Cấp cứu chấn thương số 24 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHẤN THƯƠNG VÀ NHIỄM TRÙNG BÀN TAY
(HAND INJURIES AND INFECTIONS)

1/ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA BÀN TAY CÓ QUAN TRỌNG TRONG Y KHOA CẤP CỨU HAY KHÔNG ?
Có. Hơn 16 triệu chấn thương bàn tay xảy ra mỗi năm ở Hoa Kỳ, hầu hết các bệnh nhân đều đến các phòng cấp cứu. Hơn 30% các tai nạn kỹ nghệ có liên hệ đến bàn tay. Thương tổn bàn tay chịu trách nhiệm 7 5% của tất cả các thương tổn gây tật nguyền một phần.

2/ KỂ NHỮNG YẾU TỐ CHỦ YẾU CỦA BỆNH SỬ ?
Tuổi tác ; bàn tay thuận nghề nghiệp ; làm sao, ở đâu và khi nào chấn thương đã xảy ra ; tư thế của bàn tay khi bị chấn thương : tình trạng chủng uốn ván ; và chấn thương trước đây hay tàn tật của bàn tay.

3/ KỂ NHỮNG YẾU TỐ CỦA MỘT THĂM KHÁM BÀN TAY HOÀN CHỈNH ?
Trước hết thị chẩn da và mô mềm, khám huyết quản, đánh giá chức năng dây gân, khám thần kinh (vận động và cảm giác), xác định sự toàn vẹn của bao khớp, và khám khung xương.

4/ TOPOGRAPHICAL ANTICIPATION LÀ GÌ ?
Nhin vào vết thương và nghĩ về những cấu trúc nào nằm bên dưới (mạch máu, dây gân, dây thần kinh, xương, dây chằng, hay khớp) có thể bị thương tổn. Hãy biết về cơ thể học. Đừng do dự tham khảo một atlas.

5/ TƯ THẾ BÌNH THƯỜNG CỦA BÀN TAY LÚC NGHỈ NGƠI ?
Với cổ tay hơi duỗi, các ngón tay còn lại giữ tư thế “ cascade ” gấp lại càng lúc càng nhiều hơn từ ngón trỏ đến ngón út. Một sự biến đổi tư thế bình thường có thể đưa đến chẩn đoán tức thời các thương tổn quan trọng dây gân và khớp.

6/ SƯNG MU BÀN TAY CÓ PHẢI CÓ NGHĨA LÀ CHẤN THƯƠNG HAY NHIỄM TRÙNG Ở MU BÀN TAY ?
Không. Hầu hết các mạch bạch huyết của lòng bàn tay đổ vào các lymph channels và lacunae ở lớp mô thưa ở mu bàn tay. Luôn luôn kiểm tra tìm kiếm một vết thương ở lòng bàn tay khi một bệnh nhân với sưng mu bàn tay.

7/ TRẮC NGHIỆM ALLEN LÀ GÌ, VÀ ĐƯỢC THỰC HIỆN NHƯ THẾ NÀO ?
Trắc nghiệm Allen nhằm kiểm tra sự thông máu của các động mạch quay và trụ như sau : Hãy làm tắc các động mạch quay và trụ. Nói với bệnh nhân mở và đóng bàn tay 5 hay 6 lần. Bàn tay hẳn phải hóa trắng ra (blanching). Thả động mạch trụ ; sự hóa trắng sẽ biến mất trong vòng 3 đến 5 giây. Lập lại trắc nghiệm, thả động mạch quay thay vì động mạch trụ. Sự hóa trắng sẽ biến mất trong 3-5 giây. Dạng chính xác nhất của trắc nghiệm Allen sử dụng áp lực động mạch ngón tay hơn là sự trở lại màu để theo dõi sự tái thông máu.

8/ LÀM SAO TRẮC NGHIỆM CHỨC NĂNG CỦA GÂN CƠ GẤP CÁC NGÓN NÔNG (FDS) ?
Gân cơ gấp các ngón nông (flexor digitorum superficialis : FDS) bám vào đốt ngón giữa (middle phalanx) và làm gấp khớp gian đốt gần (proximal interphalangeal joint : PIP). Gân cơ gấp các ngón sâu (flexor digitorum profundus : FDP) bám vào đốt ngón xa (distal phalanx) và làm gấp khớp gian đốt gần (PIP) và khớp gian đốt xa (distal interphalangeal joint : DIP). Những đơn vị cơ-gân FDS độc lập với nhau, trong khi các gân FDP phát xưất từ một bụng cơ chung. Trắc nghiệm gân cơ gấp các ngón nông của một ngón tay đòi hỏi gấp nó ở khớp gian đốt gần, trong khi cố định 3 ngón tay khác ở tư thế duỗi hoàn toàn, do đó làm mất tác dụng của gân cơ gấp các ngón sâu như là một gân gấp tiềm năng của khớp gian đốt gần.

9/ Ở NGÓN TAY NÀO, TRẮC NGHIỆM CHỨC NĂNG CỦA GÂN CƠ GẤP CÁC NGÓN NÔNG KHÔNG ĐÁNG TIN CẬY ?
Bởi vì gân cơ gấp các ngón sâu (FDP) của ngón trỏ có thể độc lập với những cơ gấp các ngón sâu khác, nên trắc nghiệm FDS là không đáng tin cậy ở ngón trỏ. Gấp ở khớp liên đốt gần có thể là do gân cơ gấp các ngón sâu, ngay cả với những ngón tay khác được cố định ở tư thế duỗi. Những thương tổn FDS được nghi ngờ ở ngón trỏ phải được thăm dò.

10/ TẠI SAO MẶT GẤP HAY PALMAR CỦA BÀN TAY ĐƯỢC GỌI LÀ “ OR SIDE ”, TRONG KHI MẶT DUỖI HAY LƯNG ĐƯỢC GỌI LÀ “ EP SIDE ”
– Trái với các gân duỗi (extensors), các gân gấp (flexors) chạy xuyên qua các bao gân (sheath) mỏng mảnh. Vì những bao gân này, việc mổ sửa chữa các gân gấp đòi hỏi nhiều chuyên môn và một môi trường được kiểm soát trong phòng mổ hơn là sửa chữa gân duỗi.
– Vết thương gân gấp không phải là một cấp cứu, và không nên mổ sửa chữa ở phòng cấp cứu. Nếu không có sẵn một thầy thuốc chuyên khoa ngoại bàn tay, nên tưới rửa vết thương dồi dào và may lại và cho thuốc kháng sinh phòng ngừa. Vết thương gân gấp có thể chờ để được mổ sửa chữa vĩnh viễn.
– Biết được vị trí bàn tay vào lúc chấn thương tiên đoán được một dây gân bị thương tổn ở đâu dọc theo đường đi của nó. Sự sửa chữa dây gân duỗi (extensor tendon) có thể được thực hiện bởi thầy thuốc khoa cấp cứu. Việc sửa chữa dây gân gấp (flexion tendon) nên được thực hiện bởi thầy thuốc ngoại khoa bàn tay. Thường điều trị cấp cứu rách dây gân (tendon laceration) nhằm đóng da và đặt nẹp cố định cho đến khi sự sửa chữa vĩnh viễn bởi thầy thuốc chuyên khoa bàn tay, có thể được thực hiện cho đến 4 tuần sau đó. Theo dõi và phục hồi chức năng của tất cả các chấn thương dây gân là cần thiết.

11/ RÁCH GÂN CƠ KHÔNG HOÀN TOÀN ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN NHƯ THẾ NÀO ?
Nếu định vị của rách đã khiến nghi ngờ, hãy loại bỏ một vết rách bán phần của dây gân bên dưới bằng cách thăm dò và nhìn trực tiếp trong khi cầm máu bằng garrot. Bởi vì một gân gấp chạy qua bao gân như một piston chạy qua một cylinder, nên một rách bao gân hàm ý rách bán phần dây gân, chỉ có thể thấy rõ khi bàn tay ở cùng tư thế như lúc bị thương. Nhìn trực tiếp dây gân trong khi cử động với biên độ hoàn toàn để loại bỏ một rách bán phần dây gân.

12/ LÀM SAO TRẮC NGHIỆM CÁC GÂN DUỖI NGOẠI TẠI (HAY GÂN DUỖI CHUNG) ?
Các gân duỗi ngoại tại (extrinsic extensors hay gân duỗi chung : extenseur commun), riêng rẻ, làm duỗi các khớp bàn ngón (MCP : metacarpophalangeal joint), trong khi chúng phối hợp với các gân từ các cơ liên cốt (interossei) và cơ giun (lumbricals) để tạo thành extensor mechanism, làm duỗi các khớp liên đốt ngón tay (interphalangeal joint). Để trắc nghiệm cơ duỗi (extrinsic extensor), đặt bàn tay, lòng bàn tay hướng xuống dưới, trên một mặt phẳng thẳng và yêu cầu bệnh nhân đưa ngón tay lên.

13/ CHỨC NĂNG DUỖI ĐỐI VỚI MỘT NGÓN TAY CÓ THỂ NGUYÊN VẸN KHÔNG MẶC DẦU GÂN DUỖI CHUNG (EXTENSOR DIGITORUM COMMUNIS) ĐẾN NGÓN TAY ĐÓ BỊ ĐỨT HOÀN TOÀN ?
Vâng. Dải liên gân (juncturae tendinum : bandelette intertendineuse) nối các dây gân của gân duỗi chung với nhau ở mức giữa đốt bàn tay. Mặc dầu gân duỗi chung đến ngón tay bị đứt hoàn toàn ở mu bàn tay, động tác duỗi ở khớp bàn ngón (MCP) vẫn còn có thể thực hiện được nhờ bandelette (junctura).

14/ TÔI TRẮC NGHIỆM CHỨC NĂNG THẦN KINH CẢM GIÁC NHƯ THẾ NÀO ?
Đánh giá chức năng dây thần kinh trước khi gây mê. Trắc nghiệm các dây thần kinh ngón tay bằng cách kiểm tra sự phân biệt giữa hai điểm (two-point discrimination) trên volar pad. Hai doan phải cách nhau 5 mm và thẳng hàng trên trục dọc.

15/ PHÂN BỐ CẢM GIÁC CỦA CÁC DÂY THẦN KINH GIỮA, TRỤ, VÀ QUAY ?
– Dây thần kinh giữa : chi phối cảm giác mặt gan tay của 3 ngón rưỡi (ngón 1,2 và ½ ngón 3)
– Dây thần kinh trụ : chi phối cảm giác cho một ngón rưỡi (ngón 8 và ½ ngón 4)
– Dây thần kinh quay : nhánh cảm giác cho ô mô cái và phía mu ba ngón rưỡi (ngón 1,2 và ½ ngón 3)

16/ CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG CỦA CÁC DÂY THẦN KINH GIỮA,TRỤ VÀ QUAY ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM NHƯ THẾ NÀO ?
Dây thần kinh giữa : abductor pollicis brevis (APB) : dạng ngón cái chống lại sức cản trong khi ấn chẩn bụng cơ APB.
Dây thần kinh trụ : Cơ liên đốt lưng thứ nhất (First dorsal interosseous) dạng ngón trỏ chống lại sức cản
Dây thần kinh quay : Extensor pollicis longus (EPL) dưới khớp liên đốt ngón cái chống lại sức cản

17/ XƯƠNG CỔ TAY NÀO THƯỜNG BỊ SAI KHỚP NHẤT ?
Các xương cổ tay (carpal bones) gồm có :
Hàng trên : xương thuyền (scaphoid), xương nguyệt (lunate), xương tháp (triquetrum), xương đậu (pisiform)
Hàng dưới : xương thang (trapezium), xương thê (trapezoid), xương cả (capitate), xương móc (hamate).
Xương nguyệt (lunate) là thường bị sai khớp nhất. Tiếp liệu máu của xương này đến từ xương quay xuyên qua các dây chằng trước và sau. Nếu cả hai dây chằng bị đứt hoại tử vô mạch xảy ra.
– Những sai khớp xương cổ tay thường xảy ra nhất là xương nguyệt (lunate) và chu nguyệt (perilunate). Trong cả hai trường hợp, phim chụp cổ tay tư thế bên cho thấy sai khớp, được thể hiện bởi mất sự mất thẳng hàng bình thường của xương quay, xương nguyệt, và xương cả (capitate) (dấu hiệu 3 Cs). Với sai khớp xương nguyệt (lunate dislocation), xương nguyệt bị trật ra trước xương quay, nhưng phần còn lại xương cổ tay thẳng hàng với xương quay. Trên phim chụp tư thế trước sau, xương nguyệt có hình tam giác, với dấu hiệu đặc hiệu “ piece of pie ”. Với sai khớp chu nguyệt (perilunate dislocation), xương nguyệt vẫn thẳng hàng với xương quay, nhưng phần còn lại của xương cổ tay bị trật, thường ở sau xuống nguyệt.Thường có gãy phối hợp của xương thuyền và phần gần của xương thuyền vẫn dính với xương nguyệt, trong khi phần xa bị trật cùng với khối xương cổ tay (carpus). Nhanh chóng hội chẩn để nắn kín hay sữa chữa ngoại khoa.

18/ XƯƠNG CỔ TAY NÀO THƯỜNG BỊ GÃY NHẤT ?
– Xương thuyền (scaphoid). Sự cung cấp máu phản xạ làm gia tăng khả năng hoại tử vô mạch (avascular necrosis) trong đoạn gần sau khi gãy xương.
– Đây là loại gãy xương cổ tay (carpal fracture) thông thường nhất. Bệnh nhân nhạy cảm đau khi sờ vào hõm lào (anatomic snuff box). Chụp phim cổ tay thường âm tính, vì thế chẩn đoán được căn cứ trên những dấu hiệu thăm khám vật lý. Điều trị bệnh nhân với nhạy cảm đau ở hõm lào (snuff box tenderness) là thumb spica splint (bó bột bất động ở bàn tay, quấn bột đến gần hết ngón cái) và referral. Không được điều trị thích đáng, có nguy cơ hoại tử vô mạch (avascular necrosis) xương thuyền.

19/ DẤU HIỆU CỔ ĐIỂN CỦA GÃY XƯƠNG THUYỀN ?
Nhạy cảm đau ở hõm lào (snuffbox). Ngay cả không có bằng cớ của một gãy xương, bệnh nhân với nhạy cảm đau khi ấn chẩn hõm lào cơ thể học (anatomic snuffbox), phải được thumb spica splint và phải được chụp phim lại trong hai tuần.

20/ LÀM SAO CẦM MÁU DO MỘT VẾT THƯƠNG BÀN TAY ?
– Đè trực tiếp và đưa bàn tay lên. Hiếm khi một vết rách mạch máu không hoàn toàn cần phải đặt tourniquet ở phía trên (proximal tourniquet) để cầm máu tạm thời, tiếp theo với khám cảm giác, gây mê, scrub, và thăm dò với độ sáng và phóng đại tốt để cột một mạch máu chảy. Không bao giờ kẹp một cách mù quáng một vết thương mạch máu chảy.
– Trong bối cảnh cấp tính (ngoài phòng mổ), không nên đặt tourniquet, và không nên kẹp mù (blind clamping) bất cứ tổ chức nào. Có thể cầm máu bằng cách đưa cao chi lên và đè ép trực tiếp vết thương. Phương cách này ngăn ngừa làm thương tổn những tổ chức bên dưới, thường khó thấy.

21/ TẠI SAO CÓ QUY TẮC, “ KHÔNG KẸP MÙ QUÁNG CÁC ĐỘNG MẠCH CHẢY MÁU ”?
Trong bàn tay, các động mạch chạy gần sát với các dây thần kinh. Kẹp động mạch một cách mù quáng có thể làm thương tổn một cách không sửa chữa được dây thần kinh liên kết. Cũng vậy, kẹp có thể làm tổn hại một đoạn mạch máu rất cần thiết cho sự nối lại (reanastomosis) được thành công.

22/ PHẢI LÀM GÌ VỚI NGÓN TAY BỊ ĐỨT RỜI (AMPUTATED DIGIT) ?
Rửa sạch ngón tay nhẹ nhàng với nước muối vô trùng, bọc trong một miếng gạc ướt, đặt trong một cái lọ vô trùng, và để chiếc lọ này trong nước đá. (tránh tiếp xúc trực tiếp nước đá và mô để tránh làm đông lạnh.)

23 / PHẢI LÀM GÌ VỚI NGÓN TAY BỊ ĐỨT RỜI NHƯNG CÒN DÍNH MỘT PHẦN ?
Để yên phần dính (bảo tồn các tĩnh mạch để nối lại (reimplantation), bọc nhẹ trong một gác ướt, và băng lại.

24/ CHỈ ĐỊNH VÀ CHỒNG CHỈ ĐỊNH CỦA NỐI LẠI (REIMPLANTATION) NGÓN TAY BỊ ĐỨT RỜI ?
Chỉ định : đa chấn thương ngón tay, ngón cái bị cắt cụt (đặc biệt là gân khớp gian đốt ngón), thương tổn ngón tay đơn độc ở trẻ em, cắt cụt sạch ở bàn tay, cổ tay, hay phần dưới cẳng tay (một cắt cụt sạch ở cổ tay dễ reimplant hơn cắt cụt nhiều ngón tay)
Chống chỉ định : đè nát hay nhổ bật nghiên trọng, ô nhiễm nặng, cắt cụt một ngón tay nơi người lớn, những vấn đề nội khoa hay chấn thương liên kết nghiêm trọng, chấn thương nghiêm trọng nhiều mức của phần bị cắt cụt, cắt cụt tự ý.

25/ THƯƠNG TỔN GÂY THẤT VỌNG NHẤT TRONG SỐ TẤT CẢ NHỮNG THƯƠNG TỔN NGHIÊM TRỌNG CỦA BÀN TAY ?
Thương tổn do bị tiêm vào áp suất (do paint gun, grease gun, hay hydraulic lines) khởi đầu dường như vô hại thường chỉ gây thương tổn đầu ngón tay. Trong vài báo cáo, 70% những thương tổn như thể khiến phải cắt cụt và một thời gian mất việc trung bình 7 tháng, ngay cả với điều trị triệt để sớm.

26/ 4 DẤU HIỆU CHÍNH CỦA VIÊM BAO HOẠT DỊCH GÂN GẤP (FLEXOR TENOSYNOVITIS) KANAVEL ?
1. Tư thế của ngón tay hơi gấp.
2. Ngón tay sưng hình thoi (fusiform swelling).
3. Đau lúc duỗi thụ động
4. Ấn chẩn đau dọc theo bao gân gấp.
Viêm bao hoạt dịch gân gấp (flexor tenosynovitis) đòi hỏi nhập viện và phẫu thuật).
Viêm bao hoạt dich gân gấp được chẩn đoán bởi sự hiện diện của 4 dấu hiệu chính : (a) nhạy cảm đau khi sờ trên bao dây gân gấp (flexor tendor sheath), (b) ngón tay sưng đối xứng, (c) đau lúc duỗi thụ động, và (d) tư thế gấp của ngón tay bị viêm. Điều trị cấp cứu gồm có đặt nẹp, đưa cao bàn tay, kháng sinh tĩnh mạch, và hội chẩn chỉnh hình để dẫn lưu.

27/ VIÊM MỦ QUANH MÓNG (PARONYCHIA) LÀ GÌ, VÀ ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Một nhiễm trùng thông thường do vi khuẩn ở những nếp gấp bên ngón tay (lateral nail fold) (để giữ móng ngón tay tại chỗ). Nếu không thấy mủ, điều trị nên gồm có đắp gạc ướt và ẩm, đưa cao ngón tay bị viêm, kháng sinh chống tụ cầu. Nếu mủ hiện diện, Hãy thực hiện những tối thiểu cần thiết để dẫn lưu và duy trì sự dẫn lưu.

28/ CHÍN MÉ (WHITLOW) KHÁC VỚI PARONYCHIA (VIÊM MỦ QUANH MÓNG) NHƯ THẾ NÀO ?
Chín mé (whitlow) là nhiễm trùng mô quanh nail plate do herpes simplex virus (hơn là do vi khuẩn). Dịch xuất có tính chất huyết thanh và đóng vỏ cứng hơn là mủ. Bệnh nhân có thể có cold sores quanh miệng. Đừng xẻ và dẫn lưu whitlow do herpes.

29/ CHÍN MÉ (FELON : PANARIS) LÀ GÌ, VÀ LÀM SAO ĐỂ ĐIỀU TRỊ ?
Một nhiễm trùng của búp ngón tay (fingertip pulp). gây đau và có khả năng làm mất chức năng. Điều trị còn được tranh cãi. Vài nhà lâm sàng lý luận cần dẫn lưu đầu ngón tay căng phồng và đau đớn. Những người khác lý luận rằng điều trị sớm với kháng sinh, giơ cao bàn tay, và bất động có thể ngăn ngừa sự cần thiết phải dẫn lưu ngoại khoa. Mặc dầu sự dẫn lưu là cần thiết, phương pháp tốt nhất cũng là một vấn đề được tranh cãi.

30/ FOOTBALL JERSEY FINGER LÀ GÌ, LÀM SAO ĐIỀU TRỊ ?
Đứt dây gân cơ gấp các ngón sâu thường xảy ra khi một cầu thủ bóng đá nắm ngón tay vào jersey của đối thủ. Dây gân bị bong ra khỏi chỗ bám ở mặt trước của nền đốt ngón xa, thường kèm theo một mảnh xương. Mổ sửa chữa trong vài ngày được chỉ định.

31/ MALLET FINGER LÀ GÌ, VÀ ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Một mallet finger là đối lại với một football jersey finger ; chỗ bám của gân duỗi, hơn là gân gấp, bị bong ra khỏi nền của đốt ngón xa (distal phalanx), thường kéo đi một mảnh xương. Điều trị thích hợp là đặt nẹp bất động khớp liên đốt ngón xa (distal interphalangeal joint) ở tư thế duỗi (không qua duỗi) trong 6 tuần.

32/ MÔ TẢ MÁU TỤ DƯỚI MÓNG (SUBUNGUAL HEMATOMA). LÀM SAO ĐIỀU TRỊ ?
– Một bọc máu dưới nail plate có thể đau đớn. Trường hợp cổ điển, khi một người thợ mộc cuối tuần đánh vào ngón cái với một chiếc búa. Làm giảm áp suất bằng trổ cửa sổ móng (nail trephinization) (đục một lỗ trong móng) sẽ biến bạn thành người hùng đối với bệnh nhân. Sử dụng đốt điện, một kim găm (paperclip) nóng đỏ, hay một chiếc kim cỡ 18G (xoắn kim giữa các ngón tay như một cái khoan). Lấy bỏ một móng tay còn nguyên vẹn hầu như không bao giờ được chỉ định.
– Máu tụ dưới móng là một tụ máu ở mặt gian cách (interface) giữa móng và lòng móng (nail-bed). Thường được nhận thấy trong các chấn thương giập đầu ngón tay. Bệnh cảnh lâm sàng thông thường là đau mạch đập (throbbing pain) và móng tay đổi màu. Máu tụ dưới móng có thể được liên kết với thương tổn lòng móng (nail-bed injury ) hay gãy đốt ngón xa ; Phải xét đến việc đánh giá hai loại thương tổn này. Dẫn lưu máu tụ làm giảm triệu chung. Nói chung không cần gây tê tại chỗ. Chỉ cần mở cửa sổ (trephenation) bằng đốt điện (cauterization) móng. Sau dẫn lưu, để săn sóc máu tụ dưới móng đơn thuần chỉ cần đưa cao bàn tay và ngâm nước ấm trong vài ngày. Nên bảo với gia đình khả năng móng có thể bị biến dạng trong tương lai.
Nếu thương tổn phức tạp hơn, khuyên nên phong bế ngón tay (digital block). Nếu máu tụ lớn và lan ra đến đầu móng, sự tách rời móng với lòng móng cho phép dẫn lưu. Khi có gãy đốt ngón xa, cẩn thận đừng biến đổi một gãy kín thành một gãy hở do làm thông thương một máu tụ dưới móng với mặt ngoài của móng. Nếu điều này có khả năng, cho kháng sinh và theo dõi sát là điều thích đáng.

33/ NGÓN CÁI CỦA NGƯỜI CANH RỪNG (GAMEKEEPER’S THUMB) LÀ GÌ ?

– Thuật ngữ gamekeeper’s thumb để chỉ bất cứ thương tổn nào của dây chằng bên trụ (ulnar collateral ligament) của khớp đốt bàn tay-ngón tay của ngón cái. Thuật ngữ được đặt ra bởi Campbell năm 1955 để mô tả một sự kéo căng mãn tính của dây chằng bên trụ, gây nên sự không vững. Thuật ngữ này vốn chỉ một biến dạng nghề nghiệp của các bàn tay của những người canh rừng người Anh, do những phương pháp giết thỏ của họ. Ngón tay của người trượt tuyết (a skier’s thumb) là một tên thích hợp hơn đối với một thương tổn cấp tính. Thương tổn này thường được thấy nơi những người trượt tuyết do sự dạng mạnh của ngón cái vào một ski pole.
– Chấn thương này xảy ra do dạng mạnh khớp đốt bàn tay-ngón tay (MCP joint) với thương tổn dây chằng bên trong (ulnar collateral ligament) của ngón cái. Đây là thương tổn nguy kịch nhất trong số những thương tổn dây chằng bên bởi vì nó ảnh hưởng đến chức năng kềm (pincer function)..

34/ GÃY XƯƠNG CỦA VÕ SĨ QUYỀN ANH (BOXER’S FRACTURE) LÀ GÌ ?
– Gãy xương của võ sĩ quyền Anh (boxer’s fracture) là gãy cổ đốt bàn thứ 5. Đó là một trong những gãy xương bàn tay thường xảy ra nhất và thường được thấy nơi những người đập lộn hay những người đánh vào tường hay vật cứng khác lúc giận dữ.
– Bởi vì xương đốt bàn của ngón thứ 5 chỉ đứng sau ngón cái về tính cử động, nên những góc gấp lớn được chấp nhận mà không gây sự khiếm khuyết cơ năng. Tuy nhiên, nên điều chỉnh gấp góc đáng kể của một gãy xương cấp tính của võ sĩ quyền Anh.
– Sự gấp góc (angulation) 20 độ nơi ngón nhẫn và 40 độ nơi ngón út có thể được chấp nhận, nhưng lý tưởng, sự gấp góc lớn hơn 20 nên được nắn lại.
– Bất cứ biến dạng xoay nào phải được điều chỉnh.
– Một vết rách đi kèm một gãy xương võ sĩ quyền Anh được cho là vết cắn do đánh lộn (a fight bite).
– Gãy đốt bàn thứ tư hay thứ năm (được gọi là gãy của “ võ sĩ quyền Anh ”, “ boxer’s fracture ”) xảy ra khi một người đánh vào một vật với một nắm tay (a closed fist) Những nhiễm trùng phá hủy của bàn tay và khớp đốt bàn-ngón (metacarpal phalangeal joint) có thể xảy ra khi người này đánh vào răng người kia và quần thể vi khuẩn miệng được đưa vào qua vết thương.

35/ MỘT VẾT CẮN DO ĐÁNH LỘN (FLIGHT BITE) LÀ GÌ ?
Nổi tiếng nhất trong số tất cả các vết thương cắn không độc (nonvenomous bite wounds) là vết cắn do đánh lộn (fight bite). Như tên hàm ý, thương tốn xảy ra khi người bệnh nhân tương lai đấm vào răng của đối thủ mình, làm rách lưng của một hay nhiều hơn các khớp đốt bàn-ngón (MCP joints). Những tên khác để chỉ thương tổn này như morsus humanus hay closed fist injury hay clenched fist injury (CFI) đã được đề nghị. Vết cắn do đánh nhau (fight bite) cô đọng hơn, có tính chất mô tả, và nên thơ.Tất cả những vết thương như thế đòi hỏi thăm dò, bao gồm mở rộng vết rách của da nếu cần thiết. Các vết thương nên được cắt lọc, tưới, để hở (không khâu lại), và đặt nẹp cố định.

36/ NHỮNG VẾT CẮN NGƯỜI (HUMAN BITE) CÓ NGUY HIỂM HƠN NHỮNG VẾT CẮN ĐỘNG VẬT kHÁC KHÔNG ?
Không. Vết cắn do đánh lộn (flight bite) làm cho những vết cắn người (human bite) nổi tiếng là dễ bị nhiễm trùng hơn những vết cắn động vật (animal bites) khác. Điều này có lẽ liên quan với vị trí của vết cắn và sự trì hoãn trong điều trị hơn là do hỗn hợp các vi khuẩn nơi miệng người. Những vết cắn người thật sự (occlusive bites đúng hơn là những vết cắn do đánh lộn) không có tỷ suất gây nhiễm trùng cao hơn so với những vết cắn động vật. Nếu người đấm vào răng của các động vật, những vết cắn động vật do đánh nhau này cũng có tỷ suất nhiễm trùng cao.

37/ NHỮNG NGƯỜI CÓ VẾT CẮN KHÔNG BỊ NHIỄM TRÙNG KHI ĐÁNH NHAU CÓ THỂ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ KHÔNG ?
Ủng hộ :
1. Nhập viện mọi người với vết cắn do đánh lộn, mà không có bằng cớ nhiễm trùng là quá tốn kém
2.Hai công trình nghiên cứu ủng hộ điều trị ngoại trú bằng kháng sinh bằng đường miệng cho những bệnh nhân đáng tin cậy đến bệnh viện trong vòng 12 giờ hay 24 giờ sau thương tổn.
Chống lại :
1. Điều trị một khớp bị nhiễm trùng tốn kém hơn về mặt phí tổn bệnh viện và phí tổn do phế tật của bệnh nhân hơn là nhập viện một bệnh nhân bị vết cắn do đánh lộn không bị nhiễm trùng để cho kháng sinh bằng đường tĩnh mạch.
2. Tất cả các công trình nghiên cuu về chủ đề này gồm có những vết cắn do đánh lộn và những occlusive bite thật sự của bàn tay, gây lẩn lộn vấn đề.
3. Những bệnh nhân bị vết cắn do đánh lộn nổi tiếng là không đáng tin cậy và là những ứng viên tồi để điều trị ngoại trú
Không có tranh cãi về những bệnh nhân với các vết cắn do đánh lộn bị nhiễm trùng. Tất cả những bệnh nhân như thế được nhập viện.

References : Emergency Medicine Secrets
Orthopedic Secrets
Abernathy’s Surgical Secrets
Emergency Medicine Manual

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(26/12/2011

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chấn thương, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s