Thời sự y học số 254 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG PHƯƠNG CÁCH TỐT ĐỂ SỬA CHỮA CÁC ĐỘNG MẠCH


Một sự biến đổi vệ sinh đời sống là cần thiết để điều trị thành công.
CARDIOLOGIE. Mặc dầu các bệnh tim mạch vẫn là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở Pháp (chịu trách nhiệm 38% những trường hợp tử vong), chúng thụt lùi 30% từ khoảng 20 năm nay trong toàn thể các nước công nghiệp.
Tiến bộ này đã có thể đạt được là nhờ những biện pháp phòng ngừa những yếu tố nguy cơ và những can thiệp để sửa chữa các động mạch trước khi xảy ra một nhồi máu hay một tai biến mạch máu não gây chết người. “ Điều cải thiện nhất tiên lượng, đó là sự thay đổi lối sống, GS Nicolas Danchin, trưởng đơn vị các bệnh động mạch vành ở bệnh viện Georges-Pompidou (Paris), đã nhắc lại như vậy. Thí dụ việc ngừng thuốc lá chia đôi nguy cơ xuất hiện một vấn đề mới sau một sự cố đầu tiên.”
Sự biến đổi lối sống và một điều trị để kiểm soát những yếu tố nguy cơ động mạch ngay cả có thể đủ để tránh mọi can thiệp trực tiếp lên các huyết quản bị thương tổn. Tuy nhiên, ở Pháp, hơn 125.000 can thiệp angioplastie và 20.000 bắt cầu động mạch vành (pontage coronarien) tiếp tục được thực hiện mỗi năm
XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH (ATHEROSCLEROSE)
Xơ vữa động mạch là nguyên nhân của phần lớn các thương tổn động mạch. Bệnh lý này được đặc trưng bởi những lắng đọng lipide trên các thành của các huyết quản, có thể làm giảm một cách đáng kể đường kính trong của động mạch, thậm chí làm tắc nó hoàn toàn. Sự hẹp này, hoàn toàn hay không, biến đổi năng lực của động mạch vận chuyển máu đến cơ quan mà nó nuôi dưỡng, có thể ảnh hưởng lên chức năng của cơ quan này. Xơ vữa động mạch cũng biến đổi những tính chất của thành của các huyết quản, khi đó có thể phồng lên từng chỗ và tạo thành các phình mạch (anévrisme), khi vỡ có thể gây nên xuất huyết.
Những thương tổn động mạch này đôi khi được phát hiện sau một biến cố mạch máu, như một nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não. Chúng có thể là nguồn gốc của những triệu chứng cần được thăm dò, thí dụ một claudication intermittente hay một suy thận.
Sau hết, người thầy thuốc phải tìm kiếm những thương tổn động mạch để phòng ngừa một biến cố mạch máu ở một bệnh nhân có một số yếu tố nguy cơ nào đó : chứng nghiện thuốc lá, cao huyết áp, nồng độ cholestérol tăng cao, bệnh đái dường…
Sự thăm dò nhiều chuyên khoa được phối hợp bởi một thầy thuốc gia đình, có thể nhờ đến một thầy thuốc chuyên khoa mạch máu (angiologue), thầy thuốc chuyên khoa tim (cardiologue), một thầy thuốc chuyên khoa quang tuyến và/hoặc một thầy thuốc ngoại khoa mạch máu (chirurgien vasculaire).
Trong đại đa số các trường hợp, đặc biệt nếu số các thương tổn hạn chế và khu trú, động mạch có thể được sửa chữa bằng một kỹ thuật nội huyết quản (technique endovasculaire), can thiệp từ bên trong các động mạch. Đối với những trường hợp phức tạp hơn với những thương tổn trầm trọng hơn và/hoặc khuếch tán hơn, một phương pháp ngoại khoa được xét đến (xem bài số 3 dưới đây). Trong tất cả các trường hợp, một sự phối hợp các thuốc chống ngưng kết (antiaggrégant), chống cao huyết áp và chống cholestérol sẽ được chỉ định để làm giảm nguy cơ phát triển bệnh xơ vữa động mạch.
Angioplastie, thường được sử dụng nhất trong số những kỹ thuật nội mạch máu, thường nhằm đè nát mảng xơ mỡ (plaque d’athérome) nhờ một quả bóng nhỏ xíu có thể bơm phồng (un minuscule ballon gonflable) mà người thầy thuốc có thể, qua mạng mạch máu, đưa lên đến tận vùng được nhắm đến. Sau đó có thể đưa vào một lò xo kim loại (ressort métallique) được gọi là “ stent ” để củng cố các thành của động mạch ở nơi thương tổn. Các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu (antiaggrégant plaquettaire) cho phép phòng ngừa nguy cơ tắc trở lại do phản ứng của cơ thể đối với vật lạ này. Với thời gian, stent sẽ được phủ bởi những tế bào của thành mạch máu.
STENTS ACTIFS
Các stent được gọi là “ hoạt động ” có thể được thiết đặt trong vài trường hợp : chúng phóng thích những chất làm giảm nguy cơ bị hẹp lại, nhưng làm chậm sự sát nhập của stent vào trong thành mạch máu, cần một điều trị duy trì với các thuốc chống ngưng kết trong 6 tháng đến 1 năm. “ Các stent hoạt động 2 đến 3 lần đắt giá hơn các stent trần (stent nu) và thường được sử dụng ngoài những khuyến nghị của Haute autorité de santé, mặc dầu lợi ích của chúng không hơn một cách đáng kể so với phí tổn của chúng ”, Claude Le Feuvre, chủ tịch của Fédération française de cardiologie đã nhấn mạnh như vậy.
Các stent được phủ bởi một màng đôi khi cũng có thể được đưa vào bằng đường nội mạch máu nhằm tái tạo một phần của động mạch bị biến dạng hay bị làm tổn hại bởi một phình mạch. Các kỹ thuật nội mạch máu rất được phát triển, nhất là dưới sức ép của các nhà chế tạo stent, nhưng cũng bởi vì sự thiết đặt chúng đơn giản và làm giảm chấn thương hậu phẫu, với một sự hồi phục rất nhanh bởi vì đôi khi chúng có thể được thực hiện ngoại trú.
(LE FIGARO 19/12/201)

2/ NHỮNG PROTHESE TỔNG HỢP VÀ CÓ THỂ TỰ TIÊU ĐI DÙNG CHO CÁC ĐỘNG MẠCH VÀNH.
“ Cái khó khăn chính, để tìm thấy prothèse động mạch vành lý tưởng, đó là nhận diện một vật liệu có cùng những tính chất như các động mạch, Catherine Le Visage, nhà nghiên cứu của kíp Inserm 698 (bệnh viện Bichat, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Vật liệu này phải khá mềm mại để giãn ra và lấy lại kích thước ban đầu khi chịu những tác dụng do sự thay đổi của lưu lượng máu, nhưng nó phải có khả năng chống lại áp lực máu.”
Các thầy thuốc ngoại khoa cũng đang nôn nóng chờ đợi một loại implant khác : những stent và endoprothèse huyết quản có thể tự tiêu đi (résorbable). “ Chúng tôi đã phát triển một vật liệu được cấu tạo bởi polysaccharides, một loại đã được sử dụng cho các viên thuốc, Catherine le Visage đã xác nhận như vậy. Mục tiêu là hiệu chính một prothèse đặc biệt tương hợp với cơ thể và có khả năng làm dễ sự tái sinh toàn bộ thành động mạch bên trong tube implanté, sau đó có thể tự tan biến đi sau nhiều năm, khi huyết quản hoàn toàn được tái tạo. Những thử nghiệm đang được tiến hành ở chuột với prothèse loại thường trực và prothèse loại có thể tan biến đi.
Nhiều loại liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire) cũng đã được xét đến để kích thích sự tạo thành những vi huyết quản, đặc biệt ở các động mạch vành, hay để làm dễ sự hóa sẹo ở các động mạch cẳng chân, nhưng hiện nay không mang lại thành công nhất định.
Công ty Cytograft, có cơ sở ở Californie, đề nghị những huyết quản hoàn toàn được cấy từ những tế bào riêng của chính các bệnh nhân. Phương pháp tế bào này đã được trắc nghiệm cho các dérivation động-tĩnh mạch của những bệnh nhân đái đường được điều trị bằng dialyse. Bất tiện chính, ngoài phí tổn được ước tính từ 4000 đến 6000 euro, là thời gian cần thiết để cấy những tế bào : từ 6 đến 9 tháng. Trong sửa chữa các động mạch, loại implant này có lẽ sẽ được dành cho những bệnh nhân mà ghép prothèse tổng hợp không thực hiện được.
Các nhà nghiên cứu hiện nay đang nghiên cứu những prothèse có thể được đặt trên các động mạch vành, những mục tiêu thông thường của ngoại khoa mạch máu nhưng quá nhỏ đối với những prothèse hiện có hiện nay. Nhóm nghiên cứu do Didier Letourneur điều khiển, hiện đang khảo sát một vật liệu được cấu tạo bởi alcool polyvinylique, rất đàn hồi và rất đề kháng mà sự bào chế không cần một dung môn có khả năng gây độc nào. Các nhà nghiên cứu đã có thể hiệu chính một dạng hình ống của vật liệu này và sau đó họ đã yêu cầu những nhà nghiên cứu ghép vào động mạch chủ của chuột, có đường kính tương tự với một động mạch vành người. Rất dễ may, các prothèse đã tỏ ra rất bảo đảm sau hai tháng : không vỡ, không rò, không có huyết khối phát triển. Nhóm nghiên cứu dự kiến đặt, từ nay đến 6 tháng, những prothese này lên những động vật lớn hơn, như heo, với hy vọng dự kiến sử dụng ở người từ nay đến 5 năm nữa.
(LE FIGARO 19/12/201)

3/ NGOẠI KHOA : MỘT ĐỘNG TÁC ĐƯỢC TIN CẬY HƠN HƠN NHƯNG NHIỀU NGUY CƠ HƠN.
Thầy thuốc ngoại mạch máu có thể phải thực hiện những phẫu thuật bắt cầu (pontage) để tránh vùng bị hẹp hay bị tắc của một động mạch. Nói chung để thực hiện những cầu nối này, cần phải sử dụng một đoạn tĩnh mạch được lấy trên chính bệnh nhân. Đoạn tĩnh mạch này sau khi được ghép ở thượng lưu và hạ lưu của thương tổn, cho phép tái phục tuần hoàn máu. Cũng có thể, khi các tĩnh mạch của bệnh nhân ở trong tình trạng quá xấu, phải nhờ đến những allogreffe lấy trên các tử thi.
Các cầu nối động mạch vành (pontage coronaire) từ nay thường được thực hiện nhằm chuyển hướng một động mạch vú (artère mammaire) từ destination ban đầu của nó, một giải pháp vững chắc và dài lâu. Với những động mạch có đường kính lớn hơn như các động mạch chủ, các prothèse tổng hợp có thể được ghép với những kết quả đảm bảo hơn những mẫu ghép tĩnh mạch (greffon veineux). Các endoprothèse cũng có thể được ghép vào trong một huyết quản bị tổn hại, nhất là đối với một phình mạch (anévrisme). Phình mạch này đôi khi sẽ được làm xẹp dưới prothèse mà không bị tách ra khỏi động mạch. Ngoại khoa cũng cho phép tiếp cận trực tiếp các động mạch và mở chúng ra để lấy đi mảng xơ mỡ và cục máu đông làm bít chúng lại.
OUTILS MICROSOPIQUES.
Để làm giảm những chấn thương do giải phẫu, vài kíp mổ cũng sử dụng một phương pháp nội soi trong đó động tác ngoại khoa được thực hiện qua những đường xẻ tối thiểu nhờ những y cụ nhỏ xíu được thao tác dưới sự kiểm soát của vidéo. Kỹ thuật này hiện nay chỉ được sử dụng đối với những can thiệp trên các tắc và những phình mạch của động mạch chủ bụng.
Mặc dầu sự hồi phục vẫn thường lâu hơn sau một can thiệp ngoại khoa, yếu tố quan trọng nhất của thành công vẫn là việc điều trị những yếu tố nguy cơ, cũng như đối với những phương pháp khác. “ Khi ta khám phá một thương tổn trên một động mạch, nói chung đó chỉ là đỉnh của một tảng băng hà, GS Nicolas Danchin, trưởng đơn vị maladies coronaires thuộc bệnh viện Georges-Pompidou (Paris) đã nhắc lại như vậy. Toàn bộ mạng động mạch bị thương tổn và, mặc dầu ta có thể can thiệp lên những thương tổn quan trọng nhất, phải thực hiện mọi cách để tránh những thương tổn khác tạo nên vấn đề. ”
“ Ngoại khoa mạch máu là động tác đảm bảo nhất để sửa chữa những động mạch, GS Marc Coggia, thầy thuốc ngoại khoa thuộc bệnh viện Ambroise Parré (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Nó cho những kết quả lâu bền nhất và cho phép điều trị hoàn toàn toàn bộ những thương tổn ” .
Tuy vậy phương pháp này không được thực hiện rộng rãi nhất ở Pháp, bởi vì có những nguy cơ và những bất lợi do chấn thương phẫu thuật. “ Ngoài ra, vài kíp mổ được chuyên môn hóa và do đó sẽ có khuynh hướng theo một kỹ thuật được nắm vững nhất, GS Coggia đã lấy làm tiếc như vậy. Phải chọn một kíp nhiều chuyên khoa khi điều đó có thể được. ”
Thật vậy sự lựa chọn trước hết căn cứ trên profil của bệnh nhân phải có khả năng chịu được cuộc mổ, về loại và định vị của các thương tổn.
(LE FIGARO 10/12/2011)

4/ SỐ TRƯỜNG HỢP NHỒI MÁU CƠ TIM GIẢM Ở PHÁP
Giữa năm 2000 và 2007, các nhồi máu cơ tim mỗi năm giảm 5% nhờ biện pháp phòng ngừa, theo một công trình nghiên cứu của BEH.
CARDIOLOGIE. Sự phòng ngừa các bệnh tim mạch bằng cách điều trị bệnh cao huyết áp, chứng tăng cholestérol-huyết, bằng cách chống lại chứng nghiện thuốc lá, dường như mang lại kết quả. Những dữ kiện mới nhất của công trình nghiên cứu Monica (xuất phát từ châu Âu) nhằm đo lường, đặc biệt ở Lille, Strasbourg và Toulouse sự tiến triển của số các trường hợp nhồi máu cơ tim được công bố hôm nay trong Bulletin épidémiologique hebdomadaire (BEH). Những dữ kiện này nhìn toàn bộ cho thấy một sự sụt giảm khoảng 19% số những trường hợp nhồi máu giữa thời kỳ 2000-2003 và thời kỳ 2003-2007, tuy nhiên vẫn còn sự dị biệt tùy theo các thành phố. Và sự tồn tại của sự chênh lệch Bắc-Nam : càng đi xuống phía Nam, càng ít các tai biến tim.
Giữa năm 2000 và 2007, 25.202 trường hợp nhồi máu cơ tim hoặc tử vong nguồn gốc động mạch vành đã được liệt kê trong 3 thành phố này. Những tỷ lệ bị nhồi máu cơ tim và tử vong do bệnh động mạch vành đã giảm trung bình 5% mỗi năm ở đàn ông và 6% ở phụ nữ. Sự thoái lui của số những trường hợp được quan sát trong 3 trung tâm y tế, ở đàn ông cũng như ở phụ nữ (nhưng chỉ những phụ nữ trên 54 tuổi). Tuy nhiên vẫn còn những dị biệt lớn giữa các thành phố này của Pháp, mặc dầu tiến triển thuận lợi khắp mọi nơi. Thí dụ, ta còn thống kê ở Lille 270 trường hợp nhồi máu đối với 100.000 dân, so với 238 ở Strasbourg và 207 ở Toulouse. Cũng vậy đối với những trường hợp tử vong do bệnh động mạch vành vì lẽ cùng năm đó có 106 trường hợp đối với 100.000 dân ở Lille so với 67 ở Strasbourg và 55 ở Toulouse. “ Những dị biệt này tiếp tục làm chúng tôi ngạc nhiên, GS Jean Ferrières (CHU de Toulouse, Inserm đơn vị 1027), đồng tác giả của những công trình nghiên cứu được công bố hôm nay của BEH, đã giải thích như vậy, bởi vì các lối sống đều đồng nhất ở Pháp, nhưng cách điều trị và các plateau technique đều gần như tương tự nhau trong 3 thành phố này. Từ nay ta tự hỏi về những bệnh xảy ra đồng thời (co-morbidités), phải chăng chúng có thể là những yếu tố làm gia trọng đối với nhồi máu cơ tim. ”
Làm sao giải thích sự giảm số những trường hợp bị nhồi máu cơ tim ? Nhiều cuộc điều tra trong dân chúng trong những năm qua đã cho phép đánh giá tiến triển của những yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành. Thí dụ, nhiều tài liệu xuất bản gần đây đã có thể nêu ra một cách khách quan một sự giảm cao huyết áp, tăng cholestérol huyết, hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) và một sự ổn định của chứng béo phì.
THUỐC LÁ ĐÓNG MỘT VAI TRÒ QUAN TRỌNG
“ Những tiến bộ này trong phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire) phù hợp với sự sụt giảm tỷ lệ mắc phải các bệnh động mạch vành và tỷ lệ tử vong được chứng thực trong công trình này, các tác giả đã viết như vậy. Còn về mức độ lưu hành của chứng nghiện thuốc lá, ta ghi nhận một sự sụt giảm ở mọi lứa tuổi ở đàn ông trong khi nó chỉ được quan sát sau 55 tuổi ở phụ nữ, với một sự ổn định ở những người 35- 44 tuổi. ” Điều đó giải thích tại sao số các trường hợp nhồi máu sụt giảm ở những phụ nữ nhưng chỉ sau 54 tuổi. Vai trò của thuốc lá lên các bệnh tim mạch là quan trọng, nhưng vẫn tương đối không được biết đến bởi những người hút thuốc.
“ Nếu tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim giảm, đó chủ yếu là do giảm số các trường hợp, GS Jean Ferrières đã xác nhận như vậy. Mặc dầu tỷ lệ tử vong bệnh viện sau một nhồi máu vẫn thấp, khoảng 9% nhưng ngược lại tỷ lệ tử vong trong giai đoạn tiền bệnh viện vẫn còn quá cao và không giảm. Điều đó mặc dầu những chiến dịch thông tin để cổ xướng việc sử dụng máy khử rung. Hôm nay đó là điều đặt cho chung tôi nhiều vấn đề nhất, bởi vì 2/3 những trường hợp tử vong xảy ra trước khi đến bệnh viện.
(LE FIGARO 8/11/2011)

5/ PHẢI CHĂNG CÁC PHỤ NỮ ÍT NHỮNG TAI BIẾN TIM MẠCH HƠN SO VỚI ĐÀN ÔNG ?
Nguy cơ tim mạch ở phụ nữ vẫn còn quá thường bị lơ là mặc dầu nhồi máu cơ tim giết còn nhiều hơn ung thư vú. Theo giáo điều về sự bảo vệ thành động mạch nhờ œstrogène, phụ nữ tự tin rằng họ tránh được không bị chứng xơ mỡ động mạch. Tuy nhiên sự bảo vệ nhờ hormone có những mặt hạn chế khi đứng trước chứng nghiện thuốc lá, tăng cholestérol-huyết, tăng thể trọng, chứng béo phì và tình trạng nhàn rổi không hoạt động.
Từ ba chục năm nay, ta quan sát thấy một sự gia tăng đều đặn của chứng nghiện thuốc lá ở các phụ nữ trẻ. Một sự tiêu thụ thuốc lá hàng ngày ngay cả ở mức độ trung bình nhân lên gấp 3 lần nguy cơ tim mạch. Trước 50 tuổi phụ nữ cứ hai trường hợp thì có hơn một trường hợp nhồi máu cơ tim là do thuốc lá. Trước 35 tuổi và kể cả sau đó, sự phối hợp thuốc lá-thuốc ngừa thai làm gia tăng một cách đáng kể nguy cơ nhồi máu cơ tim và nhồi máu não với biến chứng đáng sợ là liệt nửa người. Sự gia tăng nguy cơ này là do tác dụng có hại của thuốc lá lên thành huyết quản và lên sự ngưng kết của các tiểu cầu và do sự gia tăng của tính đông máu gây nên bởi thuốc ngừa thai với œstrogène và progestérone. Sau 35 tuổi, sự ngừa thai bằng đường miệng với các œstrogène tổng hợp cần phải tránh ở những người hút thuốc. Ngừng thuốc lá hoàn toàn làm giảm 33% nguy cơ mạch máu sau 2 năm.Ngừa thai bằng oestroprogestatifs cũng cần phải tránh ở những phụ nữ cao huyết áp, nhất là nếu cao huyết áp không được điều trị hay điều trị không đúng và ở những phụ nữ có những tiền sử tai biến huyết khối-nghẽn mạch (accident thrombo-embolique veineux) (thí dụ viêm tĩnh mạch) hay động mạch.
Các phụ nữ được bảo vệ tự nhiên bởi các œstrogène, chính vì vậy bệnh động mạch vành gây bệnh cho họ chậm hơn đàn ông và thường chỉ được biểu hiện sau thời kỳ mãn kinh, 10 năm chậm hơn so với đàn ông, nhưng sau 70 tuổi các đường tỷ lệ mắc bệnh của hai giới lại gặp nhau. Công trình nghiên cứu dịch tễ học Framingham ở Hoa Kỳ đã cho thấy một tăng gấp 4 những tai biến động mạch vành ở các phụ nữ mãn kinh so với những phụ nữ cùng lứa tuổi nhưng còn có một hoạt động hormone buồng trứng.
Triệu chứng học của bệnh động mạch vành thường không điển hình với triệu chứng đau ngực ít gợi đến cơn đau thắt ngực (angine de poitrine) hay những rối loạn tiêu hóa làm nhầm lẩn. Chẩn đoán và xử trí cardiologique thường bị trì chậm. Những thăm dò chẩn đoán (điện tâm đồ lúc gắng sức, scintigraphie cơ tim) có thể dương tính giả. Những điều trị được gọi là xâm nhập (invasif) (giãn động mạch vành bằng quả bóng nhỏ bơm phồng và đặt stent tiếp theo sau đó) khó hơn vì ở phụ nữ động mạch cỡ nhỏ hơn, có những khúc quanh (sinuosités), những vôi hóa của các động mạch vành và ít được sử dụng rộng rãi hay nhanh chóng hơn so với đàn ông. Sau cùng, tỷ lệ tử vong 30 ngày sau nhồi máu cơ tim cao hơn ở phụ nữ so với đàn ông nhưng các bệnh nhân nữ thường lớn tuổi hơn.
Bệnh động mạch khác : cao huyết áp. Bệnh này thường phát triển sau thời kỳ mãn kinh, được làm dễ bởi sự tăng thể trọng (surcharge pondérale), chế độ ăn quá nhiều muối, tiêu thụ rượu quá mức. Về lâu dài cao huyết áp làm gia tăng nguy cơ loạn nhịp hoàn toàn do rung nhĩ (tâm nhĩ co bóp hỗn loạn), yếu tố nguy cơ chủ yếu của tai biến mạch máu não. Viêm động mạch chi dưới, phình động mạch chủ bụng không phải là ngoại lệ ở phụ nữ nhất là trong trường hợp nghiện thuốc lá, tăng cholestérol-huyết và bệnh đái đường.
Làm sao tránh những tai biến như thế ? Điều trị bằng hormone chứng mãn kinh không có tác dụng bảo vệ như được nghĩ lúc ban đầu. Điều trị này ngay cả làm dễ nguy cơ viêm tĩnh mạch, nghẽn mạch phổi và tai biến mạch máu não. Vệ sinh đời sống gồm một hoạt động vật lý đều đặn, một chế độ ăn uống ít muối, tránh tăng thể trọng và không uống rượu quá mức, không nghiện thuốc lá và xử lý stress lúc lao động, có tác dụng làm gia tăng một cách đáng kể nguy cơ động mạch vành, là những biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất. Những biện pháp này cũng có giá trị đề phòng ngừa nhiều loại ung thư, cần phải nhấn mạnh điều đó. Ở phụ nữ cũng vậy, Những biện pháp này phải được kèm theo công tác phát hiện và sự kiểm soát những yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng : cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết, bệnh đái đường..
(LE FIGARO 5/9/2011)

6/ OMEGA 3 : TIM THÍCH CÁ
Một công trình nghiên cứu của Đan mạch được thực hiện ở 49.000 phụ nữ trẻ, được theo dõi trong 8 năm, đã cho thấy rằng những phụ nữ tiêu thụ ít hoặc khong hề tiêu thụ cá giàu chất oméga 3 có nguy cơ bị tai biến tim mạch gia tăng 50% so với những phụ nữ tiêu thụ ít nhất hai lần mỗi tuần. Sự điều tra này được công bố trong “ Journal of the American Heart Association ” là điều tra đầu tiên nhằm trực tiếp sức khỏe tim của những phụ nữ trong lứa tuổi sinh sản.
(PARIS MATCH 22/12 – 28/12/2012)

7/ BIA TỐT …CHO TIM
Bạn thích rượu vang hay bia hơn ? Về tác dụng bảo vệ của những thức uống này lên sức khỏe tim của bạn, câu hỏi không còn phai được đặt ra nữa. Rượu vang hay bia, nếu được tiêu thụ một cách có mức độ, mang lại một lợi ích nào đó. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu được thực hiện ở Ý và trên toàn thể 200.000 người.
Các polyphénols của rượu vang đỏ (vin rouge) đã được biết về những tác dụng bảo vệ cua chúng, công trình nghiên cứu đã nhắc lại như vậy. Còn về bia, thì cũng thế, mặc dầu polyphénols không giống hệt nhau.
“ Sự tiêu thụ bia làm giảm nguy cơ tim mạch khoảng 31% khi ta so sánh với các người ưa thích houblon với những người không uống ”, Simona Costanzo, thuộc trung tâm nghiên cứu Giovanni Paolo II ở Campobasso (trong miền trung nước Ý) đã xác nhận như vậy. Các kết quả của công trình nghiên cứu này vừa được công bố trong European Journal of Epidemiology.
Đối với rượu vang cũng như đối với bia, chìa khóa của điều kỳ diệu là ở sự tiêu thụ có mức độ và đều đặn. Đối với rượu vang ta nói khoảng hai ly mỗi ngày đối với đàn ông và một ly đối với phụ nữa, công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Đối với bia, miễn là nồng độ cồn tối đa là 5%, thì cũng như vậy.
“ Với một tác dụng bảo vệ tối đa được quan sát đối với một sự tiêu thụ hơi hơn một pinte của Anh mỗi ngày, hoặc gần như một nửa lít bia ”, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy.
“ Trong công trình nghiên cứu của chúng tôi, Simona Costanzo nói tiếp, trước hết chúng tôi đã khảo sát riêng rẻ những tác dụng có lợi của rượu vang và của bia. Trong thời kỳ đầu, với một sự tiêu thụ thấp, ta quan sát thấy một sự giảm nguy cơ tim mạch. Sau đó ta quan sát thấy rằng những hiệu quả được mong chờ giảm khi …ta tăng liều lượng. ”
“ Trong thì hai, chúng tôi cũng đã duyệt lai 12 công trình nghiên cứu trong đó những lợi ích của sự tiêu thụ rượu vang và bia có thể được so sánh trực tiếp. Chúng toi đã có thể quan sát thấy rằng những đường cong nguy cơ đối với hai loại đồ uống liên hệ mật thiết với nhau. ”
Trước khi nhào xuống cave để lấy một chai bia hay rượu … cần thận trọng !
TÁC DỤNG GÂY UNG THƯ
“ Điều mà chúng tôi nói đến ở đây, Augusto Di Castelnuovo, trưởng đơn vị thống kê của phòng thí nghiệm Ý và một trong những người tiền phong trong những công trình nghiên cứu dịch tễ học về rượu đã chỉ rõ như vậy, là một sự tiêu thụ có mức độ và đều đặn. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng quan niệm tiêu thụ có mức độ và đều đặn này liên hệ mật thiết với một lối sống lành mạnh ! Như vậy, một ly có thể được nhấm nháp trong một bữa ăn, cùng với những thức ăn lành mạnh, dùng đúng lúc, có thể trong gia đình hay với bạn bè.”
Dĩ nhiên ở đây không có vấn đề chè chén hay mọi hình thức tiêu thụ quá độ khác.
“ Sau cùng, BS Di Castelnuovo kết luận như vậy, những kết quả này không thể suy diễn cho tất cả mọi người. Thí dụ không liên quan đến những người trẻ hay những phụ nữ có thai. Bởi vì, chúng ta không được quên điều đó, rượu cũng có thể làm hơi gia tăng nguy cơ phát triển vài loại ung thư…”
(LE SOIR 16/11/2011)

8/ PREMIERE MONDIALE : THÀNH CÔNG CỦA TRUYỀN MÁU BẰNG NHỮNG HỒNG CẦU NHÂN TẠO.
GS Luc Douay, chef du laboratoire d’hématologie des hopitaux Saint-Antoine et Trousseau, đại học Pierre et Marie Curie, Etablissement français du sang, Paris, giải thích những hồng cấu cấy, được tạo ra từ những tế bào gốc, có thể sống sót nơi người như thế nào, trong khi các cơ quan truyền máu Pháp phát động chiến dịch huy động những người cho máu, nghiên cứu tiến triển.
Hỏi: Ở Pháp mỗi năm số lượng truyền máu là bao nhiêu ?
GS Luc Douay : Trung bình 500.000. Những trường hợp truyền máu này tỏ ra đặc biệt cần thiết trong 4 tình huống. 1. Một cấp cứu sau một tai nạn. 2. Những bệnh cần một sự truyền máu dài lâu. 3. Một bất thường bẩm sinh của các hồng cầu (drépanocytose). 4. Ở những người bị một thiếu máu đề kháng (anémie réfractaire) (dysmyélopoièse).
Hỏi : Ở Pháp có tình trạng thiếu những người cho máu hay không ?
GS Luc Douay : Việc cho máu càng ngày càng cần thiết vì sự gia tăng nhu cầu do sự lão hóa của dân số và do tỷ lệ tăng cao của vài bệnh lý. Vậy phải tìm một giải pháp bổ sung. Trong những nước đang phát triển tình huống tế nhị hơn : chất lượng truyền máu không được hoàn hảo, bởi vì sự chọn lọc những người cho không được tối ưu. Mỗi năm ta cấp trên thế giới hơn 90 triệu bọc màu. Thật là nghịch lý, điều này không đủ.
Hỏi : Nhóm nghiền cứu của ông vừa hiệu chính “ sự chế tạo nhân tạo ” các hồng cầu. Protocole như thế nào ?
GS Luc Douay : Kỹ thuật của chúng tôi đã chứng minh rằng ta có thể sản xuất các hồng cầu từ những tế bào gốc máu. Vì không được biệt hóa (différencié) hay “ còn mới ra lò ”, nên những hồng cầu này chưa đạt đến giai đoạn của những hồng cầu trưởng thành. Vậy chúng có thể kiểm soát được trong phòng thí nghiệm. Trước hết chúng tôi đã thực hiện lấy máu ở một người cho để trích lấy từ đó, trong phòng thí nghiệm, những tế bào gốc. Những tế bào này sau đó được kích thích suốt trong 3 tuần bởi những yếu tố tăng trưởng. Vậy giai đoạn này nhằm tạo nên hơn 100 tỷ hồng cầu để có thể khảo sát chúng trong phòng thí nghiệm. Sau cùng ta chích trở lại chúng vào trong cùng bệnh nhân để khảo sát thời gian sống.
Hỏi : Thế ta có ghi nhận ở bệnh nhân tự truyền máu mình (autotransfusé) này những tác dụng phụ hay không ?
GS Luc Douay : Chúng tôi đã không ghi nhận một vấn đề đặc biệt nào với các hồng cầu cấy này. Đó là một première mondiale khi người ta chứng minh rằng các hông cầu được sản xuất trong phòng thí nghiệm cũng có hiệu quả như những hồng cầu tự nhiên.
Hỏi : Giai đoạn kế tiếp sẽ là gì ?
GS Luc Douay : Từ nay kế hoạch là chuyển qua một sự chế tạo công nghiệp và tìm những tế bào gốc có xuất phát tốt. Trước hết ta dự kiến sử dụng những tế bào gốc phát xuất từ cuống rốn. Với mỗi lần lấy, ta có thể sản xuất từ 50 đến 100 bọc máu. Giải pháp khác : bây giờ ta tìm kiếm những nguồn tế bào gốc, thí dụ, như những tế bào đa năng trưởng thành (IPS : cellules pluripotentes adultes). Những tế bào này, được chế tạo như những tế bào da, có khả năng sinh ra tất cả những tế bào của cơ thể. Trong lúc chờ đợi, những người cho máu vẫn được huy động : sự hào phóng của họ cần thiết hơn bao giờ hết !
Hỏi : Những hậu quả khả dĩ của sự sản xuất nhân tạo các hồng cầu trong ứng dụng khác của y khoa ?
GS Luc Douay : Tiến bộ liệu pháp tế bào này mở đường cho những công trình nghiên cứu khác, đặc biệt là trong lãnh vực tim học, thần kinh học và các bệnh xuong.
(PARIS MATCH 22/12 – 28/12/2012)

9/ TÁO TÂY (POMME) VÀ LÊ (POIRE) CHỐNG ĐỘT QỤY ?
Một công trình nghiên cứu của Hòa Lan đã theo dõi trong 10 năm hơn 20.000 người trưởng thành lành mạnh, tuổi trung bình 41 tuổi lúc khởi đầu. Sau thời gian theo dõi, 233 tai biến mạch máu não được liệt kê. Một sự giảm nguy cơ 52% đã xuất hiện ở những người tiêu thụ nhiều táo tây (pomme), le (poire), chuối và rau trắng (légumes blanc). Vài chất chống oxy hóa, như quercétine, và nồng độ cao các sợi của những thức ăn này giải thích kết quả này.
(PARIS MATCH 15/12 – 21/12/2011)

10/ MALADIE DE GILLES DE LA TOURETTE.
Léon Daudet đã mô tả về ông như sau : “ Ông ta xấu như một idole papoue ”, nhưng con người rất có năng khiếu này đã mê thích thần kinh học đến điên rồ. Ông là nguồn gốc của sự mô tả những chứng máy cơ bí ẩn (tics compulsifs) ang tên ông.
Georges Gilles de la Tourette sinh năm 1857 trong một gia đình lâu trong nghề của Poitou, dòng họ thật sự của các thầy thuốc. Thông minh nhưng bất trị, ông đứng đầu lớp và buồn chán khi là học sinh nội trú một trường trung học tỉnh lẻ (collège de province), mặc dầu ông được cho phép học một năm thay vì hai năm. Vậy ông bắt đầu học y khoa vào năm 16 tuổi, trước hết trong vùng nơi ông ở, rồi ở Paris. Rất hăng say nhưng thiếu kiên nhẫn, ông hăng tiết lên mỗi khi có một sự mâu thuẫn. Ở tuổi 27, ông là nội trú ở bệnh viện Salpêtrière trong khoa của giáo sư Charcot, và từ hôm đó, thiên chức của ông được ấn định. Charcot sẽ là vị thần của ông, từ đó ông thu lượm bất cứ lời phát biểu nào. Ông thầy Charcot đề tựa tác phẩm Traité de l’hystérie của ông như sau: “ Trong khi đọc, trước nhà xuất bản, tác phẩm của M.Gilles de la Tourette, tôi đã nhiều lần ngạc nhiên khi tim thấy ở đó những ý tưởng hoàn toàn thuộc cá nhân tôi, mà tôi tin là đã không bao giờ phát biểu, và dẫu sao vẫn chưa từng được xuất bản.”
HYSTERIE, CHỨNG MÁY CƠ(TICS) VÀ KHOA HỌC HUYỀN BÍ
Vào thời kỳ Georges đến Salpêtrière, báo chí không ngừng truyền lại những bài học của Charcot và về tính chất “ giật gân ”(sensationnel) của những chủ đề được bàn đến : hystérie, thôi miên. Trong môi trường này chành thanh niên nhiệt tình sôi nổi đối với môn bệnh lý thần kinh (neuropathologie) và sống trong một tinh thần phấn chấn thường trực. Đồng thời, sự ham thích nghiên cứu lịch sử thúc đẩy ông viết toàn bộ tiểu sử của Théophraste Renaudot, thầy thuốc và nhà từ thiện chết vào năm 1653. Sau đó là tác phẩm “ Hypnotisme et les états analogues ”(Thôi miên và những trạng thái tương tự) được xuất bản lúc ông trong lứa tuổi 30, và trong đó ông đề cập những vấn đề pháp y do việc thực hiện kỹ thuật, gồm cả nguy cơ bị hiếp dâm bởi người điều trị. Trong 3 năm, Gilles de la Tourette thường xuyên lui tới société de magnétisme et de spiritisme và không quản ngại thời gian lẩn tiền bạc để làm sáng tỏ những động tác sờ soạn không phải phép diễn ra trong bóng tối. Dựa vào các dữ kiện khoa học được phát hiện bởi Charcot, ông mang lại cho các chuyên gia những phương tiện để loại bỏ bệnh giả đò. Lúc 28 tuổi, Georges công bố trong les Archives để neurologie, một công trình nghiên cứu về mot bệnh thần kinh được đặc trưng bởi sự bất điều hòa vận động kèm theo écholalie (chứng lắp lời nói) và coprolalie (chứng nói tục).Những quan sát lạ kỳ này đã được biết dưới tên jumping, myriachit, maladie des sauteurs du Maine, cho đến khi đó vẫn bị lẩn lộn trong nhóm bệnh chorée. Chính Charcot đã khẩn khoản để người ta đặt tên người phụ tá của mình cho rối loạn này. Một năm sau, luận án tiến sĩ y khoa về nghiên cứu bước đi trong các bệnh của hệ thần kinh được xuất bản. Lại thêm một năm nữa và ông trở thành chef de Clinique của Charcot. Ông cưới vợ và sống hạnh phúc và năm năm sau ông nhận đồng thời danh hiệu Médecin des Hôpitaux và huy hiệu băng Bắc đẩu bội tinh (ruban de la légion d’honneur). Nhưng năm đã kết thúc một cách rất ác nghiệt.
NHỮNG THẢM KỊCH VÀ LÚC SUY TÀN
Một phụ nữ trẻ trong cơn hoang tưởng bị truy hại (délire de persécution), từng đã bị nhốt hai lần vì đe dọa chết và hai lần đã được thả tự do, đến tìm gặp ông và khẳng định rằng ông đã thôi miên cô ta từ xa. Trong phòng mạch của ông, cô ta bắn vào ông 3 phát đạn súng lục, trong đó một viên chạm vào xương đỉnh của sọ. Lại bị nhốt lần nữa, cô ta gây thương tích cho một cô y tá bằng một cái nĩa. Từ Villejuif (ở đây số giường bệnh hạn chế), cô ta được đưa đến một trại tâm thần nhỏ ở Charente, từ đây chẳng bao lâu cô ta thoát trại. Georges được chữa lành bệnh mặc dầu mức độ trầm trọng của vết thương. Cũng năm đó ông đau khổ vì bị mất một đứa con đã khôn lớn và chấn thương tâm thần này, tiếp theo sau trận hành hung, ảnh hưởng lên sự cân bằng thần kinh của ông. Để khuây khỏa, ông làm việc lại còn hăng say hơn, không bỏ lỡ một cơ hội tạo cho mình những công việc mới. Sau bệnh hystérie, ông khảo sát nước tiểu trong những bệnh thần kinh khác nhau. Ông kết luận rằng trong tất cả các cơn kịch phát của bệnh hystérie, có một đặc điểm, lúc phân tích hóa học nước tiểu (urée, các chất khoáng), cho phép phân biệt bệnh hystérie với bệnh động kinh. Cũng vậy, theo ông, khi ta rạch da ở những bệnh nhân bị bệnh hystérie, máu chảy ít hơn so với những người lành mạnh ! Ông công bố sự nghiệp của đời ông : một chuyên luận về bệnh hystérie gồm 3 tập. Ông còn làm việc thêm vài năm nhưng trạng thái tâm thần của ông bị suy sụp. Vào năm 1902, ông bị loại khỏi nhiệm sở của mình và chết 2 năm sau trong một dưỡng đường tâm thần ở Lausanne, lúc ông được 47 tuổi. Căn bệnh mang tên ông chỉ được hợp thức hóa vào năm 1978.
(LE GENERALISTE 17/11/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(5/1/2012)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s