm giác tê cóng (engourdissement), trở nặng rất nhanh, đề cuối cùng dẫn đến, trong vòng hai đến ba ngày, một thiếu sót (déficit) thay đổi (không thể đóng mắt, khó phát âm, chảy nước dãi..) có thể đi đến liệt hoàn toàn một nửa mặt. Tốc độ của sự thoái biến này xác định phần lớn mức độ nghiêm trọng của tình trạng thiếu sót ”, GS Frédéric Tankéré, thuộc khoa TMH và ngoại khoa cổ-mặt thuộc CHU de la Pitié-Salpêtrière, Paris, đă giải thích như vậy.
Tính chất đột ngột của các triệu chứng thường làm lo ngại một nguyên nhân khác. Do đó chẩn đoán paralysie à frigore vẫn là một chẩn đoán loại trừ (diagnostic d’exclusion) những nguyên nhân khả dĩ khác, mặc dầu có một dấu hiệu điển hình của bại liệt này : dấu hiệu Bell. “Mắt không thể khép lại về phía bị liệt, đồng tử bị lệch lên trên và ra ngoài. Bệnh cảm cúm, đau tai, đau đầu hay những rối loạn vị giác thường đi trước ít lâu sự xuất hiện của liệt mặt ”, vị thầy thuốc đã giải thích như vậy. Trong trường hợp nghi ngờ, chuyên gia TMH vẫn là người thích hợp nhất để khám một cách đúng đắn màng nhĩ và xác định thái độ xử trí.
Paralysie a frigore chủ yếu là do sự tái kích hoạt của một virus, Herpes simplex V1 (HSV1), tiềm tàng ở hơn 80% các bệnh nhân. “ Sự tái kích hoạt của virus kèm theo phản ứng viêm và phù nề đè ép dây thần kinh mặt khi nó đi xuyên qua xương đá (os du rocher) nằm sau tai trong một kênh xương không dãn được. Sự đè ép này có thể ảnh hưởng hoạt động vận động, giác quan, thực vật và tiết của dây thần kinh. Tính chất nghiêm trọng của căn bệnh này phần nhiều là ở nguy cơ bị khô giác mạc. Mí mắt phải được giữ mở bằng một sparadrap được đặt thẳng đứng để tránh viêm giác mạc không thể hồi phục được.
Tiến triển tự nhiên thuận lợi trong 70% các trường hợp. “ Phù nề, nếu tồn tại, có nguy cơ làm thương tổn dây thần kinh mặt. Cortisone, bằng đường miệng hay tĩnh mạch, do đó nhằm làm giảm phù càng nhanh càng tốt, vị thầy thuốc đã chỉ rõ như vậy. Phải hành động cấp cứu, bởi vì những thương tổn nghiêm trọng nhất của dây thần kinh xuất hiện trong 10 ngày đầu. Sau đó, điều trị không có hiệu quả. Ngày nay, các bệnh nhân được điều trị trong 3 đến 5 ngày.”
NGOẠI KHOA TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP RẤT NẶNG
Tỷ lệ chữa lành hoàn toàn với cortisone hiện nay là từ 85% đến 95%. Đối với những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị này, một động tác ngoại khoa, mặc dầu còn được bàn cãi, có thể hạn chế những di chứng. Can thiệp ngoại khoa nhằm mở tunnel (đường hầm) trong đó dây thần kinh mặt đi qua để phù nề thoát ra và như thế ngừng đè ép dây thần kinh. “ Ngoại khoa chỉ được chỉ định đối với những bệnh nhân bị một bại liệt mặt rất nghiêm trọng, không đáp ứng với cortisone và điện cơ đồ (électromyographie) cho thấy một sự mất rất quan trọng các sợi thần kinh. Động tác rất chuyên môn này, chỉ được thực hiện bởi ba kíp mổ ở Pháp, phải can thiệp rất nhanh và không còn ích lợi nữa khi các dì chứng đã thành hình, GS Tankéré đã giải thích như vậy. Kíp mổ tốt nhất ở Hoa Kỳ, đưa tỷ lệ làm giảm các di chứng từ 58% xuống còn 9% 7 tháng sau khi mổ, nhưng những di chứng này có thể xuất hiện muộn.”
Rất mới đây, một kíp của Nhật Bản đã tìm cách cải thiện kỹ thuật này. Được hiệu chính trong một nước mà ở đấy chứng bệnh paralysie a frigore xảy ra 2 lần nhiều hơn so với những nơi khác, kỹ thuật nhằm đưa vào qua đường xẻ những mảnh hydrogel, sẽ phóng thích, khi tiếp xúc với dây thần kinh, một yếu tố tăng trưởng (bFGF), được biết làm dễ sự tái sinh thần kinh. Các nhà nghiên cứu Nhật đã cải thiện, trên 20 bệnh nhân được mổ hơn 15 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng, một tỷ lệ phục hồi hoàn toàn không di chứng 75%, so với 44,8% với ngoại khoa cổ điển.
(LE FIGARO 31/1/2012)

5/ TA CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN CÁC CƠN ĐỘNG KINH ?
Gilles Huberfeld
Neurologue
Centre de recherche en neurosciences
de la Pitié-Salpêtrière

Động kinh là thương tổn thần kinh mãn tính của não bộ, thường gặp nhất sau migraine. Động kinh gây bệnh cho gần 500.000 người ở Pháp và ta đếm được khoảng 50 triệu người bị bệnh động kinh trên toàn thế giới. Là những cơn giông điện thật sự, gây nên bởi một sự mất tổ chức- tái tổ chức (déorganisation-réorganisation) của các mạng neurone của não bộ, các cơn động kinh được đặc trưng bởi những biểu hiện vô cùng thay đổi, nhưng không phải luôn luôn gây ấn tượng, gồm những cử động không tự ý, những rối loạn tiếp xúc, những tri giác “ nội tại ” phức tạp và đôi khi kỳ lạ. Nhưng não bộ tăng hưng phấn bị kích động như thế nào để gây nên một cơn động kinh ? và trong bầu trời nào cơn giông này bùng nổ ?
Giữa các cơn, não sinh ra những đợt phóng điện ngắn thể hiện tính tăng hưng phấn (hyperexcitabilité) của nó và được sử dụng để chẩn đoán động kinh bằng điện não đồ (EEG). Cơn động kinh nói riêng là một hiện tượng hiếm hơn, phức tạp và nhất là gây nên những triệu chứng (thay đổi tùy theo vùng não bộ bị ảnh hưởng). Sự xuất hiện của cơn động kinh là đột ngột, bất ngờ, do đó cần phát hiện một giai đoạn dẫn đến cơn. Nhận diện và hiểu sự chuyển tiếp cho phép dự kiến sự xuất hiện của cơn và nhất là xét đến những điều trị đặc hiệu.
NHỮNG PHÓNG ĐIỆN TRƯỚC CƠN ĐỘNG KINH
Việc dự kiến các cơn động kinh là tế nhị và không thể thực hiện chỉ với phân tích bằng mắt điện não đồ. Nhưng từ 15 năm nay, một quá trình xử lý toán học phức tạp điện não đồ có thể cho phép nhận diện một giai đoạn chuyển tiếp dẫn đến cơn động kinh. Đó là những tính toán nặng nề, khó tiến hành en temps réel, và hiện nầy chưa có cho các bệnh nhân. Nhiều chục kỹ thuật đã được mô tả. Một dự án châu Âu hiện đang được tiến hành để chọn lọc những kỹ thuật dự đoán tốt nhất và để áp dụng chúng trong một máy có thể dùng được bởi bệnh nhân.
Tuy nhiên, những kỹ thuật này không cho biết sinh học của sự phát khởi các cơn : điều gì thật sự xảy ra trong não bộ và những neurone gây ra một cơn động kinh như vậy ? Trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, chúng tôi theo hướng nghiên cứu này. Chúng tôi nghiên cứu bệnh động kinh từ những mẫu nghiệm hậu phẫu phát xuất từ những bệnh nhân được mô để điều trị bệnh động kinh của họ trong trường hợp đề kháng với thuốc. Những mô này, được duy trì sống, tiếp tục sinh ra những hoạt động động kinh tương tự với những phóng điện ngắn được mô tả trên đây. Chúng tôi đã cho thấy rằng những phóng điện này được phát khởi một cách bất thường bởi những tế bào ức chế (cellules inhibitrices) của não bộ, các interneuronne có những tác dụng kích thích bất ngờ.
Mới đây, chúng tôi đã tạo lại trong phòng thí nghiệm cơn động kinh và những thời điểm đi trước nó và đã nhận diện một giai đoạn chuyển tiếp, kéo dài trong nhiều chục phút. Thời kỳ này được đánh dấu bởi sự xuất hiện của một loại biến cố động kinh mới : những phóng điện trước cơn vật (décharges pré-ictales) (đi trước cơn). Giai đoạn chuyển tiếp này tương ứng với một sự tăng cường dần dần hoat dong của các mạng những tê bào thần kinh hưng phấn (neurones excitateurs). Một khi trưởng thành, những phóng điện này phát khởi cơn bằng cách tuyển mộ đồng thời những neurone hưng phấn những đồng thời cũng làm hỏng thêm những interneurone bình thường có tác dụng ức chế, như thế làm gia tăng tác dụng hưng phấn của chúng.
Vậy nhưng thời điểm đi trước cơn động kinh có thể nhận diện được trong những vùng đặc biệt của não bộ, nhưng những phóng điện trước cơn vật (décharge pré-ictale), là dấu hiệu xác nhận giai đoạn chuyển tiếp này, dường như không thể ghi được trên bề mặt của sọ. Tuy nhiên những phóng điện trước cơn vật này, nếu nhắm vào những cơ chế đặc hiệu của nó, mang lại nhưng cơ hội điều trị.
Cuối cùng, những công trình nghiên cứu này xác nhận một quy luật của tự nhiên : những cơn giông (ở đây là những con động kinh) được báo trước bởi một sự che mờ của bầu trời, sự gia tăng của tính hưng phấn của não bộ, và được báo trước bởi những làn chớp, những phóng điện trước cơn vật.
(LE FIGARO 20/8/2011)

6/ ALZHEIMER : MỘT KHÁNG THỀ BẢO VỆ CÁC NEURONE

                                             Những điểm chính

       – Các nhà nghiên cứu đã nhận diện một protéine cho phép tấn công những synapse của não bộ.

       – Các kháng thể phong bế protéine có tác dụng hủy hoại này ở chuột. Vẫn còn phải thử nghiệm nó trên người !

Một loại thuốc ngăn cản tác dụng độc hại của protéine bêta-amyloide lên những neurone của não bộ, vừa được khám phá bởi những nhà nghiên cứu của University College de Londres. Những nhà nghiên cứu này, vừa công bố những kết quả của họ trong tờ báo nổi tiếng Journal of Neurosciences, như thế hy vọng trên đường tìm ra một giải pháp cho căn bệnh Alzheimer, nguyên nhân chính gây chứng sa sút trí tuệ (démence) ở những người già, ảnh hưởng lên khoảng 30 triệu người trên thế giới, trong đó có 150.000 người Bỉ. Con số này sẽ đạt đến 200.000 vào năm 2020, trong khi đó ta vẫn chưa có một loại thuốc chữa bệnh nào có hiệu quả.
Các nhà nghiên cứu của Luân Đon đã quan sát thấy rằng sự mất các tế bào thần kinh là một hiện tượng bắt đầu sớm ở những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer và đã khám phá cách tác dụng khả dĩ của bệnh. Bệnh Alzheimer được đặc trưng bởi sự dồi dào của những lắng đọng protéine bêta-amyloide trong não bộ, những mảng (plaque) được cấu tạo bởi protéine này quá nhiều với hậu quả là làm ngăn trở những nối kết giữa các neurone và dẫn đến sự thoái hóa của não bộ. Các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng những kháng thể đặc hiệu phong bế chức năng của một protéine, Dkk1, mà các giải phẫu tử thi, được thực hiện trên các não bộ của những bệnh nhân chết vì Alzheimer, đã tìm thấy với lượng dồi dào một cách bất thường. Thế mà protéine Dkk1 này lại cần thiết để cho bêta-amyloide có một tác dụng độc hại lên các khớp của các tế bào thần kinh (synapses des neurones), nhất là ở thùy hải mã (hippocampe), một vùng chủ yếu cần cho học tập và trí nhớ. Không có Dkk1, bêta-amyloide dường như không có tác dụng lên những chức năng nhận thức (fonction cognitive).
Vấn đề còn lại có vẻ đơn giản : sử dụng những kháng thể này để vô hiệu hóa tác dụng hủy hoại của protéine Dkk1 lên não bộ. Các nhà nghiên cứu đã trắc nghiệm chúng in vitro rồi trên chuột mà trước đó đã được gây bệnh Alzheimer. Những kết quả rất hùng hồn bởi vì các neurone được tiếp xúc với những kháng thể anti-Dkk1 này vẫn bảo tồn chất lượng mà không bị mất các synapse.Trong khi những neurone được tiếp xúc với amyloide nhưng không được sự bảo vệ bởi các kháng thể bị tàn lụi đi. “ Vậy protéine Dkk1 là một đích khả dĩ đầy hứa hẹn để điều trị bệnh Alzheimer ”, BS Patricia Salinas, người phụ trách công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy.
“ Đó có thể là một giai đoạn cơ bản hướng về một giải pháp chữa lành, nhưng phải đánh giá những kết quả này một cách thận trọng, thầy thuốc thần kinh Jean-Christophe Bier, chuyên môn trong điều trị bệnh Alzheimer ở bệnh viện đại học Erasme (ULB) đã nói như vậy. Trước hết, bởi vì mô hình động vật này chỉ bao gồm duy nhất protéine beta-amyloide nhưng không có protéine Tau ”.
Thế mà thời điểm của tương tác giữa hai protéine này lên sự xuất hiện bệnh vẫn không biết được. “ Chuỗi phản ứng hóa học tác động lên đó vẫn còn bí mật. Nhưng cách tác dụng được mô tả ở đây là vững vàng và có thể chấp nhận. Tuy nhiên còn phải tìm ra cơ chế cho phép ngăn cản nó ở người. Ta biết rằng những vaccin anti bêta-amyloide đang được phát triển dường như thất bại trong việc biến đổi những hậu quả của bệnh, có lẽ bởi vì chúng đến quá muộn. Giải pháp phải hiệu quả và ta phải có thể cho nó đúng lúc.”
MỘT CHỈ DẤU TIÊN ĐOÁN MỚI
Sự hiện diện của một nồng độ tăng cao của protéine VILIP-1 cho phép tiên đoán mức độ nhanh chóng của sự suy sụp của những năng lực trí tuệ của một bệnh nhân sau khi chẩn đoán, theo một công trình nghiên cứu lâm sàng được công bố hôm nay trong Neurology. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nồng độ này tăng cao trong nước não tủy của 60 bệnh nhân bị bệnh Alzheimer ở những giai đoạn đầu. Sự quan sát này vốn liên quan đến một sự suy sụp nhanh chóng hơn của những năng lực trí tuệ của những bệnh nhân này trong những năm tiếp theo. Các tác giả đánh giá là cần phải xác nhận những kết quả này bởi những công trình nghiên cứu trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn, nhưng họ nhấn mạnh rằng những dữ kiện thu thập được cho thấy rằng chỉ dấu mới này có thể có khả năng tốt hơn tất cả những chỉ dấu đã từng được sử dụng cho đến nay để tiên đoán sự tiến triển của quá trình thoái hóa trí tuệ không thể đảo ngược này. Chất chỉ dấu này có thể rất hữu ích để đánh giá những điều trị mới trong những thử nghiệm lâm sàng ”, Rawan Tarawneh, giáo sư thần kinh học thuộc đại học Jordanie đã giải thích như vậy.
(LE SOIR 7/3/2012)

7/ CÓ NHƯNG CHỈ DẤU SỚM VÀ ĐÁNG TIN CẬY ĐỂ CHẤN ĐOÁN BỆNH ALZHEIMER ?
Luc Buée
Directeur de Recherche
Centre de recherche (Lille)

Vấn đề quan trọng khi ta biết rằng chẩn đoán của bệnh Alzheimer hiện nay thường là muộn, bởi vì chẩn đoán được căn cứ trên sự nhận diện những rối loạn nhận thức (trouble cognitif) đã trở nên quan trọng. Bệnh được đặc trưng bởi mất trí nhớ, liên kết với một thiếu sót khác như thiếu sót về ngôn ngữ, định hướng, động tác (gestuelle), sự nhận biết khuôn mặt hay những đồ vật. Những thiếu sót nhận thức này có liên quan đến hai thương tổn được quan sát trong não bộ : những lắng đọng amyloides (hay những mảng amyloide) và những tế bào thần kinh đang thoái hóa.
Từ giữa những năm 1980, chúng ta biết được những thành phần của những thương tổn này. Những peptides amyloides, bình thường hiện diện với lượng nhỏ, phải được thải ra khỏi não bộ để không làm ngộ độc nó. Ở những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, viện thải các peptides amyloides bị thiếu sót và dẫn đến sự tích lũy độc hại của những peptides này trong não bộ. Về các neurone, chúng thoái hóa và đồng thời tích lũy một protéine được gọi là Tau. Sự thặng dư này cũng độc hại.
Các peptides amyloides và protéine Tau là những chất chỉ dấu sinh học của bệnh ; chúng biểu hiện bệnh lý. Trên thực hành, khi chọc dò tủy sống ta có thể tìm kiếm những bất thường nồng độ của các peptide amyloides và của protéine Tau. Những lượng bất thường phản ánh những thương tổn của bệnh Alzheimer ở những bệnh nhân có những triệu chứng về trí nhớ.
TRƯỚC NHỮNG DẤU HIỆU LÂM SÀNG.
Những chất chỉ dấu sinh học mang lại điều gì ngoài sự đánh giá tâm thần kinh (évaluation neuropsychologique) và chụp hình ảnh não bộ bằng IRM ?
Thăm khám tâm thần kinh mô tả những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs) của bệnh nhân. IRM phát hiện một sự mất neurone quan trọng, được thể hiện bởi sự teo của vài vùng của não bộ. Trong tất cả các trường hợp, những hiện tượng này xảy ra muộn và những bất thường sinh học đã tiến triển. Ngoài ra sự suy sút nhận thức (déclin cognitif) và sự teo của não bộ có thể gây nên bởi một quá trình bệnh lý thoái hóa khác. Chỉ có những chất chỉ dấu sinh học hiện diện trong nước não tủy là đồng thời vừa đặc hiệu cho bệnh Alzheimer vừa có thể được phát hiện rất sớm (ngay khởi đầu của bệnh).
Mặc dầu vì nhiều lý do việc thực hiện một chẩn đoán trước khi có những dấu hiệu lâm sàng đầu tiên của bệnh dường như điều quan trọng (bệnh nhân có thể cảm thấy nhẹ nhõm khi người ta đã tìm ra lý do của tình trạng suy sụp, sự việc biết bệnh cho phép sử dụng đúng đắng những điều trị triệu chứng, v..v.), nhưng ngược lại không thể có vấn đề phải tiến hành chiến dịch điều tra phát hiện bệnh Alzheimer trong khi chưa có điều trị hiệu quả để làm ngừng bệnh lại. Ngoài những trường hợp đặc biệt (biến dị di truyền gia đình đã được biết, các anh chị em hãy những đứa con của một người bị bệnh Alzheimer) việc tìm kiếm những chất chỉ dấu sinh học bệnh Alzheimer ở những người không có một triệu chứng nào là điều không hợp lý. Ta chưa biết giá trị về tiên lượng của các chất chỉ dấu sinh học này và chúng ta không có giải pháp để đề nghị với những bệnh nhân này.
Vậy chẩn đoán là quan trọng doi với những thử nghiệm lâm sàng và những điều trị sắp đến. Chúng ta có thể chẩn đoán bệnh Alzheimer ở những người bị những rối loạn nhận thức nhưng còn độc lập. Chính ở giai đoạn này mà điều trị có cơ may hữu ích nhất. Mặc dầu, hiện chưa có những thuốc điều trị, nhưng đó là cả tầm quan trọng của nghiên cứu mà chúng ta đang tiến hành : đánh giá một cách nhanh chóng tất cả các hướng nghiên cứu đang được tiến hành để tìm được những thuốc điều trị.
TÍNH NHẠY CẢM DI TRUYỀN
Tương lai của những chất chỉ dấu sinh học này là gì ? Lý tưởng là có thể đánh giá lượng của những chất chỉ dấu này trong máu. Hiện đang có nhiều cố gắng trong nghiên cứu để đạt được điều đó. Chụp hình ảnh cũng có những tiến bộ to lớn. Sau cùng, những yếu tố nhạy cảm di truyền (facteur de susceptibilité) càng ngày càng được biết rõ hơn mặc dầu giá trị chẩn đoán của chúng vẫn còn chưa được xác định. Việc sử dụng các chỉ dấu sinh học để xác định những quần thể các bệnh nhân mà điều trị sẽ thuận lợi hơn hiện là điều khả dĩ nhất. Đó là điều mà ta gọi là “ y khoa cá thể hóa ” (médecine personnalisée).
Những chất chỉ dấu sinh học hiện nay của bệnh Alzheimer là đáng tin cậy để chẩn đoán và có một nghiên cứu quan trọng để phát hiện chúng dễ dàng hơn.
(LE FIGARO 16/4/2012)

8/ MỘT MŨ ĐIỆN (CASQUE ELECTRIQUE) CHỐNG MIGRAINE

                                    Những điểm chủ yếu :

           – Bằng cách kích thích điện dây thần kinh tam thoa qua da và sọ, một mũ casque được phát minh ở Bỉ giảm được số lượng và cường độ của vài trường hợp migraine.

          – Mũ casque có thể thu giảm việc sử dụng các thuốc chống migraine có những tác dụng phụ gây bất hoạt.

Kích thích thần kinh (neurostimulation) chống bệnh migraine, đó không phải điều gì thật sự mới. Scribonius Largus, thầy thuốc của hoàng đế Claude, vào thế kỷ thứ nhất, đã chủ trương điều trị các triệu chứng đau đầu bằng cách sử dụng một raie noire vivante cho đến khi nơi đó tê cóng và hết đau. Nhưng phải công nhận rằng điều đó không phải là một giải pháp thực tiễn, GS Jean Schoenen, giám đốc của Unité de recherche sur le migraines của đại học Liège đã nói như vậy. Vị giáo sư này, trong nhiều trung tâm nghiên cứu Bỉ, lần đầu tiên trên thế giới đã thực hiện công trình nghiên cứu lâm sàng chứng tỏ tính hiệu quả của một casque de stimulation nerveuse externe để làm thuyên giảm vài trường hợp migraine, một mũ casque được mệnh danh là Cefaly. Kỹ thuật này đã được hiệu chính trong một xí nghiệp cải tiến của Liège, STX-Med..
Mũ casque hoạt động như thế nào ? Bệnh nhân gắn một điện cực tự dính (électrode autocollante) trên trán của mình, rồi máy, được đặt như một cặp kính, tiếp xúc với điện cực để phát ra một kích thích điện vào những tận cùng thần kinh của nhánh trên của dây thần kinh tam thoa. Dây thần kinh này, thường được gọi là dây thần kinh nhãn (nerf ophtalmique), thường có liên hệ trong bệnh migraine. Các bệnh nhân mô tả những cảm giác kiến bò và nhột ở da đầu, dường như làm tê ½ trước của sọ. Đó không phải là bất cứ dòng điện nào, nhưng với tần số (6Hz) và một thời gian (300 millisec) nhất định.
Máy, đã được hiệu chính vào năm 2005 nhưng tiếp tục được hoàn thiện, đã được sử dụng bởi các bệnh nhân bị bệnh migraine, mà một vài đã được thuyên giảm, ít nhất một phần. Nhưng để chắc chắn rằng đó không phải là tự kỹ ám thị, phải tiến hành một trắc nghiệm trong nhiều trung tâm điều trị bệnh migraine khác nhau. Và thực hiện en double aveugle, điều này có nghĩa là các bệnh nhân có một mũ casque không hiệu quả mà cả bệnh nhân lẫn các thầy thuốc đều không hay biết.
Sau 3 tháng, những kết quả không phải là không đáng kể : 38% các bệnh nhân sau khi đã sử dụng mũ casque đã thấy giảm 50% tần số các cơn migraine. Trung bình điều đó làm giảm 1/3 các thuốc chống migraine. Và ngay cả giảm 75% ở những bệnh nhân mà ta đã xếp vào trong số những bệnh nhân đáp ứng tốt nhất với sự sử dụng kỹ thuật này.
“ Tôi sử dụng kỹ thuật này đã từ một năm nay, BS Claire Michel, thầy thuốc chuyên về thần kinh của CHU de Jolimont đã giải thích như vậy. Không bao giờ như là điều trị đầu tiên, nhưng dành cho những bệnh nhân đã từng dùng một hay hai loại thuốc, nhưng không làm giảm đủ các cơn hay những bệnh nhân chịu quá nhiều những tác dụng phụ của các thuốc chống migraine, có thể gây nhiều trở ngại. Sự kích thích thần kinh cho phép làm giảm tần số và tầm quan trọng của các cơn ở vài bệnh nhân. Nhưng không thể biết trước kỹ thuật này sẽ hiệu quả ở những bệnh nhân nào.”
(LE SOIR 8/11/2011)

9/ BỆNH VIỆN ERASME : ROBOT NGOẠI THẦN KINH ĐẦU TIÊN

                                          Những điểm chủ yếu

               – Sự sử dụng một interface giữa các dụng cụ và các bàn tay của thầy  thuốc ngoại khoa cho phép làm giảm những nguy cơ liên kết với thời gian phẫu thuật.

               – Robot cho phép gia tăng mức độ chính xác, mang lại nhiều áp dụng, nhất là trong thủ thuật ghép những tế bào gốc hay những điện cực vào trung tâm não bộ.

Robot được gọi là Rosa và chỉ có khoảng một chục máy trên thế giới. Chẳng bao lâu nữa robot này sẽ trang bị cho khoa ngoại thần kinh của bệnh viện đại học Erasme (ULB), sẽ là bệnh viện Bỉ đầu tiên sở hữu robot này. Khoa ngoại thần kinh của bệnh viện Erasme được thành lập bởi các giáo sư Jacques Brotchi và Jacques Noterman và nhanh chóng nổi tiếng quốc tế, đặc biệt Jacques Brotchi trở thành chủ tịch của Liên đoàn quốc tế ngoại thần kinh. “ Vào thời kỳ đó tôi phải cần 10 ngày để mổ bệnh nhân đầu tiên. Hôm nay, khoa ngoại thần kinh thực hiện hơn 1.700 phẫu thuật mỗi năm ”, vị thầy thuốc ngoại khoa, vẫn tiếp tục mổ mỗi tuần những khối u của tủy sống mà ông là một trong những chuyên viên quốc tế, đã nhấn mạnh như vậy.
“ Ngày mai, robot ngoại khoa mới này sẽ cho phép chúng ta hướng về nơi phải thao tác một cách chính xác từng millimètre, GS Olivier De Witte, trưởng khoa ngoại thần kinh đã giải thích như vậy. Lãnh vực này tạo những tiến bộ tuyệt vời nhờ sự tiến triển của kỹ thuật chụp hình ảnh y khoa. Nhưng robotique như là công cụ bổ sung sẽ cho phép ngoại thần kinh bước vào một kỷ nguyên mới, nhất là với những can thiệp điều biến não bộ (intreventions de modulation cérébrale).”
MỘT MỨC ĐỘ AN TOÀN CAO HƠN
Trên thực tế, robot ngoại thần kinh Rosa không hành động một mình, mà được điều khiển từ xa (télécommandé).“ Robot hội nhập những dữ kiện chụp hình ảnh được thu thập. Thầy thuốc ngoại khoa thấy được qua caméra động tác của mình. Nhưng chủ yếu ông ta đã có thể xác định trước “ kịch bản ” của cuộc mổ, thí dụ những vùng tuyệt đối cần được gìn giữ để không bị nguy cơ gây những di chứng quan trọng. Một thí dụ ? Để mổ não thùy (hypophyse), nơi ta có thể đến được bằng đường mũi, chính chụp hình ảnh chỉ cho chúng ta động mạch cảnh và dây thần kinh thị giác nằm ở đâu, và dĩ nhiên cần phải tránh để không làm thương tổn chúng. Vậy robot cấm chúng ta đến những nơi đó, điều này hạn chế những nguy cơ phẫu thuật và ngăn cản động tác xấu. Chúng ta vẫn là những con người.” Thí dụ khi xảy ra một xuất huyết đột ngột, khó mà không khỏi giật mình, điều mà robot sẽ không làm như vậy.
“ Một phẫu thuật ngoại khoa buộc nhiều giờ lao động, trong đó phải cầm những dụng cụ đôi khi ở đầu cánh tay, điều này gây nên một sự run sinh lý không thể tránh được, có thể làm giảm mức độ chính xác. Còn robot thì sẽ luôn luôn giữ cùng mức độ chính xác này ”, GS Nicolas Massager, chef de clinique en neurochirurgie stéréotaxique et radiochirurgie của bệnh viện Erasme đã giải thích như vậy.
Ngày mai điều gì sẽ ngăn cản thầy thuốc ngoại khoa chỉ cần lập sơ đồ của cuộc mổ và sau đó để cho robot thực hiện ? “ Hôm nay, những dụng cụ này giúp đỡ chúng ta, nhưng ngày mai, có lẽ chúng sẽ làm phần chân tay, bởi vì các robot sẽ thực hiện được những động tác tinh tế, chính xác hơn và như thế an toàn hơn. Trong lãnh vực ngoại quang tuyến (radiochirurgie), một máy như Gamma Knife, cách nầy 15 năm, có một độ chính xác 0,5mm và cần sự can thiệp của con người để đặt bệnh nhân vào vị trí. Bây giờ, chính robot thao tác với mức độ chính xác đã được cải thiện 10 lần ! ”
“ Điều đó sẽ cho phép làm tốt hơn và an toàn hơn điều mà chúng ta đang thực hiện hôm nay, GS De Witte đã giải thích như vậy. Nhưng sự chính xác này cũng mở cho chúng ta những triển vọng tiến bộ tuyệt vời trong lãnh vực kích thích não bộ, ngoại thần kinh chức năng (neurochirurgie fonctionnelle) và ghép những tế bào trong não bộ.
NHỮNG ĐIỀU TRỊ CỦA NGÀY MAI
1/ Interface giữa não và prothèse
Một trong những lãnh vực cải tiến nhất là hiệu chính một interface giữa não và ordinateur. “ Đó là một con đường tương lai đối với những người bị bại liệt, GS Massager đã giải thích như vậy. Mục tiêu là thu hồi dòng điện phát sinh bởi các neurone nhờ một loạt các điện cực được đặt trong não khi ta nghĩ đến việc thực hiện một cử động. Một interface phân tích điều đó và, sau khi apprentissage, cặp điều đó với một cử động của một chân giả hay điều khiển một xe lăn. Đó là một kỹ thuật chẳng bao lâu sẽ được áp dụng trong thường quy lâm sàng, những nghiên cứu đã rất là tiến triển ”.
2/ Ghép những tế bào gốc
“ Đó là sửa chữa não bộ bị bệnh bằng cách cấy những tế bào mới để thay thế những tế bào bị hỏng. Chúng ta đã bắt đầu cách nay 10 năm đối với bệnh Parkinson, nhưng cũng có thể áp dụng cho những bệnh khác. Ta ghép những tế bào đa năng (cellules pluripotentes) để làm phát triển một chức năng nơi ta tiêm chúng vào. Chúng ta đã làm điều đó trong Chorée de Huntington. Nhưng ta bị hạn chế do vấn đề thải bỏ (rejet). Ngày mai ta sẽ làm điều đó hoặc với những tế bào gốc, hoặc với những tế bào được sản xuất trong liệu pháp gène (thérapie génique).Những tế bào này sẽ phát ra những chất hoá học hay những enzyme thiếu trong bệnh liên hệ.”
3/ Kích thích tế bào thần kinh thần kinh (neurostimulation).
“ Ngày nay, các điện cực, cho phép kích thích điện những nhân năm sâu trong não bộ, như đồi thị (thalamus), vẫn còn có kích thước lớn. Nhưng các điện cực này sẽ được thu nhỏ, điều này sẽ cho phép kích thích những phần khác của não bộ ”, GS De Witte đã giải thích như vậy. Ngày nay , ta đã có thể điều trị những rồi loạn ám ảnh cưỡng bức (trouble obsessionnel compulsif), bệnh Parkinson hay những đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnée du sommeil) bằng kích thích những tế bào thần kinh (neurostimulation). Ngày mai ta tưởng đến việc điều trị những bệnh như cao huyết áp hay bệnh béo phì bằng những điện cực được cắm vào trong những phần của não bộ như dưới đồi thị (hypothalamus).
(LE SOIR 4/11/2011)

10/ KHÓ PHỐI HỢP ĐỘNG TÁC (DYSPRAXIE) : KHI SỰ VỤNG VỀ LÀ MỘT PHẾ TẬT.
NEUROLOGIE. Một đứa bé 10 tuổi khóc nức nở bởi vì được một điểm tốt môn khoa học, chuyện bình thường ? Ngoại trừ Théo là một đứa trẻ cần cù chăm chỉ, khó nhọc mới có được những kết quả tốt bởi vì nó bị chứng bệnh khó phối hợp động tác (dyspraxie). Trên thực tế, những chuyện đơn giản đối với các bạn của nó, thí dụ như viết hay vẽ một hình hình học, lại đặt cho nó những vấn đề to lớn. Ngoài ra, nếu Théo sau cùng đạt được một điểm tốt về môn khoa học, chính là bởi vì cô giáo đã chấp nhận đánh giá nó.. bằng miệng.
Cứ 20 trẻ thì có một bị chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie) (5-7%) với cường độ ít hay nhiều, được biểu hiện bởi một sự khó khăn trong việc tổ chức một cách tự ý và tự động những động tác mà những trẻ khác thực hiện gần như không nhận thức điều đó. Bởi vì mỗi cử động là một quá trình phức tạp đòi hỏi một sự hài hòa giữa ý định, sự kế hoạch hóa và sự thực hiện động tác : “ Não bộ điều hòa tất cả những tham số cần thiết cho sự thực hiện tốt cử động, GS Laurence Vaivre-Douret, thầy thuốc tâm lý thần kinh lâm sàng (neuropsychologue clinicien) (đại học Paris-Descartes) đã giải thích như vậy. Sao chép một hình vẽ, mặc quần áo, buộc một dây giày có thể là một mission impossible đối với một đứa trẻ bị chứng khó phối hợp động tác, đòi hỏi cho mọi động tác một sự tập trung không giảm sút và những chiến lược động tác đáng kể, do đó một sự chậm chạp làm bực mình. Đối những trẻ khác, đó là một động tác gần như tự động. Đối với nó, mọi cử động cần những cố gắng và do đó một sự mệt nhọc lớn hơn.
Như vậy, tất cả đều là cớ để ức hiếp ngược đãi đứa bé bị chứng bệnh này và làm xa lánh nó : một cuốn vở không được giữ gìn tốt, một hình vẽ giống như một bức tranh lèm nhèm, những sự hành động vụng về trong thể thao hay trong những trò chơi, một sự khó khăn trong việc định hướng trong một trang sách hay khi làm tính cộng, đó là chưa nói về chữ viết không đều hay đôi khi không đọc được. Thế mà những người chung quanh trong gia đình, nhưng nhất là trong trường học, có thể dễ dàng quy những điều đó cho một tình trạng còn non nớt hay thiếu chăm chỉ, GS Vivre-Douret đã nhấn mạnh như vậy, “ bởi vì đứa bé được nhận thấy là thông minh và thường thích đáng lúc đối đáp bằng miệng. Do đó nó sẽ che dấu phế tật của mình bằng thái độ không quan tâm đến thể thao, những hoạt động thủ công hay nghệ thuật, vì sợ bị phát hiện sau này ”.
BS Amian Pouhet, chuyên môn về y học vật lý và phục hồi chức năng, nhấn mạnh về những hậu quả phá hoại của một chứng khó phối hợp động tác không được nhận biết : “ Những đứa trẻ này nhận một cách đau đớn sự hành hung của những người lớn đối với chúng vì những việc bị hỏng mà chúng không nhận thức, không hiểu. Nhiều trẻ thật sự rất đau khổ.”
ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN
Khi ta nghi ngờ một chứng khó phối hợp động tác, cả một loạt các trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa, trong đó có sự đánh giá những chức năng tâm thần kinh, sẽ được thực hiện để xác nhận chẩn đoán và phân biệt với những rối loạn khác, như sự chú ý thị giác (attention visuelle), GS Vaivre-Douret đã kể lại như vậy. “ Rất thường có một sự lẫn lộn giữa chứng khó phối hợp động tác và rối loạn điều khiển vận động, không liên hệ cùng những vùng não bộ và không thuộc cùng hướng điều trị.”
Nhóm nghiên cứu của GS Vaivre-Douret vừa cho thấy rằng có thể phân biệt nhiều loại khó phối hợp động tác (dyspraxie) và biết những dấu hiệu lâm sàng đặc hiệu để phát hiện tốt hơn. Đó là một bước tiến quan trọng “ để hiểu rõ hơn những cơ chế trong não bộ và điều đó có những hậu quả thực hành ”. Điều đó cho phép định hướng tốt nhất việc điều trị giữa psychomotricien, orthophoniste, psychologue và pédopsychiatre và thực hiện những hỗ trợ giáo dục thích ứng nhất để thành công trong học vấn.
(LE FIGARO 29/1/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/5/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 268 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 603 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s