Lyon (tiếp theo)

PRESQU’ILE

Phần phía bắc của Bán Đảo là trung tâm thương mại của Lyon. Giữa Place Bellecour ở phía nam và Place des Terreaux ở phía bắc, các con đường và dinh thự được hình thành qua nhiều thế kỷ lịch sử. Rue Mercière và Rue Longue là những con đường từ thời Phục Hưng.

Các quảng trường theo thứ tự từ phía nam lên phía bắc gồm có :
– PLACE CARNOT
– PLACE AMPERE :

– PLACE ANTONIN-PONCET :

– PLACE BELLECOURT :

– được xây dựng đầu thế kỷ thứ 18, dưới thời vua Louis IV.
– Tâm điểm của thành phố. Từ đó thấy được các ngọn đồi Fourvière và Croix-Rousse.
– một trong những công viên lớn nhất của châu Âu.
– là quảng trường lớn thứ ba của Pháp, sau Esplanade des Quiconces ở Bordeaux và Place de la Concorde ở Paris.
– Ở giữa quảng trường là tượng vua Louis IV cỡi ngựa. Tượng này chỉ là một bản sao của nguyên bản bị phá hủy trong thời cách mạng. Tượng nguyên thủy được thiết hoạch vào thế kỷ 17.
– Trong Thời Kỳ Khủng Bố (1793-1794), các dinh thự ở vùng kế cận bị san bằng vì sự giận dữ của các nhà cách mạng trong cuộc nổi dậy năm 1793 chống lại Công Ước (Convention). Hàng ngàn dân Lyon bị hành quyết bởi vì thành phố này đã chống lại chính quyền cách mạng (Lyon a fait la guerre à la liberté, Lyon n’est plus). May thay sự cáo chung của Robespierre đã tránh cho thành phố những tàn phá to lớn hơn nữa.
– Ở đây có tượng của Antoine de Saint-Exupéry, nhà văn này sinh ra ở Bellecour.
– PLACE DES JACOBINS :

– PLACE DE LA REPUBLIQUE :
Rue de La République
– đây là con đường thương mãi và dành cho bộ hành. Rất nhộn nhịp vào ngày thứ bảy nhưng lại vắng hoe vào ngày chủ nhật
– nổi tiếng bởi các tòa nhà đẹp từ thế kỷ 19 (có các cửa sổ rất điển hình của Lyon).

– PLACE DES CORDELIERS
– ở đây có nhà thờ Eglise Bonaventure, được xây dựng vào thế kỷ XIII bởi các tu sĩ dòng Franciscain.
– PLACE SAINT-NIZIER :
– ở đây có Eglise Saint-Nizier được xây dựng từ đầu thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XVI để thờ Thánh Nizier, Tổng giám mục Lyon vào thế kỷ VI.
– PLACE DE LA COMEDIE :
– ở đây có Opera House, được xây dựng năm 1832.
– PLACE DES TERREAUX :
– ngày xưa đây là một cái hố (fossé) chạy dọc theo thành phòng ngự (fortification), ngăn cách Bán Đảo với Croix-Rousse. Vào thế kỷ XVI, hố được lấp để tạo thành một công viên.Trong thời kỳ cách mạng, máy chém được đặt ở đây.
– vật trang trí trung tâm của quảng trường là Fontaine Bartholdi được xây dựng từ thế kỷ 19. Đài nước này được cấu tạo bởi 21 tấn chì và được điêu khắc bởi Frederic-Auguste Bartholdi (nhà sáng tạo tượng Thần Tự Do ở Nữu Ước). 4 con ngựa kéo xe chở (chariot) biểu tượng cho 4 con sông chảy ra biển
– Hôtel de ville :
– đối diện với Place des Terreaux.
– được xây dựng giữa thế kỷ XVII.
– tháp chuông mỹ miều với horloge và carillon.
– trong thời kỳ cách mạng ở đây là tòa án.
– Musée des Beaux-Arts : ở phía nam quảng trường, trong Palais Saint-Pierre.
– Rue Mercière : là nơi tập trung duy nhất các mặt tiền (façade) có kiến trúc từ thời Phục Hưng.

FONTAINE BARTHOLDI

Đài nước Bartholdi nằm ở Place des Terreaux. Khởi thủy đài nuớc này được thực hiện dành cho Thành Phố Bordeaux. Nhưng vì thành phố này không có phương tiện tài chánh để mua vì vậy Lyon đã tậu đài nước năm 1892. Khởi đầu, kiệt tác được làm bằng chì này nằm ở trung tâm của quảng trường. Sau đó đài nước bị xê dịch đổi chỗ nhiều lần trước khi vĩnh viễn được đặt ở vị trí hiện nay. Người phụ nữ trên cổ xe biểu hiện Nước Pháp được kéo bởi 4 con sông lớn. Ta sẽ có cảm tưởng thật sự rằng cổ xe sắp tiến lên phía trước. Hãy quan sát các móng ngựa, hơi xoe ra như các con quái vật biển.

LYON VÀO THẾ KỶ XVII và XVIII

Vào thế kỷ XVII, Lyon đã trải qua nhiều tai họa.Thuế má quyên góp nặng nề để thỏa mãn những nhu cầu. Chánh quyền nhà vua đã làm lung lay nền kinh tế địa phương và gây nên vài cuộc nổi dậy. Thêm vào đó là các cơn lụt lội chết người và những trận dịch hạch khiến thành phố càng ngày càng suy sụp.
Nếu thế kỷ XVI là thế kỷ của các nhà văn thì thế kỷ XVIII là thế kỷ của các nhà khoa học. Bichat xây dựng nền tảng cho môn Sinh Lý Học trong khi anh em Jussieu bắt đầu thực hiện việc xếp loại thực vật và Bourgelat sáng lập trường Nông Lâm Súc đầu tiên ở Âu Châu. Jouffroi d’Abbans phát minh hỏa thuyền (pyroscaphe) và đi ngược dòng sông Saone với chiếc bơm lửa (pompe à feu) của mình. Trong khi đó anh em Montgolfier biểu diễn sự thăng thiên với quả khinh khí cầu. Vài năm sau đó André-Marie Ampère (1775-1836) thực hiện một loạt thí nghiệm điện vật lý. Nhà khoa học đam mê và đãng trí này đã phát minh ra điện kế (galvanomètre), máy điện báo (télégraphe électrique) và một quy tắc để xác định chiều của từ trường (champ magnétique), được biết dưới tên Bonhomme d’Ampère.
Ampère còn để lại một đơn vị đo lường gọi là Ampère cho các máy điện của chúng ta ngày nay. Cũng vào thời kỳ này Vaucanson, nhất là Jacquard phát minh và hiệu chính một hệ thống máy dệt mới. Joseph Marie Jacquard sinh ngày 7//7/1752 ở Lyon, đã thực hiện cuộc cách mạng kỹ nghệ đầu tiên trong kỹ nghệ dệt bằng cách phát minh ra máy dệt có thể lập chương trình truớc (machine programmable). Máy dệt nổi tiếng này gọi là Le Métier Jacquard. Nhờ phát minh này đã tiết kiệm được nhân công và hạ giá thành sản phẩm. Sự phát minh này có lợi cho giới chủ nhưng gây phản kháng trong giới công nhân dệt (canuts de Lyon), mầm mống của các cuộc nổi dậy năm 1831, 1834 và 1848 (mà Karl Marx qua đó đã tổng kết kinh nghiệm trong cuốn Capital). Nhưng thời kỳ này cũng là thời kỳ sau Cách Mạng 1789. Do thái độ chống cách mạng, bảo hoàng, một đạo luật năm 1793 quy định rằng : Lyon fit la guerre à la liberté, Lyon n’est plus. 3000 dân Lyon bị Robespierre đưa lên máy chém. Khi Robespierre chết đi, lại bắt đầu cuộc khủng bố trắng. Các nhà Jacobin bị tàn sát hàng loạt. Phải đến thời Napoléon mới chấm dứt cuộc chém giết điên cuồng này.

ANDRE-MARIE AMPERE

Sinh ở Polémieux-au-Mont-d’Or, gần Lyon, con trai của một vị thẩm phán tòa hòa giải bị xử chém dưới thời Cách Mạng, André-Marie-Ampère có một sự nghiệp khoa học sáng chói.
Năm 1801, sau khi đã phải đi dạy tư để kiếm tiền dành dụm làm đám cưới, ông được bổ nhiệm làm giáo sư vật lý ở École Centrale de L’Ain. Năm sau, ông viết Considérations sur la Théorie Mathématique du Jeu. Sau đó Ampère nhanh chóng nhận chức trưởng bộ môn toán học và thiên văn học của trường trung học Lyon vừa mới được thành lập. Bị mang dấu ấn sâu đậm do cái chết của vợ, không bao lâu sau đó, do vì không còn chịu đựng được cuộc sống ở Lyon, ông đã quyết định lên Paris.
Nhờ sự nâng đỡ của nhà thiên văn Jean-Baptiste Delambre, ông tìm được việc làm ở Trường Bách Khoa Kỹ Thuật với tư cách một thầy phụ đạo (répétiteur). Kể từ đó sự nghiệp làm giáo sư của ông được thăng tiến. Năm 1808, ông trở thành Tổng thanh tra của Đại Học. Năm 1809 ông nhận chức trưởng bộ môn cơ khí của trường Bách Khoa Kỹ Thuật và cuối cùng năm 1814 được nhận làm hội viên của Hội Hàn Lâm Học.
Năm 1820, sau thí nghiệm Oersted, ông trở nên nổi tiếng bởi những khám phá của ông trong các lãnh vực Điện Từ và Điện Động. Ông là nhà phát minh ra điện kế (galvanomètre), điện báo và điện nam châm. Ông xây dựng lý thuyết Điện Động của Từ Học (magnétisme). Ông là người đầu tiên có ý nghĩ về cường độ dòng điện. Chúng ta cũng chịu ơn ông về quy luật được gọi là Bonhomme Ampère. Ông mất ở Marseille năm 1836 mà không được hưởng các vinh dự vốn phải được dành cho ông.

SAINT-EXUPERY

Antoine de Saint-Exupéry sinh ở Lyon ngày 29 tháng 6 năm 1900. Ông thi hành nghĩa vụ quân dịch trong ngành hàng không trước khi vào Không Bưu (Aéropostale) năm 1926. Ngay từ năm 12 tuổi ông đã lái máy bay lần đầu và nỗi đam mê về hàng không từ đó mãi hoài gắn bó với ông. Cuốn tiểu thuyết đầu tay Chuyến thư miền nam (Courrier Sud) là kết quả của những năm đầu trong ngành hàng không, được viết vào ban đêm là lúc ông muốn che lấp nỗi cô đơn hiu quạnh của chính mình.
Sau một năm phục vụ ngành không bưu, 19/10/1927 ông được bổ nhiệm làm chef d’escale de Cap Juby thuộc miền nam Maroc. Sau đó Saint-Exupéry cùng hai bạn đồng đội là Guillaumet và Mermoz thực hiện các chuyến bay qua Nam Mỹ để tìm khả năng thiết lập các đường hàng không mới. Tháng 7/1929, được bổ nhiệm làm Chef d’Aeroposta Argentina, ông thiết lập đường hàng không Patagonie. Từ năm 1929 đến năm 1939, ông đảm nhiệm các chuyến bay không bưu ở Argentine và cũng ở đây ông đã thành lập gia đình .
Năm 1931, tiểu thuyết thứ hai của ông Bay Đêm (Vol de Nuit) được giải thưởng Femina và đạt được thành công lớn. Vào năm này ông là phi công trên các chuyến bay đêm giữa Casablanca và Port-Etienne.
Năm 1933, tất cả các công ty hàng không được tập hợp lại trong cùng một công ty là Air France. Do sự thù địch của các kỹ sư trong hãng, ông không được nhận vào Air France.
Năm 1933 : tai nạn thủy phi cơ ở Saint-Raphael.
12/7/1934, Saint-Exupéry được nhận vào Air France và được gởi đi công tác ở Sài Gòn. Vì máy bay bị hỏng máy ông buộc phải hạ cánh ở cửa sông Mekong, vì vậy ông bị mất cơ hội viếng thăm Angkor. Vào năm này ông thực hiện các chuyến bay aller và retour giữa Marseille và Saigon.
Tháng 12/1935 một chuyến bay đường dài được tổ chức giữa Paris và Saigon nhằm nối liền 2 thủ đô trong khoảng thời gian bay dưới 5 ngày và 4 giờ. Nhưng máy bay trong đó có Saint-Exupéry và đồng đội đã đụng phải vùng cao của bình nguyên sa mạc Lybie và 2 phi công bị lạc trong sa mạc trước khi được caravane đưa về Ai Cập.
Năm 1938 : Saint Exupéry thực hiện chuyến bay giữa New York và La Terre-de-Feu nhưng máy bay ông bị tai nạn ở Guatemala. Bị mê man 5 ngày và bị 5 đường gãy xương sọ.
Năm 1939 : Sự bình phục sau đó cho phép ông viết cuốn Cõi Người Ta (Terre des Hommes) (tiếng Anh nhan đề là Wind, Sand and Stars) và được giải thưởng Grand Prix du Roman de l’Académie Française và giải National Book Award.
Năm 1940 : thực hiện các chuyến bay thám thính trên không phận Đức Quốc Xã với tư cách phi công thời chiến. Giải ngủ tháng 8/1940, ông quyết định trở lại Hoa Kỳ.
Năm 1941: Ông định cư ở Hoa Kỳ và thường trú ở New York rồi California và bắt đầu viết quyển Phi Công Thời Chiến (Pilote de Guerre) (Flight to Arras) và tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông Hoàng Tử Bé (Le Petit Prince).
2/1942 : Pilote de Guerre được xuất bản và là best-seller ở Hoa Kỳ trong vòng 6 tháng.
2/1943 : ông xuất bản Lettre à un otage.
3/1943 : ông tham gia cuộc đổ bộ của Mỹ ở Bắc Phi. Sau đó ông bị đình chỉ công tác vì lý do cao tuổi.
6/4/1943 : Hoàng Tử Bé (Le Petit Prince) được xuất bản.
Năm 1944 : Trước sự yêu cầu khẩn thiết của ông, Saint Exupéry được nhận cho phục vụ trở lại mặc dầu với những điều kiện hạn chế. 31/7/1944, ông thực hiện chuyến bay thám thính trên vùng trời Grenoble và Annecy. Mục đích của chuyến bay trinh sát này là để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ của đồng minh ở Provence. Ông cất cánh lúc 8 giờ 45 ở Borgo (Corse) nhưng sau đó chẳng bao giờ thấy ông bay trở lại nữa. Các mãnh vỡ của máy bay được tìm thấy ngày 7 tháng 4 năm 2004 ở ngoài khơi thành phố Marseille, gần đảo Riou đã được xác định là thuộc máy bay của Saint-Exupéry.
Sự ra đi của ông để lại một cuốn tiểu thuyết đã là một sáng tác còn đang dang dở. Đó là cuốn Thành Trì (Citadelle) mà ngày nay được cho là tổng hợp các tư tưởng của ông.

ĐẠI LINH
(22/7/2007)

Bài này đã được đăng trong Du lịch đó đây. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s