Thời sự y học số 250 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG PROFIL MỚI CỦA LOÉT DẠ DÀY
Hơn 85.000 trường hợp được thống kê mỗi năm, trong khi ta nghĩ là có thể triệt trừ căn bệnh này.
GASTROLOGIE. Mới chỉ cách nay 10 năm, hầu như tất cả các trường hợp loét dạ dày được tìm thấy đều được liên kết với một nhiễm trùng bởi Helicobacter pylori, nên từ đó nảy ra ý nghĩ cho rằng vi khuẩn này là thủ phạm duy nhất. Ngoài ra ta nghĩ là đã giải quyết vấn đề loét dạ dày-tá tràng (ulcère gastro-duodénal) nhờ cho phối hợp các kháng sinh khiến có thể triệt trừ vi khuẩn một cách chắc chắn.
Hai mươi năm sau, những niềm hy vọng cho rằng loét dạ dày chỉ còn là một kỷ niệm xa xăm đã biết mất. Thật vậy, các trường hợp loét dạ dày do vi khuẩn Helicobacter pylori chỉ chiếm 49% những loét được chẩn đoán và hơn 30% những vi khuẩn này, được điều trị bằng liệu pháp kháng sinh cổ điển, đã đề kháng lại. Cuộc chiến đấu ác liệt chống lại vi khuẩn Helicobacter pylori do đó chủ yếu cho phép để lộ những nguyên nhân khác, như việc sử dụng kéo dài các thuốc kháng viêm (anti-inflammatoires). Cái mới, đó là xuất hiện những trường hợp loét dạ dày mà nguyên nhân không được tìm thấy.Trước đây ta đã không nghi ngờ sự hiện hữu của chúng. Có nhiều nghi ngờ về cơ thể ở trong một tình trạng rất căng thẳng, như trường hợp những người nằm trong phòng hồi sức. Và những yếu tố nguy cơ ít xảy ra đã được nhận diện, như sự phối hợp loét dạ dày với bệnh Crohn (bệnh viêm mãn tính của ruột)

MOT THÁCH THỨC PHẢI ĐỐI ĐẦU.
“ Trong một cuộc điều tra lớn quy mô quốc gia, trong 31 bệnh viện công được phân bố trên toàn thể lãnh thổ của Pháp và được thực hiện ở 960 người được chẩn đoán loét dạ dày hay tá tràng, ta đã không tìm thấy một nguyên nhân nào đã được biết đến đối với 20% trong số những bệnh nhân này, BS Anne Courillon-Mallet, thầy thuốc chuyên khoa tiêu hóa thuộc bệnh viện Villeneuve-Saint-Georges đã xác nhận như vậy.Trong số các giả thuyết, có thể có một sự gia tăng tiết acid của dạ dày, có lẽ do những lý do thể tạng hay do những thức ăn chưa được nhận diện rõ ràng nhưng có một độc tính nào đó đối với dạ dày (gastrotoxicité). Để biết thêm sẽ còn phải cần đến những công trình nghiên cứu khác.”
Không những ta không biết tại sao phát khởi 20% trường hợp loét không tìm thấy nguyên nhân, mà ta cũng không biết tại sao chúng tái phát nhiều hơn hay tại sao những trường hợp loét khác có một nguyên nhân được tìm thấy và được điều trị lại không tái phát. Ta cũng không biết tại sao những trường hợp loét này có khuynh hướng bị biến chứng hơn (xuất huyết, thủng hay ung thư). Ta cũng không biết phải điều trị chúng bao lâu để được hiệu quả nhất.
Cac thầy thuốc chuyên khoa dạ dày-ruột phải trả lời những câu hỏi này trong những năm đến : một thách thức cần phải đối đầu, càng hóc búa khi ngay cả điều trị cổ điển bệnh loét do Helicobacter pylori ngày nay bị đặt lại vấn đề. Điều trị này luôn luôn dựa vào những loại thuốc thuộc lớp thuốc kháng bơm proton (IPP : inhibiteur à protons), được gọi như thế bởi vì chúng làm giảm hay làm ngừng tiết acid, nhưng sự phối hợp các kháng sinh đến nay được kê đơn để triệt trừ vi khuẩn Helicobacter pylori không còn thích hợp nữa.. “ Hiệu quả của các kháng sinh từ nay dưới 70% do sự đề kháng của vi khuẩn phát triển và chính vì vậy những khuyến nghị mới đang được xét đến. Nếu những khuyến nghị mới này được hợp thức hóa, khi đó điều trị sẽ dựa vào sự phối hợp của một thuốc kháng bơm proton (IPP) trong 10 ngày (sáng và chiều), với 5 ngày amoxicilline, rồi năm ngày clarithromycine và métronidazole ”, BS Courillon-Mallet đã nói rõ như vậy. Một điều trị hiệu quả nhưng không thích hợp với những người dị ứng pénicilline !
Tất cả bắt đầu với cảm giác rát bỏng (brulure) và đau quặn dạ dày, trầm trọng dần hoặc trong các bữa ăn (loét dạ dày), hoặc trong những giờ tiếp theo và trong đêm nếu đó là loét tá tràng (ulcère duodénal) (phần đầu của ruột). Ít nhất là trên ly thuyết ! Bởi vì trên thực tế, nhiều trường hợp loét dạ dày, kể cả những loét thoái hóa thành ung thư dạ dày, vẫn không có triệu chứng trong một thời gian lâu và đó mới chính là vấn đề, GS Pierre Michel (service d’hépato-gastro-entérologie, CHU Rouen) đã giải thích như vậy. Nguồn gốc của những rối loạn này : một vết thương trong niêm mạc tiêu hóa, không lành sẹo một cách dễ dàng vì các dịch tiết tiêu hóa. Thật vậy, dạ dày tiết từ 1 đến 1,5 lít dịch vị mỗi ngày. Thế mà dịch vị được cấu thành bởi 99% nước và 0,5% acide chlorhydrique : một cocktail “ explosif ” đối với một niêm mạc bị làm mảnh dẻ..
Đứng trước những triệu chứng như thế, vài người có phản xạ tự điều trị lấy. Thật vậy, những thuốc kháng toan có thể làm thuyên giảm một ít vào lúc đó nhưng không phải vì vậy mà loét được chữa lành. “ Vì những người bị loét không luôn luôn đi khám bệnh, nên ta không biết một cách chính xác tần số xuất hiện bệnh loét dạ dày-tá tràng là bao nhiêu. Tuy nhiên Hiệp hội nội soi tiêu hóa Pháp ước tính 85.000 trường hợp loét mới mỗi năm ”, BS Courillon-Mallet đã nhận xét như vậy. Đối với những trường hợp này, có một loại thuốc mà chất cơ bản và bismuth, đã được Âu châu chấp thuận đưa ra thị trường, nhưng vẫn chưa có bán ở Pháp..
(LE FIGARO 14/11/2011)

2/ LOÉT DẠ DÀY : NHỮNG BIẾN CHỨNG KHẢ DĨ CẦN THEO DÕI.
Trong số tất cả các trường hợp loét, loét dạ dày là loại loét đặt ra nhiều vấn đề biến chứng nhất. Loét dạ dày có thể gây chảy máu ít (gây nên thiếu máu) hay nhiều. Thế mà những trường hợp xuất huyết tiêu hóa cần nhập viện vẫn còn là nguyên nhân của khoảng 6% những trường hợp tử vong.
Sau đó, mặc dầu là một biến chứng vẫn còn hiếm, loét dạ dày có thể bị thủng, gây nên viêm phúc mạc nặng cần mồ cấp cứu. Sau cùng, trái với loét tá tràng không bao giờ thoái hóa thành ung thư, loét dạ dày có thể biến thành ung thư, ta thống kê được khoảng 6.000 trường hợp ung thư dạ dày mới được chẩn đoán mỗi năm.
“ Khi niêm mạc của da dày là nơi của một viêm dạ dày mãn tính, nó có khuynh hướng mỏng đi và teo lại. Các tế bào cuối cũng có thể trở thành ung thư. Đặc biệt liên hệ là những người đàn ông trên 60 tuổi, hút thuốc, có những tiền sử gia đình ung thư dạ dày ”, GS Michel đã giải thích như vậy. Thật vậy, ta có hay lần nguy cơ hơn bị ung thư dạ dày nếu một người thân thuộc thuộc thế hệ thứ nhất (cha, mẹ, anh chị em) cũng bị loại ung thư này.
Tại sao ? Nhiều hướng nghiên cứu hiện nay cố trả lời câu hỏi đó. “ Có thể điều này là do tính độc lực của một giống gốc (souche) đặc biệt hung dữ của Helicobacter pylori. Hoặc là trong cùng một gia đình, nói chung chính cùng giống gốc này gây nhiễm tất cả các thành viên. Cũng có thể là những gène có nhiệm vụ kiểm soát quá trình viêm là nguyên nhân. Thật vậy, dường như vài trong số những gène này có thể đóng một vai trò trong quá trình ung thư hóa, khi chúng bị thiếu hụt hay tăng hoạt tính. Thuốc lá có thể can thiệp bằng cách làm rối loạn sự vận hành chức năng của các gène này. Sau cùng, vì lẽ dân châu Á bị ung thư dạ dày nhiều hơn nhiều dân Tây phương, do đó vấn đề về các nguy cơ do một chế độ ăn uống quá mặn và quá lên men được đặt ra ”, GS Saurin đã nhấn mạnh như vậy.
PROFIL NGUY CƠ.
Bởi vì nhiễm trùng bởi vi khuẩn Helicobacter pylori thường nhất vốn có từ thời ấu thơ, nên mặc dầu được trừ khử trong một điều trị được thực hiện sau khi bệnh loét dạ dày được chẩn đoán, nguy cơ vẫn tồn tại. “ Điều đó có nghĩa rằng phải theo dõi bằng nội soi mềm suốt đời, khi một thăm khám trước đã tìm thấy một loét dạ dày mãn tính nghiêm trọng ”, GS Michel đã nhấn mạnh như vậy. Điều đó là quan trọng bởi vì ta không thể tin vào những triệu chứng báo hiệu của ung thư này : “ Đã không có nhiều triệu chứng trong trường hợp loét không biến chứng, nhưng vào giai đoạn đầu của ung thư lại còn tệ hơn : những triệu chứng đau nếu có, có khuynh hướng giảm. Về dấu hiệu gầy ốm, đó là một dấu hiệu muộn ta không thể dựa vào đó để báo động, GS Saurin đã nhấn mạnh như vậy.
Được phát hiện ở giai đoạn đầu, ung thư dạ dày còn có tiên lượng tốt trong khi ở giai đoạn di căn, ngoại khoa và hóa học liệu pháp có một tác dụng hạn chế. Vậy phương tiện duy nhất để không bỏ qua một ung thư dạ dày, đó là có được nội soi mềm dạ dày “ dễ dàng ”, khi ta có profil nguy cơ với một tiền căn ung thư dạ dày ở những người thân thuộc.
(LE FIGARO 14/11/2011)

3/ LOÉT DẠ DÀY : NỘI SOI VẪN CẦN THIẾT ĐỂ CHẨN ĐOÁN
Để biết là ta có bị bệnh loét dạ dày hay không, khi ta có những triệu chứng gợi ý, ta không có lựa chọn nào khác là phải chịu một nội soi mềm dạ dày (fibroscopie gastrique) (nội soi dạ dày : gastroscopie). “ Thăm khám này nhằm đưa một ống (un tuyau), được trang bị caméra và vidéotransmission, vào trong thực quản và đến tận tá tràng, để tìm kiếm một thương tổn điển hình của niêm mạc. Ống được đưa vào qua miệng, điều này gây nên một phản xạ nôn rất khó chịu, hoặc qua mũi, với một ống mảnh hơn. Phải nhịn ăn uống trong 8 giờ, kể cả một ly nước hay một điếu thuốc, GS Jean-Christophe Saurin (CHU Lyon) đã xác nhận như vậy. Thăm dò chỉ keo dài vài phút nhưng triệt để để truy lùng thương tổn loét bé nhỏ nhất. Thật vậy, thầy thuốc chuyên khoa dạ dày ruột thực hiện đồng thời 5 sinh thiết để xác định mọi bất thường. Những mảnh sinh thiết này được phân tích, để biết xem vi khuẩn Helicobacter pylori, nguyên nhân chính của loét dạ dày, có phải đúng là nguyên nhân hay không và để kiểm tra rằng thương tổn loét này trên thực tế không che dấu một ung thư dạ dày, nhất là khi nó xuất hiện lần đầu tiên sau 50 tuổi.”
Mặc dầu nội soi dạ dày có hiệu năng, công cuộc nghiên cứu vẫn tiếp tục để tìm những giải pháp thay thế thăm dò này, đôi khi làm nhiều bệnh nhân khó chịu đến độ không muốn khám bệnh. “ Dự kiến nghiên cứu tiến triển nhất là nang dạ dày (capsule gastrique). Đó là một viên thuốc lớn chỉ dùng một lần được bệnh nhân nuốt vào. Capsule này mang ở mỗi đầu mút (ở phía trước và phía sau) một caméra vidéo. Máy caméra này được chiếu sáng bởi một système để diode, cho phép có được những hình ảnh và do đó thấy được loét. Chỉ có điều nó không cho phép lấy mẫu nghiệm để làm sinh thiết, nhưng các nhà nghiên cứu đang khao sát điều đó, nhất là ở á châu, là nơi ung thư dạ dày thường xảy ra. Vậy điều này sẽ có thể thực hiện được từ nay đến năm năm nữa ”, GS Saurin đã nhận xét như vậy. Trong lúc chờ đợi, nội soi vẫn là thăm dò quy chiếu được chọn lựa đầu tiên.
KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG.
Tin tốt lành : đó là không nhất thiết phải làm lại thăm dò xâm nhập này để kiểm tra xem điều trị được thực hiện có đúng là đã cho phép trừ khử vi khuẩn Helicobacter pylori hay không : một trắc nghiệm hô hấp (test respiratoire) trong phòng thí nghiệm cũng đủ. Thăm dò này ngay cả được thực hiện đầu tiên, trong trường hợp tiền căn loét dạ dày và không có triệu chứng, ở mỗi bệnh nhân sử dụng aspirine liên kết với một điều trị kháng đông hay clopidogrel (Plavix), bởi vì aspirine là một nguyên nhân thông thường khác của loét : trong trường hợp này, việc tìm kiếm Helicobacter pylori, và sự trừ khử nó, là quan trọng để tránh hai nguy cơ gây loét cùng một lúc, biện pháp phòng ngừa càng được biện minh khi sự phối hợp với các thuốc kháng đông làm gia tăng nguy cơ xuất huyết.
“ Để thực hiện trắc nghiệm hô hấp phát hiện (test respiratoire de dépistage) này, chỉ cần mua một kit ở hiệu thuốc và lấy hẹn ở một một phòng xét nghiệm phân tích, BS Courillon-Mallet đã giải thích như vậy. Trắc nghiệm được sử dụng nhất là cho bệnh nhân uống một dung dịch chứa carbone 13 không phóng xạ, có thể xác định được vị trí dễ dàng. Khi không có Helicobacter pylori, carbone 13 này được thải ra bởi cơ thể (trong nước tiểu). Lúc Helicobacter hiện diện, vi khuẩn này được tìm thấy trong khí thở ra vì những phản ứng hóa học gây nên bởi vi khuẩn.” Không thể tránh được ! Như thế, loét và vi khuẩn nguồn gốc của loét không đặt vấn đề gì đặc biệt về chẩn đoán, tuy nhiên phải khám bệnh khi có chút ít nghi ngờ để được hưởng những thăm dò hiệu năng này.
(LE FIGARO 14/11/2011)

4/ BỆNH TĂNG NĂNG TUYẾN GIÁP LÀM GIẢM TUỔI THỌ.
Những người bị tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) được xác nhận, căn bệnh chuyển hóa (maladie métabolique) được đặc trưng bởi một sự sản xuất quá thừa các kích thích tố giáp trạng (hormone thyroidien), có một hy vọng sống (espérance de vie) bị giảm một cách đáng kể. Sự duyệt lại có phê phán nhiều công trình nghiên cứu, quy tụ hơn 30.000 bệnh nhân, ước tính sự gia tăng nguy cơ tử vong khoảng 20%. Mặc dầu những khác nhau được quan sát đối với mỗi công trình nghiên cứu, mối liên hệ giữa tình trạng tăng năng tuyến giáp và sự gia tăng tỷ lệ tử vong là không thay đổi và đáng kể. Mối liên hệ này dường như tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh và về phuơng diện sinh học là khả dĩ, vì lẽ những hậu quả tim mà căn bệnh tăng năng tuyến giáp gây nên. Thật vậy, các kích thích tố giáp trạng tác dụng trực tiếp lên tim và hệ tuần hoàn.
Vấn đề là còn phải xác lập xem có một sự khác nhau giữa nhiều nguyên nhân của bệnh tăng năng tuyến giáp hay không (bệnh tự miễn dịch, hòn giáp, viêm tuyến giáp) và đâu là phần trách nhiệm trực tiếp của những rối loạn liên kết (rung nhĩ, tình trạng tăng đông máu).
(SCIENCES ET AVENIR 12/2011)

5/ UNG THƯ : ĐIỆN THOẠI CẦM TAY KHÔNG GÂY NGUY CƠ
Không một mối liên hệ nào được xác lập giữa căn bệnh ung thư và điện thoại cầm tay, theo công trình nghiên cứu mới nhất về chủ đề này.
SANTE PUBLIQUE. Một tin vui đã được loan báo trên site của British Medical Journal (BMJ) : điện thoại cầm tay không làm gia tăng ung thư của hệ thần kinh trung ương. Đó là điều được tiết lộ bởi một công trình nghiên cứu rất rộng lớn của Đan mạch, được thực hiện trên hơn 300.000 người. Tuy nhiên đây là một thông tin mâu thuẫn với lập trường của Centre international de recherche sur le cancer ; trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư này trong tháng năm vừa rồi đã đánh giá rằng “ điện thoại cầm tay có lẽ gây ung thư ”.
Công trình nghiên cứu Đan mạch được công bố hôm qua có một đặc điểm là đã được tiến hành theo một phương pháp độc đáo. Ở Đan mạch, ngay khi sinh ra đời, mỗi người đều được cho một số nhận diện cá nhân (numéro d’identification individuelle), được sử dụng trên tất cả các registre, các abonnement, và cho phép giấu tên một loạt những thông tin cá nhân. Như thế những người Đan Mạch đã có thể trong một thời kỳ nào đó làm ăn khớp, một phần, hồ sơ của những người bị ung thư não bộ với hồ sơ của những người đăng ký sử dụng điện thoại cầm tay và của những người không có điện thoại di động.
Công trình nghiên cứu, được tiến hành bởi kíp của Patrizia Frei (Hiệp hội ung thư Đan mạch), đã kéo dài một cuộc điều tra trước cho đến năm 2007. Cuộc điều tra trước đó đã được dừng lại năm 2002 và đã phát hiện là không có nguy cơ bị ung thư hệ thần kinh trung ương do sử dụng điện thoại di động. Những dự kiến mới mang lại một mẫu nghiệm lớn hơn nhiều (échantillon) những người sử dụng lâu dài. Trong số 358.403 người được đưa vào trong điều tra từ năm 1990 đến 2007, đã có 10.729 khối u của hệ thần kinh trung ương (5.111 xảy ra ở đàn ông và 5618 ở phụ nữ) nhưng gần như nhiều như nhau ở những người đăng ký điện thoại di động và những người không đăng ký. Một cách chính xác hơn, những tỷ lệ gliome và méningiome tương tự nhau ở những người đăng ký và những người khác, với những biến thiên “ không đáng kể ”.
Cuộc điều tra này đã được tiến hành theo một phương pháp độc đáo khác với phương pháp của công trình nghiên cứu quy mô lớn Interphone của châu Âu. Vào tháng năm 2010 công trình nghiên cứu Interphone đã kết luận một cách nhập nhằng nước đôi, và không cương quyết là không có nguy cơ, do những kết quả khó giải thích, và có khả năng bị thiên lệch. Thật vậy, công trình nghiên cứu Interphone này được gọi là “ cas témoins ”, nhằm hỏi những người bị ung thư não về sự sử dụng trước đây điện thoại cầm tay. Câu trả lời của họ được so sánh với những câu trả lời của những người chứng (témoin) lành mạnh, cùng lứa tuổi. Thế mà ta biết rằng những người bị bệnh trong loại nghiên cứu này có khuynh hướng nhớ các sự kiện đã qua tốt hơn những người chứng.
Hôm qua trong một bài xã luận đi kèm tài liệu xuất bản của BMJ, các nhà nghiên cứu Thụy Điển hoan nghênh tính chất nghiêm túc của cuộc điều tra mới này của Đan mạch. Tuy nhiên họ nhấn mạnh rằng một số những người dùng điện thoại cầm tay nghề nghiệp đã không được đưa vào công trình nghiên cứu này. Sau cùng, mặc dầu công trình nghiên cứu của Đan Mạch có một thời gian nhìn lại 13 năm, các nhà nghiên cứu Thụy Điển tự hỏi về những nguy cơ khi thời gian sử dụng dài hon, về điểm này công trình nghiên cứu Đan mạch vẫn không đủ dữ kiên.
Năm vừa rồi, sự công bố của công trình nghiên cứu của Interphone, với những kết luận nước đôi, đã khiến CIRC xếp loại điện thoại cầm tay vào trong loại “ có thể gây ung thư ”. Thật vậy Interphone đã gợi ý, mà không kết luận, rằng một nguy cơ gia tăng bị gliome, một loại ung thư não, có thể do việc sử dụng điện thoại cầm tay.
(LE FIGARO 23/10/2011)

6/ DÊ CÓ THỂ LÀM HẠI PHỐI
Nguyên nhân của cancer bronchiolo-alvéolaire vẫn không được biết rõ. Là dạng hiếm của ung thư phổi, cancer bronchiolo-alvéolaire có vẻ không liên quan với thuốc lá. Tuy nhiên, những người bị loại ung thư này đều có một hoạt động chung : một nghề nghiệp khiến họ tiếp xúc thường xuyên với các con dê, điều này được phát hiện bởi một công trình nghiên cứu dịch tễ học, do một nhóm nghiên cứu của CHU de Lyon tiến hành. Thế mà loại ung thư này hiện diện ở những động vật nhỏ thuộc loài nhai lại. Cancer bronchiolo-alvéolaire được gây nên bởi một rétrovirus (JSRV), có tác dụng gây nhiễm trong đàn những động vật nhai lại này. Phải chăng virus JSRV được truyền cho người và nó sẽ gây nên cùng loại bệnh ? Điều này còn cần phải được xác nhận.
(SCIENCE ET VIE 12/2011)

7/ BỆNH TRẦM CẢM : PHUƠNG PHÁP MỚI VỚI KÍCH THÍCH ĐIỆN TỪ (STIMULATION MAGNETIQUE).
Bước tiến này, được giải thích trong cuốn sách của thầy thuốc tâm thần Alain Meunier, nhà sáng lập SOS Dépression, có thể điều trị những bệnh nhân đề kháng với các thuốc chống trầm cảm.
Hỏi : Làm sao không lẩn lộn giữa tình trạng buồn rầu (tristesse) và bệnh trầm cảm (dépression) ?
BS Alain Meunier. Phần lớn các sai lầm là do sự lẩn lộn giữa một sự đau khổ tinh thần (souffrance morale), do một biến cố đau lòng, và bệnh trầm cảm. Các bệnh nhân bị trầm cảm, bệnh lý não bộ, cảm thấy một đau khổ âm ỉ, sâu thẳm, tước mất ở họ mọi lạc thú hay khoái lạc và khả năng phán đoán, khả năng tập trung của họ …Những người bị xâm chiếm bởi nỗi buồn rầu (tristesse) cảm thấy một sự đau khổ cấp tính, nhưng vẫn giữ khả năng phản ứng (capacité de réaction).
Hỏi : Có những dạng trầm cảm khác nhau không ?
BS Alain Meunier. 10% dân chúng đang có hay sẽ có, vào một ngày nào đó, bệnh trầm cảm. Có hai dạng bệnh. Dạng thường xảy ra nhất, được gọi là “ đơn cực ” (unipolaire), được thể hiện bởi những đợt tái diễn, có hoặc không có nguyên nhân. Trong dạng lưỡng cực (bipolaire), “ thermostat ” của khí chất bị rối loạn gây nên những đợt trầm cảm cấp tính, tiếp theo sau là những thời kỳ cực kỳ hưng phấn (période d’exaltaion).
Hỏi : Trong hai dạng bệnh này, nguồn gốc của loạn năng não là gì ?
BS Alain Meunier. Trong bệnh trầm cảm lưỡng cực (dépression bipolaire), nguồn gốc là do di truyền : 90% bệnh nhân có một tiền sử gia đình. Còn về bệnh trầm cảm đơn cực (dépression uinipolaire), có thể hiện hữu những nguyên nhân khác nhau, như một rối loạn kích thích tố hay một chấn thương tâm thần quan trọng mới xảy ra gần đây..
Hỏi : Không điều trị, những nguy cơ là gì ?
BS Alain Meunier. Các bệnh trầm cảm đơn cực có những ảnh hưởng lên đời sống xã hội, nghề nghiệp, gia đình. Trong bệnh trầm cảm lưỡng cực, các nguy cơ không điều trị rất là lớn. Các đợt xảy ra liên tiếp và trầm trọng dần. Trước khi có những điều trị như hiện nay, căn bệnh khiến bệnh nhân phải nhập viện nhiều lần và những lần tự tử.
Hỏi : Những điều trị cổ điển là gì ?
BS Alain Meunier. Sau khi chứng bệnh trầm cảm được chẩn đoán, trước hết ta tìm kiếm nguyên nhân để điều trị căn nguyên này. Rất thường ta kê đơn các thuốc chống trầm cảm phối hợp nhau. Protocole này cho phép đạt được trung bình 60% tỷ lệ chữa lành. Những đợt hưng phấn (épisodes d’exaltations) được điều trị bằng những thuốc an thần kinh (neuroleptiques) và những thời kỳ trầm cảm được điều trị với những thuốc chống trầm cảm (antidépresseur). Để tránh những tái phát, ta kê đơn những thuốc điều hòa khí chất (thymorégulateur). Nhưng ta chỉ ổn định bệnh nhân mà không chữa lành bệnh nhân.
Hỏi : Những thuốc chống trầm cảm không phải là không có những tác dụng phụ..
BS Alain Meunier. Đúng vậy, nguy cơ đầu tiên là gây nên, ở những bệnh nhân trầm cảm đơn cực, một “ virage maniaque ”, qua đó những bệnh nhân thể đơn cực chuyển qua thể lưỡng cực. Nguy cơ thứ hai là một sự làm chậm lại những chức năng nhận thức (fonction cognitive) : những loại thuốc này tác động lên toàn bộ não bộ, trong vài trường hợp có thể gây nên những tác dụng có hại lên trí nhớ, sự tập trung..
Hỏi : Trong cuốn sách của ông, ông đề cập một phương pháp cải tiến : kích thích điện từ qua sọ (SMT : stimulation magnétique transcrânienne). Tác dụng của SMT là gì ?
BS Alain Meunier. Kỹ thuật mới này ngày nay được thực hiện nhờ những tiến bộ của cộng hưởng từ chức năng (IRM fonctionnelle), cho phép thấy được hoạt động của vùng não bộ bị liên hệ bởi bệnh trầm cảm. Cho mãi đến gần đây, ta thường quy bệnh trầm cảm do một rối loạn sinh hóa, trong khi đó là một bệnh thực thể (maladie organique). Những tế bào thần kính đã trở nên tăng hay giảm hoạt động. Từ khám phá này, nảy ra ý tưởng là ta có thể điều trị trực tiếp mô não mà không làm biến đổi tính toàn vẹn của nó. Nguyên tắc là phát ra những sóng điện từ trong mục đích biến đổi hoạt động của một vùng não bộ để bình thường hóa sự vận hành chức năng của nó.
Hỏi : Một buổi điều trị SMT diễn ra như thế nào ?
BS Alain Meunier. Bệnh nhân, được đặt ngồi trong một fauteuil, có đầu được bất động trong một chiếc gối. Người thao tác đặt trên phần trái của sọ một hộp bằng plastique, phát ra những sóng điện từ. Hộp này được khởi động bỏi người thao tác. Buổi điều trị, từ 20 đến 30 phút, không đau, không gây nên một rối loạn nào.
Hỏi : Những kết quả có được với kỹ thuật này là gì ?
BS Alain Meunier. Những công trình nghiên cứu lớn quốc tế (được thực hiện trên những bệnh nhân đề kháng với các thuốc chống trầm cảm) đã chứng tỏ tính hiệu quả của phương pháp này trong 30 đến 50% các trường hợp, và không có tác dụng phụ của thuốc. Ưu điểm lớn : ta tác động lên sự loạn năng của chỉ một vùng não bộ chứ không phải trên toàn bộ não. Kỹ thuật này đặc biệt dành cho những bệnh nhân đề kháng với các thuốc trầm cảm, đối với hai thể bệnh, và khi những tác dụng phụ của thuốc quá quan trọng.
Hỏi : Ở đâu có thể được điều trị bằng phương pháp kích thích điện từ này ?
BS Alain Meunier. Khoảng 30 khoa tâm thần bệnh viện hôm nay sử dụng kỹ thuật này, cũng như vài trung tâm tư nhân.
(PARIS MATCH 17/1 – 23/11/2011)

8/ XƠ GAN : MỘT TRẮC NGHIỆM KHÔNG XÂM NHẬP ĐƯỢC HIỆU CHÍNH.
Cho đến nay, để chẩn đoán xơ gan, ta phải thực hiện một sinh thiết. Từ nay, nhờ Cirrhomètre, ta chỉ cần xét nghiệm máu cũng đủ. Trắc nghiệm này, được hiệu chính bởi GS Paul Calès, trưởng khoa gan-dạ dày-ruột của CHU d’Angers, đã được trình bày ở hội nghị của Hiệp hội nghiên cứu về gan của Pháp. Đứng trước sự tấn công (bởi virus B, C gây viêm gan, rượu), những tế bào gan (hépatocyte) bị hỗn loạn tổ chức và một quá trình xơ hóa (fibrose), một sự dày lên, rồi một xơ gan (cirrhose) thành hình. Các thầy thuốc đã có những xét nghiệm máu đo lường sự xơ hóa (fibrose). Cirrhomètre, đặc hiệu của giai đoạn xơ gan lại còn làm tinh tế chẩn đoán. Một cách không xâm nhập, trái với chọc dò (ponction), một động tác nặng nề và không phải là không gây biến chứng (đau, chảy máu), cirrhomètre sẽ cho phép biết được cấu trúc nội tại của gan, tuyến nhiều chức năng, can thiệp không những trong quá trình tiêu hóa, đông máu mà còn trong điều hòa đường huyết hay trong phòng ngự miễn dịch.
Được khuyến nghị bởi Haute Autorité de santé và được bồi hoàn bởi Bảo hiểm xã hội nếu xét nghiệm được kê toa trong vài bệnh lý (viêm gan C không được điều trị và không có biến chứng), Cirrhomètre sẽ cho phép điều trị sớm hơn các bệnh nhân. Ở Pháp người ta ước tính rằng 15.000 trường hợp tử vong mỗi năm là do xơ gan.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2011)

9/ MẮT KHÔNG THÍCH DU HÀNH TRONG KHÔNG GIAN
Những chuyến bay không gian kéo dài gây nên những rối loạn thị giác có lẽ do phản ứng thích nghi của cơ thể đối với tình trạng vô trọng lực. Đó là điều được gợi ý từ một bilan nhãn khoa được thực hiện trên một chục nhà du hành vũ trụ và từ một điều tra ở 300 nhà du hành không gian khác. Thăm khám được thực hiện trước và sau chuyến bay gồm khám đáy mắt, một tomographie par cohérence optique (OCT), cho phép thấy chiều dày của võng mạc, và một IRM nhãn cầu-hốc mắt. Sau 6 tháng trải qua trong không gian, ta quan sát thấy những thương tổn (phù gai mắt, các nếp gấp màng mạch) gợi ý một thương tổn của màng mạch (choroide), một trong những lớp của thành mắt, và của dây thần kinh thị giác. Còn điều tra xác nhận sự hiện diện của của những bất thường khúc xạ, nghĩa là một sự biến đổi của hướng đi của một tia sáng khi đi qua nhãn cầu và những rối loạn thị giác nhìn gần. Nguy cơ là 29% đối với những chuyến bay ngắn hạn và đến 60% đối với những sứ mạng dài ngày.

10/ GIẤC NGỦ SÂU TỐT CHO TIM
Giấc ngủ sâu, được đặc trưng bởi một hoạt động điện được cấu tạo bởi những sóng chậm, là tốt cho tim. Thật vậy, thời gian ngủ càng giới hạn, nguy cơ xuất hiện cao huyết áp càng cao, theo những dữ kiện thu thập được ở 800 người trên 65 tuổi. Nguy cơ cao huyết áp cũng gia tăng 80% ở những người chỉ ngủ sâu trong 4% thời gian ngủ toàn bộ, so với những người có giấc ngủ sâu chiếm 17% toàn bộ giấc ngủ.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(28/11/2011

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s