Thời sự y học số 255 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ TOXINE BOTULIQUE CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ TUYẾN TIỀN LIỆT.
Ngày xưa, toxine botulique giết người. Ngày nay, độc tố này làm dịu cuộc sống của hàng trăm ngàn người, và những nghiên cứu càng ngày càng hứa hẹn.
THERAPIE. Không gì có thể đoán trước sự sử dụng điều trị của toxine botulique! Thật vậy, độc tố này được sản xuất bởi một vi khuẩn, đặc biệt được chú ý, trong thế kỷ XIX, về khả năng gây bệnh, thậm chí giết chết những người bất hạnh đã tiêu thụ một thức ăn bảo quản kém, trong đó vi khuẩn đã phát triển. Độc tố được phóng thích của vi khuẩn này khi đó gây nên những rối loạn tiêu hóa và đôi khi sự bại liệt hô hấp tạo nên sự trầm trọng của bệnh…và khiến phải quan tâm. Bởi vì ngày nay toxine botulique được dùng để điều trị nhiều bệnh lý, với những chỉ định mới xuất hiện, như để kiểm soát bàng quang, có lẽ chẳng bao lâu nữa để điều trị vài chứng migraine mãn tính hay adénome de la prostate.

“ Bằng cách phong bế những tận cùng thần kinh (terminaisons nerveuses) ở chỗ nối của chúng với các cơ, toxine botulique đóng vai trò của một chất giãn cơ mạnh tại chỗ (un puissant myorelaxant local), ở nơi chích mông. Ngoài ra đã hơn 20 năm nay độc tố này đã được nghiên cứu về tác dụng của nó lên cơ và ta hằng nghĩ là đã đi hết các chỉ định của nó. Đó là không kể tác dụng của toxine botulique lên nhiều bệnh trong đó cơ bị co một cách bất thường : các thầy thuốc thần kinh, các thầy thuốc nhãn khoa, các thầy thuốc chuyên về da và mới đây các thầy thuốc niệu học đều nhờ đến nó ”, BS Laurent Benzacken, trưởng khoa mắt bệnh viện Robert-Ballanger (Ile-de-France) đã giải thích như vậy.
SÓN TIỂU
Như thế toxine botulique vẫn luôn luôn gây nên nhiều nghiên cứu : “ Bằng cớ là sự cho phép mới đây thương mãi hóa độc tố này để điều trị chứng hyperactivité vésicale neurologique của những người bị bệnh xơ cứng rải rác và ở những bệnh nhân bị thương tổn tủy sống. Sự cho phép này có từ tháng 9 năm 2011”, BS Marion Simonetta-Moreau, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (CHU Purpan de Toulouse) đã xác nhận như vậy. Bởi vì sự kiểm soát bàng quang bởi não bộ ở những người này không được thực hiện tốt (cơ bàng quang của họ co trong giai đoạn làm đầy bàng quang trong khi đáng lý phải giãn ra), điều này gây nên chứng són đái và nhiễm trùng đường tiểu tái diễn. Với điều kiện bệnh nhân có khả năng tự thông tiểu lấy và sau ý kiến của nhiều chuyên khoa (của thầy thuốc niệu khoa, của thầy thuốc thần kinh và của chuyên viên phục hồi cơ năng), toxine botulique có thể được sử dụng để kềm chế sự quá hoạt động của cơ. Điều đó có thể được thực hiện ngoại trú, nhờ khoảng 30 mũi tiêm trong cơ của bàng quang (detrusor). Cơ này khi đó trở nên bất hoạt : không còn cần phải tự thông tiểu với những khoảng cách đều đặn để tháo bàng quang và vấn đề được giải quyết. Ít nhất, như vậy được trong vài tháng, vì lẽ tác dụng của toxine botulique bị hạn chế trong thời gian.
Mới đây, ở Anh (chứ không phải ở Pháp), toxine botulique đã nhận được giấy phép thương mãi hóa như là điều trị duy trì của bệnh migraine mãn tính. Chỉ được chỉ định đối với những bệnh nhân kêu đau đầu trong hơn hai tuần mỗi tháng, ít nhất 8 tháng mỗi năm. Toxine botulique cho phép làm giảm số ngày mỗi tháng bệnh nhân bị đau đầu.
Sau cùng chỉ định cuối cùng có thể được chấp nhận trong những tháng đến, với điều kiện những công trình nghiên cứu mới nhất xác định những kết quả tốt đạt được cho đến nay : adénome de la prostate. Toxine botulique đang được nhiều trung tâm tiết niệu ở Pháp đánh giá. Vì bệnh này được biểu hiện bởi một sự gia tăng của số lượng và tính co bóp của các sợi cơ trơn của tuyến tiền liệt, nguồn gốc của nhiều triệu chứng tiểu tiện, và rằng toxine botulique có thể phong bế các sợi cơ này, nên độc tố này có thể hữu ích cho những người đàn ông không chịu được điều trị ngoại khoa và/hoặc không thể mổ được. Ưu điểm : điều trị thực hiện đơn giản vì lẽ chỉ cần tiêm độc tố (dưới gây tê tại chỗ), qua hậu môn, xuyên qua trực tràng, để đến các cơ tiền liệt tuyến.
MỘT HY VỌNG ĐỐI VỚI ĐAU MÃN TÍNH
Bên cạnh tác dụng giãn cơ, toxine botulique dường như tác dụng lên vài trường hợp đau thần kinh mãn tính khu trú và dữ dội, những trường hợp đau trong bệnh zona hay những người bị bệnh đái đường. Lần này, độc tố tác động lên những sợi thần kinh nhỏ có liên quan trọng việc truyền cảm giác đau đớn, do đó ngăn cản sự phóng thích những messager hóa học có vai trò trong các trường hợp đau mãn tính. Điều này càng hữu ích khi đau mãn tính đáp ứng tồi với các thuốc giảm đau thường dùng. Ngoài ra, những thử nghiệm (cần được xác nhận) tiêm toxine botulique vào khớp mang lại một tác dụng đáng lưu ý ở những người bị đau khớp mãn tính.
Sau cùng nghiên cứu quan tâm đặc điểm của độc tố tác dụng một cách chính xác ở chỗ nối giữa các dây thần kinh và cơ. “ Toxine botulique được cấu tạo bởi hai chuỗi : một chuỗi nhẹ, không gì khác hơn là hoạt chất của nó, và một chuỗi nặng có nhiệm vụ như là vecteur để vận chuyển hoạt chất đến chỗ nối thần kinh-cơ (jonction neuro-musculaire). Nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới do đó đang khảo sát rất sát chuỗi nặng này, với hy vọng một ngày nào đó sử dụng vecteur này để vận chuyển những hoạt chất khác. Và điều đó sẽ mở ra một lãnh vực điều trị mới và to lớn ! ”, BS Simonetta-Moreau đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 12/12/2011)


2/ TOXINE BOTULIQUE TRONG LÃNH VỰC BỆNH NGOÀI DA.

Ta thường nghĩ rằng những người đến khám thầy thuốc chuyên khoa da chỉ vì những lý do thẩm mỹ, và quả đúng là những nếp nhăn không có điểm tốt trong xã hội của chúng ta. Toxine botulique (đặc biệt được thương mãi hóa dưới tên Botox) rất được sử dụng trong y khoa thẩm mỹ (médecine esthétique) để tống khứ khỏi gương mặt những nếp nhăn biểu lộ (ride d’expression) (rides du lion, trán và patte d’oie). Nhưng điều đó còn đi xa hơn là khía cạnh thẩm mỹ đơn thuần. “ Một nếp nhăn sư tử (ride du lion) rất rõ rệt có thể tạo một vẻ nghiêm khắc ở người thật ra không phải như vậy và làm phương hại người này trong môi trường làm việc, BS Véronique Gassia, thầy thuốc chuyên khoa da ở Toulouse, thư ký của GDEC (Groupe de dermatologie esthétique correctrice de la Société française de dermatologie) đã nhấn mạnh như vậy. Tôi đã tiếp đều đặn những người đàn ông và đàn bà đến xin điều trị bởi vì họ cần có vẻ ít hung tợn hơn trong lúc làm việc.” Phí tổn tiêm toxine botulique là 350 đến 400 euro đối với phần trên của mặt). Kết quả trung bình kéo dài 4 tháng trước khi mất dần.
NGUY CƠ GẦN NHƯ SỐ KHÔNG.
Vì những liều tiêm là rất nhỏ, ít quan trọng hơn nhiều những liều được sử dụng trong thần kinh học, nên nguy cơ gần như không với điều kiện việc tiêm được thực hiện bởi một thầy thuốc chuyên khoa và được đào tạo kỹ thuật. “ Nói chung toxine botulique được dung nạp tốt và vài tác dụng phụ được báo cáo và tất cả hầu như là do dùng quá liều hay do tiêm không đúng chỗ ”, BS Gassia đã nhấn mạnh như vậy.“ Để sử dụng Botox, phải có một kiến thức rất tốt về tất cả các cơ của mặt. Nếu việc tiêm không thực hiện đúng, ta có nguy cơ gây nên những biến dạng mặc dầu tạm thời, nhưng gây khó chịu, giáo sư Sydney Ohana (chủ tịch danh dự của Société française de chirurgie esthétique, Paris) đã đảm bảo như vậy.
Vấn đề gây phiền phức khác bởi vì liên quan đến gương mặt : tật nháy mí mắt (blépharospasme). “ Đó là sự co không tự ý của các cơ mí mắt, chủ yếu ảnh hưởng những người trên 50 tuổi, BS Laurent Benzacken đã giải thích như vậy. Không thể ngăn cản chứng nháy mắt này xảy ra ở những người bị liên quan và nó có thể xảy ra đồng thời lên cả hai mắt, bằng những cơn đôi khi có thể kéo dài nhiều giờ mỗi ngày. Vậy sự ảnh hưởng lên cuộc sống hàng ngày rất quan trọng, đi đến chỗ rất gây trở ngại cho việc lái xe ! Trong trường hợp này, việc tiêm toxine botulique vào trong các cơ chịu trách nhiệm sự co các mí mắt càng hữu ích khi nó hủy bỏ sự co thắt (spasme), nhưng không hủy bỏ sự hấp háy sinh lý (clignotement physiologique) cho phép tẩm ướt màng ngoại biên của mắt (giác mạc) và ngăn cản giác mạc khô đi. ” Ngoài một sự sụp mi (ptosis) nhẹ được nhận thấy trong 6 đến 8% các trường hợp, các kết quả có thể nhận thấy được : những nháy mắt giảm dần ngay những ngày đầu sau khi tiêm, với một kết quả tối ưu trong hai đến ba tuần tiếp theo sau. Rồi không cần nghĩ đến điều đó trong 4 đến 6 tháng, sau đó một mũi tiêm mới có thể được dự kiến.
NHỮNG HIỆU QUẢ LÊN CHỨNG RA MỒ HÔI.
Do tác dụng làm giãn (action relaxante) lên các cơ trong đó độc tố được tiêm vào, toxine botulique còn được sử dụng trong chứng run đầu không rõ nguyên nhân (tremblement essentiel de la tête), căn bệnh thường xảy ra đặc biệt gây bệnh cho vài phụ nữ mà các cơ ở cổ co quá mức một cách nhịp nhàng. Bệnh này cũng xảy ra ở các cơ của bàn tay, trong trường hợp chứng chuột rút của nhà văn (crampe de l’écrivain) làm cho việc viết một bức thư dài không thực hiện được. Sau cùng, ở những người ra mồ hôi nhiều, nhất là ở nách, đến độ phải thay áo nhiều lần mỗi ngày, sự tiêm toxine botulique, để cắt đứt các luồng thần kinh ra lệnh các tuyến nhỏ tiết mồ hôi, có hiệu quả triệt để : sự ra mồ hôi trở lại bình thường trong 6 đến 9 tháng tiếp theo sau. Vậy đó là một giải pháp thay thế ngoại khoa. Tuy nhiên, sự điều trị chứng ra nhiều mồ hôi được xem là một vấn đề mang lại thoải mái, nên Bảo hiểm xã hội không nhận bồi hoàn phí tổn điều trị, BS Gassia đã xác nhận như vậy.
(LE FIGARO 12/12/2011)

3/ TOXINE BOTULIQUE TRONG LÃNH VỰC BỆNH THẦN KINH
Các thầy thuốc thần kinh sau khi đã là trong số những người đầu tiên nhờ đến toxine botulique do những tính chất giãn cơ của nó, họ vẫn tiếp tục là những người sử dụng nhiều nhất. Và những chỉ định xưa nhất của họ, có từ cuối những năm 1970, vẫn luôn luôn có tính thời sự. Điều trị những co cơ quá mức và không thích đáng ở cổ (dystrophie cervicale), vốn là chỉ định đầu tiên của toxine botulique trong thần kinh học, vẫn luôn luôn được thực hiện. Cũng như vậy đối với chứng co thắt (spasme) nửa mặt của mí mắt, của má và của lưỡi. Trong mỗi trong số những chỉ định lịch sử này, toxine botulique cho phép dứt điểm tạm thời với sự co cứng không thích hợp (do đó tạo nên tư thế xấu) và ta đã không tìm thấy những điều trị khác tốt hơn ”, BS Simonetta-Moreau đã nhận xét như vậy.
Độc tố cũng đã được sử dụng trong những rối loạn của trương lực cơ, di chứng của bán thân bất toại hay liệt hai chi dưới (spasticité focale des membres), ở những người trưởng thành và ở những em bé, đặc biệt là những người bị tàn tật vận động não (infirmes moteurs cérébraux). Lại nữa, chỉ định này vẫn luôn luôn có giá trị. “ Ngày xưa, không có những giải pháp nào khác ngoài việc bó bột hay mổ những trẻ em bị tật nguyền này, đôi khi nhiều lần, để ngăn cản các chi của chúng bị co rúm lại trong những tư thế không thể chấp nhận được. Sau cùng nhờ toxine botulique, sự co cứng của các chi có thể được khắc phục và ta có thể tập trung hơn vào việc phục hồi chức năng các chi này ” , BS Simonetta- Moreau đã nói tiếp như vậy.
Rất hiệu quả trong trường hợp tăng hoạt động cơ khu trú (hyperactivité musculaire localisée), toxine botulique còn có thể hữu ích trong những trường hợp khác, như trong chứng tăng tiết nước bọt (hypersalivation). Vài bệnh nhân phế tật vận động não (infirmes moteurs cérébraux) có khuynh hướng chảy nuớc dãi quá nhiều, nhưng không phải chỉ trong bệnh lý này.
“ HÀNG CHỜ ĐỢI ”
Trong những bệnh thần kinh mãn tính như bệnh Parkinson, tiêm toxine botulique ở chỗ nối của các thần kinh với các tuyến nước bọt và tuyến mang tai có thể làm giảm sự tăng tiết này. Chỉ có điều : bởi vì các cơ nuốt nằm rất gần và chủ yếu không được làm liệt chúng, nên loại tiêm này chỉ duy nhất được thực hiện trong vài trung tâm TAI MŨI HỌNG chuẩn ở Pháp, như trung tâm ở Toulouse. Trong nhãn khoa cũng vậy, những chống chỉ định ngày trước vẫn luôn luôn được áp dụng. “ Ở các trẻ em, và ngay cả những trẻ rất nhỏ, toxine botulique đôi khi được sử dụng đối với những trường hợp bị tật lé (strabisme). Được tiêm vào, dưới gây mê tổng quát, trong các cơ vận động gây nên chứng lé này, toxine botulique cho phép làm giãn các cơ vận nhãn và như thế chữa tạm trong khi chờ đợi can thiệp ngoại khoa. Ở những người già cả, khi mí mắt cuộn vào bên trong mắt một cách bất thường (entropion), gây đau dữ dội và nguy cơ loét giác mạc do các lông mi cọ trên giác mạc, toxine botulique lại còn cho phép kéo dài thời gian chờ đợi một phẫu thuật khả dĩ ”, BS Benzacken đã nhấn mạnh như vậy.
Sau cùng, vấn đề lớn nhất của toxine botulique không phải do những chỉ định của nó. Các thầy thuốc thần kinh và nhãn khoa có hàng trăm ngàn bệnh nhân đã được điều trị thành công với những chỉ định này. “ Vấn đề là ở chỗ thời gian tác dụng của độc tố khá ngắn, do đó lợi ích cần phải hiệu chính những công thức mới hiệu năng hơn, và số lượng rất thiếu những thầy thuốc được đào tạo để thực hiện những mũi tiêm này. Vì các chỉ định càng ngày càng nhiều, nhưng các chuyên gia được đào tạo cho kỹ thuật này không gia tăng, do đó những hàng bệnh nhân chờ đợi càng kéo dài ra, điều này trở nên thiệt hại cho những người có liên quan ”, BS Simonetta-Moreau đã lấy làm tiếc như vậy.
(LE FIGARO 12/12/2011)

4/ VITAMINES VÀ OMEGA 3 : LỢI ÍCH ĐỐI VỚI NÃO BỘ CỦA NHỮNG LÃO NIÊN
Một công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí “ Neurology ” cho thấy rằng những mức cao của các vitamine B, C, D, E và những oméga 3 (chủ yếu hiện diện trong vài loại cá) có những tác dụng dương tính lên sức khỏe tâm thần và sức khỏe chung của những người già. Các nhà nghiên cứu đã trắc nghiệm 30 chỉ dấu sinh học (biomarqueur) của các chất dinh dưỡng trong máu ở 107 người già tham dự với tuổi trung bình 87 tuổi. Những người có những nồng độ tăng cao của các vitamine này và oméga 3 có năng lực tâm thần và trí nhớ tốt hơn những người tiêu thụ những thức ăn có giá trị dinh dưỡng thấp.
(PARIS MATCH 12/1 –18/1/2012)

5/ CÁC VITAMINES KHÔNG PHẢI LÀ VÔ HẠI
Trong những tuần qua, nhiều công trình nghiên cứu lớn cáo buộc nặng nề tác dụng dương tính của các chất bổ sung dinh dưỡng (supplément nutritionnel) như các complexe vitaminé hay vài chất dinh dưỡng (nutriment). Một công trình nghiên cứu đầu tiên được công bố trong Archives of Internal medicine đã cho thấy rằng những chất bổ sung vitamine (supplément vitaminé), các vitamine, acide folique, sắt, Mg hay đồng không cải thiện tỷ lệ sống còn của những phụ nữ trên 62 tuổi.
Vài ngày trước đó, các nhà nghiên cứu đã xác lập mối liên hệ giữa việc sử dụng các chất bổ sung vitamine E và một sự gia tăng 17% nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt, trong một công trình nghiên cứu được công bố bởi Jama.
Vậy những công trình nghiên cứu này dường như rung chuông báo tử một tín điều, phát xuất từ Bắc Mỹ, mà một thầy thuốc đa khoa tóm tắt như sau : “ Các bệnh nhân của tôi đôi khi nghĩ rằng vì lẽ khó có được một cân bằng các chất dinh dưỡng nhờ một chế độ ăn uống đủ đa dạng và thay đổi, nên các chất bổ sung (complément) có thể được sử dụng như là một loại assurance-santé nhằm lấp một sự thiếu hụt tiềm tàng.”
Nhưng cùng lúc, những công trình nghiên cứu khác xác nhận vai trò rất quan trọng của các chất dinh dưỡng, như vitamine D. Sinh tố này đóng một vai trò thiết yếu cho một đáp ứng hiệu quả của hệ miễn dịch chống lại những nhiễm trùng như lao, vì tác dụng của những interféron tự nhiên đòi hỏi những mức đầy đủ vitamine D, mà tình trạng thiếu hụt nhiều và mãn tính đã được biết rõ. Thế phải làm gì ?
CÁC VIÊN THUỐC CHỐNG OXY HÓA (PILLULE ANTIOXYDANTE) ? ĐỪNG DÙNG NHIỀU QUÁ !
Jean Nève là giáo sư khoa dược (ULB, Bỉ) và là chuyên gia về những micronutriment. Ông là chủ tịch của Hội đồng cao cấp y tế.
Hỏi : Nhiều công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng sự sử dụng các chất bổ sung chống oxy hóa (complément antioxydant) không hoàn toàn có lợi cho sức khỏe, thậm chí đôi khi có hại.
Jean Nève : Những kết luận của những công trình nghiên cứu này, dầu là dương tính hay âm tính, dĩ nhiên chỉ có giá trị trong những điều kiện khá đặc biệt trong đó chúng đã được thực hiện. Do đó cần phải tránh mọi sự khái quát hóa vội vàng. Những công trình khác đã cho thấy những lợi ích, nhất là với những liều cung cấp sinh lý hơn, gần với những liều được cung cấp bởi một chế độ ăn uống “ đa dạng và quân bình ” (une alimentation variée et équilibrée) ”. Trong trường hợp các chất chống oxy hóa (antioxydant), trước hết phải hiểu rằng oxygène dưới dạng hoạt hóa, những “ radicaux libres ”, trước hết là có lợi. Những dạng này cần thiết cho sự hoạt động của cơ thể của chúng ta, thí dụ của hệ miễn dịch, với nhiệm vụ tiêu diệt các vi khuẩn và siêu vi trùng. Tuy nhiên, với những liều lượng quá lớn, chúng trở nên rất hung dữ đối với các tế bào, cũng giống hệt như, thí dụ, eau oxygénée được đặt trên da. Vậy trước hết cần phải tôn trọng một sự quân bình tinh tế giữa pro-và antioxydant. Các chất chống oxy hóa (antioxydant) là những thành phần bình thường của những tế bào của chúng ta, nhưng nhiều chất chống oxy hóa như các vitamine A,C và E cũng như sélénium và kẽm, phải được cung cấp bởi thức ăn bởi vì chúng ta không thể chế tạo chúng.
Hỏi : Thức ăn có đủ cho công tác ?
Jean Nève : Thức ăn có thể đủ nếu chế độ ăn uống được chăm chú và đa dạng, nhưng dầu sao ta chứng thực nhiều thiếu hụt trong một bộ phận quan trọng của dân chúng. Ô nhiễm, rượu, thuốc lá, chế độ ăn uống mất quân bình (những loại mỡ xấu) cũng có phần trách nhiệm trong sự bất quân bình của hệ phòng vệ chống oxy hóa (système de défense antioxydatif) của chúng ta. Phản ứng oxy hóa (oxydation) có thể tấn công ADN, điều này dẫn đến ung thư. Hay các lipide gây nên xơ vữa động mạch. Trong trường hợp này, sự tiêu thụ nhiều hơn trái cây và rau xanh, giàu các chất chống oxy hóa (vitamines, polyphénols, caroténoides như lutéine hay lycopène) có thể giúp một cách hữu hiệu. Thậm chí những chất bổ sung, nhưng được chọn lựa một cách đúng đắn và nếu có thể, theo lời khuyến nghị của một người làm công tác y tế nghiêm chỉnh…
Hỏi : Bởi vì có những người ít đứng đắn hơn ?
Jean Nève : Những kẻ ít đắn đo tự hào những phương pháp không rõ ràng, như “ micronutrition ”, và hứa hẹn với các bạn những bilan và những sự tái quân bình chỉ là cuồng tưởng. Micronutrition trước hết là một lãnh vực nghiên cứu và không được dựng lên thành quá trình điều trị. Việc chứng tỏ rằng các vitamine làm giảm nguy cơ ung thư ở những người Hoa “ suy dinh dưỡng ” có nguy cơ cao mắc bệnh không có nghĩa rằng ta rút được cùng lợi ích nếu ta bị một nguy cơ thấp hơn. Cũng vậy, hiện nay người ta đã xác lập rằng các chất bổ sung này làm gia tăng nguy cơ bị những bệnh lý ở những người vốn đã suy yếu, như những người hút thuốc hay những người có những bất thường tuyến tiền liệt. Vậy phải thận trọng và để cho những nhà khoa học làm việc vì họ ý thức về những giới hạn này.
Hỏi : Tất cả những chất chống oxy hóa đều ngang nhau ?
Jean Nève : Không. Đôi khi ta có nhiều biến thể hóa học của cùng chất chống oxy hóa hay của cùng vitamine. Nếu bạn dùng biến thể này hay biến thể kia, các kết quả có thể khác nhau bởi vì biodisponibilité, nghĩa là lượng của chất thật sự được sử dụng trong cơ thể của các bạn có thể thay đổi rất nhiều. Ta cũng có thể chứng thực những đối kháng hay cộng lực giữa các chất này.
Hỏi : Vậy, trừ trường hợp bị thiếu hụt rõ rệt, tốt hơn là kiêng dùng…
Jean Nève : Không nhất thiết. Thí dụ việc cho bổ sung acide folique và iode trước khi dự định có thai đối với tôi dường như không thể tranh cãi được. Vitamine D cũng được chỉ định đối với nhiều trẻ em và mọi người già trong nhà dưỡng lão. Ngoài ra khi mùa thu đến, có thể hữu ích khi sử dụng một phức hợp các chất chống oxy hóa với những liều ta gọi là “ nutritionnelle”, nghĩa là gần với điều mang lại bởi một chế độ ăn uống thay đổi (une alimentaion variée). Công trình nghiên cứu Suvimax đã chứng tỏ rằng sự sử dụng một chất bổ sung như thế sau 8 năm dẫn đến một sự giảm 30% tỷ lệ tử vong và ung thư ở đàn ông. Ngược lại, dùng những liều lượng lớn dường như không được chỉ định : nhiều nhất không phải là tốt nhất. Lý tưởng là một chế độ ăn uống thay đổi, không lập lại, với những cung cấp đủ trái cây, rau xanh và ngũ cốc hoàn toàn. Nhưng thời đại ngày nay nói dễ hơn làm. Cũng không nên nghĩ rằng các chất dinh dưỡng là các loại thuốc. Và đừng cho nhiều chất bổ sung (polysupplémenter) một cách mù quáng.
(LE SOIR 3/11/2011)

6/ MỘT HY VỌNG ĐỐI VỚI CÁC BỆNH TỰ MIỄN DỊCH
Bệnh đái đường, bệnh xơ cứng rải rác, lupus, viêm đa khớp dạng thấp…những bệnh tự miễn dịch là nguyên nhân thứ ba gây bệnh tật trong các nước phát triển. Rằng một điều trị có thể dùng chung cho tất cả các bệnh tự miễn dịch này dường như hoàn toàn là điều kỳ diệu. Tuy vậy chính đó là hy vọng được hé mở với kết quả thu được bởi nhóm nghiên cứu của David Klatzmann và Patrice Cacoub ở bệnh viện la Pitié-Salpêtrière (Paris). Được công bố trong New England Journal of Medicine ngày 1 tháng 12, bài báo báo cáo về điều trị thành công 10 bệnh nhân bị bệnh viêm mạch máu tự miễn dịch (vascularite auto-immune) do viêm gan C, bằng cách cho những liều lượng nhỏ interleukine 2.
Những bệnh tự miễn dịch (maladie auto-immune) là một phản ứng quá mức của hệ miễn dịch của một cơ quan quay trở lại chống những tế bào của chính cơ quan này, dẫn đến sự phá hủy các mô lành mạnh. Từ nhiều năm nay, nhiều kết quả làm nghi ngờ một mối liên hệ giữa sự phát khởi những căn bệnh tự miễn dịch với sự vắng mặt của vài loại bạch cầu, các tế bào lympho T được gọi là điều hòa (lymphocyte T régulateur), cũng như sự vắng mặt của một yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance) liên kết với những tế bào lympho này, interleukine 2. Những kết quả thu được của các nhà nghiên cứu Pháp dường như hỗ trợ hoàn toàn cho mối liên hệ này bởi vì, ở 10 bệnh nhân được điều trị bởi yếu tố tăng trưởng, ta quan sát thấy một sự gia tăng trở lại những tế bào lympho T điều hòa và sự thoái biến những triệu chứng của viêm mạch máu.
“ Theo lý thuyết, điều trị dựa trên interleukine 2 được áp dụng cho tất cả các bệnh tự miễn dịch, David Klatzmann đã ghi nhận như vậy. Trên thực tiễn, điều đó vẫn phải được xác nhận bởi vì tất cả các bệnh lý không đồng nhất. ” Những bệnh tự miễn dịch khác sẽ được thử nghiệm với điều trị dựa trên interleukine 2 này. Bệnh kế tiếp sẽ được điều trị là bệnh xơ cứng rải rác (sclérose en plaques) : một hy vọng điều trị sẽ được bắt đầu vào tam cá nguyệt thứ hai của năm 2012.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2012)

7/ UNG THƯ MÁU : THÀNH CÔNG ĐẦU TIÊN CỦA MỘT MIỄN DỊCH LIỆU PHÁP NHẮM ĐÍCH.
BS Valérie Lapierre, trưởng trung tâm liệu pháp tế bào ở Viện ung thư học Gustave-Roussy, giải thích tác dụng của một điều trị mới sử dụng những tế bào của chính bệnh nhân.
Hỏi : Quá trình ác tính của một ung thư máu hay ung thư bạch cầu (leucémie) là gì ?
BS Valérie Lapierre. Những tế bào máu của chúng ta (phát xuất từ những tế bào gốc của tủy xương) đổi mới thường trực, nhưng có một thời gian sống (durée de vie) bị giới hạn. Trong trường hợp ung thư, chúng không chết nữa và không bao giờ ngừng phân chia. Do vậy, những tế bào trở nên ung thư này xâm chiếm các mô lành mạnh, trước hết tủy xương, nhưng cũng xâm chiếm gan, lá lách, những hạch bạch huyết. Có nhiều loại ung thư máu, trong đó có ung thư bạch cầu cấp tính (leucémie aigue) (gây bệnh chủ yếu trẻ em) và những leucémie lymphoide chronique, dạng thường nhất ở người trưởng thành (sau 65 tuổi).
Hỏi : Leucémie lymphoide chronique phát triển như thế nào ?
BS Valérie Lapierre. Trong máu gần như luôn luôn có một sự gia tăng của những tế bào lympho B, có thể so sánh với một trong những “ quân đoàn ” của hệ miễn dịch. Vai trò của chúng là tiết các phi đạn nhắm đích (missiles ciblés) (các kháng thể) chống lại một cách đặc hiệu một tác nhân bên ngoài, như siêu vi trùng, các vi khuẩn…Trong những dạng mãn tính này, các tế bào lympho tăng sinh vô hạn định và sẽ xâm chiếm tủy xương.
Hỏi : Hậu quả sự loạn năng (dysfonctionnement) này là gì ?
BS Valérie Lapierre. Những tế bào của máu không phát triển bình thường nữa. Các tiểu cầu (plaquette) bị giảm số lượng và khó khăn trong việc sửa chữa các mạch máu, làm cho sự xuất hiện xuất huyết dễ xảy ra. Các bạch cầu, do số lượng không đủ, không còn bảo vệ một cách hữu hiệu chống lại những bệnh nhiễm trùng. Và sự hạ thấp tỷ lệ của hồng cầu (đặc biệt bị ảnh hưởng) dẫn đến thiếu máu.
Hỏi : Có những giai đoạn trầm trọng khác nhau không ?
BS Valérie Lapierre. Có 4 giai đoạn. 1. Tỷ lệ những tế bào lympho tăng gấp đôi nhưng không gây triệu chứng rõ ràng. 2. Gan và lách đã gia tăng thể tích (xâm nhập hạch hay không).3.Ta phát hiện một tình trạng thiếu máu quan trọng ít hay nhiều với mệt mỏi và khó thở. 4. Các phòng vệ miễn dịch cực kỳ bị suy yếu. Khi đó những nhiễm trùng thường xảy ra : điều trị là cần thiết, thời gian sống có nguy cơ giảm nhiều.
Hỏi : Thường thường điều trị như thế nào ?
BS Valérie Lapierre. Điều trị nhằm thực hiện hóa học liệu pháp với những loại thuốc có tác dụng loại bỏ những tế bào ung thư. Vài loại thuốc cũng giết chết những tế bào lành mạnh, do đó bệnh nhân lại càng mỏi mệt nhiều hơn. Trong vài trường hợp ta quyết định ghép tủy. Mục đích là phá hủy hoàn toàn tủy của người bệnh để thay thế nó bằng một tủy lành mạnh. Điều trị đặc biệt nghiêm trọng bởi vì các biến chứng có thể xảy ra. Cứ hai bệnh nhân được ghép thì một có cơ may được chữa lành hoàn toàn. Chiến lược này chỉ có thể được dự kiến với điều kiện có một người cho tủy tương hợp (un donneur compatible).
Hỏi : Tác dụng của điều trị mới được công bố trong “ New England Journal of Medicine ” là gì ?
BS Valérie Lapierre. Đó là một liệu pháp tế bào nhắm đích (immunothérapie cellulaire ciblée). Phương thức được áp dụng thành nhiều giai đoạn. 1. Ta trích lấy rồi phân lập vài tế bào máu của bệnh nhân : những tế bào lympho T. 2. Ta cấy những tế bào lympho T này trong phòng thí nghiệm nhằm mục đích “ huấn luyện ” chúng (bằng cách biến đổi génome) để chúng chuyên đi tìm những tế bào lympho B ung thư và tiêu diệt. 3. Ta tiêm trở lại những tế bào lympho được biến đổi này cho bệnh nhân bằng đường tĩnh mạch. Trong một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi một kíp của đại học Pennsylvanie, điều trị này đã được thực hiện ở 3 bệnh nhân ở giai đoạn 4 của viêm bạch cầu lympho mãn tính (leucémie lymphoide chronique). Những tế bào được biến đổi về mặt di truyền này trở thành những “ des tueurs en série ”.
Hỏi : Những kết quả là gì ?
BS Valérie Lapierre. Những kết quả mang lại một nguồn hy vọng lớn : 11 tháng sau điều trị, ở hai trong số các bệnh nhân, ta đã có được một sự thuyên giảm hoàn toàn. Tình trạng của bệnh nhân thứ ba đã rất được cải thiện. Những tác dụng phụ tạm thời được thể hiện bằng sốt và nôn.
Hỏi : Sự thành công này có dẫn đến những thử nghiệm đối với những ung thư khác ?
BS Valérie Lapierre. Với một phương pháp miễn dịch liệu pháp khác, chúng tôi hiện đang tiến hành một công trình nghiên cứu đối với ung thư phổi. Những kết quả đầu tiên đáng phấn khởi. Chắc chắn rằng sự thành công của công trình nghiên cứu Hoa Kỳ mang lại những niềm hy vọng lớn đối với những loại ung thư khác.
(PARIS MATCH 3/11 – 9/11/2011)

8/ TIÊM NHỮNG TẾ BÀO GAN LÀM TÁI SINH GAN CỦA MỘT EM BÉ
PREMIERE MONDIALE. Nhóm nghiên cứu của King’s College Hospital de Londres (Anh Quốc) đã thành công làm tái sinh một lá gan, trong trường hợp này là gan của một nhũ nhi 2 tháng, không phải bằng cách ghép gan hoàn toàn nhưng bằng cách tiêm những tế bào gan (hépatocyte). Những tế bào này đã được cho qua đường nội phúc mạc (voie intrapéritonéale), nghĩa là trực tiếp vào trong bụng của một em bé bị suy gan cấp tính do viêm gan siêu vi nặng. Rất nhanh chóng, trong vòng hai tuần sau khi tiêm, gan đã tái sinh và tình trạng chung của đứa bé được cải thiện.
6 tháng sau, các chức năng gan đã gần như được phục hồi, các thầy thuốc chuyên về gan người Anh đã chỉ rõ như vậy với BBC vào tháng 11, khi công bố kết quả đầu tiên trên thế giới này. Nói rõ hơn : các tế bào gan được ghép đã được bọc trong một thành phần được cấu tạo bởi tảo biển (algue marine), để tránh cho chúng khỏi bị những tấn công của hệ miễn dịch. Sau cùng những tế bào này đóng vai trò một lá gan tạm thời. Tiếp sức cơ quan bị suy đồng thời đảm bảo thay nó vai trò lọc, những tế bào ghép đã cho phép gan suy phục hồi trước khi bắt đầu tái sinh.
Phương thức này, ít nặng nề hơn ghép gan cổ điển, cũng có một lợi điểm khác, đó là không phải điều trị suy giảm miễn dịch suốt đời. Một thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn hơn được King’s Hospital dự kiến. Nếu hiệu quả của kỹ thuật này được xác nhận, phương thức này sẽ là một giải pháp thay thế đáng quan tâm cho những người phải chờ đợi để được ghép gan.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2012)

9/ UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN DI CĂN : NHỮNG VŨ KHÍ MỚI DÀNH CHO MỘT GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN
GS Karim Fizazi, trưởng khoa ung thư Viện Gustave-Roussy de Villejuif, giải thích tác dụng của những loại thuốc chống ung thư mới, đặc biệt đầy hứa hẹn.
Hỏi : Tần số hiện nay của các ung thư tiền liệt tuyến ?
GS Karim Fiazi. Ở Pháp, ta liệt kê 70.000 trường hợp mới mỗi năm, trong đó hơn 10.000 trường hợp bị di căn. Những ung thư này xuất hiện gần như luôn luôn sau 50 tuổi.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại những giai đoạn khác nhau của ung thư tiền liệt tuyến ?
GS Karim Fiazi. Có 3 giai đoạn. 1. Giai đoạn khu trú (stade localisé), trong đó khối u vẫn ở bên trong tiền liệt tuyến. 2. Giai đoạn trong đó những tế bào ung thư đã vượt qua các thành của tuyến tiền liệt. 3. Giai đoạn di căn (stade métastatique) trong đó những tế bào ung thư di tản, thường và về phía những hạch bạch huyết và xương.
Hỏi : Về những ung thư với di căn, trong những năm qua, những tiến bộ nào đã chính thức cải thiện tiên lượng ?
GS Karim Fiazi. Cho đến mãi năm 2000, chỉ có hormone liệu pháp và khi điều trị này thất bại, tiên lượng xấu đi. Sau đó, hai loại thuốc mới đã xuất hiện : một là hóa học liệu pháp (docétaxel), hướng chống lại những tế bào ung thư, và một loại thuốc khác (zolédronate) nhằm vào xương. Với hai loại điều trị này, ta đã cải thiện được tiên lượng. 7 năm tiếp theo thì dịu đi hơn. Ngược lại, những năm 2010 và 2011 quả thật là ngoại lệ : cả một loạt những phương pháp mới đã cho thấy tính hiệu quả của chúng để cải thiện tình trạng của những bệnh nhân bị một ung thư tuyến tiền liệt di căn.
Hỏi : Những điều trị mới nhất này là gì ?
GS Karim Fiazi. Trong số 5 điều trị đã tỏ ra có hiệu quả, hai đã được sử dụng trong các trung tâm bệnh viện : abiraterone (một hormone liệu pháp) và cabazitaxel (một hóa học liệu pháp). Với hai điều trị này, những tiến bộ đạt được đã là đáng kể ! Ba loại thuốc khác đang chờ đợi để được thương mãi hóa. Loại thuốc thứ nhất, denosumab, mạnh hơn zolédronate, ngăn cản sự phá hủy xương gây nên bởi các di căn và do đó gây nên các biến chứng (gãy xương,..). Loại thuốc thứ hai, alpharadine, có một tác dụng đặc biệt đổi mới : thuốc này nhắm đích và tỏa vào những tế bào ung thư ở nơi mà những tế bào này đến gắn vào, trong các xương. Loại thuốc thứ ba, sipuleucel-T (một miễn dịch liệu pháp), được thương mãi hóa ở Hoa Kỳ. Điều trị này nhằm trích lấy những tế bào miễn dịch của bệnh nhân để dạy cho chúng, trong phòng thí nghiệm, nhận biết và giết chết những tế bào ung thư. Sau đó những tế bào này được tiêm trở lại vào bệnh nhân.
Hỏi : Ông vừa thông báo một bước tiến mới với một điều trị đặc biệt đầy hứa hẹn. Tác dụng của điều trị này là gì ?
GS Karim Fiazi. Loại thuốc hormone liệu pháp này (MDV-3100) tác dụng khác với những loại thuốc khác. Trong khi những điều trị hormone liệu pháp cổ điển nhằm ngăn cản sự sản xuất của testostérone (kích thích tố làm dễ và kích thích sự tăng trưởng của những tế bào ung thư), điều trị mới này phong bế hormone đi đến tế bào ác tính và ngăn cản nó gắn vào những thụ thể của tế bào này (cửa vào).
Hỏi : Công trình nghiên cứu nào đã chứng minh tính hiệu quả của điều trị mới này ?
GS Karim Fiazi. Một công trình nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện trên hơn 1000 bệnh nhân bị ung thư di căn đề kháng với những điều trị quy ước bằng hormon liệu pháp và hóa học liệu pháp. Các bệnh nhân đã được chia thành hai nhóm : những bệnh nhân nhận MDV-3100 và những bệnh nhân được điều trị như bình thường. Kết quả : những bệnh nhân được điều trị với MDV- 3100 có thời gian sống được cải thiện 37%. Những công trình nghiên cứu khác hiện đang được tiến hành ở châu Âu và ở Hoa Kỳ để xác định 6 điều trị mới này có phải được sử dụng ở những giai đoạn sớm hơn để còn làm ngừng tốt hơn tiến triển của bệnh.
Hỏi : Khi nào ta sẽ có thể sử dụng một cách thường quy loại thuốc mới nhất này ?
GS Karim Fiazi. Có lẽ từ nay đến 1 năm nữa, với điều kiện được cho phép chính thức. Với tất cả những tin vui này, từ nay ta có thể dự kiến điều trị các ung thư tuyến tiền liệt di căn như điều trị một bệnh nhân bị bệnh mãn tính.
(PARIS MATCH 15/12 – 21/12/2011)

10/ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ : PHÒNG NGỪA BẰNG KHÁNG SINH ?
Nhiều tài liệu xuất bản đã xác lập một mối liên hệ giữa những bệnh nha chu (maladies parodontales) do vệ sinh răng kém và một phình động mạch chủ bụng (anévrisme de l’aorte abdominale). Một vi khuẩn, porphyromonas gingivalis), đã được phát hiện trong các cục máu đông của các bọc phình mạch (poches d’anévrimes). Những phản ứng gây nên bởi vi khuẩn góp phần làm thành động mạch chủ dễ vỡ. Các nhà nghiên cứu Pháp đã tiến hành một công trình nghiên cứu ở chuột xac nhận cơ chế này. Biện pháp phòng ngừa sẽ là một kháng sinh : doxycycline.
(PARIS MATCH 29/12/2011 – 4/1/2012)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(13/1/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s