Thời sự y học số 262 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SOI ĐẠI TRÀNG, VŨ KHÍ QUYẾT ĐỊNH CHỐNG LẠI UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

– Phần lớn các ung thư đại trực tràng được phát triển từ các adénome trên niêm mạc ruột.
– CHẨN ĐOÁN : – Ít có những dấu hiệu báo trước
– Sự hiện diện của máu trong phân
– Các rối loạn chuyển vận ruột
– Đau bụng không giải thích được
– Gầy ốm không giải thích được.
– ĐIỀU TRỊ (ở những giai đoạn khác nhau của bệnh)
+ GIAI ĐOẠN SỚM : những thương tổn nhỏ khu trú ở bề mặt của thành
ruột.
Cắt bỏ bằng nội soi đại tràng dưới gây mê tổng quát bởi thầy thuốc
chuyên khoa tiêu hóa.
+ GIAI ĐOẠN NGHIÊM TRỌNG : khi thương tổn nằm trong thành ruột
Phải lấy khối u bằng phẫu thuật.
+ GIAI ĐOẠN NẶNG : trong những trường hợp cực kỳ, di căn thường
lên phổi và gan
Phải thêm điều trị chống ung thư vào can thiệp ngoại khoa.

Một công trình nghiên cứu mới cho thấy rằng thăm khám này phải được thực hiện thường xuyên hơn, để cứu nhiều mạng người hơn.
GASTRO-ENTEROLOGIE “ Nội soi đại tràng (colonoscopie), cho phép lấy đi các polype hiện diện trong đại tràng, có thể làm giảm 53% tỷ lệ tử vong do ung thư đại trực tràng ”. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu lớn của Hoa Kỳ, được công bố ngày 23 tháng hai trong New England Journal of Medicine. Công trình nghiên cứu này mang lại một bằng cớ mới rằng thăm dò này, mặc dầu có tiếng xấu, nhưng đã cho phép cứu nhiều mạng người và phải được thực hiện rộng rãi hơn. Với 40.000 trường hợp mới và 17.500 trường hợp tử vong mỗi năm, ung thư đại trực tràng là nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư ở Pháp, mặc dầu những tiến bộ được thực hiện trong những năm qua đã cho phép làm gia tăng số những trường hợp chữa lành, đặc biệt là khi ung thư được phát hiện sớm. “ Được nhận diện ở giai đoạn I, ung thư của đại tràng dẫn đến tỷ lệ chữa lành 90% sau 5 năm, GS René Laugier, trưởng khoa gan-dạ dày ruột của bệnh viện Timone (Marseille) đã xác nhận như vậy. Ở giai đoạn IV, tỷ lệ này đạt 5%. ” Ung thư đại trực tràng, được chẩn đoán thường nhất khoảng 70 tuổi, gây bệnh cho đàn ông nhiều hơn phụ nữ và ở một lứa tuổi hơi trẻ hơn.
Soi đại tràng là một thăm dò nặng nề, cần một gây mê và không thể được sử dụng để điều tra phát hiện đại trà (dépistage de masse), trái với sự phát hiện bằng Hémoccult. Sự hiện diện của một nguy cơ được xác nhận, đặc biệt gia đình hay di truyền, ở 15% đến 20% dân chúng, hay của vài triệu chứng, có thể khiến thầy thuốc cho thực hiện ngay một nội soi đại tràng. Mọi người có một người thân thuộc bị ung thư đại trực tràng phải được cho thực hiện soi đại tràng bởi vì khi đó nguy cơ tăng gấp đôi, thậm chí nhiều hơn khi mối liên hệ thân thuộc ở cấp độ thứ nhất hoặc khi bệnh nhân tuổi dưới 60.
Soi đại tràng, được lập lại mỗi năm năm, khi đó cho phép nhận diện những thương tổn trong 45% các trường hợp và các ung thư được phát hiện ở giai đoạn sớm trong 70% các trường hợp. Sau 50 tuổi, mọi rối loạn của transit không bình thường trong hơn một tuần phải khiến đi khám bệnh. Chảy máu trong phân, mặc dầu rất thường được quy cho bệnh trĩ, tuy nhiên, sau lứa tuổi 40, phải được thăm dò. Đứng trước các triệu chứng, soi đại tràng cho phép nhận diện các ung thư sớm trong 20% các trường hợp. Phần lớn các ung thư đại trực tràng được phát hiện nhờ soi đại tràng, chỉ 10% được nhận diện bởi các di căn của chúng, nhất là trong gan.
THẤY BÊN TRONG ĐẠI TRÀNG
Nội soi cho phép thấy một cách trực tiếp bên trong đại tràng, nhờ một ống thông được đưa vào trong hậu môn, cho phép thăm dò trực tràng và đại tràng. Đại đa số các ung thư nằm ở phần thấp nhất của ống tiêu hóa : đại tràng xuống (trái) hay trực tràng. Để nội soi cần uống 3 lít nước xổ, cho phép làm sạch ruột để thấy rõ các thành của đại tràng. Điều quan trọng là theo đúng những chỉ thị sửa soạn để những hình ảnh có chất lượng tốt và tránh phải lập lại thăm dò nếu không được thỏa mãn. Thăm dò có thể gây đau, vậy phải được thực hiện với thuốc an thần hay gây mê tổng quát nhẹ. “ Gây mê tổng quát, như được thực hiện ở Pháp, cho phép thực hiện nội soi đại tràng trong những điều kiện tốt, GS Pascal Hammel, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa, chuyên về ung thư học bộ máy tiêu hóa, thuộc bệnh viện Beaujon de Clichy, đã nhắc lại như vậy. Chúng tôi có được một tình huống thuận lợi, có thể so sánh được với Anh, là nơi tỷ lệ sống còn là 25% thấp hơn.”
Nội soi đại tràng là một công cụ chẩn đoán quý giá nhưng cũng có thể là một công cụ phòng ngừa hay điều trị. Thật vậy nó cho phép phát hiện những polype trước khi chúng trở thành ung thư hay những thương tổn ung thư có kích thước rất nhỏ và lấy chúng đi tức thời. Khi những thương tổn quan trọng hơn được nhận diện và một can thiệp ngoại khoa được dự kiến, nội soi đại tràng ban đầu cho phép xác nhận vị trí của ung thư, định đặc điểm của nó và thực hiện những sinh thiết dùng để chọn những điều trị thích hợp nhất.
“ Tất cả những động tác bổ sung này, trong nhiều trường hợp cho phép tránh mọi can thiệp khác, giải thích tại sao colonoscopie virtuelle bằng scanner hiện nay không được khuyến nghị, GS Hammel đã nhắc lại như vậy. Colonoscopie virtuelle cũng như nội soi đại tràng cổ điển, cần một sự chuẩn bị ít thoải mái và không cho phép phát hiện những thương tổn rất nhỏ hay những thương tổn phẳng (lésions planes). ” Nội soi đại tràng cũng là thăm dò quy chiếu để theo dõi sau một ung thư đại tràng, được tiếp tục trong 5 năm sau khi ngừng điều trị.
(LE FIGARO 5/3/2012)

2/ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG : NGOẠI KHOA VẪN LÀ ĐIỀU TRỊ CHUẨN
“ Điều trị của ung thư đại trực tràng không còn là một đối kháng giữa các thầy thuốc chuyên khoa ung thư và các thầy thuốc ngoại khoa, GS Pascal Hammel, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa, chuyên về ung thư học của bộ máy tiêu hóa ở bệnh viện Beaujon de Clichy, đã nhấn mạnh như vậy. Kíp điều trị gồm nhiều chuyên khoa, từ chẩn đoán đến theo dõi, phối hợp với GS Yves Panis, trưởng khoa ngoại đại trực tràng.”
Ngoại khoa vẫn là cơ sở của điều trị của ung thư đại trực tràng nhưng nó thường được liên kết với những phương thức khác cho phép góp phần vào sự chữa lành hay kéo dài cuộc sống.
Nếu ung thư đã không quá lan rộng và nếu bệnh nhân có thể chịu được, một can thiệp ngoại khoa được thực hiện để lấy đi phần đại tràng bị ung thư, vài mô chung quanh và các hạch kế cận.
Khi ung thư đã gây nên một tắc ruột hay khi ung thư nằm rất thấp trong ống tiêu hóa, có thể thầy thuốc ngoại khoa chọn phẫu thuật mở đại tràng tạm thời (colostomie transitoire). Phân khi đó được thải ra trong một cái bọc, phải được thay một cách đều đặn. Sau hai đến ba tháng, ruột có thể được sửa chữa vĩnh viễn. Các phẫu thuật mở đại tràng thường trực (colostomie permanente) càng ngày càng hiếm bởi vì ngoại khoa thường cho phép bảo tồn hậu môn.
GIẢM CÁC BIẾN CHỨNG.
Phần lớn các can thiệp từ nay được thực hiện bằng nội soi ổ bụng (coelioscopie), với những đường xẻ tối thiểu cho phép làm giảm những biến chứng và hậu phẫu. Những tiến bộ của ngoại khoa cũng cho phép can thiệp trên các di căn, nhất là trong gan. Những điều trị khác, được sử dụng trước hay sau ngoại khoa, cũng cho phép cải thiện những kết quả của các can thiệp.
Ví dụ, quang liệu pháp (radiothérapie), được thực hiện trên các ung thư trực tràng, có thể cho phép làm thu nhỏ các khối u lại để hạn chế quy mô của can thiệp ngoại khoa. Hóa học liệu pháp (chimiothérapie) cũng có thể được sử dụng trước ngoại khoa nhưng thường nhất được thêm vào sau mổ để tránh các tái phát và cải thiện tỷ lệ sinh tồn đối với những ung thư tiến triển. “ Những liệu pháp bổ trợ (thérapies adjuvantes) này, được đưa vào trong những năm 1990, cho phép chữa lành một bệnh nhân trên sáu ở giai đoạn III ”, GS Philippe Rougier, thầy thuốc chuyên khoa ung thư tiêu hóa ở bệnh viện Georges-Pompidou (Paris) đã xác nhận như vậy.
Hóa học liệu pháp thường nhất là một sự phối hợp của nhiều loại thuốc, được chọn tùy theo profil của ung thư và của bệnh nhân. “ Sự điều trị trong tương lai càng ngày sẽ càng dựa vào théranostique, để nhắm đích tốt hơn những bệnh nhân có thể hưởng tốt nhất mọi điều trị hiện có bằng cách phối hợp một trắc nghiệm chẩn đoán và một liệu pháp ”, GS Olivier Bouché, thầy thuốc chuyên khoa ung thư tiêu hóa thuộc bệnh viện Robert-Debré de Reims đã chỉ rõ như vậy. Vài trong những điều trị này có những tác dụng phụ gây khó chịu phải được xét đến lúc chọn các loại thuốc, nhất là đối với những bệnh nhân già hay đối với những kẻ, ngày càng nhiều, phải sử dụng thuốc lâu dài. “ Những tiến bộ đủ quan trọng để trong vài trường hợp, ta có thể biến đổi một bệnh nhanh chóng gây chết người thành bệnh mãn tính ”, GS Hammel đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 5/3/2012)

3/ UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG : CÔNG TÁC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN HIỆU QUẢ NHƯNG CÒN QUÁ E DÈ.

UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG Qua các con số

70% các ung thư được phát hiện nhờ một trắc nghiệm Hemoccult ban đầu đều ở giai đoạn I.
40.000 trường hợp mới ung thư đại trực tràng. Đó là nguyên nhân thứ hai gây tử vong vì ung thư ở Pháp.
16% đó là tỷ lệ tử vong do ung thư này giảm nhờ phát hiện dựa trên sự sử dụng trắc nghiệm Hemoccult.

Ung thư đại trực tràng, gia tăng một cách hằng định từ những năm 1970, là một trong những ung thư được điều trị tốt nhất khi nó được phát hiện sớm. Ngoài ra ung thư được điều tra phát hiện đại chúng (dépistage de masse), dựa vào sự sử dụng test Hemoccult, phát hiện sự hiện diện của máu trong phần. Một công trình nghiên cứu đã có thể chứng minh, trong một thời kỳ 12 năm, một sự giảm 16% tỷ lệ tử vong của ung thư đại trực tràng nhờ chiến lược điều tra phát hiện bằng test Hemoccult. Tuy vậy, chỉ 34% những người Pháp có liên hệ đã thực hiện trắc nghiệm phát hiện này từ năm 2009 đến 2010, một con số rất không đủ so với mục tiêu tối thiểu có thể chấp nhận được là 45% và con số được mong muốn 65%.
NHỮNG CHIẾN DỊCH LÀM NHẠY CẢM.
“ Những tiến bộ được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của điều trị ung thư đại trực tràng hẳn cho phép chúng ta cải thiện những con số về tỷ lệ sống sót. Chúng ta không đạt được chủ yếu bởi vì sự phòng ngừa và công tác điều tra phát hiện không đụng được khá đông người ”, GS René Maugier, trưởng khoa gan-dạ dày-ruột của bệnh viện Timone (Marseille) đã nhấn mạnh như vậy. Ông nhắc lại tầm quan trọng của những chiến dịch làm nhạy cảm đối với việc điều tra phát hiện (campagne de sensibilisation au dépistage), thí dụ “ Colon Tour ” được tổ chức bởi cơ quan A.R.CA.D, với Liên đoàn quốc gia chống ung thư và Hiệp hội nội soi tiêu hóa Pháp.
Sự phát hiện đại trà (dépistage de masse) của ung thư đại trực tràng được đề nghị cho toàn thể dân chúng không có một nguy cơ đặc biệt, nghĩa là khoảng 85% những người tuổi từ 50 đến 74. Công tác phát hiện phải được thực hiện mỗi hai năm chừng nào trắc nghiệm Hemoccult vẫn âm tính. Giữa năm 2009 và 2010, tỷ lệ những trắc nghiệm dương tính đối với Pháp là 2,7% trong số những trắc nghiệm có thể phân tích, hoặc 136.251 trắc nghiệm dương tính. Tỷ lệ này cao hơn ở đàn ông (3,2%) so với phụ nữ (2,3%). Mỗi trắc nghiệm dương tính phải dẫn đến một nội soi đại tràng khi đó cho phép phát hiện một ung thư trong 1 trường hợp trên 10 và những polype có kích thước quan trọng trong 2 trường hợp trên 10. Hơn 70% những ung thư được phát hiện nhờ một test Hemoccult ban đầu là ở giai đoạn I, với một tỷ lệ chữa lành 90% sau 5 năm.
Tuy vậy, chỉ 85% những người đã có một kết quả Hemoccult dương tính sau đó được nội soi đại tràng. Hemoccult dễ sử dụng nhưng cần nhiều mẫu nghiệm phân. Những trắc nghiệm mới sẽ được sử dụng vào năm 2013. Dựa trên một kỹ thuật miễn dịch học, chúng có thể được phân tích một cách tự động. Những trắc nghiệm mới này cần ít bệnh phẩm hơn và do đó dễ thực hiện hơn đối với các bệnh nhân, điều này sẽ khiến một số lượng người lớn hơn sử dụng nó.
Trước công tác điều tra phát hiện, sự phòng ngừa cũng cho phép tránh các ung thư. Sự gia tăng được quan sát trong những thập niên qua có thể được giải thích bởi một sự thay đổi lối sống và chế độ ăn uống.
Đặc biệt người ta đã chứng minh rằng thuốc lá là độc hại, một chế độ ăn uống nhiều sợi (trái cáy và rau xanh) nhưng ít calorie, thịt đỏ và mỡ động vật làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng, cũng như hoạt động vật lý đều đặn và sự tiêu thụ những sản phẩm sữa. Nghĩ đến đại tràng mình cũng cho phép bảo vệ trái tim mình vì lẽ những lời khuyên này cũng áp dụng cho sự phòng ngừa những bệnh tim mạch…
(LE FIGARO 5/3/2012)

4/ PHỤ NỮ CÓ THAI : COI CHỪNG ARSENIC TRONG GẠO !

Điểm chủ yếu

– Lượng arsenic được đo ở những phụ nữ có thai ăn cơm gia tăng 50% với ½ bát cơm.
– Đối với các chuyên gia, phải theo dõi sự tiêu thụ.

Arsenic được biết là một chất độc đáng sợ. Hiện diện tự nhiên trong môi trường, vecteur chủ yếu của arsenic là nước. Tổ chức y tế thế giới mặt khác giới hạn arsenic ở nồng độ 10 mcg mỗi litre nước. Fruit de mer cũng có thể là một đường lây nhiễm quan trọng. Chính sự tiếp xúc đều đặn với những liều thấp tạo nên một yếu tố nguy cơ của nhiều ung thư, nhất là ung thư phổi . Arsenic là nguyên nhân cái chết của Napoléon nhưng dựa trên những phân tích tóc của Bonaparte, dường như đúng hơn là ông đã bị tiếp xúc một cách mãn tính với arsenic, và các fruits de mer có thể không xa lạ với điều đó…Ngày nay, sự tiếp xúc với arsenic đặc biệt đáng lo ngại ở phụ nữ có thai, vì nó làm gia tăng nguy cơ sinh non.
Những dữ kiện mới từ nay lôi kéo chú ý đến gạo, một thức ăn từ thực vật có khả năng bơm arsenic từ đất …rất nhiều nước. Nhưng cho đến nay, một ít công trình nghiên cứu được thực hiện ở người đã không cho phép đánh giá sự góp phần của thức ăn này vào việc gây ngộ độc arsenic, và không có một công trình nghiên cứu nào đã được tiến hành trên các phụ nữ có thai.
MỘT THỨC ĂN CẦN ĐƯỢC THEO DÕI.
Một nhóm các nhà khoa học của Dartmouth Medical School đã thực hiện một công trình nghiên cứu trên 229 phụ nữ có thai 6 tháng. Các phụ nữ được chia thành hai nhóm tùy theo họ thường ăn gạo hay không. Các nhà nghiên cứu đã đo nồng độ arsenic trong nước tiểu.
Các kết quả, được công bố trong Pnas, cho thấy rằng lượng arsenic trung bình được đo trong nhóm các phụ nữ ăn gạo (trung bình ½ tách gạo nấu chín mỗi ngày) rõ rệt cao hơn (5,27 mcg/l) nhiều so với lượng được đo ở những phụ nữ không ăn gạo (3,38 mcg). Các tác giả tính toán rằng ½ tách gạo nấu chín mang lại cùng lượng arsenic của một lít nước chứa lượng arsenic tối đa chịu được. Do đó họ đánh giá rằng loại thức ăn này phải được theo dõi sát hơn, vì lẽ nguy cơ mà nó có thể gây nên ở phụ nữ trong thời kỳ thai nghén.
(LE SOIR 8/3/2012)

5/ BỆNH TRĨ : KHI NÀO PHẢI MỒ ?
Docteur Philippe Godeberge
Hépato-gastro-entérologue
Institut mutualiste Montsouris, Paris
Vice-président de la Société nationale française de gastro-entérologie

Trĩ là những cấu trúc cơ thể học bình thường hiện diện ở tất cả mọi người. Do sinh đẻ, táo bón, nhưng cũng do những biến đổi liên hệ với tuổi tác, trĩ có thể trở nên chịu trách nhiệm những triệu chứng khác nhau : đó là bệnh trĩ (hémorragie hémorroidaire) với những thời kỳ kịch phát được gọi là “crise hémorroidaire ”. Không bao giờ buộc phải mổ bởi vì căn bệnh này hiền tính, nhưng điều này không có nghĩa là thoải mái ! Trong vài trường hợp, sự thoái hóa của chất lượng sống đến độ ta buộc phải quyết định mổ. Vậy những tiêu chuẩn nào có thể dẫn đến phẫu thuật, mà tiếng xấu một phần không được biện minh ?
Trước hết là phải chắc chắn về chẩn đoán : sai lầm chính là quy cho bệnh trĩ mọi triệu chứng hậu môn, nhất là xuất huyết. Một ý kiến y khoa với một thăm khám vật lý là cần thiết và thường là đủ ; việc không bị đau không hề là một yếu tố cho phép tiên đoán chẩn đoán. Sau đó phải xác định mục tiêu điều trị ; nghĩa là đối chiếu danh sách những triệu chứng khiến yêu cầu điều trị và những triệu chứng có thể được chữa lành bởi ngoại khoa. Thí dụ bón không phải là hậu quả mà là nguyên nhân của trĩ ; bón không bao giờ do tắc hậu môn bởi các trĩ lớn.
Những triệu chứng khác đôi khi được quy cho trĩ nhưng không có mối liên hệ nào : khó tiểu, rối loạn cương, đầy hơi (flatulences) hay són ỉa. Tất cả điều đó vẫn tồn tại mặc dầu một điều trị đúng quy cách. Điều có thể được hủy bỏ bởi ngoại khoa, đó là những cơn đau do các cục huyết đông (huyết khối) trong các trĩ ngoại, hay cảm giảm lộ ra ngoài những bó trĩ nội (paquets hémorroidaires internes) lúc đi cầu, kèm theo xuất huyết trong nhà cầu hay trên giấy đi cầu, và đôi khi kèm theo rịn nước (suintement). Khi đó thầy thuốc cùng với bệnh nhân sẽ đánh giá những chiến lược điều trị khác nhau và những nguy cơ liên kết.
Trong những lần thăm khám đầu tiên, ta thường đề nghị ưu tiên làm điều hòa sự chuyển vận ruột (régularisation du transit) và cho nhiều loại thuốc có tác dụng tại chỗ khác nhau. Những động tác tại chỗ có thể được thực hiện lúc khám bệnh, ở phòng mạch, không cần nhập viện hay gây mê bởi vì đơn giản và không gây đau. Sự thất bại của sự xử lý này là một lý lẽ mạnh cần can thiệp ngoại khoa. Đôi khi ta không chờ đợi sự thất bại này, bởi vì bệnh nhân do ngại ngùng hay sợ sệt nên đến thăm bệnh muộn và bệnh đã rất phát triển.
ĐAU NHIỀU
Vào giai đoạn này, ta có thể đề nghị 3 loại phẫu thuật, được thực hiện bởi một thầy thuốc ngoại khoa hay một proctologue. Cổ điển nhất là lấy đi các trĩ ; phẫu thuật này có hiệu quả và không tái phát. Đó cũng là phẫu thuật có một tiếng xấu do những đau đớn hậu phẫu. Kíp điều trị cần đặc biệt chú ý đến điều đó nhưng không thể loại trừ những đau đớn có cường độ đáng kể. Vì vậy những kỹ thuật thay thế tất cả đều có điểm chung là tìm kiếm một sự giảm triệu chứng đau đớn này : hoặc là chỉ cần buộc những động mạch nuôi dưỡng các trĩ sau khi đã định vị trí của chúng bằng Doppler hoặc đặt chúng lại vị trí bằng một agrafage interne, được gọi là opération de Longo.
Mỗi trong 3 phương pháp này đều có một tỷ suất lợi ích/nguy cơ đặc hiệu về mặt di chứng hay tái phát. Điều này phải được đánh giá theo từng cá nhân. Những nguy cơ tiềm tàng các biến chứng (vả lại hiếm) không được để mất lợi ích của một ngoại khoa có thể biến đổi chất lượng đời sống. Những phẫu thuật này cuối cùng chỉ liên hệ 5% các bệnh nhân. Dẫu sao đi nữa, quyết định mổ phải là quyết định chung giữa bệnh nhân và thầy thuốc và không bao giờ là một cấp cứu.
(LE FIGARO 17/10/2011)

6/ HỒI LƯU DẠ DÀY-THỰC QUẢN : KHI NÀO PHẢI MỔ ?
Professeur Jean-Paul Galmiche
Hépato-gastro-entérologue (CHU Nantes)
Président de la Société nationale française de gastro-entérologie

Bệnh hồi lưu dạ dày thực quản (RGO) là do sự đi ngược lên bất thường trong thực quản của dịch axit của dạ dày. Những triệu chứng chính là ợ nóng (pyrosis) (cảm giác rất bỏng đi lên sau xương ức) và những đợt ựa (régurgitation : axit và thức ăn trong dạ dày đi lên).
Nhiều bệnh nhân bị bệnh hồi lưu dạ dày thực quản nhung không đi khám bệnh hay tự điều trị bằng những thứ thuốc được bán tự do trong hiệu thuốc, có lẽ bởi vì những triệu chứng ít gây khó chịu và có tính chất đoạn hồi.
Trái lại, trong những trường hợp khác, RGO trở thành mãn tính, gây nên một sự suy thoái chất lượng sống. Khi đó vấn đề điều trị lâu dài được đặt ra. Để được như thế, ta có hai loại phương pháp : điều trị liên tục bằng những loại thuốc nhằm làm giảm sự tiết axit bởi dạ dày và ngoại khoa chống hồi lưu (chirurgie antureflux) nhằm ngăn cản sự trào ngược này.
POMPE A PROTONS
Điều trị nội khoa của bệnh hồi lưu dạ dày thực quản đã được cách mạng hóa bởi những loại thuốc được gọi là IPP (inhibiteurs de la pompe à protons). Vô cùng hiệu quả, chúng cho phép làm giảm những triệu chứng, làm hóa sẹo các thương tổn, và phòng ngừa những tái phát với điều kiện điều trị duy trì liên tục mà mức độ dung nạp có thể được xem là rất tốt, xét số lượng những đơn thuốc.
Điều trị ngoại khoa được thực hiện bằng đường soi ổ bụng (par voie celioscopique), nhờ những trocart (những canule được trang bị bởi một dùi đục (poinçon) được đưa vào trong bụng. Can thiệp nhằm đặt chỗ nối thực quản-dạ dày (jonction oeso-gastrique) vào lại trong bụng trong trường hợp thoát vị hoành (hernie hiatale), và bọc phần cuối của thực quản với phần trên của dạ dày để tạo một manchon được gọi là “ fundoplicature » (có thể một phần, 180 độ, hay hoàn toàn, 360 độ).
Việc lựa chọn giữa điều trị nội khoa và ngoại khoa không bao giờ được thực hiện một cách vội vàng. Hồi lưu dạ dày thực quản không phải là một căn bệnh đe dọa tiên lượng sinh tồn. Phải phân tích một cách hoàn hảo những triệu chứng, đánh giá thời gian của chúng, tác động của chúng lên chất lượng sống và kiểm tra, bằng nội soi tiêu hóa, có những thương tổn của niêm mạc thực quản hay không. Nếu người bệnh đáp ứng tốt với điều trị IPP, ta có thể, sau vài tuần, thử giảm chúng, thậm chí ngừng sử dụng chúng.
Trong trường hợp tái phát những triệu chứng và/hoặc những thương tổn, khi đó sự lựa chọn giải pháp ngoại khoa được đặt ra. Cho đến gần đây, ta không có những dữ kiện so sánh về hai loại điều trị này. Mới gần đây, những kết quả của một công trình nghiên cứu lớn của châu Âu đã được công bố (Galmiche và các đồng nghiệp, Jama, 18 tháng năm 201), mang lại những thông tin quan trọng về tính hiệu quả nhưng cũng những ưu điểm và những khuyết điểm của mỗi trong hai điều trị này.
SỰ LỰA CHỌN CỦA BỆNH NHÂN
Nhìn toàn bộ, ở những bệnh nhân đã đáp ứng tốt với điều trị ban đầu, những kết quả sau năm năm điều trị bởi IPP (ésoméprazole) là hơi tốt hơn, nhưng về mặt thống kê không khác với những kết quả của điều trị ngoại khoa bằng fundoplicature hoàn toàn. Hơn 85% các bệnh nhân vẫn trong tình trạng thuyên giảm sau 5 năm.
Tuy nhiên chứng ựa (régurgitation) được làm thuyên giảm tốt hơn bởi điều trị ngoại khoa so với điều trị nội khoa. Ngược lại, những khó khăn lúc nuốt thường xảy ra hơn sau ngoại khoa, cũng vậy những triệu chứng chướng bụng hay đầy hơi ở ruột. Trong hai trường hợp, sự dung nạp đối với điều trị rất tốt. Không có một trường hợp tử vong hậu phẫu nào trong những trung tâm chuyên khoa này và không có một trường hợp tử vong nào xuất hiện trong lúc nghiên cứu đã có thể quy cho điều trị nội khoa.
Vậy, hai điều trị nội và ngoại khoa đã thực hiện những tiến bộ lớn trong hai thập niên qua và chúng có vị trí trong điều trị. Những dữ kiện của công trình nghiên cứu châu Âu như thế có thể được sử dụng ở mỗi cá nhân để áp dụng một y khoa cá thể hóa hơn, trong đó can thiệp không chỉ ý kiến của người thầy thuốc mà còn những sự ưa thích hơn của bệnh nhân.
(LE FIGARO 26/9/2011)

7/ U XƠ TỬ CUNG : MỘT GIẢI PHÁP KHÔNG CẦN PHẪU THUẬT
GS Philippe Bouchard, trưởng khoa nội tiết bệnh viện Saint-Antoine, giải thích sự khám phá một chiến lược y khoa đổi mới nhằm gìn giữ khả năng sinh đẻ.
Hỏi : Ta gọi một u xơ (fibrome) là gì ?
GS Philippe Bouchard. Đó là một u hiền tính của cơ tử cung, lúc lớn lên, gây nên những biến dạng của xoang tử cung. Các u xơ nói chung có nhiều và không bao giờ thoái hóa thành ung thư. 40% các phụ nữ 35 tuổi và 70% trên 50 tuổi bị u xơ. Trong số những người này, 1 trên 3 có những rối loạn : đau bụng, sưng, nhưng nhất là xuất huyết nhiều lần làm mệt và làm biến đổi chất lượng sống. Những xuất huyết này là nguyên nhân đầu tiên gây thiếu máu ở phụ nữ.
Hỏi : Ta có biết nguồn góc của bệnh này không ?
GS Philippe Bouchard. Ta vẫn còn chưa biết được cơ chế. Chúng ta biết rằng các œstrogène có một vài trò chủ chốt : nó kích thích sự tạo thành và phát triển các u xơ cũng như sự tăng sinh các huyết quản, trở nên mỏng manh dễ vỡ làm chảy máu dễ dàng. Nói tóm lại các œstrogène là “ nhiên liệu ” của những khối u này.
Hỏi : Cho đến nay những điều trị chuẩn là gì ?
GS Philippe Bouchard. Một cách cổ điển, đó là điều trị ngoại khoa : khi các u xơ có thể tiếp cận được, thầy thuốc ngoại khoa lấy chúng đi bằng đường tự nhiên (đường nội tử cung) ; trong trường hợp trái lại, ông ta thực hiện một phẫu thuật cắt bỏ tử cung (hystérectomie). Một giải pháp khác, lần này là điều trị nội khoa, có thể được dự kiến. Giải pháp đầu tiên, nhằm làm giảm sự sản xuất œstrogène bởi buồng trứng bằng cách sử dụng các progestatifs, không đủ hiệu quả. Với giải pháp thứ hai, sử dụng những thuốc hormone khác mạnh hơn (những chất tương cận của GnRH, hay kích thích tố não bộ kiểm soát sự tiết của các gonadotrophine của não thùy), ta hủy bỏ được một cách hoàn toàn những xuất huyết và làm giảm thể tích của khối u. Nhưng phải trả giá với hậu quá bị castration, tương đương một tình trạng mãn kinh sớm.
Hỏi: Thế không có một giải pháp thứ ba với quang tuyến can thiệp (radiologie interventionnelle) ?
GS Philippe Bouchard. Thật vậy có một điều trị bằng embolisation động mạch tử cung để làm ngạt thở các u xơ bằng cách tước đi nguồn cung cấp máu. Nhưng đó là một kỹ thuật không phải là không nguy hiểm, mà những kết quả vẫn không hằng định.
Hỏi : Vì vậy nhiều công trình nghiên cứu để tìm một điều trị hiệu quả không có những bất tiện này. Chiến lược rất mới này là gì ?
GS Philippe Bouchard. Ta đã khám phá, không phải là không ngạc nhiên, rằng vài loại thuốc, vốn có tác dụng phong bế hoàn toàn các thụ thể của u xơ đối với progestérone, lại đặc biệt có hiệu quả. Trong số những dược phẩm này, đã có mặt trên thị trường trong những chỉ định khác, đặc hiệu nhất là UPA (acétate d’ulipristal) hiện được kê đơn trong trường hợp ngừa thai cấp cứu trong 5 ngày sau một giao hợp không được bảo vệ (viên thuốc của ngày hôm sau). Ở những phụ nữ có các u xơ với biến chứng xuất huyết, chỉ một liều 5 mg mỗi ngày trong 3 tháng cho phép làm giảm gần một nửa thể tích. Ưu điểm lớn : xuất huyết ngừng lại ngay cuối tuần thứ nhất. Hiện nay, đó là điều trị nội khoa có tác dụng nhanh nhất và điều đó tạo nên một bước tiến quan trọng.
Hỏi : Điều trị này có những tác dụng phụ không ?
GS Philippe Bouchard. Trái với những viên thuốc ngừa thai, UPA không gây nên những tác dụng phụ, nhất là trên huyết áp, cholestérol, đường huyết hay nguy cơ viêm tĩnh mạch. Sự sản xuất œstrogène bởi các buồng trứng không bị ức chế. Ta chỉ quan sát thấy một sự biến đổi nhẹ hiền tính của niêm mạc tử cung, biến mất ngay khi ngừng điều trị.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng minh những kết quả tốt này ?
GS Philippe Bouchard. Hai công trình nghiên cứu quy tụ tổng cộng 610 bệnh nhân (mới đây được công bố trong “ New England Journal of Medicine ”) đã xac nhận tính hiệu quả lớn của UPA với tỷ lệ thành công 90% trong một công trình nghiên cứu và hơn 98% trong công trình kia.
Hỏi : Điều trị này hiện đã được thực hiện đối với các u xơ ?
GS Philippe Bouchard. Hiện nay, nó chỉ được cho phép thực hiện trong 3 tháng, với mục đích chuẩn bị bệnh nhân để giải phẫu, để các bệnh nhân được mổ mà không bị thiếu máu. Nhưng vì tính hiệu quả của UPA kéo dài nhiều tháng sau khi ngừng điều trị, nên sự lặp lại điều trị có thể cho phép các phụ nữ trẻ bị bệnh hoãn phẫu thuật cho đến khi mãn kinh. Những công trình nghiên cứu dài hạn sắp đến sẽ cho phép xác nhận điều đó.
(PARIS MATCH 8/3-14/3/2012)

8/ LOÉT DẠ DÀY ĐÃ BIẾN MẤT TỪ KHI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BỞI KHÁNG SINH ?
Professeur Daniel Couturier
Gastro-entérologue
Secrétaire général de l’Académie nationale de médecine

Vào năm 1982, hai thầy thuốc người Úc loan báo khám phá gây ngạc nhiên của họ : bệnh loét dạ dày tá tràng được gây nên bởi một vi khuẩn đặc hiệu mà ta sẽ gọi là Helicobacter pylori.
Cho mãi đến khi đó, vai trò được gán cho tính axit dạ dày (acidité gastrique) được một sự nhất trí gần như hoàn toàn : “ không axit, không loét ” và giả thuyết về một nguồn gốc vi khuẩn không hề được nghĩ đến : dạ dày, do tính axit của nó, buộc phải vô trùng.
Sự khám phá nguồn gốc nhiễm trùng, ngược lại với các thành kiến, cần vài năm để được chấp nhận. Tuy vậy, căn bệnh loét dạ dày tá tràng rất thường xảy ra, một bệnh nhân trên mười bị bệnh này trong suốt cuộc đời mình, tái phát, khó điều trị và có thể gây những biến chứng trầm trọng, xuất huyết và thủng, từ nay dễ chế ngự bằng một điều trị kháng sinh chỉ vài ngày. Rất nhanh chóng, ta nghi ngờ cùng vi khuẩn Helicobacter pylori cũng can thiệp vào trong sự phát triển của ung thư dạ dày. Tầm quan trọng và mức độ của những hậu quả y khoa của khám phá này khiến 23 năm sau B.J Marshall và J.R Warren nhận được giải Nobel y khoa.
Sự phối hợp của hai kháng sinh với một chất chống tiết dạ dày trong 7 đến 10 ngày đảm bảo loại trừ, trong 85% các trường hợp, những loét dạ dày-tá tràng, tuy nhiên với điều kiện xem chừng một sự đề kháng với vài kháng sinh, đôi khi buộc phải điều biến sự lựa chọn và đổi mới chẩn đoán. Dịch Helicobacter pylori ảnh hưởng 2/3 dân số thế giới và các nước đang phát triển là bị liên hệ đầu tiên. Ở Pháp, người ta ước tính rằng 20% những người dưới 40 tuổi và ½ những người trên 60 tuổi được định cư bởi vi khuẩn này. Tình trạng bấp bênh và cuộc sống cộng đồng làm dễ sự lan truyền của vi khuẩn.
Nhưng sự khuếch tán cực kỳ của vi khuẩn gợi ý rằng, nếu Helicobacter đóng một vai trò quyết định trong việc làm phát khởi bệnh loét dạ dày tá tràng, tuy vậy nó không phải là nguyên nhân duy nhất. Ta có thể hy vọng rằng, nếu chế ngự được bệnh loét dạ dày tá tràng nhờ các thuốc kháng sinh, ta sẽ không còn những trường hợp loét nữa. Thế mà những thương tổn này vẫn còn thường được chẩn đoán, và rất thường chịu trách nhiệm những xuất huyết đáng sợ. Trong khi dưới 10% loét tá tràng xảy ra không liên quan với Helicobacter, thì tỷ lệ này lên đến 40% đối với những trường hợp loét dạ dày. Phần lớn là do việc sử dụng những thuốc chống viêm không phải stéroide (AINS), đặc biệt là aspirine, mà những tác dụng được biết lên đau thấp khớp, giải thích tại sao những người già, đặc biệt thường nhờ đến chúng một cách dễ dàng, thường tự dùng lấy không cần toa.
CHÚ Ý NHỮNG THUỐC CHỐNG VIÊM
Từ nay ta chứng kiến một sự gặp nhau của các đường cong biểu diễn tần số mắc bệnh : loét do nhiễm trùng (ulcère infectieux) hiếm hơn trong khi các vết loét do điều trị kháng viêm trở nên thường xảy ra hơn. Do đó, ta có thể dự kiến rằng những bệnh nhân bị nhiễm bởi Helicobacter càng đặc biệt dễ bị loét gây nên bởi các thuốc kháng viêm. Người ta đã chứng tỏ rằng, khi thực hiện một điều trị với những thuốc kháng viêm, việc tìm kiếm Helicobacter, và sự loại bỏ nó, cải thiện mức độ dung nạp đối với điều trị.
Tuy nhiên vai trò của Helicobacter trong sự xuất hiện một bệnh nghiêm trọng là không thể phủ nhận, vậy có nên dự kiến điều tra phát hiện hệ thống, rồi điều trị tất cả những người bị nhiễm trùng bởi Helicobacter không. Biện pháp y tế cộng dồng này đang được xét đến, nhất là, như Barry Marschall đã gợi ý, vai trò của Helicobacter trong sự phát triển của vài ung thư dạ dày giờ đây đã được chứng tỏ. Nhưng một chiến dịch như thế là không thực tế chừng nào ta không có một vaccin có hiệu quả, ít tốn kém và được dung nạp tốt. Công cuộc nghiên cứu hiện đang được tiến hành.
Việc khám phá nguồn gốc nhiễm trùng của bệnh loét dạ dày tá tràng đã là một ngạc nhiên. Sự khám phá này đã đổi mới những ý niệm của một chương quan trọng của bệnh lý tiêu hóa. Nhưng không phải vì vậy mà những thương tổn loét của dạ dày đã biến mất : liên kết hay thay thế trách nhiệm của nhiễm trùng là những nguyên nhân khác, hàng đầu là việc sử dụng những thuốc kháng viêm.
(LE FIGARO 27/2/2012)

9/ TA CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ BÓN MÃN TÍNH BẰNG MỘT CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG ?
Professeur François Mion
Hépato-gastro-entérologue
Hospices civils de Lyon, université Lyon 1

Bón có thể được định nghĩa bởi tần số phân dưới 3 lần mỗi tuần, hay bởi phân rắn, hay bởi khó tống xuất phân, hay sau cùng bởi một sự tống xuất phân không thỏa mãn. Một chế độ ăn uống thường được đề nghị như là biện pháp điều trị đầu tiên. Trước hết điều này dựa trên một sự gia tăng lượng các sợi thức ăn (fibres alimentaires). Những sợi thức ăn này, do không được tiêu hóa trong ống tiêu hóa, tạo những chất cặn bã (résidus) có khả năng giữ nước và do đó làm gia tăng thể tích phân, như thế kích thích sự chuyển vận của ruột (transit intestinal).
Các sợi thức ăn (fibres alimentaires) hiện diện trong tất cả rau và trái cây : rau xanh, trái cây tươi (đặc biệt framboise, figue, prune, kiwi, agrume, nho…), những trái cây khô (pruneaux, figues và abricots khô, amande, noix và noisette), légumineuses (lentille, fève, đậu trắng, pois cliches). Nước trái cây cũng có thể có những tính chất nhuận trường, hoặc là bởi vì chúng chứa bã ép của trái cây (pulpe du fruit) (các sợi), hoặc do một nồng độ đậm đặc các chất kích thích tính nhu động của ruột, đặc biệt như nước vắt mận khô (jus de pruneau) chứa sorbitol, đường không được hấp thụ bởi ruột.
NGŨ CỐC NGUYÊN
Ngũ cốc nguyên (céréales entières) (hay những sản phẩm được chế tạo từ ngũ cốc nguyên như bột nhào (pâte) hay bánh mì) cũng chứa nhiều sợi hơn nhiều so với ngũ cốc “ trắng ” (céréales blanches), không có lớp vỏ của các hạt. Vậy những ngũ cốc nguyên được dùng ưu tiên trong trường hợp bón, nhất là lúc ăn sáng bằng cách thêm chúng vào trong sữa hay những sản phẩm sữa khác.
Cũng vậy, cám (lớp vỏ của hạt ngũ cốc) lúa mì hay avoine có một dung lượng rất cao các sợi (và ít calorie), và như thế có thể được thêm vào trong chế độ ăn uống.
Nhiều chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire) được đề nghị trong thương mại : những chất bổ sung này thường nhất chứa các sợi (mà ta tìm thấy trong tự nhiên ở trái cây và rau xanh, như đã được nói trên đây). Nhưng cần phải cảnh giác : sự hiện diện của những thuốc nhuận trường được gọi là “ kích thích ” (thí dụ bourdaine, séné) trong những chất bổ sung này có thể gây nên những nguy cơ đối với sức khỏe nếu chúng được sử dụng trong một thời gian dài.
NƯỚC VÀ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ
Sự gia tăng khẩu phần sợi trong chế độ ăn uống phải luôn luôn được thực hiện một cách từ từ, để tránh trướng và đau bụng có thể xảy ra ở vài người. Phải nhấn mạnh rằng sự gia tăng khẩu phần sợi trong chế độ ăn uống có khả năng có hiệu quả hơn ở những người lúc đầu có một chế độ ăn uống ít sợi, và rằng nó không hiệu quả ở tất cả mọi người.
Gia tăng khẩu phần nước (uống nhiều hơn) và hoạt động vật lý thường được khuyên trong trường hợp táo bón : ở đây, lời khuyên này có lẽ chỉ có giá trị đối với những người uống rất ít hay có một hoạt động vật lý rất hạn chế. Đối với những người khác, có lẽ những lời khuyên này sẽ có lợi đối với sức khỏe toàn bộ của họ, nhưng hiệu quả lên táo bón sẽ tối thiểu hoặc không có.
Sau cùng, điều đặc biệt quan trọng là cần nhấn mạnh rằng mọi sự táo bón không bình thường và kéo dài phải được thăm khám để đảm bảo trước hết không có những bệnh nguyên, và thực hiện một điều trị nhuận tràng thích ứng với tình huống.
(LE FIGARO 26/9/2012)

10/ UNG THƯ NÃO CỦA TRẺ EM : SAU CÙNG MỘT HY VỌNG ĐIỀU TRỊ.
BS Jacques Grill, Pédiatre cancérologue thuộc Institut Gustave-Roussy de Villejuif, giải thích những khám phá sẽ dẫn đến một chiến lược điều trị mới trong gliome ác tính của thân não.
Hỏi : Những đặc điểm của ung thư não bộ này : một gliome là gì ?
BS Jacques Grill. Đó là một khối u ác tính ảnh hưởng các mô nâng đỡ của não bộ (glie). Các khối u não có thể có hai loại : hiền tính, tiến triển chậm, hay ung thư, khó điều trị hơn. Trong hai trường hợp, chúng tiến triển, gây một sự thương tổn của não bộ. Nguy hiểm đáng sợ nhất là một tăng áp lực nôi sọ. Một gliome có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào và trong bất cứ vùng nào của não bộ. Ở trẻ em, đó là ung thư đặc thường xảy ra nhất.
Hỏi : Có nhiều loại gliome ?
BS Jacques Grill. Có khoảng 10 loại khác nhau tùy theo vị trí và loại những tế bào ác tính. Dạng nghiêm trọng nhất, tiến triển rất nhanh, đặc hiệu cho đứa trẻ, phát triển trong thân não ở những lứa tuổi từ 5 đến 6.
Hỏi : Những triệu chứng đầu tiên của những khối u ác tính này được thể hiện như thế nào ?
BS Jacques Grill. Những triệu chứng đặc trưng : những rối loạn bước và một chứng lé (strabisme) xuất hiện nhanh.
Hỏi : Hiện nay những điều trị là gì ?
BS Jacques Grill. Các gliome không mổ được bởi vì chúng thâm nhiễm mô não bộ. Cho đến nay, biện pháp điều trị duy nhất là quang liệu pháp (radiothérapie), nhưng không có kết quả tốt. Tất cả những thử nghiệm điều trị này để liên kết những điều trị khác hiệu quả hơn đã thất bại. Thất bại một phần do không biết quá trình sinh ung thư (cancérogenèse) của những khối u này.
Hỏi : Để có thể hiệu chính một điều trị, vậy phải phát hiện những cơ chế nguồn gốc của những ung thư này. Những công trình nào đã cho phép ông khám phá ?
BS Jacques Grill. Cùng với GS Stéphanie Puget trong kíp của GS Christian Sainte-Rose thuộc bệnh viện Necker-Enfants malades, chúng tôi đã phân tích một số lớn các sinh thiết của những khối u này, được thực hiện để xác lập chẩn đoán. Như thế để giải mã những loạn năng di truyền (dysfonctionnement génétique) đã làm phát khởi quá trình sinh ung thư. Trước đây các nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ đã thực hiện những thử nghiệm khác trên những khối u trẻ em nhưng chỉ sau khi chúng chết.
Hỏi : Những kết quả của các công trình nghiên cứu của ông là gì ?
BS Jacques Grill. Chúng tôi đã khám phá hai loại gène bất thường khác nhau (đã biến dị) gây nên sự tạo thành một gliome : một loại rất là ác tính bởi vì tăng sinh rất nhanh, còn loại kia rất là thâm nhiễm (infiltrant) nhưng tiến triển chậm hơn.
Hỏi : Từ sự khám phá này, những thử nghiệm điều trị đầu tiên là gì ?
BS Jacques Grill. Những công trình nghiên cứu này cũng cho phép khám phá những đích mới, nghĩa là vài thụ thể (cửa vào) của những tế bào khối u của gliome. Từ đó, chúng tôi đã hiệu chính những điều trị nhắm đích (traitement ciblé) hóa học liệu pháp, với những loại thuốc (hiện nay đang được phát triển cho người lớn) nhằm đặc hiệu những “ cửa vào ” của những tế bào ung thư. Sau đó, ở Viện Gustave-Roussy de Villejuif, kíp của chúng tôi đã thực hiện một công trình nghiên cứu với chuột mang những khối u người. Chúng tôi đã điều trị với một phóng xạ liệu pháp phối hợp với những loại thuốc nhắm đích (médicaments ciblés) này. Những kết quả đã tỏ ra đầy hứa hẹn : chúng tôi đã phong bế được tiến triển của gliome và làm cho nó biến mất.
Hỏi : Một thử nghiệm lâm sàng sẽ được bắt đầu vào năm nay cho khoảng một trăm trẻ em ở Pháp. Sau khi đã xác định profil di truyền đặc hiệu của khối u của chúng (bằng một sinh thiết), chúng tôi sẽ cho chúng một điều trị cá thể hóa (traitement personnalisé, sur mesure). Protocole sẽ phối hợp những buổi phóng xạ liệu pháp với hóa học liệu pháp (trong 1 năm). Những kiểm tra đều đặn bằng IRM sẽ cho phép theo dõi tiến triển của ung thư với protocole này. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành ở người lớn, với những thuốc mới này, đã cho thấy ít tác dụng phụ hơn so với những loại thuốc của một hóa học liệu pháp cổ điển. Điều này được giải thích bởi sự kiện là chúng làm biến đổi ít hơn nhiều những tế bào lành mạnh của cơ thể. Với kết quả này chúng tôi có một hy vọng to lớn có thể làm ngừng tiến triển của những gliome này ở trẻ em.
(PARIS MATCH 9/2 – 15/2/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(18/3/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s