Thời sự y học số 261 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ UNG THƯ VÚ : DI TRUYỀN HƯỚNG DẪN NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI.

Những ung thư thâm nhiễm (cancers infiltrants) hay “ in situ ”
+ Phần lớn các ung thư phát triển từ :
– những ống (canaux) (thu góp sữa)
– những tiểu thùy (sản xuất sữa)
+ Chúng có hai loại :
1.Những ung thư thâm nhiễm (cancers infiltrants)
– Những tế bào ung thư vượt quá thành của các ống hay các tiểu
thùy. Đó là ung thư thường gặp nhất.
– Sự phân tán có thể đến các hạch của nách, xương, phổi, gan
hay não.
Điều trị : Ngoại khoa, bức xạ liệu pháp, hóa học liệu pháp,
hormone liệu pháp, những điều trị nhắm đích.
2. Những ung thư trong ống (cancers intracanalaires) hay “ in situ ”
– Các tế bào vẫn ở bên trong các ống. Thường được khám phá
khi thăm dò hệ thống bằng chụp hình tuyến vú.
Điều trị tại chỗ : phẫu thuật và bức xạ liệu pháp có thể đủ.

CANCEROLOGIE. Mặc dầu ta còn khám phá 53.000 ung thư vú mỗi năm (một con số gần ổn định từ năm 2006), nhưng tỷ lệ tử vong trung bình giảm 1,3% mỗi năm. “ Mới cách nay vài năm, chiến lược là “ đánh ” mạnh. Ngày nay, ta tìm cách chỉ hạn chế vào cái tối cần thiết. Điều này khả dĩ là nhờ một kiến thức tốt hơn về profil di truyền của các khối u và do đó mức độ ác tính của chúng, một lãnh vực đang phát triển, GS Marc Espié, giám đốc của Trung tâm các bệnh của vú (hopital Saint-Louis, Paris) đã giải thích như vậy.
Một thí dụ : các nhà nghiên cứu Pháp của Inserm 735 (laboratoire d’oncogétique của Viện Curie) vừa cho thấy rằng để tách ra khỏi ung thư ban đầu, các tế bào ung thư phải chịu những biến dị. Thí dụ chúng bắt đầu biểu hiện một gène được mệnh danh là “ kindlin-1 ”, chỉ huy sự chế tạo một protéine cùng tên có khả năng “ bóc ” những tế bào ung thư để tìm cách trốn thoát : một điều kiện tiên quyết cần thiết để chúng di căn đến phổi. Như thế, một tỷ lệ cao một cách bất thường protéine Kindlin-1 trong lòng ung thư vú nguyên phát được liên kết với một nguy cơ gia tăng di căn vào phổi. Do đó sự định lượng chất chỉ dấu này là một phương tiện tốt để đánh giá mức độ nguy cơ di căn phổi ngay trước khi sự di căn này thành hình. Và tin vui, đó là những chất chỉ dấu có khả năng mang lại những thông tin vừa quý giá lại vừa nhiều : “ Vài chất chỉ dấu được khám phá, những chất khác sắp được khám phá, do đó các ung thư vú sẽ để lộ profil di truyền của chúng trong 5 đến 10 năm đến ”, GS Espié đã xác nhận như vậy.
NGHIÊN CỨU CÁC ĐIỀU TRỊ
Những tiến bộ trong việc phân biệt giữa các khối u hơi, nhiều hay không hung dữ có những ảnh hưởng đối với điều trị. “ Trước một ung thư dưới 3 cm được đánh giá ít hung dữ, ta chỉ lấy ra hạch đầu tiên khả dĩ bị ảnh hưởng, chứ không phải toàn bộ chuỗi hạch. Như thế ta hạn chế các nguy cơ đau và phù canh tay (lymphoedème) trong thời kỳ hậu phẫu, GS Espié nói tiếp như vậy. Có người lại còn đi xa hơn khi đề nghị ngoại khoa càng bảo tồn càng tốt, đối với những khối u dưới 5 cm.”
Ngay cả “ xuống thang ” điều trị (desescalade thérapeutique) với quang tuyến liệu pháp (radiothérapie), mà từ nay ta đề nghị các phụ nữ trên 65 tuổi có một khối u dưới 2 cm và tiên lượng tốt, thực hiện quang tuyến liệu pháp chỉ một buổi trong lúc phẫu thuật, thay vì nhiều buổi sau khi mổ. “ Ở Hoa Kỳ, các phụ nữ đôi khi phải đi một chặng đường đến 300km để được thực hiện một buổi quang tuyến liệu pháp. Nhưng ở Pháp, là nơi ta có thể hưởng được những buổi bức xạ không quá khó khăn, nhung kỹ thuật này phát triển ít nhanh hơn bởi vì ta thích chờ đợi để được chắc chắn về tính hiệu quả của nó và xác định những phụ nữ nào có thể hưởng được điều trị này.”
Mặc dầu “ xuống thang ” điều trị là con đường tương lai (với điều kiện được thực hiện với tất cả những bằng cớ khoa học cần thiết), nhưng điều này không ngăn cản tìm kiếm những điều trị mới. “ Ta không chờ đợi một cuộc đại cách mạng, nhưng những bước tiến bộ nhỏ, diễn ra mỗi ngày ”, GS Espié đã nhấn mạnh như vậy. Thí dụ trong kích thích tố trị liệu (hormonothérapie), sau khi xuất hiện các thuốc kháng œstrogène thuần chất dành cho các phụ nữ mãn kinh bị một ung thư vú di căn, từ nay ta mong chờ các antisulfatases : đó là những loại thuốc ngăn cản khối u sử dụng những dự trữ œstrogène sulfaté của cơ thể để lớn lên.
“ Sau cùng, hóa học liệu pháp chẳng thua kém gì và lại nữa ở đây tương lai thuộc về sự cá thể hóa (individualisation) và liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée), được gọi như thế bởi vì chúng nhắm vào một protéine hay một thụ thể đặc hiệu của tế bào ung thư mà ta không tìm thấy (hay gần như không) trên những tế bào lành mạnh ”, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa (bệnh viện Port- Royal, Paris) đã giải thích như vậy. So với hóa học liệu pháp cổ điển hủy diệt tất cả những tế bào đang phân chia (những tế bào ung thư cũng như những tế bào lành mạnh), liệu pháp nhắm đích chỉ đụng đến những tế bào ung thư. Và tin vui, đó là hàng ngũ của chúng không ngừng lớn lên : sau Herceptin, TyKerb, chef de file của những điều trị có khả năng phong bế những yếu tố tăng trưởng của những tế bào ung thư, cũng như Avastin có tác dụng ngăn cản những mạch máu mới được tạo thành để nuôi dưỡng khối u, nhiều loại thuốc khác đang được phát triển và được chờ đợi trong 2 đến 5 năm đến.
“ Càng có nhiều kết hợp điều trị, ta càng có thể hy vọng rằng số các phụ nữ đáp ứng gia tăng. Chỉ có điều : ta còn thiếu những yếu tố tiên đoán để biết những phụ nữ nào có cơ may đáp ứng hay không với những phối hợp thuốc này ”, GS Espié đã nhấn mạnh như vậy. Vậy điều chủ yếu là công tác nghiên cứu cơ bản có thể được tiếp tục để trả lời những câu hỏi đang còn chưa ngã ngủ này.
(LE FIGARO 27/2/2012)

2/ UNG THƯ VÚ : ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN, COI CHỪNG NHỮNG CUỘC TRANH LUẬN LỆCH LẠC
Ung thư vú là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ. Đối với đại đa số các phụ nữ, nếu không có nguy cơ gì đặc biệt, sự điều tra phát hiện được giới hạn ở lứa tuổi 50-74 tuổi. Đối với lứa tuổi này, được khuyến nghị mỗi 2 năm một chụp tuyến vú nhằm phát hiện (mammographie de dépistage), với double lecture để hạn chế những nguy cơ bỏ qua một thương tổn nhỏ. “ Nhờ biện pháp này, các thầy thuốc đã thành công làm giảm nguy cơ tử vong đối với ung thư vú, khoảng 10% so với các phụ nữ không chịu điều tra phát hiện chuẩn.Vậy không có lý do xét lại công tác phát hiện này và những kẻ hiện nay làm như vậy phải nhận lấy nguy cơ đối với mạng sống của các phụ nữ. Thật vậy, những người chống đối căn cứ trên sự kiện là chụp hình ảnh tuyến vú kèm theo một nguy cơ chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) và do đó một tỷ lệ nhỏ các phụ nữ bị điều trị nhầm. Quả đúng như vậy. Nhưng điều gì là tệ hại nhất ? Sợ một ung thư vú để cuối cùng nhận thấy rằng không phải như vậy hay để tiến triển một ung thư thật sự và lấy đi ở một phụ nữ nhưng cơ may được điều trị đúng lúc ? ”, GS Espié (bệnh viện Saint-Louis, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Vậy không nên tranh luận lệch lạc. Và nhất là việc tự ấn chẩn (autopalpation) vú trong bất cứ trường hợp nào cũng không thể thay thế chụp tuyến vú. Ngược lại, được thực hiện bổ sung, tại sao không, với điều kiện thực hiện điều đó trong điều kiện tốt, với bàn tay được đặt thật nằm, trước một tấm gương soi và được soi sáng tốt nhằm phát hiện một cục u, dấu hiệu sửa hay máu chảy từ núm vú, một sự biến dạng của hình dạng của vú, sự co rút của một núm vú, một cái vú mà da có vẻ nhăn nheo…
MỘT THĂM DÒ CHUẨN.
Trước 49 tuổi, sự tranh cãi càng ngày càng mạnh mẽ. Ngoài ra, vài nước như Canada đã bỏ mọi ý nghĩ thực hiện chụp tuyến vú bởi vì các công trình nghiên cứu không báo cáo một cải thiện về tỷ lệ sống còn trong trường hợp thực hiện điều tra phát hiện sớm. Không có một sự nhất trí nào đối với những phụ nữ trẻ này, ngoại trừ khi nguy cơ được cho là cao, vì lẽ những tiền căn gia đình ở những người thân thuộc thuộc thế hệ thứ nhất đã bị một ung thư vú trước 50 tuổi. Chỉ trong trường hợp này, việc phát hiện dựa trên sự tìm kiếm biến dị di truyền gây ung thư (BRCA1 hay BRCA2) và trên một chụp tuyến vú hàng năm với IRM (hiệu năng hơn), mà không phải chờ đợi đến ngưỡng 50 tuổi ”, BS Joelle Bensimhon (bệnh viện Port-Royal, Paris) đã giải thích như vậy.
Đối với những phụ nữ khác, các thầy thuốc phụ khoa sẵn lòng kê đơn chụp tuyến vú phát hiện (mammographie de dépistage) với tính cách cá nhân, nhằm có một thăm dò quy chiếu (un examen de référence) (để dùng so sánh sau này trong trường hợp tìm thấy thương tổn).“ Vài người lo ngại nhiều tác dụng có hại của các tia X lên các tế bào tuyến vú còn đang trong thời kỳ hoạt động (và do đó dễ bị thương tổn hơn), BS Bensimhon đã nói tiếp như vậy, nhưng có một sự khác nhau giữa việc chịu một chụp hình tuyến vú quy chiếu và việc lập lại thường xuyên thăm dò này mà không có lý do chính đáng.” Ý kiến này được tán đồng bởi GS Espié. Ngoài ra ông cũng cho rằng “ sau 74 tuổi, vì lẽ hy vọng sống của các phụ nữ gia tăng, nên việc ngừng một cách hệ thống các chụp hình ảnh tuyến vú cũng không hợp lý. Không nên có một ý kiến dứt khoát như vậy mà phải lý luận tùy theo từng trường hợp. Sau hết chú y đừng xem các nước Anh Mỹ như là mô hình tuyệt đối vì vấn đề không giống với chúng ta (Pháp) do việc cung ứng điều trị rất khác nhau.
(LE FIGARO 27/2/2012)

3/ TẠI SAO UNG THƯ VÚ ĐÃ GIA TĂNG NHƯ VẬY TRONG NHỮNG NĂM QUA ?
Françoise-Clavel-Chapelon
Directrice de recherche
Equipe Inserm Nutrition, hormones et santé des femmes
Hopital Paul-Brousse (Villejuif)

Trong phần lớn các nước công nghiệp hóa, ung thư vú đứng hàng đầu các ung thư của phụ nữ. Ở Pháp, số những trường hợp mới ung thư vú được chẩn đoán mỗi năm đã tăng hơn gấp đôi trong 20 năm, chuyển từ 20.000 năm 1980 lên gần 50.000 năm 2005. Nhưng đồng thời, nhiều công trình, ở Pháp và nơi khác, đã báo cáo một sự hạ mới đây tỷ lệ mắc bệnh (hay tỷ lệ xuất hiện những trường hợp mới) của ung thư vú.
Thật khó mà hiểu được. Các tham số khác nhau có thể giải thích những sự biến thiên này : ta thử điểm lại tình hình.
Yếu tố đầu tiên cần xét đến là sự tiến triển của dân số. Dân Pháp đang già đi, thế mà tuổi tác là yếu tố nguy cơ chính phát triển một ung thư vú. Sau khi loại bỏ sự lão hóa, tỷ lệ mắc bệnh dầu sao cũng cho thấy một sự gia tăng 79% giữa năm 1980 và 2005. Ta ghi nhận một khuynh hướng đảo ngược xuất hiện trong những năm qua.
Yếu tố thứ hai : công tác phát hiện (dépistage). Việc đẩy mạnh công tác điều tra phát hiện từ những năm 1990 đã dẫn đến một cách không tránh khỏi sự gia tăng những trường hợp ung thư : ta càng tìm kiếm ta càng tìm thấy. Câu hỏi thật sự là biết loại ung thư nào được chẩn đoán như vậy. Bởi vì đó có thể là những ung thư vú có thể thấy được trên các hình chụp tuyến vú càng ngày càng hiệu năng, nhưng nếu không chụp thì không thấy và vẫn tiềm tàng như thế không tiến triển. Nhiều tiếng nói cất lên để lấy làm tiếc rằng ta làm cho các phụ nữ lo lắng không đúng khi phát động chiến dịch điều tra phát hiện bằng chụp tuyến vú một cách hệ thống. Nhưng làm sao ta có thể phân biệt những ung thư sẽ vẫn tiềm tàng không tiến triển với những ung thư khả dĩ tiến triển một cách nhanh chóng ?
Điểm cuối cùng, tiến triển của vài yếu tố nguy cơ. Vài yếu tố làm gia tăng nguy cơ ung thư vú tiến triển trong chiều hướng xấu, dầu đó là sự giảm tuổi dậy thì, sự gia tăng tuổi lúc có thai lần đầu hay sự giảm số các con. Nhưng những yếu tố này có một tác động rất thấp để giải thích toàn bộ tiến triển của số các ung thư vú. Ngược lại, sự bùng nổ trong việc sử dụng những điều trị bằng hormone đối với chứng mãn kinh, càng ngày càng được kê đơn từ những năm 1980, đã khiến ta đặt nghi vấn về trách nhiệm của những loại thuốc hormone trong “ trận dịch ” ung thư vú này. Từ nay các nhà dịch tễ học đều nhất trí rằng những điều trị bằng hormone đã chịu trách nhiệm trong những năm qua từ 10% đến 25% các trường hợp ung thư vú, mặc dầu vài điều trị (œstrogène đơn độc hay kết hợp với progestérone hay với dydrogestérone) có lẽ ít gây hại hơn những điều trị khác. Ủng hộ cho giả thuyết này là sự kiện rằng ung thư vú dường như giảm từ năm 2004 (thời hạn gần hai năm) tương ứng với thời điểm công bố một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ về các điều trị bằng hormone chứng mãn kinh, phát hiện một cán cân âm tính giữa lợi ích và nguy cơ.
Công trình nghiên cứu này, rất được phổ biến rộng rãi, đã khiến Afssaps (Agence française de sécurité sanitaire des produits de santé) khuyến nghị các thầy thuốc hạn chế việc kê đơn hormone vào những tình huống rất xác định, khởi đầu điều trị với liều tối thiểu có hiệu quả và trong một thời gian ngắn chừng nào tốt chừng đó. Một sự giảm rất nhiều các đơn thuốc và một một sự sụt “ thị trường bệnh mãn kinh ” đã tiếp theo sau những khuyến nghị này. Vậy có vẻ như là những dao động của thị trường này là liên kết khá chặt chẽ với những biến thiên của tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú (gia tăng rồi giảm), và rằng ta có thể dự kiến thấy tỷ lệ tiếp tục hạ song song với việc bỏ những điều trị này.
(LE FIGARO 3/5/2010)

4/ CÓ NÊN HỦY BỎ CÔNG TÁC PHÁT HIỆN CÓ TÔ CHỨC CỦA UNG THƯ VÚ ?
Professeur Jacques Rouessé
Cancérologue
Membre de l’Académie nationale de médecine

Công tác phát hiện của ung thư vú bị đặt lại vấn đề với lý do trong vài trường hợp có một sự chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) đưa đến những thăm dò nặng nề không được biện minh, thậm chí một điều trị quá mức (surtraitement).
PHÁT HIỆN VÀ CHẨN ĐOÁN : ĐỪNG LẦN LỘN. Sự phát hiện được đề nghị đối với những người có sức khoẻ tốt, không có triệu chứng gì hết và không có tiền sử nguy cơ cá nhân hay gia đình : chẩn đoán là một bước phát xuất từ bệnh nhân, chứng thực một bất thường như cảm nhận một “ boule ”, và khiến đi khám bác sĩ. Nhờ được phát hiện, được đã thông sớm hơn, do đó bệnh nhân sẽ sống sớm hơn với ung thư của mình, điều này có thể gây nhiều lo âu hơn, nhưng bệnh nhân sẽ được điều trị sớm hơn, điều này mặc dầu mang lại những tổn phí phụ trước mắt, nhưng bệnh nhân giành được những cơ may quý báo về lâu về dài.
NHỮNG CON SỐ KHÔNG CHỐI CÃI ĐƯỢC. Việc điều tra phát hiện ung thư vú làm giảm 30% tỷ lệ tử vong do ung thư này. Tất cả các công trình nghiên cứu cho thấy rằng, một ung thư càng nhỏ, thì điều trị nó càng hiệu quả hơn và điều trị ít gây thương tổn hơn. Thật vậy, lý tưởng là phát hiện và điều trị những tình trạng tiền ung thư trong đó những tế bào, mặc dầu đã ung thư, nhưng chưa có khuynh hướng phân tán.
NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CHÍNH XÁC. Chỉ có những phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi mới bị liên hệ bởi công tác điều tra phát hiện. Trước lứa tuổi này, việc điều tra phát hiện dẫu đại trà, ngay cả giữa 40 và 50 tuổi, vẫn không làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú, có lẽ bởi vì vú có mật độ lớn hơn trước thời kỳ mãn kinh. Sau 74 tuổi, dépistage phát hiện những ung thư sẽ không bao giờ phát triển, hay những ung thư có thể điều trị mặc dầu muộn, vì lẽ chúng tiến triển chậm. Thí dụ ta thường tìm thấy những ung thư nhỏ nhân giải phẫu tử thi trên những người rất già.
NHIỀU LỢI ÍCH HƠN NGUY CƠ. Vài phụ nữ được phát hiện sẽ buộc thực hiện những thăm dò và những điều trị thậm chí ngoại khoa, để chẳng được gì ; ngược lại những phụ nữ khác được trấn an một cách lầm lẩn, những sai lầm xảy đến cho 5 phụ nữ trên 10.000. Không chối cãi thảm cảnh cá nhân mà điều đó có thể gây nên, nhưng đó có phải là một lý do đủ để xét lại lợi ích vả lại không thể tranh cãi được của công tác điều tra phát hiện ở một số lượng bệnh nhất lớn nhất ? Còn về những tác dụng phụ, cũng phải tương đối hóa chúng. Nguy cơ chịu một thăm khám “ gây thương tổn ” (traumatisant) như một sinh thiết ngoại khoa đã giảm một cách đáng kể. Cũng vậy, không những không có sự bùng nổ của những trận dịch cắt bỏ tuyến vú (épidémies de mastectomie), mà ta còn quan sát thấy một tình hình ổn định, thậm chí một sự giảm các phẫu thuật nặng nề này ở những phụ nữ từ 50 đến 74 tuổi, mặc dầu trong khi đó số các phụ nữ đã tiến triển 5,5% trong lứa tuổi này vào cùng thời kỳ. Còn nguy cơ bị phóng xạ, điều đó không đáng kể, bởi vì những mammographie de dépistage chỉ phát ra một liều bức xạ thấp, và tác dụng tích lũy của chúng trong suốt một cuộc đời là không nguy hiểm. Sau cùng, nếu quả đúng là tỷ lệ tử vong đã hạ trước khi công tác điều tra phát hiện được phổ biến, ở Pháp cũng như trong toàn thể các nước phương Tây, đó là nhờ sự tiến triển của các kỹ thuật điều tra phát hiện mà từ nay ta có thể phát hiện những khối u, do kích thước bé nhỏ, đáng lý ra thoát khỏi thăm khám lâm sàng cách nay 20 năm, với một mối lợi đáng kể hy vọng được chữa lành, bảo tồn tuyến vú và làm nhẹ những điều trị bổ sung.
CHẨN ĐOÁN QUÁ MỨC LÀ KHÔNG THỂ TRÁNH ĐƯỢC. Chẩn đoán quá mức (surdiagnostic) tương ứng với sự phát hiện, sau một dépistage, những ung thư không tiến triển hay không phát ra lúc bệnh nhân còn sống. Vì không thể phân biệt trong số những ung thư vú, những ung thư sẽ tiến triển hay không, nên tất cả những ung thư được chẩn đoán đều được điều trị, do đó một tỷ lệ không tránh được những phụ nữ bị điều trị quá mức (surtraité).
CÔNG TÁC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN LÀ CẦN THIẾT. Mặc dầu, công tác điều tra phát hiện không phải là không bất tiện, nhưng thay vì làm nản lòng 20% những phụ nữ chưa được điều tra phát hiện chút nào, há không phải tốt hơn thử tìm những giải pháp ? Trong những trường hợp nào “ marquage ” khối u chỉ với phân tích máu có thể đủ ? Những đối tượng nào được nhắm đến ? Sự điều tra phát hiện theo nhịp độ nào ? Tại sao không đặt ưu tiên vào việc tìm kiếm những yếu tố nguy cơ khi biết rằng, ví dụ, việc giảm những điều trị bằng hormone thay thế đã dẫn đến một sự sụt tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú ở những phụ nữ trẻ tuổi nhất ? Tuy nhiên, không ai có thể chối cãi những lợi ích của công tác điều tra phát hiện. Phần lớn các phụ nữ đều theo công tác này, nhưng họ đã học chú ý mà không bị ám ảnh. Công tác điều tra phát hiện cũng đã cải thiện một cách đáng kể những thực hành và những dụng cụ chụp tuyến vú, điều này làm dễ sự thu thập những dữ kiện quý báu về phòng ngừa và điều trị. Sau cùng đừng quên rằng ung thư vú là một trong ung thư duy nhất có thể được phát hiện. Đó là một cơ may, tại sao từ chối ?
(LE FIGARO 19/12/2012)

5/ NHỮNG KHUYẾT TẬT ĐƯỢC DẤU KỸ CỦA CÁC KHỚP HÁNG GIẢ
Nhà chế tạo DePuy đã chậm trễ rút ra khỏi thị trường những implant thiếu sót.
SANTE PUBLIQUE. Sau các implant vú PIP, tiếp tục série noire của các prothèse thiếu sót. Vào tháng 7 năm 2010, dưới áp lực của giới hữu trách y tế Pháp, Johnson&Johnson buộc phải rút ra khỏi thị trường Pháp một trong những modèle de prothèse của khớp háng (ASR). Một năm sau sự cấm chỉ của Hoa Kỳ xảy ra năm 2009. Vậy trong khoảng thời gian này, các bệnh nhân Pháp đã tiếp tục nhận loại implant được đánh giá là có vấn đề ở Hoa Kỳ và Úc. Một vụ việc làm phát động trở lại vấn đề về một sự điều hòa quốc tế tốt hơn đối với những thiết bị y khoa.
Vụ tai tiếng của các prothèse ASR sẽ hầu như bỏ qua không ai biết nếu công ty khổng lồ của Mỹ Johnson&Johnson tháng qua đã không dự phòng 3 tỉ dollar để dự kiến cho những vụ kiện sắp đến. Được chế tạo bởi đơn vị chỉnh hình DePuy, và được thương mãi hóa từ tháng 7 năm 2003 đến tháng 8 năm 2010, những khớp háng giả này đã gây nên một tỷ lệ mổ lại cao một cách bất thường. Chúng cũng gây nên sự phóng thích của các hạt kim loại (particules métalliques) vào trong xương và máu của các bệnh nhân : một hiện tượng mà ta chưa biết những hậu quả tổng quát về lâu về dài đối với sức khỏe. Ở khớp háng, kim loại được phóng thích có thể gây nên một phản ứng tăng nhạy cảm hiếm (3 trường hợp trên 10.000), được biểu hiện bởi đau, tràn dịch khớp và một sự biến đổi xương bao quanh prothèse.
Nhưng chủ yếu, lịch sử của prothèse khuyết tật này, được đặt cho “ khoảng 380 người ở Pháp ” theo nhà chế tạo, và 93.000 người trên thế giới, tiết lộ rằng nhà chế tạo Mỹ đã làm tất cả để giữ nó trên thị trường mặc dầu những tín hiệu đáng lo ngại. Vào tháng 7 năm 2010, DePuy Orthopaedics, gởi một bức thư cho các bệnh viện và các clinique Pháp, vốn đã được đặt những prothèse khớp háng loại ASR, để yêu cầu họ đừng đặt nữa. Nhà chế tạo đưa ra một tỷ lệ kiểm tra lại quan trọng và tương đối hóa lời loan báo : “ Không có một hành động đặc biệt nào được khuyến nghị ngoài việc theo dõi lâm sàng chuẩn khi không có những triệu chứng như đau hậu phẫu, viêm, khó chịu đặc biệt ở bệnh nhân.”
Hai tháng sau, đổi giọng, một văn thư mới của hãng yêu cầu thực hiện một loạt các thăm dò bổ sung nhất là đối với những bệnh nhân có các triệu chứng. Và không phải là những thăm dò thường quy ! Thí dụ, phải “ dự kiến định lượng máu những ion cobalt và chrome ”, ngoài một kiểm tra “ bằng IRM hay scanner ”, vì X quang cổ điển không đủ.
GIẢM THIỂU NHỮNG NGUY CƠ.
Lần này, trong một văn thư đề ngày 27 tháng 8 năm 2010, DePuy loan báo rằng theo registre français des prothèses, 12 đến 13% những prothèse này cần được mổ lại trong 5 năm sau khi được đặt. Hoặc ít nhất gấp đôi tỷ lệ những prothèse métal-métal khác. Hãng cũng báo rằng “ nếu IRM hay scanner phát hiện một phản ứng hay những khối u, khi đó việc kiểm tra lại phải được xét đến ”. Nói một cách khác là phải thay prothèse. Hai tháng trước đó, nhà chế tạo đã loan báo rằng 5 trường hợp kiểm tra lại đã được báo cáo cho hãng trên một tổng số 379 prothèse đã được đặt. Một cách chính thức, chính những dữ kiện của Anh đã là động cơ cho một văn thư mới ngày 27/8/2010, rõ rệt đáng hãi hùng hơn. Thực vậy, ngày 22/8/2010, Medicines and Healthcare Products Regulatory Agency của Anh đã yêu cầu thực hiện các IRM và scanner hãy định lượng các ion kim loại. Có phải là người ta cố giảm thiểu những nguy cơ tiềm tàng của các prothèse ASR ?
Ngay năm 2007, Úc đã lần dâu tiên báo động khi các chuyên gia đưa ra một tỷ lệ mổ lại cao một cách bất thường đối với các prothèse ASR. Tức thời DePuy viện lý là các prothèse không được các thầy thuốc ngoại khoa đặt đúng và đề nghị đào tạo họ tốt hơn. Nhưng những con số vẫn không thay đổi và một đánh giá mới của registre national buộc DePuy rút các prothèse ASR ra khỏi thị trường Úc vào tháng 12 năm 2009. Cùng năm, vào tháng 8, FDA gởi một văn thư mật không tán đồng các prothèse ASR của Depuy. Hãng thấy tốt hơn rút ra khỏi thị trường Hoa Kỳ.
Mặc dầu những báo động không được hay biết ở Pháp và châu Âu, Johnson&Johnson đã tiếp tục bán các prothèse hoàn toàn hợp pháp cho đến mùa hè 2010. Theo DePuy, tổng số những bệnh nhân đã nhận một prothèse loại ASR ở châu Âu khoảng 40.000 trong 7 năm, nhưng ta chưa biết số lượng bao nhiêu đã được đặt năm 2010, sau khi bị rút ra khỏi thị trường Úc và bị từ chối ở Hoa Kỳ.
(LE FIGARO 28/2/2012)

6/ THUỐC NGỦ LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ TỬ VONG.

Điểm chủ yếu
– Một công trình nghiên cứu dịch tễ học Hoa Kỳ cho thấy một mối liên hệ giữa việc tiêu thụ thuốc ngủ và nguy cơ tử vong gia tăng.
– Nguy cơ ung thư cũng bị liên hệ.

Vài thuốc ngủ thường được kê đơn được liên kết với một nguy cơ gây tử vong sớm hơn gấp 4 lần và điều này ngay cả ở những người chỉ tiêu thụ vài viên mỗi năm !
Thông tin này, được công bố bởi British Medical Journal, đăng lại một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ về chủ đề này, thổi lên một luồng gió lạnh. Việc tiêu thụ các thuốc ngủ và những thuốc an thần khác đang gia tăng liên tục bên kia bờ đại tây dương, cũng như ở Bỉ.
“ Các kết quả của công trình nghiên cứu của chúng tôi là rõ ràng. Chúng cho thấy rằng các thuốc ngủ là nguy hiểm đối với sức khỏe và rằng chúng có thể gây tử vong do góp phần vào sự xảy ra thường hơn một ung thư hay nhất là những bệnh tim ”, BS Daniel Kripke, thuộc Centre du sommeil của Đại Học Scripps (Californie) đã chỉ rõ như vậy.
Công trình nghiên cứu này là công trình đầu tiên cho thấy rằng 8 trong số những loại thuốc thường được sử dụng nhất như témazépam (benzodiazépines), các thuốc không phải benzodiazépines như zolpidem hay zopiclone, các barbituriques và các antihistaminiques được dùng làm thuốc an thần có hậu quả tai hại này.
“ Tuy nhiên, hãy lưu ý, BS Samuel Leistedt, thầy thuốc chuyên khoa tâm thần thuộc bệnh viện Erasme (ULB) đã xác nhận như vậy. Công trình nghiên cứu này là một công trình nghiên cứu quan sát (étude observationnelle). Nó căn cứ trên những quan sát dịch tễ học. Ngoài ra các tác giả giải thích rất tốt và áp dụng tất cả những biện pháp thận trọng đối với vấn đề này. Họ đã liệt kê những bệnh nhân sử dụng hay không các thuốc ngủ và rút ra những kết luận, nhưng họ đã không trắc nghiệm khả năng gây chết người của những thuốc ngủ được nói đến. Họ chỉ xác nhận mối liên hệ giữa các bệnh nhân và những loại thuốc này. ”
Daniel Kripke và đồng nghiệp Robert Langer, thuộc Trung tâm y khoa phòng ngừa Jackson Hole, Wyoming, đã nghiên cứu tiến triển về sức khỏe của 10.500 người được kê đơn thuốc ngủ trong một thời gian trung bình hai năm rưỡi, trong thời kỳ từ 2002 đến 2007. Họ đã đặt tương quan những dữ kiện này với tiến triển của cuộc sống của 23.500 người Mỹ khác nhưng đã không bao giờ dùng thuốc ngủ trong thời kỳ này.
Dĩ nhiên, trước khi đưa ra những con số, các nhà nghiên cứu đã cân nhắc những kết quả của các công trình nghiên cứu của họ tùy theo một số các tham số có thể giải thích những nguy cơ gia tăng này ở những người tiêu thụ thuốc ngủ : tuổi tác, thể trọng, lối sống, các tiền căn y khoa, giới tính, chứng nghiện thuốc lá,…
NGUY CƠ TĂNG GẤP 5.
Theo công trình nghiên cứu của họ, những bệnh nhân được kê đơn đến 18 liều thuốc ngủ mỗi năm có khả năng chết 3 lần nhiều hơn so với những người không dùng thuốc. Ở những người đã dùng 18 đến 132 liều, nguy cơ là 4 lần quan trọng hơn và lên 5 lần đối với những người tiêu thụ hơn 132 liều thuốc ngủ mỗi năm.
“ Thí dụ chúng ta đã thấy rằng có 265 trường hợp tử vong ở 4.336 người dùng zolpidem so với 295 trường hợp ở 23.671 người đã không dùng những thuốc an thần hay những thuốc ngủ ”, các tác giả đã xác nhận như vậy.
Những người dùng nhiều liều nhất cũng có nguy cơ hơn phát triển nhiều loại ung thư.
Đối với BS Groves Trish, tổng biên tập của BMJ, kết luận được rút ra từ những công trình nghiên cứu này là “ mặc dầu các tác giả đã không có thể chứng tỏ rằng các thuốc ngủ gây nên một sự chết sớm, nhưng những phân tích của họ đã loại trừ một loạt những yếu tố khả dĩ khác. Vậy những kết quả này nêu lên những câu hỏi quan trọng về sự an toàn của các thuốc an thần và các thuốc ngủ. ”
(LE SOIR 28/2/2012)

7/ ÁNH SÁNG LIỆU PHÁP (LUMINOTHERAPIE) : MỘT GIẢI PHÁP CHỐNG LẠI BỆNH TRẦM CẢM XẢY RA THEO MÙA (DEPRESSION SAISONNIERE)
Docteur Claude Gronfier
Chargé de recherche Inserm le département de chronologie de l’unité 846 à Lyon-Bron

Luminothérapie đã được đánh giá trong một số quan trọng những công trình nghiên cứu lâm sàng. Tính hiệu quả của nó trong điều trị những rối loạn chu kỳ 24 giờ của giấc ngủ và những rối loạn cảm xúc theo mùa (trouble affectif saisonnier) (thường được gọi là bệnh trầm cảm theo mùa : dépression saisonnière) được quốc tế công nhận và không còn bị đặt lại vấn đề nữa.
Ủy ban quốc tế đánh giá chronothérapie, được lập thành bởi International Society for Affective Disorders, năm 2005 đã đưa ra một báo cáo về việc sử dụng luminothérapie trong các rối loạn xúc cảm theo mùa. Bảng báo cáo này dựa vào phân tích toàn bộ những công trình nghiên cứu lâm sàng được thực hiện từ năm 1966 và đã sử dụng luminothérapie. Ủy ban đã kết luận rằng luminothérapie hiệu quả không chỉ trong bệnh trầm cảm theo mùa, mà còn trong những chứng trầm cảm trước kinh kỳ (dépression prémenstruelle), trầm cảm của thai nghén, của boulimie nerveuse, và trong vài bệnh trầm cảm mãn tính đề kháng với các loại thuốc. Một công trình nghiên cứu nhiều trung tâm năm 2006 cho thấy rằng luminothérapie có một đáp ứng nhanh hơn, những tác dụng phụ ít hơn và một tính hiệu quả tương đương với tính hiệu quả của một thuốc chống trầm cảm được sử dụng rộng rãi ngày nay.
Xét đến toàn bộ những công trình nghiên cứu này, luminothérapie được khuyến nghị ở quy mô quốc tế như là điều trị lựa chọn của rối loạn cảm xúc theo mùa. Điều trị y khoa này phải được thực hiện một cách có ý thức, tính đến những chống chỉ định được biết, được tiến hành một cách chính xác và phải được theo dõi. Trong tình hình hiện nay của các kiến thức và những công cụ có sẵn, việc thực hiện điều trị này phải dành cho những thầy thuốc chuyên khoa về phương pháp này.
Những khuyến nghị hiện nay là một tiếp xúc mỗi ngày với một ánh sáng có cường độ mạnh (10.000 lux), vào buổi sáng, vào một giờ phải được thích ứng với bệnh nhân, trong thời gian 30 phút, kéo dài 3-5 tuần. Luminothérapie có thể được thực hiện trong những centre du sommeil hay ở nhà. Nhất thiết điều trị phải được theo một cách chính xác.
Mặc dầu tính hiệu quả không thể tranh cãi của luminothérapie và việc sử dụng thông thường ở Hoa Kỳ, ở Canada và trong phần lớn các nước châu Âu, luminothérapie chưa được phổ biến ở Pháp, bởi vì chronobiologie (sinh thời học) và những nguyên tắc mà luminothérapie dựa vào không được giảng dạy trong giáo trình y khoa
Nguyên nhân của bệnh lý này không được biết rõ. Những giả thuyết hiện nay hàm ý một sự loạn năng của đồng hồ ngày đêm (horlogie circadienne), chịu trách nhiệm những rối loạn sinh học của cơ thể. Vào mùa đông, sự giảm cường độ ánh sáng, ngày bị rút ngắn lại và mặt trời dậy muộn chịu trách nhiệm sự chậm lại của đồng hồ được quan sát thấy ở những bệnh nhân này.
ĐỒNG HỒ SINH HỌC
Những công trình nghiên cứu mới đây cho thấy một sự giảm tính nhạy cảm đối với ánh sáng ở những người trầm cảm theo mùa, có lẽ do tính đa dạng (polymorphisme) của một gàne có liên quan trong sự đồng bộ hóa (synchronisation) của đồng hồ bởi ánh sáng. Những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng ánh sáng tác dụng bằng cách kích thích các quang thụ thể (photorécepteur) đặc hiệu của võng mạc, và sự hoạt hóa những cấu trúc não có liên quan trong sự điều hòa các nhịp sinh học và tính khí. Chính tác dụng sinh thần kinh (effet neurobiologique) của ánh sáng, do tiết các chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ, giải thích tính hiệu quả của luminothérapie.
Những nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm của chúng tôi quan tâm đến những cơ chế qua đó ánh sáng kích thích đồng hồ sinh học và những câu trúc khác không phải thị giác của não bộ (thức tỉnh, giấc ngủ, hệ tim mạch, nhiệt độ…). Những kết quả của chúng tôi cho thấy rằng những điều trị bằng ánh sáng có thể ngắn hơn và hiệu quả hơn.
(LE FIGARO 14/3/2011)

8/ U XƠ TỬ CUNG CÓ THỂ ĐƯỢC CHỮA LÀNH KHÔNG CẦN PHẢI MỔ

Điểm chủ yếu
– U xơ tử cung có thể gây xuất huyết kinh nguyệt dồi dào, buồn đi tiểu thường xuyên và vô sinh.
– Đã có ít giải pháp thay thế phẫu thuật.
– Một loại thuốc mới được trắc nghiệm ở Bỉ làm thuyên giảm 9 phụ nữ trên 10 trong 13 tuần và giảm việc nhờ đến phẫu thuật.

Thật hơi nghịch lý : “ hôm nay, với tư cách là thầy thuốc ngoại khoa, tôi phải tiến hành mỗi tuần tối thiểu khoảng 6 phẫu thuật cắt bỏ tử cung vì u xơ, thế mà hôm nay tôi lại công bố một bài báo đưa bằng cớ rằng một điều trị bằng thuốc sẽ làm giảm rất rõ rệt việc sử dụng ngoại khoa ”. GS Jacques Donnez, trưởng khoa phụ khoa thuộc bệnh viện St-Luc (UCL), biết rằng sự khám phá của ông có liên quan từ 20% đến 40% những phụ nữ ở lứa tuổi sinh sản, hoặc hàng trăm triệu trên thế giới.
Các u xơ tử cung là những khối u không phải ung thư, thành hình trong thành của tử cung, đơn độc hay thành từng nhóm. Kích thước của chúng có thể biến thiên từ độ lớn của một hạt đậu đến độ lớn của của một trái bưởi. Trong phần lớn các trường hợp, chúng không gây nên một triệu chứng nào và chỉ biến đổi thành ung thư một cách ngoại lệ. Nhưng chúng có thể gây rất khó chịu do những xuất huyết kinh nguyệt dồi dào. Lúc đè lên bàng quang, chúng có thể gây nên đi tiểu thường xuyên. Các u xơ tử cung cũng có thể làm mất khả năng sinh sản do phong bế các vòi Fallope hay do ngăn cản sự làm ổ của phôi thai. Trong những trường hợp cấp tính, thường cần cắt bỏ tử cung, dẫn đến vô sinh. Nhưng có ít giải pháp thay thế ngoại khoa như embolisation động mạch tử cung. “ Từ 15 năm nay, ta cũng có thể sử dụng một hormone, gonadolibérine, nhưng kích thích tố này có những bất lợi quan trọng, như chỉ tác dụng sau một giai đoạn xuất huyết. Kích thích tố cũng gây những triệu chứng mãn kinh, như phừng mặt và mất xương, điều này không thích hợp với một sự sử dụng liên tục. Ngay khi ngừng điều trị, u xơ có thể trở lại. Chúng tôi đã có ý tưởng sử dụng acétate d’ulipristal, một chất điều biến chọn lọc các thụ thể của một hormone khác, progestérone. Đó là một dược chất ngày nay được sử dụng như là “ viên thuốc cho ngày hôm sau ” (pilule de lendemain) mà sự an toàn đã được biết rõ. Kết quả của thử nghiệm, được tiến hành trong 38 trung tâm của 6 nước dưới sự chỉ đạo của kíp nghien cứu của UCL và được công bố hôm nay trong New England Journal of Medicine, là gây ngạc nhiên : 91% các phụ nữ đã sử dụng acétate d’ulipristal đã không còn chảy máu dồi dào nữa sau 13 tuần. Ít nhất ¾ đã hoàn toàn không còn có kinh nữa. “ Tác dụng này thường được chứng thực nhất trong 10 ngày sau khi dùng thuốc, trong khi với thuốc hiện nay được sử dụng thời hạn này dài hơn nhiều. Chúng tôi đã không chứng thực một tác dụng phụ nào so với placebo và thuốc không gây phừng mặt lẩn mất xương.Vậy ta có thể dự kiến, như hiện nay ta đang trắc nghiệm nó, sử dụng điều trị thuốc này như điều trị về lâu về dài của u xơ tử cung. Khi bệnh nhân không còn cảm thấy các triệu chứng nữa, bệnh nhân nghỉ thuốc và chỉ dùng lại nếu các triệu chứng tái xuất hiện. Ở vài bệnh nhân, u xơ ngay cả tan biến đi.”
Điều trị cải tiến này, mà New England Journal of Medicine gọi là “ giai đoạn quan trọng trong một lãnh vực quan trọng, trong đó ít giải pháp cho một nhu cầu cấp bách ”, không nhất thiết thích hợp cho tất cả các bệnh nhân. Nhưng thí dụ nó cho phép một phụ nữ trên 35 tuổi không từ bỏ ý muốn có thai và trì hoãn phẫu thuật. Nó cũng sẽ cho phép một phụ nữ 25 tuổi không có khả năng sinh sản giảm kích thước u xơ để trở thành mẹ. Nhất là điều trị này cũng làm giảm số những trường hợp cắt bỏ tử cung. Chỉ riêng ở Hoa Kỳ, 300.000 phẫu thuật cắt bỏ tử cung được thực hiện mỗi năm để chống lại u xơ tử cung.
(LE SOIR 2/2/2012)

9/ CÓ NÊN CHO KHÁNG SINH ĐỐI VỚI MỘT VIÊM TAI Ở TRẺ EM ?
Professeur Patrice Tran Ba Huy
Oto-rhino-laryngologiste
Membre correspondant de l’Académie nationale de médecine

Điều trị viêm tai giữa cấp tính (OMA : otite moyenne aigue) ở trẻ em từ lâu đã góp phần tạo nên tiếng tăm không lấy gì làm vui của các thầy thuốc TMH, đến nhà bệnh nhi, mang đèn trên trán, phi tiêu trên tay, chọc vào lỗ tai của các chú bé, được ôm kỹ bởi bố mẹ, chê trách nhưng đành cam chịu. Thực hành này, luôn luôn được ghi khắc trong trí tưởng tượng của các em bé của thời kỳ baby-boom. Những khuyến nghị được công bố năm 2005 bởi Afssaps đã nhấn mạnh rõ ràng vai trò trung tâm của liệu pháp kháng sinh trong điều trị viêm tai giữa cấp tính.
Ngoài việc chúng có ưu điểm đối với chọc màng nhĩ (paracentèse) là không gây đau (trừ phi luôn luôn có khẩu vị tốt) các kháng sinh không thể chối cãi làm giảm một cách rõ rệt tỷ lệ tử vong và những biến chứng nghiêm trọng, loại viêm màng não hay áp xe não.
Tuy vậy, các kháng sinh không thể cho một cách hệ thống, do sự đề kháng của các vi khuẩn và, phụ hơn, do phí tổn thuốc (tần số cao của các viêm tai giữa cấp tính giải thích rằng chúng là một trong những nguyên nhân đầu tiên của việc kê đơn các kháng sinh). Nhưng cũng nhất là bởi vì ngày nay ta đã xác lập rằng phần lớn các trường hợp viêm tai giữa cấp tính được chữa lành một cách tự nhiên. Vậy vấn đề là phải biết cho kháng sinh đối với loại viêm tai giữa cấp tính nào và khi nào phải kê đơn kháng sinh.
Trong thực tiễn, trước hết có một sự nhất trí về sự cần thiết phải luôn luôn điều trị hai triệu chứng lớn của mọi viêm tai giữa cấp tính là đau và sốt bằng những thuốc giảm đau hay hạ sốt. Vậy các thuốc kháng viêm lẩn các thuốc nhỏ tai không được khuyến nghị.
Việc cho kháng sinh tùy thuộc vào nhiều yếu tố : trước hết thăm khám cẩn thận (và không phải luôn luôn dễ dàng) màng nhĩ, sau đó là tuổi của đứa bé và cường độ của các triệu chứng, và sau cùng là loại mầm bệnh.
Khi màng nhĩ hiện đỏ và không phồng, đó là một viêm tai giữa sung huyết (otite congestive), nghĩa là một dạng khởi đầu thường do virus và không mưng mủ : một sự theo dõi vài ngày được khuyến nghị, và các kháng sinh chỉ được biện minh trước sự kéo dài của các triệu chứng (đau, sốt, khóc, mất ngủ,…). Khi màng nhĩ sung huyết và căng phồng, khi đó đó là một viêm tai mưng mủ và việc kê đơn các kháng sinh tùy thuộc vào tuổi của đứa trẻ : cho kháng sinh một cách hệ thống ở trẻ dưới 2 tuổi vì ở những trẻ thuộc lứa tuổi này, nguy cơ bị những biến chứng nghiêm trọng không phải là nhỏ ; đối với trẻ trên 2 tuổi, việc cho kháng sinh chỉ được biện minh trong trường hợp sốt cao hay đau tai dữ dội và kéo dài sau hai đến ba ngày theo dõi.
Còn về chọc màng nhĩ (paracentèse), nó vẫn được chỉ định trong vài trường hợp : em bé dưới 3 tháng, màng nhĩ rất căng phồng và rất đau đớn, thất bại kháng sinh liệu pháp, cần nhận diện vi khuẩn trên bệnh phẩm mủ. Phân tích vi trùng học những bệnh phẩm này đã cho phép xác lập rằng các mầm bệnh thường gặp nhất vẫn luôn luôn nhạy cảm đối với những kháng sinh thông thường. Với điều kiện những kháng sinh này được kê đơn một cách có ý thức để hạn chế sự xuất hiện các đề kháng.
Sau cùng kháng sinh liệu pháp dường như chỉ không thể tranh cãi ở trẻ dưới 2 tuổi, sốt và đau. Được cho bằng đường miệng, trong một thời gian có thể thay đổi từ 5 đến 10 ngày, kháng sinh cho phép điều trị một cách hiệu quả ổ nhiễm trùng và tránh sự khuếch tán ra ngoài tai.
Vậy như ta thấy, các kháng sinh, “ không được cho một cách tự động và bổn phận của thầy thuốc là biết cưỡng lại áp lực của bố mẹ đứa trẻ và làm cho họ hiểu rằng viêm tai giữa cấp tính, dầu khó chịu như thế nào đối với em bé và những người chung quanh, là một bệnh gần như bắt buộc phải trải qua, cần thiết cho sự thụ đắc một khả năng miễn dịch. Còn các kháng sinh ? Càng ít càng tốt.
(LE FIGARO 7/2/2011)

10/ CÁC MÁY KHỬ RUNG TIM : KỸ THUẬT MỚI ĐỂ CÁC SỐC ĐIỆN NHẸ NHÀNG HƠN.
GS Xavier Jouven, thầy thuốc chuyên khoa tim thuốc bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, chuyên gia về các rối loạn nhịp, bình luận những kết quả thỏa mãn của một phương pháp cải tiến để bình thường hóa những rối loạn nhịp.

Hỏi : Trong số nhưng rối loạn nhịp tim, những rối loạn nào thường xảy ra nhất ?
GS Xavier Jouven : Đó là những rung nhĩ (fibrillation auriculaire) do một sự co bóp hỗn loạn của các tâm nhĩ. Khi đó tim đập nhanh hơn và không đều. Máu ứ động trong các tâm nhĩ, với sự đe dọa tạo thành cục máu đông cao hơn nhiều. 1% dân số ở Pháp bị liên hệ một cách tạm thời hay mãn tính. Không điều trị, biến chứng đáng sợ nhất là tai biến mạch máu não. Các rung thất, ít gặp hơn, nhưng trầm trọng hơn nhiều. Không được cấp cứu, chúng gây nên chết đột ngột trong vài phút.
Hỏi : Tất cả chúng ta, vào một lúc nào đó, bị hồi hộp. Làm sao ta đảm bảo chẩn đoán chính xác.
GS Xavier Jouven : Vài trường hợp rung nhĩ không có triệu chứng, nhưng thường nhất, chúng được thể hiện bởi triệu chứng hồi hộp với thời gian kéo dài lâu hay mau, đôi khi được liên kết với một sự khó thở. Để xác lập chẩn đoán, nếu điện tâm đồ cổ điển không đủ, ta sử dụng một Holter (máy được bệnh nhân mang theo trên người), ghi tim đập trong 24 giờ. Khi những đợt hồi hộp tạm thời nhưng xảy ra liên tiếp, cần ghi nhiều lần để có thể bắt gặp một đợt rung nhĩ. Trong vài trường hợp, ngay cả cần phải cắm dưới da ở vai một máy ghi nhỏ, sẽ ở tại chỗ trong nhiều tháng.
Hỏi : Hiện nay đối với rung nhĩ ta có điều trị nào ?
GS Xavier Jouven : Có hai phương thức. 1. Điều trị bằng thuốc với những thuốc chống loạn nhịp phối hợp với những thuốc làm loãng máu (fluidifiant) để tránh tai biến mạch máu não. 2. Phát một sốc điện ngoài (choc éléctrique externe) (cần gây mê tổng quát thời gian ngắn). Phương thức nhằm đặt 2 patch trên ngực để “ kẹp tim giữa hai gọng kềm ” (prendre le cœur en tenailles). Các patch này được nối với một máy khử rung ngoài (défibrillateur externe), gởi một dòng điện có cường độ mạnh hơn. Phương cách này gây nên sự co thắt của tất cả các tế bào của tim, “ bẽ gãy ” loạn nhịp. Trong 90 đến 95% các trường hợp, đồng hồ của tim khởi đầu lại với nhịp bình thường. Nhưng phương pháp này có những bất tiện : sốc điện có thể làm thương tổn các mô da (với những vết bỏng).
Hỏi : Lần này làm sao ta ngăn cản các rung thất đe dọa tính mạng ?
GS Xavier Jouven : Để được như thế, ta cắm một máy khử rung dưới da, nối với tim bằng những sonde điện. Trong trường hợp cần, chúng phát ra một sốc điện rất đau đớn. Chấn thương thô bạo này gây cho các bệnh nhân sự lo âu về một tái phát. Nhưng hệ thống này hiệu quả hơn nhiều so với các loại thuốc.
Hỏi : Để giảm đau do sốc điện, phương thức mới là gì ?
GS Xavier Jouven : Một công trình nghiên cứu quốc tế rất đầy hứa hẹn vừa được thực hiện bởi những kíp quốc tế : các nhà nghiên cứu (của CNRS de Lyon), Đức và Hoa Kỳ. Thử nghiệm này đã được tiến hành đối với những trường hợp rung nhĩ. Kỹ thuật mới này, được mệnh danh là LEAP (Low-Energy Anti-Fibrillation Pacing), hoạt động theo cùng nguyên tắc của các máy khử rung cổ điển. Nhưng bằng cách phóng ra một loạt 5 sốc điện kế tiếp nhau có cường độ thấp thay vì một sốc điện với một cường độ mạnh. Kết quả : hoạt động vô tổ chức bị ngưng lại. Tim dần dần đập lại bình thường. Nhưng các sốc điện được sử dụng, 7 lần yếu hơn, gây đau đớn ít hơn nhiều và ít gây tổn hại hơn đối với các mô tim. Những công trình nghiên cứu đầu tiên trên động vật đã tỏ ra rất thỏa mãn. Vào giai đoạn kế tiếp, ta sẽ trắc nghiệm máy khử rung mới này nơi người.
Hỏi : Phương thức mới này cũng sẽ được áp dụng đối với các máy khử rung thất (défibrillateur ventriculaire) ?
GS Xavier Jouven : Có thể. Các công trình nghiên cứu tiếp theo sẽ xác nhận điều đó. Một ưu điểm khác của những công trình nghiên cứu này là chúng cho phép hiểu rõ hơn cơ chế của sốc điện. Một bước tiến sẽ đưa đến sự hiệu chính những điều trị mới có hiệu quả.
(PARIS MATCH 23/2-29/2/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/3/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s