Thời sự y học số 251 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BỆNH NẤM DA
Các bệnh nấm da (mycose cutanée) gây thương tổn nông ở da, các móng hay da đầu.
CHAMPIGNONS. “ Bàn chân lực sĩ ” (pied d’athlète), onyxis, bệnh vảy nến (pityriasis)… Những thuật ngữ này chỉ những bệnh thường gây khó chịu nhưng không nghiêm trọng, các bệnh nấm da (mycose cutanée). Ít được biết bởi công chúng hơn các nhiễm trùng do vi khuẩn hay siêu vi, các bệnh nấm da phần lớn được giới hạn vào một thương tổn nông của da, của các móng tay hay da đầu. Bệnh nấm da thường gặp và được gây nên bởi các nấm sợi (champignons filamenteux) vi thể hay các nấm men (levure) hiện diện trong lớp nông của da, tóc hay móng, từ đó đôi khi khó trục xuất ra.

Những bệnh này cũng tiến triển với những lối sống của chúng ta : tần số của các bệnh nấm chân (mycose du pied) gia tăng với sự gia tăng việc luyện tập thể thao, các bệnh nấm tóc da đầu (teigne du cuir chevelu) phát triển trong những nhà tập thể trẻ em, bệnh nấm âm đạo (mycose vaginale) lợi dụng lối tắm rửa các phần sâu kín và các nấm tóc do động vật (teigne zoophile) cũng đa dạng như các động vật nuôi trong nhà..
+ Các nấm da ưa người (dermatophyte anthropophile) thích ẩm.
Các nấm da (dermatophyte), loại thường gặp nhất trong số những nấm sợi (champignon filamenteux), đặc biệt ưa thích lớp sừng của da và của các phanères (sản phẩm biểu bì như lông, vảy, móng), ở người chủ yếu có hai loại, Trichophyton rubrum và trichophyton interdigitalis.“ Các nấm da này bị lây nhiễm khi bước chân trần và ướt trong những nơi công cộng, bễ bơi, douche, phòng tắm, tatamis, vestiaire de sport,…, bởi vì sự ẩm ướt làm biến đổi hàng rào da (barrière cutanée). Khi nấm da (dermatophyte) len lỏi vào, thường giữa các ngón chân nhỏ, da phản ứng lại bằng cách tạo nên những lớp gầu mịn (fines pellicules). Những lớp gầu này này rơi xuống đất, ở đấy chúng có khả năng gây nhiễm trong 5 năm ”, GS Martine Feuilhade de Chauvin, mycologue-dermatologue (CHU Saint-Louis, Paris) đã giải thích như vậy.
Trước hết chịu trách nhiệm một phản ứng viêm trong một nếp gấp của da (intertrigo : hăm kẽ), nấm da (dermatophyte) có thể lan truyền đến lòng bàn chân. Lòng bàn chân phản ứng lại bằng một sự tăng hóa sừng (hyperkératose) với những vảy da gây nhiễm (squames infectantes). Nấm da có thể đi vào trong bản nhỏ của móng (tablette de l’ongle) (nhất là của ngón chân cái), làm móng dày lên, bị nâng lên và nấm có thể đi lên tận rễ của móng. Bệnh nấm da (dermatophytose) này, cũng được gọi là “ bàn chân lực sĩ ” (pied d’athlète), gây bệnh cho 30% các vận động viên thể thao và 10% dân chúng. Một nửa các thương tổn ở móng của ngón cái là do một nấm da.“ Bệnh phẩm, cần thiết, cho phép phân biệt chúng với bệnh vảy nến móng (psoriasis unguéal), rất tương tự ”, BS Nelly Contet-Andonneau, chuyên gia về nấm (CHU Nancy) đã xác nhận như vậy.
Mặc dầu luôn luôn ở ngoại biên, những nhiễm trùng nấm này gây ngứa ngáy dữ dội và không bao giờ chữa lành một cách tự nhiên. Gãi có thể làm dễ một sự bội nhiễm vi khuẩn và một érysipèle (nhiễm trùng do liên cầu khuẩn). Vậy phải điều trị chúng. Nấm da này cũng có thể xâm chiếm những nếp gấp của bẹn, do gãi một bàn chân bị nhiễm trùng. Thương tổn, ngứa ngáy, hơi đóng vảy và đỏ, được giới hạn bởi một đường viền rõ rệt lan rộng ra.
+ Các nấm tóc (teigne), các nấm da ưa thích động vật (dermatophyte zoonophile).
Những bệnh nấm khác của da nhẵn nhụi (peau glabre) chủ yếu là do tiếp xúc với một động vật bị nhiễm bởi một nấm da khác và động vật truyền cho người : Microsporum canis (chó, mèo) hay Trichophyton mentagrophytes (các con thỏ lùn, chuột, hamster, poney…), trong đó một biến thể mới mới đây được phân lập ở heo Ân Độ. Những nấm da này gây nên một thương tổn nhỏ, tròn, viêm, đỏ, gây ngứa, rịn nước, ở trẻ em thường nằm ở cổ hay mặt. Không có lây nhiễm giữa người với người. Lấy mẫu nghiệm và cấy cho phép xác định nguồn bệnh.
Vẫn còn thường gặp, các nấm tóc làm rụng tóc da đầu (teignes tondantes du cuir chevelu) tạo thành những mảng tóc bị đứt sát (plaque de cheveux cassés ras). Những nấm tóc này bị mắc phải do tiếp xúc với một động vật (chó, mèo) mang một nấm da hay được truyền từ đứa trẻ này qua đứa trẻ khác do lược chải đầu hay dụng cụ hớt tóc (tondeuse) bị lây nhiễm, do các thói quen uốn tóc hay bện tóc. Vài nấm tóc da đầu có tính chất viêm, với một thương tổn đỏ và rịn nước : kérion. Các loại nấm tóc này thường là hậu quả của sự lẩn lộn với bệnh chàm (eczéma) và do kê đơn không đúng một corticoide tại chỗ khiến làm bệnh nấm trầm trọng thêm. Do đó lợi ích của việc lấy bệnh phẩm.
+ các bệnh nấm candida (candidose), những nhiễm trùng cơ hội ít gặp.
Các bệnh nấm candida da (candidose cutanée), ít gặp, là những nhiễm trùng cơ hội hầu như luôn luôn do Candida albicans. “ Những nấm men này, bình thường hiện diện trong ống tiêu hóa và âm đạo, trong vài trường hợp có thể trở nên sinh bệnh. Các kháng sinh, do làm giảm các vi khuẩn tiêu hóa, làm dễ sự tăng trưởng của chúng, cũng hệt như các corticoides, GS Feuilhade đã chỉ rõ như vậy. Trong trường hợp ngâm nước (macération), chúng có thể đi từ hậu môn qua da ngoại biên bị fragilisée và gây nên những lớp đỏ, bóng, có bờ dentelle với những mụn mủ (pustule) nhỏ rải rác, gây rát và ngứa.” Các nạn nhân chính : những em bé hay những người già có tính miễn dịch suy yếu, và những người bị bệnh đái đường kém điều trị.
Rất hiếm, những bệnh nấm candida âm hộ-âm đạo thật sự (candidose vulvo-vaginale) hầu như luôn luôn đó C.albicans. “ Sau khi sử dụng kháng sinh hay nếu niêm mạc khô, nấm men, hiện diện ở bề mặt âm đạo, tăng sinh ở vài phụ nữ. Vì những lý do miễn dịch tại chỗ không được biết rõ, nấm men này có thể gây bệnh và xuất hiện trong niêm mạc, gây ngứa ngáy và huyết trắng. Những bệnh nấm candida này, xuất hiện trong phần thứ hai của chu kỳ kinh nguyệt, có một mối liên hệ không được sáng tỏ với progestérone ”. Thầy thuốc chuyên khoa da đã giải thích như vậy. Chúng ít lây truyền bằng đường sinh dục.
+ “ Pityriasis versicolor ”, khi các nấm men tăng sinh.
Những nhiễm nấm cơ hội khác là do các nấm men mà ta chứa tự nhiên. Đó là trường hợp của Pityriasis versicolor do Malassezias, những nấm men đơn bào sống trong những nang lông (follicule pileux) của cổ, của ngực và lưng mà các chất dịch tiết mỡ (sécrétions grasses) được nấm men ưa thích. Vì những lý do không rõ, trong đó nhiệt và thể trạng gia đình dường như đóng một vai trò, các nấm men đôi khi đi ra khỏi các nang lông và xâm chiếm lớp sừng, gây nên những vết màu nâu sáng, rồi trắng, không bị rám nắng. Bệnh nấm hiền tính này, không lây nhiễm, không ngứa ngáy và được điều trị dễ dàng.
Mặc dầu gây khó chịu và không thoải mái, những bệnh nấm được điều trị tốt với sự kiên trì. Và không bao giờ tự nhiên gây nên các bệnh nấm xâm nhập, thường chỉ được liên kết với vài bệnh nghiêm trọng.
(LE FIGARO 21/11/2011)

2/ BỆNH NẤM DA : NHỮNG ĐIỀU TRỊ THÍCH ỨNG VỚI MỖI TRƯỜNG HỢP.
Các bệnh nấm da (dermatophytose) của chân, được giới hạn vào kẽ giữa các ngón chân, được điều trị bằng một thuốc kháng nấm tại chỗ như terbinaffine (Lamisil, Mycoster)hay những sản phẩm imidazolé, trung bình bôi trong một tháng. Khi lòng bàn chân bị nấm, thường phải phối hợp một điều trị bằng thuốc uống terbinaffine. Nhưng không có một điều trị tổng quát nào được thực hiện trước khi lấy mẫu nghiệm và nhận diện nấm da.
Cũng phải khử khuẩn giày mang chân trần với một thuốc xịt terbinaffine, cũng như tất cả các cái giá trên đó ta bước. Tưới nước và làm khô đúng đắn các bàn chân, với một khăn lau dung riêng, là phòng ngừa tốt nhất đối với các vận động viên thể thao, cũng có thể sử dụng một thuốc chống nấm tại chỗ.
“ Khi móng bị thương tổn quan trọng (onycomycose), điều trị dựa trên terbinaffine thuốc uống trong 3 tháng. Cũng cần cắt hay làm giảm tối đa phần thương tổn do gãi, bôi nó với một thuốc đánh móng terbinaffine, làm dễ sự len lỏi của thuốc xuống dưới và quanh móng ”, GS Feuilhade đã giải thích như vậy.
CŨNG ĐIỀU TRỊ NẾP BẸN
Ngược lại, không bao giờ nên cắt bỏ móng. “ Những điều trị dựa trên urée cho phép phá hủy những phần bị lấy nhiễm của móng, nếu cần với sự trợ giúp của một pédicure ”, BS Contet-Audonneau đã xác nhận như vậy. Được tuân thủ tốt, điều trị luôn luôn có hiệu quả. Nhưng sự phục hồi một móng bình thường đòi hỏi trung bình một năm.
Bệnh nấm da của nếp gấp vùng bẹn 9 trường hợp trên 10 được liên kết với bệnh nấm da của chân, vậy phải điều trị cả hai nếu không thường sẽ bị tái nhiễm. Chính tầm quan trọng của các thương tổn ở chân quyết định điều trị, tại chỗ hay được liên kết với một điều trị tổng quát.
Các nấm da nguồn gốc động vật đòi hỏi một xét nghiệm nấm học để có thể điều trị người, nhưng cả động vật. Thường nhất, một điều trị kháng nấm tại chỗ bằng imidazolés hay terbinaffine cũng đủ. Sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cần phải tránh vì có thể gây nên những nhiễm sắc tố di chứng.
NẤM TÓC VẪN CÒN LÂY TRUYỀN
Là điều trị hiệu quả của nấm tóc (teigne), griséofulvine đã cho phép triệt trừ nó từ những năm 1960, ngoại trừ trong những thành phố lớn, là nơi bệnh nấm tóc vẫn còn được lây truyền. “ Được biết rõ, ít đắc và không có những tác dụng phụ, griséofulvine chỉ là fongistatique ”, BS Contet-Audonneau đã giải thích như vậy. Thuốc uống được cho từ 6 đến 8 tuần, phải được phối hợp với một điều trị tại chỗ, và với khử trùng những dụng cụ hớt tóc, các bonnet… Không phải nghỉ học nếu sự thực hiện điều trị được chứng thực bởi một thầy thuốc. Không bao giờ được cắt bỏ một kérion, nhưng luôn luôn thực hiện một examen mycologique nhằm tìm kiếm một bệnh nấm da đầu do nấm da (teigne à dermatophyte). Điều trị dựa vào griséofulvine liều cao.
Bệnh vảy phấn (pityriasis versicolor) thường được điều trị tại chỗ, với gel de kétoconazole. Thường chỉ cần hai lần bôi là đủ. Trong những dạng trầm trọng, một điều trị bằng đường tổng quát có thể được đề nghị. Và khi Pityriasis có khuynh hướng tái phát, chủ trương bôi gel để phòng ngừa.
Các bệnh nấm candida âm hộ âm đạo (candidose vulvo-vaginale) được điều trị với những ovule âm đạo kháng nấm. Những bệnh nấm này có thể được làm dễ do tắm rửa chỗ kín với các thuốc sát trùng. “ Trong các bệnh nấm candida âm đạo tái phát (hơn 4 đợt mỗi năm), một điều trị với fluconazole (Diflucan) đôi khi được kê đơn một tháng một lần vào lúc có kinh ”, vị thầy thuốc chỉ rõ như vậy.
(LE FIGARO 21/11/2011)

3/ HIẾM NHƯNG NGHIÊM TRỌNG, CÁC BỆNH NẤM XÂM NHẬP (MYCOSE INVASIVE) LỢI DỤNG MỘT CHẦN ĐOÁN MUỘN.
“ Đặc quyền ” của vài service hospitalier (khoa hồi sức, ung thư, huyết học), các bệnh nấm xâm nhập (mycose invasive), hiếm nhưng nghiêm trọng, phần lớn do những giống gốc nấm men (souches để levure) thuộc loại Candida của bệnh nhân.
“ Chỉ bị bệnh nấm candida xâm nhập (candidose invasive), với một sự đi qua của các mầm bệnh trong máu, những bệnh nhân rất yếu ớt, được cho nhiều kháng sinh và mang nhiều cathéter, trong tình trạng suy giảm miễn dịch để ghép hay vì ung thư hay trong phòng hồi sức từ lâu…GS Christophe Hennequin, mycologue (CHU Saint-Antoine, Paris) đã giải thích như vậy. Để bệnh nấm candida xâm nhập xuất hiện, trước đó bệnh nhân phải chịu một liệu pháp kháng sinh mạnh, làm mất cân bằng flore ở da hay tiêu hóa theo chiều hướng có lợi cho các candida không nhạy cảm với các kháng sinh, khi đó chúng sẽ phát triển. Cũng phải có một kẽ hở (thương tổn tiêu hóa liên kết với hóa học liệu pháp hay da do một cathéter) làm chúng tiếp xúc với nội môi trường, và một sự giảm mạnh các bạch cầu đa nhân, những tế bào đảm bảo sự phòng vệ miễn dịch bình thường chống lại sự phân tán của các candida ”.
Đối với GS Daniel Poulain (Inserm U 995 và CHRU de Lille) cũng thêm vào một hiện tượng khác khó hiểu. Mật độ gia tăng Candida kèm theo những thay đổi trong cấu trúc của chúng và trong biểu hiện của các gène của chúng, làm dễ sự phát tán trong cơ thể ”.
Sự chẩn đoán bệnh nấm candida xâm nhập vẫn muộn màng : sự hiện diện của Candida trong phân không chứng tỏ là nó gây bệnh, và cấy máu phát hiện sự hiện diện của nó trong máu chỉ dương tính một trường hợp trên hai. “ Trong trường hợp sốt, thay thuốc không thể phân biệt một nhiễm trùng do nấm với một nhiễm trùng do vi khuẩn. Chính sự không hiệu quả của các kháng sinh sau 3-4 ngày điều trị làm nghi ngờ chẩn đoán bệnh nấm candida xâm nhập, GS Poulain đã giải thích như vậy. Thế mà việc chẩn đoán sớm là một yếu tố quan trọng đối với sự sống còn của bệnh nhân. Do đó các thầy thuốc điều trị để phòng ngừa những bệnh nhân có nguy cơ, suy yếu, với những lều lượng lớn thuốc kháng nấm để tránh tử vong cho bệnh nhân. Thái độ duy nhất khả dĩ này có một phí tổn : “ Ở bệnh viện, các chi phí về thuốc chống nấm cao hơn những chi phí của các kháng sinh để phòng ngừa những bệnh nấm xâm nhập mà nhiều trường hợp không được chẩn đoán.”
Vậy với các thuốc kháng nấm hiện nay, mặc đầu có hiệu quả, nhưng vấn đề quan trọng vẫn là sự chẩn đoán sớm, ảnh hưởng lên tiên lượng. “ Sự phát hiện nồng độ kháng thể chống Candida và những thành phần của thành của các nấm mốc được phóng thích trong máu là hai chất chỉ dấu sự xâm nhập của nấm candida (marqueur d’invasion) trong lúc đánh giá. Hướng khác, các gène nhạy cảm. Sự tìm kiếm những biến dị của cac gène miễn dịch bẩm sinh, cho phép có thể nhận biết Candida và phòng vệ, có thể cho phép nhận biết các bệnh nhân có nguy cơ. Biến dị được biết nhất liên quan đến gène dua dectine-1, nhận biết các beta-glycane, những phân tử của thành của candida. Các thầy thuốc chuyên khoa ung thư-huyết học dự kiến tìm kiếm nó để nhắm đích hiệu quả hơn những bệnh cần đến một sự phòng ngừa nhờ các thuốc kháng nấm. Ngược lại sự vắng mặt của nó sẽ làm cho điều trị kháng nấm trở nên vô ích ở những bệnh nhân khác.
Sự phòng ngừa những bệnh nấm xâm nhập khác do các nấm không cộng sinh (champignons non commensaux) cũng đã tiến bộ : “ Đối với aspergillose, khi phát hiện kháng nguyên aspergillaire, mà sự xuất hiện trong máu đi trước các triệu chứng, ta có thể đoán trước và điều trị phòng ngừa. Y hệt như vậy đối với một bệnh nấm nghiêm trọng khác, cryptococcose, GS Hennequin đã giải thích như vậy.Trong vài trường hợp bệnh bạch cầu hay trong trường hợp phản ứng ghép chống lại người cho, bệnh nhân cũng được điều trị phòng ngừa một cách hệ thống bằng một thuốc kháng nấm có kháng khuẩn phổ rộng.
(LE FIGARO 21/11/2011)

4/ RỤNG TÓC : TỪ THUỐC ĐẾN GHÉP TÓC
Mặc dầu chứng rụng lông tóc (alopécie) không phải là một bệnh, nhưng thị trường phát triển với một nhu cầu nam giới gia tăng.
DERMATOLOGIE. Nếu mọi chuyện đều tốt đẹp, 85% tóc của các bạn ở vào giai đoạn tăng trưởng (phase de croissnce) và chỉ 10% ở giai đoạn rụng (phase de chute).“ Vậy ta có thể mất 50 đến 100 sợi tóc mỗi ngày nhưng điều đó không đáng ngại. Vấn đề, đó là khi sự rụng tóc gia tăng, BS Alain Zara, thầy thuốc chuyên khoa da (Paris) đã giải thích như vậy. Nguyên nhân đầu tiên ở đàn ông(90% các trường hợp) là chứng rụng tóc do kích thích tố nam (alopécie androgénétique), do tác dụng của các hormone nam lên chân tóc. Ở phụ nữ, rụng tóc thường là phản ứng với một biến cố đặc biệt (sinh đẻ, mãn kinh) nhưng cũng đó stress, mệt mỏi, thuốc lá,… Với hậu quả của những thay đổi trong lời sống của chúng ta, từ nay càng ngày càng có nhiều phụ nữ bị liên hệ.”
Sau cùng, đàn ông và phụ nữ có thể mất quá nhiều tóc vì những lý do y khoa : chế độ ăn uống mất quân bình, bệnh tật, tai nạn, thuốc men. Ta cũng tìm thấy những nguyên nhân do tai nạn hay y khoa (thí dụ các sẹo mụn : cicatrices d’acné) để giải thích sự biến mất hoàn toàn hay một phần các lông mày, các lông râu (poils de barbe). Thế mà, ở đây cũng vậy, nhu cầu đòi sửa chữa bùng nổ và những tiến bộ được thực hiện trong ghép tóc có thể áp dụng ở mức độ này.
Một khi chẩn đoán được xác định, vấn đề là còn phải tìm kiếm những dung dịch. Vì lẽ để mọc, tóc của chúng ta rất cần acide aminé souffré và vitamine B5, B6 và PP, nên thầy thuốc thường kê đơn một chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire), với những kết quả thấy rõ sau 3 tháng. Một điều trị tại chỗ có thể được phối hợp như Minoxidil, gây nên một sự giãn mạch các huyết quản nuôi dưỡng tóc, để các chất dinh dưỡng đến tóc với lượng tối đa. Một sự cải thiện được quan sát trong 2/3 các trường hợp, nhưng những lợi ích biến mất khi ngừng điều trị.
Về finastéride (chỉ đối với đàn ông), nó ngăn cản một dẫn chất của kích thích tố nam gắn vào các sợi tóc. Sau hai năm điều trị, sự rụng tóc được ổn định, sự mọc tóc lại được quan sát ở 40% các người đàn ông. Một sự giảm dục tính, những rối loạn cương đôi khi được ghi nhận. Dầu hữu ích thế nào đi nữa, những điều trị bằng thuốc không cho những kết quả tức thời, lâu dài hay đủ, vì vậy càng ngày có nhiều bệnh nhân hướng về ghép tóc, đang tiến bộ đều đặn. Mục tiêu luôn luôn giống nhau : phân bố tóc tốt hơn. Điều tiến bộ đó là cách tiến hành. Ví dụ, các kỹ thuật cải tiến nhất cho những kết quả tự nhiên đến độ không thể phân biệt giữa vùng được ghép và không được ghép.
KHÔNG CÓ SẸO.
DHI (Direct Hair Implantation) là một trong những kỹ thuật này. “ Đó là kỹ thuật duy nhất, trong đó tóc được lấy từng sợi (trên những tóc ngắn hay dài, nhưng không bị cạo), mỗi trong các sợi tóc được lấy được đưa ngay vào trong bì (derme) nhờ một “ implanteur ” mà không cần chuẩn bị da đầu bằng một “ pré trou ”. Kỹ thuật này được thực hiện lâu hơn ghép cổ điển, nhưng không gây đau trong và sau thủ thuật. Không để lại một vết sẹo nào. Với khả năng có thể lấy tóc vượt quá vùng gáy, cho đến tận các lỗ tai, và ngay cả từ những sợi lông của thân mình (những sợi lông này sẽ có hiệu quả như những sợi tóc thật sự một khi được cắm vào), điều này là một lợi điểm thật sự đối với những người đã mất nhiều tóc, BS Sydney Ohana, thầy thuốc ngoại khoa tạo hình (Paris) đã giải thích như vậy. Sau cùng sự tái phân bố mạch (revascularisation) của tóc nhanh đến độ tóc không có thời gian bị thiếu hụt : như thế tránh một phần tóc rụng, hai đến 3 tuần sau khi cắm chúng, đó là điều được thấy trong những kỹ thuật khác, điều này thật khá phiền, mặc dầu sau đó chúng mọc lại ”.
Nhiều phương cách khác cũng được đề nghị.“ Kỹ thuật vi ghép các sợi tóc dài (microgreffe à cheveux longs), được gọi như thế bởi vì không cần cạo hay cắt các sợi tóc sẽ đuợc cắm. Kỹ thuật này nhằm lấy những mảnh nhỏ (petits fragments) phát xuất từ một dải nhỏ (bandelette) được lấy từ những vùng rậm tóc. Phải xét đến góc và màu sắc của các sợi tóc. Vì có thể cắm trở lại từ 3000 đến 3500 sợi mọc mỗi buổi ghép, nên kết quả có thể được thấy ngay, BS Pierre Bouhanna, thầy thuốc chuyên khoa da thuộc bệnh viện Saint-Louis (Paris) đã xác nhận như vậy. Những vảy nhỏ được tạo thành ở chỗ cắm được che khuất bởi các sợi tóc. Đôi khi, một ít phù nề xuất hiện, nhưng tối đa chỉ trong 3 đến 4 ngày và ngay ngày hôm sau có thể gội đầu. ” Kỹ thuật ghép tóc dài (technique de la greffe à cheveux long) cũng như DHI cho phép tái tạo một lông mày, một bộ râu và trong tương lai một lông mi.
Các nhà nghiên cứu theo đuổi những hướng khác.“ Theo dự kiến từ nay đến vài tháng nữa, ta sẽ thấy xuất hiện trên thị trường những yếu tố tăng trưởng của tóc (facteur de croissance du cheveu), được lấy ở bệnh nhân (trong những vùng rậm tóc) và được tiêm trở lại trực tiếp vào trong da đầu, ở những vùng bị rụng tóc ”, BS Bouhanna đã đảm bảo như vậy. Hướng khác : cấy trong 6 đến 8 tuần các nang lông (follicule pileux) thu được khi thực hiện microgreffe, để có sẵn sử dụng một số lượng tóc để cắm lại lớn hơn : một cải tiến đáng lưu ý ở những người thiếu tóc để lấy.
(LE FIGARO 7/3/2011)

5/ LÀM GÌ KHI BỊ RỤNG TÓC VÌ VÀI ĐIỀU TRỊ CHỐNG UNG THƯ.
Professeur Alain Astier
Pharmacie clinique oncologique
Membre de l’Académie nationale de pharmacie

Phần lớn các loại thuốc chống ung thư tác dụng bằng cách phá hủy những tế bào tăng sinh ung thư, nhưng cũng phá hủy những tế bào bình thường bất cứ ở đâu trong cơ thể, trong đó có các tế bào của các hành lông (bulbe pileux) ở chân tóc. Tác dụng không nhắm đích này, bất hạnh thay, là nguồn gốc của những tác dụng đặc biệt không được mong muốn : ỉa chảy, mửa, giảm hồng cầu và cả rụng tóc.
Không phải tất cả các thuốc chống ung thư đều gây rụng tóc cùng mức độ như nhau. Ngay cả vài loại thuốc không hề gây rụng tóc. Nhưng nhiều protocole hóa học liệu pháp chẳng màn đến vấn đề rụng tóc mà chỉ nhắm đến tính hiệu quả của điều trị. Đó là trường hợp điều trị trong các ung thư vú, buồng trứng, phổi hay các ung thư bạch cầu.
Bệnh nhân và thầy thuốc không cùng một nhận thức về tình hình. Đối với các thầy thuốc, chính kết quả mới là đáng kể và những tác dụng phụ chỉ quan trọng nếu chúng trầm trọng “ về mặt y khoa ”, như sự sụt giảm các bạch cầu trong máu. Đối với các bệnh nhân, nhất là các phụ nữ, hóa học trị liệu có nghĩa là rụng tóc, như là một stigmate đối với bản thân mình và đối với những kẻ khác, mặc dầu đó là một hiện tượng tạm thời và hiền tính. Thật vậy, ngay khi ngừng hóa học trị liệu, tóc luôn luôn mọc trở lại và sự rụng tóc không phải là một căn bệnh. Đôi khi đó là một nỗi thống khổ cần phải được xét đến. Phải giải thích và dédramatiser, tìm những phương tiện cho phép giảm thiểu tác động của nó lên chất lượng sống của bệnh nhân.
Thông tin là chủ yếu. Phải giải thích rằng những tác dụng không được mong muốn là không thể tránh được nhưng chúng khác nhau tùy theo các thuốc điều trị, phải thuyết phục về tính chất tạm thời và có thể đảo ngược được của sự rụng tóc. Trong vài trường hợp, ta có thể dự đoán khi các loại thuốc cho phép. Thường thường các casque réfrigérant được đề nghị. Thật vậy, lạnh làm giảm nhiều tuần hoàn máu ở da đầu, do đó làm giảm sự cung cấp thuốc đến hành mao quản (bulbe capillaire), như vậy hạn chế độc tính của thuốc điều trị. Nhưng tính hiệu quả của nó thay đổi rất nhiều tùy theo tính chất và cách cho thuốc, tùy theo việc quản lý casque (lý tưởng 10 phút trước khi bắt đầu truyền và duy trì 30 phút sau khi ngừng) ; tính chất của các sợi tóc và ngay cả chiều dài của chúng : các sợi tóc được cắt ngắn sẽ chống lại tốt hơn.
Nhìn toàn bộ, ta càng chăm sóc các sợi tóc của mình, ta sẽ càng bảo vệ chúng: ít gội, không nhuộm màu, không chải mạnh. Có những người dùng các chất bổ sung vitamine nhưng không có gì được chứng minh. Ngược lại, những loại thuốc và /hoặc những mỹ phẩm chứa các chất “ chống rụng tóc ” không có một lợi ích nào trong trường hợp một hóa học liệu pháp.
Tốt hơn là chuẩn bị để chịu đựng. Cắt tóc ngắn, thậm chí cạo đầu là có lợi. Đó là một động tác tự ý và một giai đoạn trung gian cho phép làm quen với một hình ảnh khác và lấy làm của mình việc rụng tóc sắp đến. Như thế ta tránh được sự kinh qua đặc biệt căng thẳng của một phụ nữ, khi sáng thức dậy với một “ scalp ” trên gối..
Sau cùng, luôn luôn có những khăn đóng (turbans), những khăn trùm cũng như những tóc giả.
Sự rụng tóc là và sẽ là một thương tổn đôi khi không chịu được đối với nữ tính ; nhưng ta có thể hy vọng rằng hóa học liệu pháp sẽ thực hiện những tiến bộ và rằng công luận sẽ được làm nhạy cảm hơn và khoan dung hơn.
Những tiến bộ quan trọng đã được thực hiện theo chiều hướng này, nhưng chính các phụ nữ phải được chuẩn bị tốt hơn để chấp nhận rằng việc hy sinh mái tóc của họ là cái bảo đảm, mặc dầu độc ác nhưng không tránh được, của sự chữa lành bệnh. Với sự hỗ trợ thường xuyên và chăm chú của những người thân, thử thách có thể được vượt qua. Cho đến cùng, khi các sợi tóc mọc trở lại không giống trước…Nhưng đó chỉ là tạm thời : sau vài tháng, họ sẽ tìm thấy lại bản chất thật sự của chúng.
(LE FIGARO 21/6/2011)

6/ CÁC HUYẾT QUẢN CHỐNG LẠI CÁC KHỐI U
ONCOLOGIE. Trong cuộc đấu tranh chống lại một khối u ung thư, sự sinh huyết quản (angiogenèse), nghĩa là sự tạo thành những huyết quản mới, nói chung là kẻ thù của các thầy thuốc bởi vì những huyết quản này nuôi dưỡng khối u cho phép nó tăng trưởng. Tuy vậy, Jean-Philippe Girard, giám đốc nghiên cứu Inserm thuộc Institut de pharmacologie et de biologie structurale de Toulouse và kíp của ông, liên kết với Viện Claudius-Regaud, đã khám phá rằng vài huyết quản được tạo thành trong các khối u là có lợi. Thật vậy những huyết quản này hộ tống những tế bào lympho T cytotoxique được gọi là giết người, có khả năng phá hủy những tế bào khối u. Những huyết quản chuyên môn hóa này được gọi là HEV (High Endothelial Veinule), gồm những tế bào có một hình thái tròn làm dễ sự đi qua của những tế bào lympho, cho đến nay chỉ được phát hiện trong các hạch bạch huyết. Nhóm nghiên cứu đã chứng thực rằng chúng hiện diện trong hơn 80% những mẫu nghiệm được thực hiện ở 300 bệnh nhân được điều trị vì một ung thư vú. “ Càng có nhiều những huyết quản HEV, tiên lượng dường như càng tốt hơn “, Jean-Philippe Girard đã nhấn mạnh như vậy. Các nhà nghiên cứu cũng đã quan sát thấy những huyết quản này trong các ung thư đại tràng, buồng trứng, phổi và da (mélanome), nơi một số ít các bệnh nhân hơn.
Để xác nhận quan sát này, một công trình nghiên cứu rộng lớn hơn được dự kiến trên gần 1000 bệnh nhân. Trên bình diện cơ bản, còn cần phải giải thích tại sao vài bệnh phát triển những huyết quản này nhiều hơn những bệnh khác. Và còn phải nhận diện những tín hiệu tế bào “ chuyên môn hóa ” những huyết quản của khối u để biến đổi chúng thành những huyết quản hộ tống các tế bào lympho giết người (lymphocytes tuerurs), trong mục đích tối hậu là làm gia tăng số các HEV này bên trong các khối u.
(SCIENCES ET AVENIR 10/2011)

7/ SỰ LÃO HÓA CÓ THỂ ĐẢO NGƯỢC ? NHỮNG NGHIÊN CỨU ĐANG BÙNG NỔ.
Đi ngược lại thời gian không còn là khoa học viễn tưởng nữa. Khắp 4 cõi địa cầu, những kết quả của các công trình nghiên cứu tích tụ, dường như xác nhận điều đó.
Ở Hoa Kỳ một nhóm nghiên cứu của Clinique Mayo trong Minesota đã cho thấy rằng có thể trừ khử khỏi các con chuột (được biến đổi về mặt di truyền) một phần các tế bào già nua của chúng. Ở Thụy Điển, những cơ quan nghiên cứu khoa học khác nhau hiện nay đang tiến hành nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có một công trình về mối liên hệ giữa việc hạn chế calo và sự kéo dài tuổi thọ. Trong những ngày này ở Pháp, nhóm nghiên cứu của GS Jean-Marc Lemaitre (Institut de génomique fonctionnelle de Montpellier) vừa đạt được một thành tích : lập lại chương trình (reprogrammer), trong phòng thí nghiệm, những tế bào già nua của da ở những người từ 90 đến 101 tuổi. Những tế bào này, “ được biến đổi ” này (nhờ thao tác di truyền : manipulation génétique) thành những tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires) non và hoạt động, đã mất đi mọi dấu vết của sự lão hóa. Ta có thể tưởng tượng ra nhiều áp dụng mở ra khả năng làm trẻ lại các tế bào tùy theo mong muốn ! Và đạt được điều đó mà không cần phải sử dụng các phôi thai người, như thế tránh khỏi mọi vấn đề về đạo đức. Nhiều nghiên cứu khác đang được thực hiện trên nhiều lục địa khác nhau để kéo dài tuổi thọ (Á Châu, Úc, Nam Mỹ), nhưng tất cả, vẫn còn trong vòng thí nghiệm, sẽ cần nhiều năm tháng trước khi có thể dự kiến một liệu pháp nơi người.
(PARIS MATCH 17/11 – 23/11/2011)

8/ XƠ GAN : MỘT XÉT NGHIỆM CHẦN ĐOÁN ĐỐI MỚI VÀ CHÍNH XÁC
GS Paul Calès, trưởng khoa gan-dạ dày-ruột thuộc CHU Angers, giải thích CirrhoMètre, một xét nghiệm máu, cho phép tránh sinh thiết gan như thế nào.
Hỏi : Ở gan, sự xuất hiện dần dần của một xơ gan diễn ra như thế nào ?
GS Paul Calès. Tỷ lệ mắc phải bệnh này rất thường gặp vì lẽ ở Pháp 320.000 người bị bệnh. Ở gan, tiến triển diễn ra từ từ, trong khoảng 15 năm. Lúc đầu, để phản ứng lại một viêm mãn tính, một vết sẹo xơ (cicatrice fibreuse) thành hình. Rồi dần dần một sự xơ hóa (fibrose) được hình thành. Quá trình xơ hóa này sẽ lan rộng, gan dày lên cho đến khi rắn lại và làm cho gan chai cứng. Khi sự xơ hóa này cuối cùng bao quanh mô gan, cấu trúc bị đảo lộn gây nên sự phá hủy những tế bào gan. Khi đó ta nói là xơ gan (cirrhose).
Hỏi : Sau đó những hậu quả là gì ?
GS Paul Calès. Những biến chứng trầm trọng, như một ung thư gan, xuất huyết tiêu hóa (do vỡ các giãn tĩnh mạch thực quản), cổ trướng (ascite) (tràn dịch trong bụng), vàng da…
Hỏi : Những triệu chứng nào cho phép tiên đoán là xơ gan.
GS Paul Calès. Vấn đề, đó là không có xơ gan trước khi xuất hiện một biến chứng ! Đó là lý do tại sao chẩn đoán thường muộn, trung bình 7 năm sau khi bệnh tiến triển.
Hỏi : Những yếu tố làm dễ là gì ?
GS Paul Calès. Có 3 yếu tố chính. 1. Rượu (85% các trường hợp). 2. Sự phối hợp của bốn bất thường : tăng cholestérol-huyết + bệnh đái đường + cao huyết áp + bệnh béo phì (10%). 3. Các virus của viêm gan B và C (4%). Nhưng đối với mỗi trong những yếu tố này, nguy cơ thật sự khác nhau bởi vì yêu tố di truyền cũng có tầm quan trọng của nó.
Hỏi : Thường thường làm sao ta chẩn đoán một xơ gan ?
GS Paul Calès. Thầy thuốc bắt đầu cho làm siêu âm gan, sẽ phát hiện hay không nhưng dấu hiệu gợi ý xơ gan, nhưng không chắc chắn. Sau đó, trong trường hợp nghi ngờ, ta cho bệnh nhân làm những thăm dò phụ khác : Fibro-Test hay FibroMètre (để đánh giá giai đoạn xơ hóa) và FibroScan. Khi ta không xác lập được một cách chắc chắn chẩn đoán hay khi ta phải bổ sung bilan, ta nhờ đến sinh thiết gan (bằng kim) ; một thăm dò xâm nhập, đôi khi đau đớn và hàm chứa nhiều nguy cơ.
Hỏi : Vậy cần một xét nghiệm mới không xâm nhập và đáng tin cậy. Kỹ thuật CirrhoMètre là gì ?
GS Paul Calès. Đó là một xét nghiệm máu trong đó 8 tham số sẽ được đánh giá : các tiểu cầu, nồng độ prothrombine, transaminase và những chỉ dấu đặc hiệu hiện diện ở giai đoạn rất trầm trọng của bệnh. Chẩn đoán xơ gan được thực hiện bằng phân tích vi tính (analyse informatique) những kết quả sinh học.
Hỏi : Mức độ chính xác của xét nghiệm mới này là gì ?
GS Paul Calès. Hai công trình nghiên cứu lớn trên khoảng 3000 bệnh nhân bị viêm gan đã chứng minh rằng CirrhoMètre hoàn toàn đáng tin cậy trong 75% các trường hợp.
Hỏi. Trong trường hợp kết quả dương tính, khi đó những điều trị là gì ?
GS Paul Calès. Có hai phương pháp. Các bệnh nhân bị xơ gan giai đoạn đầu sẽ phải thực hiện một bilan mỗi 6 tháng với một siêu âm gan và một xét nghiệm máu. Protocole cũng bao gồm tìm kiếm các giãn tĩnh mạch thực quản mỗi một đến ba năm. Các kết quả sẽ cho phép đánh giá tiên lượng. Trong những trường hợp nghiêm trọng với sự xuất hiện các biến chứng, mỗi biến chứng sẽ được xử trí với một trị liệu đặc hiệu. Thí dụ, các giãn tĩnh mạch, nguyên nhân gây xuất huyết, sẽ được buộc qua đường nội soi.
Hỏi : Những lời khuyên của ông để tránh căn bệnh gan này ?
GS Paul Calès. Những người trên 45 tuổi mang một yếu tố làm dễ sẽ phải được thăm dò phát hiện.
(PARIS MATCH 24/11 – 30/11/2011)

9/ SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA RƯỢU VÀ UNG THƯ VÚ
Một công trình nghiên cứu mới đây của Hoa Kỳ được thực hiện trên 105.986 người tham dự (từ năm 1981 đến 2008) đã chứng minh rằng, ở các phụ nữ, hai ly rượu vang mỗi ngày làm gia tăng 51% nguy cơ mắc phải bệnh ung thư vú. Tuy nhiên, những kết quả này, được công bố trong tạp chí khoa học “ Jama ” , không giải thích cơ chế của mối liên quan này. Lý thuyết : rượu tác động lên nồng độ của œstrogène trong máu.
(PARIS MATCH 24/11 – 30/11/2011)

10/ GÂY MÊ TOÀN THÂN PHẢI CHĂNG NGUY HIỂM SAU MỘT LỨA TUỔI NÀO ĐÓ ?
Professeur Frédéric Aubrun
Chef de service d’anesthésie-réanimation
Hôpital de la Croix-Rousse
Groupe hospitalier nord
Hospice civil de Lyon

Càng ngày càng nhiều bệnh nhân lớn tuổi (và càng ngày càng già) được gây mê trong những điều kiện an toàn và thoải mãi được tăng cường. Những tiến bộ đạt được không những chỉ nhằm vào sự thích ứng các liều lượng thuốc gây mê, mà còn ở thái độ xử trí toàn thể trước và sau mổ (périopératoire) và nhiều chuyên khoa, mà còn nhằm vào sự phát triển của gây mê tại chỗ-vùng (anesthésie loco-régionale) và những can thiệp ngoại trú. Việc hiệu chính những điểm số đánh giá đau đớn (score d’évaluation de la douleur) trong trường hợp rối loạn nhận thức và hành vi (troubles cognitifs et du comportement) và sự làm mất tính chất huyền thoại (démystification) về morphine ở những lứa tuổi quá già hay quá bé cũng đã làm tiến bộ việc xử trí đau đớn trong nhóm những bệnh nhân già này.
Trong những nước phát triển, dân số của những người già cả và của những người rất già là tăng nhanh nhất. Vào năm 2020, 16% dân Pháp sẽ có hơn 85 tuổi, và tỷ lệ này sẽ chuyển, theo các đánh giá, lên 24% vào năm 2050. Trên khoảng 8 triệu người được gây mê mỗi năm trong đất nước chúng ta, tỷ lệ những người già càng ngày càng quan trọng. Vậy các thầy thuốc gây mê phải thích ứng với tình huống này bằng cách biến đổi sự lựa chọn các thuốc gây mê, các liều lượng và những điều kiện cho những thuốc này. Các chiến lược hiện nay có tính đến tuổi, tiền sử và bệnh trình của bệnh nhân. Gây mê càng ngày có khuynh hướng cá thể hóa, đó là một xử trí “ à la carte ”, hơn bao giờ hết, bắt buộc một thăm khám tiền gây mê (consultation pré-anesthésique).
Không quá nhiều mà cũng không quá ít : những liều lượng các thuốc gây mê và các thuốc giảm đau phải được thích ứng theo nhu cầu của bệnh nhân. Các logiciel, được hiệu chính nhờ sự cộng tác của các thầy thuốc gây mê và các nhà công nghiệp, cho phép tính toán những nồng độ của các thuốc gây mê cần phải cho mỗi bệnh nhân và do đó có được những liều lượng đúng đắn nhất. Đó là nguyên tắc chuẩn độ (principe de titration) đặc biệt hữu ích trong nhóm các bệnh nhân già. Nguyên tắc này cho phép thu giảm những nguy cơ quá liều đặc biệt có hại ở các bệnh nhân già. Mục tiêu là làm ngủ bệnh nhân trong những điều kiện an toàn và thoải mái tốt nhất có thể được.
TỶ SUẤT LỢI ÍCH-NGUY CƠ
Một sự đảm nhiệm ngoại trú làm giảm rất rõ rệt nguy cơ chấn thương tâm lý gây nên bởi nhập viện. Ta đã biết rằng sự thay đổi môi trường và sự đánh mất những điểm mốc là đặc biệt có hại ở các bệnh nhân già. Các thầy thuốc gây mê là những tác nhân rất tích cực trong sự phát triển xử trí ngoại trú, đặc biệt ở những người già, nhằm cải thiện sự thoải mái và làm giảm bớt những biến chứng, đặc biệt là tâm lý. Khuynh hướng này không chỉ giới hạn ở các người già mà còn liên quan đến tất cả các bệnh nhân.
Ở người già, nhất là trong trường hợp rối loạn nhận thức và khó khăn trong sự diễn đạt, cường độ của sự đau đớn từ lâu đã bị đánh giá thấp, và do đó không được điều trị đủ, như thể quá một lứa tuổi nào đó, ta ít bị đau đớn hơn, đó là điều sai trái. Những điểm số (score) và những phương tiện đánh giá đã được lập ra và được hợp thức hóa để cho phép đo lường mức độ đau đớn ở những người không thể diễn đạt và như thế cải thiện việc điều trị những bệnh nhân này.
Ngoài quyền đối với mỗi bệnh nhân được nhận một điều trị chống đau, sự điều trị này cải thiện những di chứng phẫu thuật, đặc biệt ở những người già nhất.Thật vậy có một mối liên hệ giữa cường độ của đau đớn và sự xuất hiện của những rối loạn hành vi tiếp theo sau khi giải phẫu. Các cách thức điều trị chống đau phải được thích ứng với tuổi tác và với tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, đặc biệt là đối với các morphinique, mà sự sử dụng ở những lứa tuổi quá cao hay quá thấp đã được làm mất tính chất huyền thoại. Ngoài ra, Hiệp hội gây mê và hồi sức của Pháp (SFAR : société française d’anesthésie et de réanimation) đã công bố những khuyến nghị về những biện pháp an toàn tối ưu khi cấp thuốc morphinique ở những người già. Ngày nay các morphinique được cho trong phòng tỉnh mê (salle de réveil), kể cả ở những người rất già.
Toàn bộ những tiến bộ đạt được trong xử trí những bệnh nhân già cả nhất giải thích rằng ngày nay không còn giới hạn tuổi trong việc thực hiện gây mê. Dĩ nhiên cần đánh giá, cùng với thầy thuốc ngoại khoa và bệnh nhân, tỷ suất lợi ích-nguy cơ của phẫu thuật, nhưng ta không từ chối một cuộc phẫu thuật cổ xương đùi chỉ vì một vấn để tuổi tác. Thật vậy ta phải phân biệt tuổi theo thời gian (l’âge chronologique) và tuổi sinh lý (l’âge physiologique) : vài bệnh nhân trên 80 tuổi có tình trạng tổng quát tốt trong khi những bệnh nhân trên 6o tuổi khác có thể trong tình trạng rất suy kém về sinh lý. Vậy không những ta phải thăm khám bệnh nhân lúc khám tiền mê mà còn phải biết một cách rất chính xác quá trình lâm sàng, những điều trị và cả về mức độ tự lập, môi trường xã hội, gia đình của bệnh nhân, nhằm đề nghị với bệnh nhân chiến lược điều trị tốt nhất với sự phối hợp cùng với tất cả các tác nhân y tế.
(LE FIGARO 7/11/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(9/12/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s