Thời sự y học số 256 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG BÍ ẨN MỚI ĐƯỢC PHÁT HIỆN CỦA CHỨNG NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ
Hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ (syndrome d’apnée du sommeil), làm rối loạn giấc ngủ và hoạt động hàng ngày, là một yếu tố nguy cơ tim mạch.
PNEUMOLOGIE. Nhiều đợt tạm ngừng thở (pause respiratoire) làm phân đoạn giấc ngủ, cảm giác mệt mỏi ngay lúc thức dậy, sự thức tỉnh và năng lực tập trung bị giảm đi trong ngày, hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ (syndrome d’apnée du sommeil), thường được liên kết với chứng béo phì, cao huyết áp, hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) hay bệnh đái đường, có thể ảnh hưởng mạnh lên chất lượng sống và sức khỏe.
Những đợt tạm ngừng hô hấp (pause respiratoire) tái diễn này trong 9 trường hợp trên 10 là do các đường dẫn khí bị xẹp trong khi ngủ, cản không cho không khí đi qua. Điều trị chuẩn, áp lực dương liên tục (PPC : pression positive continue ) nhằm thở về đêm không khí dưới áp lực để giữ sự thông thương ở hầu, nằm giữa mũi và khí quản, nhờ một mặt nạ nối với một compresseur nhỏ.

Nhờ PPC, sự cải thiện giấc ngủ, do đó sự tỉnh thức (vigilance) ban ngày, là rõ rệt. Nhưng cho mãi đến nay không có công trình nghiên cứu nào đã có thể chứng minh rằng sự cải thiện này cũng tác động lên những bất thường liên kết khác. Do đó lợi ích của tài liệu xuất bản trong New England Journal of Medicine của một công trình nghiên cứu Ấn Độ, được thực hiện trên 86 bệnh nhân, phần lớn có một hội chứng chuyển hóa, nhưng chưa được điều trị : trong 3 tháng, PPC đã làm giảm một cách đáng kể huyết áp, cholestérol, triglycéride và cải thiện đường huyết của những bệnh nhân được nghiên cứu, đến độ 1 trong số những bệnh nhân này đã không còn bị hội chứng chuyển hóa nữa.
ÍT ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN
Đối với GS Patrick Lévy, mà phòng thí nghiệm ở Grenoble nghiên cứu những hậu quả sinh lý của hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ, “ những kết quả dương tính đáng ngạc nhiên của một công trình nghiên cứu này chắc chắn ít rõ rệt hơn ở những bệnh nhân của chúng tôi mà tình trạng thường nghiêm trọng hơn những bệnh nhân được nghiên cứu ”. Cùng ý kiến của GS Jean-Louis Pépin (CHU Grenoble) : “ Những kết quả này trái với hiệu quả rất hạn chế thường được quan sát của PPC lên bệnh đái đường và các lipides. Một xử lý tiết thực và sự tái tục hoạt động vật lý vẫn cần thiết để cải thiện những tham số này ở những bệnh nhân nhân ngừng thở ngắn.”
Thường không được nhận biết bởi các bệnh nhân (họ ngủ !), hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ rất ít được chẩn đoán : Bệnh nhân chỉ đi khám bệnh nếu người chồng hay vợ lo ngại những đợt ngừng thở tái diễn, làm bệnh nhân ngừng ngáy vài giây, hay nếu bệnh nhân bị ngủ gà (somnolence) làm xáo trộn hoạt động hàng ngày của họ. Rối loạn này, thường xảy ra ở đàn ông (4%) hơn đàn bà (2%), gia tăng với tuổi tác để đạt 10 đến 15% sau 40 tuổi. Hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ được làm dễ bởi bệnh béo phì vì chứng bệnh này làm gia tăng sự hẹp lại của đường dẫn khí và hạn chế những cử động của cơ hoành. Nhưng mặc dầu 70% những người ngừng thở ngắn lúc ngủ là những người tăng thể trọng hay béo phì, cũng có những người gầy ốm bị chứng bệnh này và những người béo phì không bị bệnh. Vài tính chất cơ thể học (cổ ngắn, hàm nhỏ hay đưa ra sau…) cũng làm dễ hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ này.
Chẩn đoán dựa trên vấn chẩn bệnh nhân và polygraphie ventilatoire. Được thực hiện ở nhà, thăm dò này, nhờ các capteur, đo oxygénation của máu, lưu lượng khí qua mũi, các cử động hô hấp và ngáy, hầu như không thay đổi. “ Một hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ phải được điều trị nếu quá 30 đợt ngừng thở ngắn mỗi giờ, bởi vì khi đó nó làm gia tăng nguy cơ tim mạch. Trong thực hành, ta cũng điều trị khi chỉ số ngừng thở thấp hơn những sự ngủ gà ban ngày (somnolence diurne) gây khó chịu ”, GS Frédéric Gagnadoux, thầy thuốc chuyên khoa phổi thuộc CHU d’Angers đã giải thích như vậy. Vài bệnh nhân bị nhiều trăm lần đợt ngừng thở ngắn mỗi đêm.
NGUY CƠ CAO HUYẾT ÁP
Trong những đợt ngừng thở ngắn này, những cố gắng để thở và sự giảm oxy trong máu kích thích hệ giao cảm, khiến cho sự hô hấp tiếp tục lại một cách đột ngột.“ Tình trạng oxygénation kém này, và sự vắng mặt của giấc ngủ sâu (bình thường cho phép hạ huyết áp và giảm tần số tim), làm dễ cao huyết áp, BS Elisabeth Frija-Orvoen, thầy thuốc chuyên khoa phổi (Pitié-Salpêtrière, Paris) đã giải thích như vậy. Một hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ hiện diện trong 40 đến 50% những trường hợp cao huyết áp (80% những trường hợp cao huyết áp đề kháng với thuốc) và trong 30 đến 60% các tai biến mạch máu não. Đối với các trường hợp tai biến mạch máu não, sự điều trị các ngừng thở ngắn làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não lần thứ hai.” Cũng vậy, GS Pépin chỉ rõ,“ tình trạng giảm oxy mô từng hồi (hypoxie intermittente), do làm dễ sự sản xuất các phân tử hướng viêm (molécules proinflammatoires) và các radicaux libres, thuận lợi cho việc xuất hiện bệnh đái đuờng : 60% những bệnh nhân bị bệnh đái đường loại 2 là những người ngừng thở ngắn.
PPC là điều trị tốt nhất hiện nay. Trong những trường hợp ngừng thở ngắn ít nghiêm trọng hơn và đối với những bệnh nhân không chịu được áp lực dương liên tục (PPC), một orthèse mandibulaire amovible có thể làm dễ sự đi qua của không khí, và phẫu thuật có thể làm biến đổi cơ thể học xương hàm dưới. Những hướng khác như kích thích điện ban đêm các cơ hầu (stimulation électrique nocturne de muscles pharyngés) hay sử dụng các thuốc kháng viêm. Nhưng điều trị tốt nhất vẫn là sự phòng ngừa chứng béo phì. Ngoài ra chẳng bao lâu nữa trong kế hoạch chống béo phì sẽ được thêm vào những khuyến nghị về tầm quan trọng của giấc ngủ và của việc phát hiện sớm những đợt ngừng thở ngắn.
(LE FIGARO 9/1/2012)

2/ HỘI CHỨNG NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ : NHỮNG CƠ CHẾ CỬA MỘT BỆNH THƯỜNG XẢY RA.
Chỉ có 10% những trường hợp ngừng thở ngắn trong lúc ngủ là do những thương tổn của những trung tâm não điều khiển hô hấp. Trong 90% các trường hợp, chúng xảy ra do hầu bị tắc trong khi ngủ, theo nhưng cơ chế vẫn còn không được biết rõ. Sự giảm tính hiệu quả của cơ do tuổi tác dường như đóng một vai trò trong sự giãn thái quá của hầu, nhưng sự giãn này có lẽ do nhiều yếu tố. Theo lý thuyết được chấp nhận nhất, những đợt ngừng thở ngắn do tắc (apnées obstructives) xảy ra một cách tái diễn là do một thuong ton của các dây thần kinh hầu tại chỗ. “ Sự tồn tại dai dẳng của triệu chứng ngáy trong nhiều năm rồi sự thiếu oxy do những đợt ngừng thở ngắn dần dần gây nên những thương tổn của các dây thần kinh đảm bảo sự mở của các cơ giãn hầu (muscles dilatateurs du pharynx), trở nên ít hiệu quả hơn, GS Patrick Levy (CHU de Grenoble) đã giải thích như vậy. Điều này có nghĩa rằng cần phải lưu ý đến triệu chứng ngáy, “ nhưng ta không biết đến mức độ nào nó có thể đảo ngược được ”.
VAI TRÒ CỦA MÁU.
Một lý thuyết khác nêu lên vai trò của những chuyển động dịch trong cơ thể : “ Ở tư thế nằm, máu tích tụ trong ngày ở các chi di chuyển về phía trên của cơ thể và đè ép đường dẫn khí ở cổ. Vài tác giả đặt tầm quan trọng vào hiện tượng này, và một công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng việc mang bas de contention trong ngày, do làm giảm sự ứ máu tĩnh mạch, làm giảm số lần ngừng thở. Tính hiệu quả của thể thao cũng do cơ chế này.”
Sự liên kết của hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ với những bệnh lý khác như cao huyết áp, chứng béo phì và bệnh đái đường cũng bắt đầu được hiểu rõ hơn. “ Chúng tôi tái lập lại trong vài ngày một cao huyết áp (có thể đảo ngược) bằng cách cho những người lành mạnh chịu một tình trạng giảm oxy mô từng hồi (hypoxie intermittente) như đã được gây nên bởi những đợt ngừng thở ngắn ”, GS Pépin (CHU Grenoble) đã giải thích như vậy. “ Tình trạng cao huyết áp này là do sự hoạt hóa hệ giao cảm, làm dễ quá trình viêm và stress oxy hóa. Mô bị giảm oxy (graisse hypoxique) cũng chế tạo nhiều chất trung gian viêm (médiateurs inflammatoires) chịu trách nhiệm chứng xơ vữa động mạch. Gan cũng rất nhạy cảm với sự giảm oxy từng hồi do những đợt ngừng thở ngắn này gây nên. Chúng tôi đã cho thấy rằng những thương tổn xơ hóa gan (fibrose hépatique) tỷ lệ với tình trạng giảm oxy mô này. Vậy chứng gan mỡ (stéatose hépatique) không phải do rượu hay NASH (một sự thâm nhiễm mỡ viêm của gan) liên kết với bệnh đái đường, có lẽ là do tình trạng giảm oxy mô này ”, vị thầy thuốc đã xác nhận như vậy.
“ Vậy có cả một cascade các cơ chế liên kết bệnh cao huyết áp, bệnh đái đường và những đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ và tự duy trì lấy ”. Nhưng sẽ còn phải nhiều công trình nghiên cứu để xác định ở mức độ nào hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ là hậu quả và trong chừng mực nào nó là nguyên nhân của những bệnh lý này, và làm sao tác động lên một bệnh lý ta có thể cải thiện những bệnh lý khác.
(LE FIGARO 9/1/2012)

3/ HỘI CHỨNG NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ PHÁ HỦY TRÍ NHỚ.

Những điểm chủ yếu :- Không được điều trị, về lâu về dài, những đợt ngừng thở ngắn trong khi ngủ dẫn đến những vấn đề nhận thức (problèmes cognitifs).

– Đó là hậu quả của sự đánh mất tái diễn một phần oxy mà não bộ cần.

Các phụ nữ già bị hội hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ có khả năng phát triển sự giảm sút nhận thức mức độ vừa phải, thậm chí những dạng sa sút trí tuệ (démence), nhiều hơn những phụ nữ không bị hội chứng này, theo những kết quả của một công trình nghiên cứu mới được công bố hôm thứ năm bởi Journal of American Medical Association (Jama). Theo những nhà nghiên cứu của Trường Y của Đại học Pensylvanie, nguy cơ gần như tăng gấp đôi !
Trong 5 năm, các nhà nghiên cứu đã theo dõi 300 phụ nữ tuổi trung bình 82 không có một dấu hiệu nào về sa sút trí tuệ vào lúc bắt đầu nghiên cứu. Sau 5 năm, 20% đã phát triển một sự suy có mức độ của các chức năng nhận thức (fonction cognitive) và 15% cho thấy những triệu chứng sa sút trí tuệ (démence). (démence). Sau đó, các nhà nghiên cứu đã so sánh những nhóm người tương tự về tuổi tác, chủng tộc, chứng béo phì, trình độ học vấn, chứng nghiện thuốc lá, bệnh đái đường và bệnh cao huyết áp, cũng như việc sử dụng vài loại thuốc. Cách giải thích duy nhất sự khác nhau giữa hai nhóm bệnh nhân y hệt nhau là điều chứng thực rằng vài bệnh nhân bị những đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ, một rối loại giấc ngủ được đặc trưng bởi một sự ngừng hay giảm lưu lượng hô hấp (flux respiratoire).
“ Tính chất liên kết của các đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ và những vấn đề nhận thức đã được quan sát từ lâu, nhưng một mối liên hệ nhân quả còn cần phải được chứng minh. Lý thuyết khả dĩ nhất dường như là những vấn đề này là hậu quả lâu dài của tình trạng giảm oxy mô (hypoxie), nghĩa là sự mất tái diễn của não bộ một phần oxy mà nó cần ”, các nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy và họ đã chứng thực trong phòng thí nghiệm bệnh viện mối liên hệ giữa những vấn đề não bộ này với một tỷ lệ tăng cao mất bảo hòa oxy (désaturation en oxygène) cũng như một tỷ lệ lớn thời gian ngủ ngừng thở ngắn.
SỬ DỤNG MỘT MẶT NẠ.
“ Các mô hình động vật gợi ý rằng về lâu về dài sự đánh mất oxy này có thể có một hàm ý âm tính lên tác dụng của apolipoprotéine E, nhưng cũng lên các điều hòa viêm. ” Do đó các nhà nghiên cứu đề nghị thực hiện những nghiên cứu có thể đo tác động dương tính của điều trị bằng sự thông khí áp lực dương liên tục, được thực hiện nhờ sử dụng một mặt nạ, được gọi là “ C-Pap ”. Mặt nạ này, bằng silicone hay gel với một một thiết bị giữ (sangle, harnais), phải được mang bởi người ngủ, giữ đường hô hấp trên thông suốt vào tất cả các giai đoạn của chu kỳ hô hấp. Mặt nạ này ngăn cản hầu bị xẹp trong lúc thở vào và thở ra.
Vậy phát hiện sớm hơn những đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ và điều trị chúng một cách thích hợp có thể gìn giữ lâu dài hơn các năng lực nhận thức (faculté cognitive) của một bộ phận những người lớn tuổi.
(LE SOIR 12/8/2011)

4/ HỘI CHỨNG NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ : HƯỚNG VỀ NHỮNG ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA.
Những điều trị đối với hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ đã phát triển nhiều trong những năm qua.
ÁP LỰC DƯƠNG LIÊN TỤC (PRESSION POSITIVE CONTINUE).
PPC (pression positive continue : áp lực dương liên tục) là điều trị có hiệu quả nhất các hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ nghiêm trọng. Mặc dầu những tiến bộ lớn trong sự đem lại thoải mái và việc không gây tiếng ồn của các máy được sử dụng, nhưng 15% các bệnh nhân từ chối điều trị này và 20% bỏ điều trị. Nhưng một đa số đánh giá rằng áp lực dương liên tục đã thay đổi cuộc đời của họ vì đã mang lại cho họ một giấc ngủ bồi sức (un sommeil réparateur), và nhu cầu gia tăng 30% mỗi năm. Đối với BS Frija-Orvoen, thầy thuốc chuyên khoa phổi (Pitié-Salpetrière, Paris), “ các prestataires de soins à domicile đóng một vai trò quan trọng trong việc bệnh nhân chấp nhận điều trị. Phải nhấn mạnh với họ rằng mặt nạ hay áp lực được phát ra, có thể được điều biển để theo hô hấp tự nhiên, không được thích ứng. Một khi được chấp nhận, điều trị này hiệu quả 100% .”
ORTHESE MANDIBULAIRE
Khi căn bệnh không quá nghiêm trọng hay khi người bệnh từ chối áp lực dương liên tục (PPC), một giải pháp thay thế khả dĩ : sử dụng một orthèse nhằm đưa hàm dưới ra trước (orthèse de propulsion mandibulaire) trong khi ngủ. Được chế tạo theo từng cá thể, thiết bị này được cố định vào răng và cho phép đưa hàm dưới ra phía trước để làm thông hầu tốt hơn. “ Điều trị này thường hiệu quả lên chứng ngủ gà (somnolence) và những rối loạn nhận thức (troubles cognitifs), có lẽ ít hơn so với PPC lên sự phân mảnh giấc ngủ (fragmentation du sommeil) và những đợt ngừng thở ngắn. Nhưng không thể áp dụng cho 40% các bệnh nhân bởi vì họ không có đủ răng ”, GS Levy (Grenoble) đã xác nhận như vậy.
NGOẠI KHOA HÀM MẶT
Nếu ta không kể việc cắt bỏ amygdale, chịu trách nhiệm những đợt ngừng thở ngắn ở trẻ em, ngoại khoa hàm mặt chỉ được áp dụng cho một nhóm nhỏ các bệnh nhân, trẻ tuổi, có động cơ, không béo phì, theo những tiêu chuẩn cơ thể học. “ Ta có thể kéo lưỡi về phía trước bằng cách đưa os hyoide hay các apophyse ra trước phía sau cằm, nơi lưỡi bám vào, hay thực hiện giải phẫu hàm mặt toàn bộ để đưa hai xương hàm ra trước, với những kết quả tốt ”, GS Frédéric Chabolle, thầy thuốc ngoại khoa bệnh viện Foch (Suresnes) đã giải thích như vậy. Sự thu nhỏ lưỡi và màng khẩu cái (voile du palais) cũng có thể thực hiện, với những kết quả rất được tranh cãi bởi các chuyên gia.
KÍCH THÍCH ĐIỆN
Một kỹ thuật vừa mới xuất hiện, sự kích thích bằng điện (stimulation électrique). “ Một máy kích thích (stimulateur), được cắm dưới da của lồng ngực, mà bệnh nhân có thể khởi động theo ý muốn, cho phép kích thích một dây thần kinh, lúc thở vào, nhờ một điện cực đặt dưới lưỡi. Dây thần kinh bị kích thích làm xê dịch lưỡi ra phía trước ”, GS Chabolle, người đã thực hiện implantation đầu tiên này ở Pháp cách nay vài ngày, đã chỉ rõ như vậy. “ Đến hôm nay đã có hơn 100 bệnh nhân đã được cắm máy kích thích, với những kết quả đầy hứa hẹn sau 6 tháng.”
CÁC LOẠI THUỐC.
Một sự hiểu biết tốt hơn các cơ chế của hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ cho phép thực hiện những điều trị bằng thuốc, GS Pépin (Grnoble) đã nhấn mạnh như vậy : “ Một thử nghiệm đang được tiến hành về các lợi ích của statines, để xem bằng cách kết hợp tác dụng kháng viêm của chúng với PPC có cải thiện hiệu quả của điều trị hay không. Những thử nghiệm khác đang được tiến hành với các chất chống oxy hóa..Đó là những viễn ảnh xa vời hơn, và không có gì sẽ được công bố trong năm này. Nhưng tương lai sẽ là sự phối hợp các điều trị thích ứng đối với mỗi bệnh nhân.
(LE FIGARO 9/1/2012)

5/ SIDA : THUỐC DÁN CHỐNG VIRUS (PATCH ANTIVIRAL)
Những điều trị chống virus bệnh Sida (VIH) có bất tiện là phải dùng thuốc viên : sự hấp thụ qua đường tiêu hóa hàm ý rằng thuốc trước tiên phải qua gan trước khi đến đích, điều này làm giảm tính hiệu quả và có thể gây ngộ độc gan. Một kíp nghiên cứu Hoa Kỳ ở Maryland đã quan tâm đến một thuốc kháng virus mới, pyrimidinedione, mà một trong những ưu điểm là một sinh liệu pháp (biothérapie). Một mặt, thuốc phong bế sự đi vào trong các tế bào của VIH ; mặt khác thuốc ức chế men cho phép nó hội nhập trong ADN của những tế bào bị nhiễm virus. Ưu điểm khác : thuốc có thể được phân phát bằng đường qua da, điều này đảm bảo sự cho thuốc đều đặn và lâu dài trong tuần hoàn đồng thời tránh mọi interférence với gan.. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên da người đã cho thấy rằng một patch có thể phát ra một cách liên tục 96% thuốc trong một tuần. Thuốc mới này sẽ được trắc nghiệm ở các động vật và người.
(LE FIGARO 29/12/2011 – 4/1/2012)

6/ HY VỌNG VACCIN CHỐNG VIÊM GAN C.
Một thử nghiệm được tiến hành trên những người tình nguyện đã cho những kết quả đáng lưu ý.
HEPATOLOGIE. Một thử nghiệm của Anh cho thấy tính khả thi của một vaccin chống lại viêm gan C, trong khi ta hằng nghĩ mục tiêu này không thể đạt được vì lẽ virus này biến dị luôn luôn : 10 lần nhiều hơn virus của sida ! Những kết quả được công bố tuần qua trong tạp chí Hoa Kỳ Science Translational Medicine phát hiện một hiệu quả sinh học có tính bảo vệ. Có điều phải chứng minh nó hiệu qua trong “ đời sống thực ”.
Để có được một đáp ứng miễn dịch, nhóm nghiên cứu của đại học Oxford, nguồn gốc của thử nghiệm này, đã phải dùng mưu mẹo. “ Các gène mã hóa đối với các protéine thuộc cấu trúc của virus của siêu vi trùng C đã được recombiné với một adénovirus chimpanzé được làm bất hoạt để dùng làm vecteur và như thế tạo thành một vaccin được tiêm cho 41 người tình nguyện lành mạnh ”, BS Lawrence Serfaty, thầy thuốc chuyên khoa gan thuộc CHU Saint-Antoine (Paris) đã giải thích như vậy. Tại sao một virus của chimpanzé ? “ Thật là đơn giản, ít hữu ích hơn khi sử dụng một adénovirus người mà nhiều người vốn đã có một miễn dịch trước đây và như thế sẽ bị loại bỏ bởi cơ thể. Nhờ mẹo này, phản ứng miễn dịch thu được đã là mạnh và đặc biệt là dài lâu : ít nhất một năm không có tác dụng phụ quan trọng.” Tuy vậy, chặng đường phải qua trước khi thương mãi hóa một vaccin (nếu được chấp nhận) vẫn còn dài : khoảng 10 năm nữa.

“ Ít nhất 170 triệu người bị nhiễm bởi virus viêm gan C ”

Trong khi đó tiến bộ thật sự đối với một nhiễm trùng siêu vi gây hại cho gan và ảnh hưởng ít nhất 170 triệu người, theo OMS ? “ Trong những nước còn có hàng trăm ngàn trường hợp nhiễm trùng mới bởi virus của viêm gan C, đặc biệt do những thực hành ngoại khoa có nguy cơ (không có dụng cụ chỉ dùng một lần, biện pháp khử trùng kém), sự hiệu chính một vacccin như vậy dĩ nhiên là một bước tiến đáng kể, GS Christine Silvain, trưởng khoa hépatogastroentérologie, CHU de Poitiers, đã nhấn mạnh như vậy. Nhưng đối với một nước như Pháp, ở đây mỗi năm có 2.500 đến 3.000 trường hợp mới đuợc chẩn đoán, tầm quan trọng sẽ hạn chế hơn. Thật vậy population à risque chủ yếu được giới hạn vào giới xì ke ma túy. Trong những điều kiện này, ta khó tưởng tượng rằng một ngày nào đó ta có thể đề nghị vaccin này cho tất cả các nhũ nhi của chúng ta, như trường hợp vaccin chống bệnh viêm gan B, trong khi chỉ những người sử dụng ma túy về sau mới có một nguy cơ quan trọng.”
PHÓNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN
Sau cùng, đúng hơn chính việc sử dụng điều trị vaccin này mới làm quan tâm những thầy thuốc của chúng ta. Ta đếm được khoảng 370.000 người mang virus của viêm gan C. Thế mà trong số những người mắc phải virus này, 20% trong số họ đã lành bệnh một cách ngẫu nhiên và một cách rất hiệu quả có lẽ nhờ các tế bào lympho sát nhân (lymphocytes tueurs) của họ. “ Nếu ta bắt chước được đáp ứng này nhờ liệu pháp vaccin, thì đó sẽ là một bước tiến thật sự hữu ích đối với những người bị nhiễm trùng ”, GS Silvain đã nói tiếp như vậy.
Trong lúc chờ đợi đạt được điều đó, điều quan trọng để chống lại viêm gan C vẫn là “ phòng ngừa ” và “ điều tra phát hiện ”, bởi vì khoảng một nửa dân Pháp không biết là họ bị nhiễm. Vài tiền sử tuy vậy phải bảo động họ. Sau khi đã được truyền máu hay chịu một can thiệp ngoại khoa nặng nề trước khi xuất hiện một xét nghiệm phát hiện có hiệu năng của virus của viêm gan C đối với những người cho máu (đầu những năm 1990) là những yếu tố nguy cơ cổ điển. Sử dụng những ống tiêm bị ô nhiễm (các thuốc ma túy chích) hay dùng các ống hút (paille) (hay những đồ vật khác) đã được sử dụng, để hít (sniffer) chất ma túy, là những yếu tố nguy cơ khác. “ Sau cùng, được làm tatouage hay piercing với dụng cụ đã được sử dụng và không sát trùng, đi chữa răng hay giải phẫu thẩm mỹ ở nước ngoài mà không dò hỏi trước những điều kiện vô trùng, đó cũng là nhận lấy những nguy cơ vô ích, mặc dầu những nguy cơ này thấp hơn so với virus của viêm gan B ”, GS Silvain đã nhấn mạnh như vậy.
Và bởi vì viêm gan C có thể tiến triển trong nhiều năm mà không gây nên một triệu chứng nào, nên không còn lựa chọn nào khác : hễ có chút ít nghi ngờ, phải làm một xét nghiệm máu để tìm kiếm những kháng thể chống lại virus của viêm gan C, cần được bổ sung với những thăm dò chức năng gan trong trường hợp kết quả dương tính. Điều này càng quan trọng khi 20% những người mang virus của viêm gan C sẽ bị xơ hóa gan nghiêm trọng, khả dĩ tiến triển thành ung thư. “ Thế mà đã có những thuốc kháng virus rất có hiệu quả, cho phép triệt trừ 70% các trường hợp. Tuy nhiên phải thăm khám bệnh trước khi xơ gan được tạo thành, nếu không, dầu cho virus sau đó được triệt trừ, nhưng bệnh gan vẫn có thể tiếp tục tiến triển một cach độc lập ”, BS Serfaty đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 11/1/2012)

7/ ADENOME ĐE LA PROSTATE VÀ RỒI LOẠN CƯƠNG : MỘT ĐIỀU TRỊ CHUNG.
GS François Desgrandchamps, trưởng khoa niệu học của bệnh viện Saint-Louis, giải thích hai tác dụng của cùng một loại thuốc. Một protocole mới được trình bày trong hội nghị niệu học vừa qua.
Hỏi : Ở Pháp, hiện nay tần số mắc bệnh adénome de la prostate là gì ?
GS François Desgrandchamps. Khoảng 50% những người trên 50 tuổi bị những rối loạn tiểu tiện do adénome de la prostate. Một u hiền tính của tuyến tiền liệt mà những hậu quả làm biến đổi chất lượng sống : buồn tiểu thường xuyên trong đêm và trong ngày, khó nín tiểu (thường cũng khó tiểu). Một nửa trong số những bệnh nhân này cũng có những vấn đề sinh dục (problèmes sexuels) do giảm sự cương cứng.
Hỏi : Hiện nay, ta điều trị như thế nào những người đàn ông bị adénome de la prostate ?
GS François Desgrandchamps. Với những loại thuốc khác nhau, trong đó có các alpha-bloquant (Tamsulosine, Omic), các trích chất thảo mộc (Urgenin) và những loại thuốc khác có tên phức tạp : các “ inhibiteurs de la 5 alpha-réductase ” (Finastéride, Proscar).Tất cả các loại thuốc này có hiệu quả nhưng có thể gây nên những tác dụng phụ : giảm dục tính, rối loạn phóng tinh…cho đến nay, đối với những vấn đề rối loạn sinh dục do adénome gây nên, ta đã dùng một thuốc thuộc họ Viagra : tadlafil (Cialis).
Hỏi : Làm sao ta đã có ý tưởng cho loại thuốc này để cũng điều trị ở người đàn ông những vấn đề đường tiểu ?
GS François Desgrandchamps. Bởi vì hai rối loạn tiểu tiện và sinh dục là do cùng một bất thường : một sự giảm sút của cơ chế giãn (mécanisme de relaxation) của các cơ của các thể hang (corps caverneux) nằm trong dương vật và của các sợi cơ của tuyến tiền liệt. Tadalafil vì là một chất giãn cơ (relaxant musculaire), nên việc hy vọng có được một tác dụng chung lên các rối loạn tiểu tiện và sinh dục là logic.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã chứng tỏ tính hiệu quả kép này ?
GS François Desgrandchamps. Ở hội nghị mới đây về niệu học, GS Pierre Costa của Nimes đã điểm lại khoảng 10 công trình nghiên cứu quốc tế quy tụ hơn 1000 bệnh nhân. Tất cả đã thu được cùng những kết quả dương tính : tadalafil cải thiện rõ rệt các triệu chứng đường tiểu của adénome prostatique đồng thời điều chỉnh những rối loạn sinh dục. Điều trị thật đơn giản : 1 viên một lần mỗi ngày.
Hỏi : Có những tác dụng phụ không ?
GS François Desgrandchamps : Điều trị được dung nạp tốt, với một nguy cơ bị đau đầu ở mức tối thiểu (6%). Nhưng chú ý : đó không phải là một chất kích dục. Tadalafil không tạo cương cứng nếu không có ham muốn, nhưng chỉ làm tăng cường sự cương này. Trái với vài thành kiến, các inhibiteurs de la phosphodiestérase loại 5 như tadalafil (Cialis), vardénafil (Levitra),sidénafil (Viagra) không gây nên những vấn đề tim. Trừ trong vài trường hợp bị chống chỉ định.
Hỏi : Những trường hợp nào là chống chỉ định ?
GS François Desgrandchamps : Điều trị này bị chống chỉ định : 1. Ở những người có một nhồi máu cơ tim mới xảy ra (dưới 3 tháng). 2. Ở những người bị cơn đau thắt ngực hay suy tim. 3. Ở những người đã bị tai biến mạch máu nào trong 6 tháng vừa qua.
Hỏi : Taladafil, thường được sử dụng để điều trị các rối loạn cương, thế ngay từ bây giờ có thể kê đơn cho các adénome không ?
GS François Desgrandchamps : Hiện nay thì không. Nhưng trước những kết quả dương tính của tất cả các công trình nghiên cứu, sắp đến ta sẽ có thể kê đơn loại thuốc này trong các trường hợp adénome de la prostate.
Hỏi : Tại sao không sử dụng Viagra ?
GS François Desgrandchamps : Thời gian tác dụng của Viagra quá ngắn (chỉ vài giờ) trong khi thời gian tác dụng của taladafil kéo dài hơn 24 giờ. Đối với chúng tôi, những thầy thuốc niệu khoa, sự khám phá việc điều trị toàn bộ đối với những rối loạn thường xảy ra này của các lão niên là một cuộc cách mạng thật sự !
(PARIS MATCH 12/1 – 18/1/2012)

9/ VITAMINE D : NHỮNG LỢI ÍCH CỦA SỰ CHO BỔ SUNG.
Một công trình nghiên cứu Na Uy thời sự hóa nhiều lợi ích của vitamine D, trong đó có vài lợi ích cho đến nay không được biết đến, BS Patrick Gepner, thầy thuốc chuyên khoa bệnh khớp thuộc bệnh viện Foch de Suresnes, giải thích tại sao các thầy thuốc chuyên khoa ngày càng tán đồng việc điều trị lâu dài bằng vitamine này.
Hỏi : Vai trò của vitamine D trong cơ thể chúng ta ?
BS Patrick Gepner. Thật ra đó đúng hơn là một hormone, 90% được sản xuất trong những lớp sâu của da, dưới tác dụng của những tia tử ngoại B của mặt trời. Thức ăn chỉ cung cấp 10% (nhất là cá mỡ và trứng). Vitamine này cần thiết cho sự hấp thụ calcium thức ăn qua niêm mạc tiêu hóa. Thế mà calcium cần thiết cho quá trình khoáng hóa xương (minéralisation) và để duy trì sức bền của xương. Một trong những nguyên nhân chính gây thiếu hụt vitamine D là tiếp xúc với ánh nắng mặt trời không đủ.
Hỏi : Ta phải có nồng độ vitamine D là bao nhiêu và phải đo như thế nào ?
BS Patrick Gepner. Sự định lượng được thực hiện bằng một xét nghiệm máu thường quy, có thể thực hiện trong tất cả những phòng xét nghiệm. Giới hạn của những trị số bình thường nằm giữa 30 và 100 nanogramme mỗi ml. Ta nói bất túc (insuffisance) đối với một nồng độ từ 20 đến 30, và thiếu hụt (déficit) (hay carence) khi nồng độ này dưới 20.
Hỏi : Những hậu quả của một sự thiếu hụt (déficit) là gì ?
BS Patrick Gepner. Hậu quả đầu tiên, được biết rõ, là một sự giảm sức bền của xương (chứng loãng xương), làm dễ nguy cơ gãy xương. Hậu quả thứ hai là giảm lực và trương lực cơ (force et tonus musculaire), do đó nguy cơ gia tăng bị mất cân bằng và té ngã, làm gia tăng nguy cơ gãy xương. Từ 10 năm nay, nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học quốc tế đã gợi ý sự hiện hữu của những hậu quả khác rất bất ngờ. Dĩ nhiên những kết quả này cần phải được xác nhận.
Hỏi : Những cuộc điều tra này đã trình bày những lợi ích của một sự cho bổ sung vitamine D, đặc biệt là trong những vùng ít ánh nắng mặt trời và bị ô nhiễm. Những lợi ích đó là gì ?
BS Patrick Gepner. Trong trường hợp bị thiếu hụt vitamine D, một sự cho bổ sung (une supplémentation) sẽ có nhiều tác dụng dương tính :
1. Một sự giảm nguy cơ xảy ra vài bệnh tự miễn dịch (maladie auto-immune), như bệnh đái đường loại 1.
2. Một sự tăng cường các phòng vệ miễn dịch (défenses immunitaires), với sự giảm nguy cơ phát triển của vài ung thư (đại tràng, trực tràng và vú).
3. Một sự giảm nguy cơ các bệnh tim mạch, trong đó cao huyết áp.
4. Một hành động phòng ngừa lên bệnh trầm cảm theo mùa (dépression saisonnière).
Hỏi : Bắt đầu từ lứa tuổi nào ta thường quan sát thấy nhất một sự bất túc hay thiếu hụt vitamine D ?
BS Patrick Gepner. Công trình nghiên cứu Suvimac đã cho thấy rằng, trên 50 tuổi, 80% dân Pháp bị thiếu do khả năng sản xuất vitamine D bởi da bị giảm. Do đó có khuyến nghị chung đối với các phụ nữ là nên uống thuốc thuốc bổ sung (un complément médicamenteux) sau tuổi 50. Chứng béo phì, do giam hãm vitamine D trong mô mỡ, cũng tạo nguy cơ thiếu hụt. Để kê đơn một liều lượng tối ưu vitame D, cần định lượng máu. Thường nhất cung cấp một bổ sung khoảng 800 đến 1.200 đơn vị quốc tế mỗi ngày là hữu ích.
Hỏi : Một sự quá liều có thể độc hại cho cơ thể không ?
BS Patrick Gepner. Nguy cơ này, ngoại lệ, chỉ được quan sát với một nồng độ trong máu vượt quá 150 nanogramme mỗi ml. Calcium trong máu, khi đó tăng cao, có thể gây nên những rối loạn nhịp tim.
Hỏi : đôi khi bệnh nhân không chịu được các thuốc phối hợp vitamine D và calcium trên bình diện tiêu hóa. Những lời khuyên của ông là gì ?
BS Patrick Gepner. Sự thiếu hụt calcium thường xảy ra nhưng việc điều chỉnh thật là đơn giản : chỉ cần biến đổi chế độ ăn uống bằng cách ưu tiên những sản phẩm sữa, vài loại nước khoáng, trái cây và rau xanh, điều này tránh phải dùng calcium dưới dạng thuốc uống. Đối với vitamine D, s ự điều chỉnh chỉ bằng chế độ ăn uống thì khó hơn, do đó biện minh cho việc cho bổ sung bằng thuốc, được dung nạp rất tốt.
(PARIS MATCH 5/1-1/1/2012)

10/ CALCIUM-VITAMINE D, MỘT COCKTAIL ĐỐI VỚI XƯƠNG
Một báo cáo của Hoa Kỳ xác định những lượng calcium và vitamine D cần thiết.
VITAMINES. Cần phải tiêu thụ bao nhiêu calcium và vitamine D mỗi ngày? Viện y khoa Hoa Kỳ (NIH) đã công bố tuần qua một báo cáo để trả lời câu hỏi này, sau khi đã khảo sát hơn 1000 công trình nghiên cứu đã được xuất bản về chủ đề này. Kết luận thứ nhất : Viện không cường điệu về những tính chất chống ung thư và các bệnh tim mạch mà từ nhiêu năm nay được gán cho vitamine D. Ngược lại, tài liệu xác nhận tầm quan trọng của vitamine D và của calcium đối với sự tăng trưởng xương và sức khỏe tốt của khung xương. NIH cũng đã xác lập những mức tiêu thụ hàng ngày đối với vitamine D và calcium, ghi nhận rằng đại đa số những người Mỹ và Canada hấp thụ lượng đủ qua thức ăn.
NHỮNG TÁC DỤNG BẢO VỆ KHÔNG CHẮC CHẮN
Về tác dụng bảo vệ của vitamine D chống ung thư và các bệnh tim, các dữ kiện không rõ ràng lắm. Cần những thử nghiệm lâm sàng nghiêm chỉnh để xác định chúng tốt hơn, bản báo cáo nhấn mạnh như vậy. Ngược lại, “ có nhiều dữ kiện khoa học cho phép xác định một cách đáng tin cậy những mức vitamine D và calcium được đòi hỏi ”, BS Catherine Ross (đại học Pennsylvanie), đã từng chủ tọa nhóm công tác về báo cáo này đã nhấn mạnh như vậy. Vitamine D, thu được từ một dẫn chất của cholestérol dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời lên da, làm dễ sự hấp thụ calcium qua ruột. Báo cáo đã kết luận rằng những người Mỹ và Canada cần khoảng hơn 600 đơn vị quốc tế vitamine D mỗi ngày cho đến lứa tuổi 70 và 800 đơn vị mỗi ngày bắt đầu từ 71 tuổi.
Còn về calcium, các nhu cầu thay đổi từ 700 mg mỗi ngày đối với những trẻ từ 1 đến 3 tuổi, đến 1000 mg giữa 4 đến 8 tuổi và 1300 mg giữa 9 và 18 tuổi. Đối với những người trưởng thành tuổi từ 19 đến 50 tuổi, tối đa 1000mg là đủ. Các phụ nữ từ tuổi 51 cần dưới 1200 mỗi ngày và đàn ông cho đến 71 tuổi cần 1000 mg mỗi ngày và 1200 mg mỗi ngày nếu trên 71 tuổi. Cung cấp có thể từ thức ăn hay cho bổ sung. Báo cáo cũng cảnh giác chống lại việc sử dụng quá mức vitamine D và calcium : quá nhiều calcium gây sỏi thận và dùng vitamine D trong những thời kỳ dài có thể có những tác dụng có hại lên thận và tim.
(LE FIGARO 6/12/2010)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/1/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s