Thời sự y học số 248 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BỆNH THỦY ĐẬU : HIỀN TÍNH … NHƯNG KHÔNG PHẢI LUÔN LUÔN.
Hiếm khi nghiêm trọng, tuy nhiên căn bệnh do virus này có thể thức dậy về sau dưới dạng bệnh zona.
VIRUS. Ngày xưa được gọi là “ vérette ”, “ petite vérole volante ” hay “ vérolette ”, bệnh thủy đậu qua các tên gọi của nó đã luôn luôn chứng tỏ không phải là bệnh nghiêm trọng. Thật vậy, căn bệnh rất lây nhiễm của tuổi bé thơ này thường nhất là hiền tính và không gây đau đớn. Nhưng bệnh có thể cho những biến chứng hiếm, tức thời hay về sau, khi virus của bệnh thủy đậu, nằm tiềm ẩn từ nhiều năm, bổng tỉnh dậy dưới dạng zona.

Ít có trẻ em thoát được bệnh lây nhiễm này. Nếu, ở tuổi 15, 10% trong số những trẻ em này chưa mắc phải bệnh thủy đậu, thì ở tuổi 20, 96% được miễn dịch. Tỷ lệ mắc bệnh, được ước tính nhờ các thầy thuốc của réseau Sentinelles, là 766.323 trường hợp đối với năm 2010. “ Do không có chính sách tiêm chủng mở rộng (vaccination généralisée), bệnh thủy đậu khá ổn dịnh mỗi năm và phản ảnh sự lưu thông tự nhiên của virus trong dân chúng ”, GS Emmanuel Grimprel, pédiatre-infectiologue (bệnh viện Trousseau, Paris) đã xác nhận như vậy.
Trong 94% các trường hợp, bệnh xảy ra trước 10 tuổi, với một cao điểm giữa 1 và 4 tuổi và lứa tuổi trung bình là 3 tuổi. “ Từ lâu ta đã hằng tin rằng sự bảo vệ của nhũ nhi bởi các kháng thể của người mẹ kéo dài trong năm đầu.Thật ra, sự bảo vệ này bắt đầu giảm từ tháng thứ 3, và đến tháng thứ 6 phần lớn các trẻ không còn được bảo vệ nữa. Mặc dầu hiếm, những thể nặng và những biến chứng, thường xảy ra ở lứa tuổi này hay ở thiếu niên và người trưởng thành, chịu trách nhiệm 3500 trường hợp nhập viện và khoảng 20 trường hợp tử vong mỗi năm.
Virus varicelle-zona hay VZV, chủ yếu được truyền qua đường hô hấp. Trong thời gian tiềm phục 2 đến 3 tuần, virus tăng sinh và xâm chiếm cơ thể. Sau đó những ban đỏ nhỏ xuất hiện trên thân mình và trên toàn bộ cơ thể, rồi chẳng bao lâu sau tạo thành những mụn nước (vésicules) chứa chất dịch trong suốt. Những ban sẽ khô đi trong vài ngày để tạo một vẩy kết (croute), nếu không bị gãi, sẽ rơi đi không để lại dấu vết. Điển hình cho bệnh thủy đậu, những thương tổn ở những giai đoạn khác nhau cùng hiện diện, chứng tỏ những đợt tăng sinh virus kế tiếp nhau. Sự xuất hiện của những thương tổn này có thể kèm theo sốt và số lượng của chúng thay đổi từ vài thương tổn đến nhiều trăm. Đứa bé có thể gây nhiễm trong 2 đến 4 ngày trước khi phát ban và cho đến khi tạo thành các vẩy kết.
Điều trị chủ yếu là triệu chứng. “ Các thuốc chống virus (antiviraux) không có lợi ích trong những trường hợp hiền tính này bởi vì chúng tác dụng lên sự tăng sinh của virus (réplication virale), thế mà sự tăng sinh này đã dừng lại 24 đến 48 giờ sau khi bệnh bắt đầu, hoặc thầy thuốc hiếm khi khám đứa bé sớm như thế ”, GS Grimprel đã giải thích như vậy : “ Phải làm dễ quá trình hóa sẹo tự nhiên, do đó tắm đứa bé, làm khô và thấm lâu bằng nút gạc rồi mặc cho nó quần áo dài để làm bớt gãi. Eosine hay gel de calamine làm khô một phần nào các thương tổn. Các thuốc sát trùng như chlorhexidine không chứng tỏ hiệu quả chống lại các bội nhiễm.”
HÀNH ĐỘNG NHANH TRONG TRƯỜNG HỢP BỘI NHIỄM.
Nguồn gốc vi khuẩn, những trường hợp bội nhiễm này là biến chứng chính của bệnh thủy đậu. Nguy cơ gia tăng với số lượng các thương tổn ; những thương tổn này xảy ra do hàng rào da bị vỡ, cho phép đi vào những tụ cầu khuẩn hay những liên cầu khuẩn, bình thường hiện diện trên da. “ Nguy cơ này gia tăng ở nhũ nhi, thường bị lây nhiễm trong gia đình do một trẻ lớn hơn, do đó một sự tiếp xúc với virus kéo dài và một bệnh thủy đậu thường nặng hơn, trong khi đứa trẻ chưa được sạch sẽ. ” Các thương tổn không gây đau. “ Nếu một trong những thương tổn lớn ra, trở nên đau đớn, nóng, đỏ, nếu sốt vẫn cao, đó có thể là một bội nhiễm và phải nhanh chóng khám thầy thuốc để được kê đơn các kháng sinh, vị giáo sư đã nhấn mạnh như vậy. . Đôi khi, sự bội nhiễm có thể dữ dội, bởi vì các vi khuẩn này, nhất là các liên cầu khuẩn, xâm nhập và cũng tiết ra những độc tố. Vài trường hợp tử vong được quan sát mỗi năm được giải thích như thế. ” Những biến chứng khác của thủy đậu ảnh hưởng đứa bé lớn tuổi hơn. “ Những biến chứng này chủ yếu là thần kinh : viêm tiểu não (cérébellite) (một tình trạng viêm tiểu não tạm thời, thường hiền tính), hiếm hơn nhiều là những trường hợp viêm dây thần kinh (névrite) nhỏ hay viêm não, những thương tổn gan hay huyết học.” Nguy cơ khác, co giật do sốt (convulsion fébrile) : “ Nếu sốt cao, nếu đứa bé suy kiệt, từ chối ăn uống, rên rỉ …tốt hơn là gọi thầy thuốc.” Ở thiếu niên hay người trưởng thành, chịu đựng bệnh thủy đậu kém hơn đứa trẻ, bệnh thủy đậu cũng có thể gây nên những biến chứng hô hấp. Vì vậy ta chủ trương tiêm chủng phòng ngừa khi chúng không được miễn dịch.
NHỮNG CƠ CHẾ KHÔNG ĐƯỢC BIẾT RÕ.
Vaccin, mặc dầu có hiệu quả, nhưng chỉ được khuyên dùng đối với vài nhóm nguy có cơ. “ Quyết định này căn cứ trên sự theo dõi dịch tễ học liên tục về căn bệnh, hành tung của nó, điều này cho phép mỗi năm xét lại những khuyến nghị tiêm chủng, BS Thierry Chambon, thuộc réseau Sentinells, đã giải thích như vậy. Sự theo dõi dịch tễ học này cũng giúp cho những nhà nghiên cứu, bởi vì nhiều ẩn số vẫn còn tồn tại về sự lan truyền của bệnh ”. Ý kiến này cũng được nhất trí bởi BS Catherine Sadzot, virologue spécialiste du VZV (đại học Liège) : “ Những cơ chế, nhờ đó virus vẫn tồn tại sau khi bị thủy đậu, ở trạng thái tiềm ẩn trong những hạch thần kinh cảm giác và những cơ chế về sự tái hoạt động của nó dưới dạng zona, vẫn còn không được hiểu rõ lắm. ” Mức độ nghiêm trọng của vài bệnh thủy đậu, những triệu chứng đau gây nên bởi zona, biện minh sự quan tâm liên tục của các nhà nghiên cứu đối với virus này.
(LE FIGARO 31/10/2011)

2/ BỆNH THỦY ĐẬU :TIÊM CHỦNG CHỈ ĐƯỢC KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHỮNG NHÓM NGUY CƠ.
Mỗi người có thể được tiêm chủng với tính cách cá nhân chống lại bệnh thủy đậu. Trên thị trường có hai vaccin khá tương tự nhau, được sản xuất từ cùng một giống gốc (souche) virus sống được làm giảm độc lực (Oka), được cấy trên những tế bào người. Tuy vậy, ở Pháp, trái với những nước khác (Hoa Kỳ, Đức hay Nhật), Haut Comité de santé publique đã không khuyến nghị tiêm chủng đại trà (vaccination universelle) các trẻ em chống lại căn bệnh này.
Tại sao theo chọn lựa này ? “Vì virus bệnh thủy đậu được truyền một cách rất dễ dàng, do do để có được tác dụng phòng ngừa mong muốn, phải đạt được một tỷ lệ tiêm chủng vượt 90% dân số đối với một vaccin cần hai liều tiêm. Nếu ta không đạt được tỷ lệ tiêm chủng cao này, ta không thể tác động lên sự truyền của virus, và nguy cơ dịch bệnh vẫn tồn tại. Nhưng dịch bệnh này khi đó ít xảy ra hơn ở trẻ nhỏ, vốn được bảo vệ tốt hơn bởi thuốc chủng, nhưng lại chuyển về những người lớn tuổi hơn, không được tiêm chủng và không bị mắc bệnh thủy đậu sớm hơn, vì lẽ virus lưu hành ít hơn. Kết quả : những trường hợp thủy đậu nghiêm trọng hơn, GS Emmanuel Grimprel đã giải thích như vậy. Vả lại đó là điều đang xảy ra hôm nay với bệnh sởi, đối với bệnh này ta đã không vượt quá tỷ lệ tiêm chủng 80% trong 20 năm. Với một kết quả tồi như vậy đối với bệnh sởi mà tiềm năng nghiêm trọng hơn, chúng tôi đã kết luận rằng không nên khuyến nghị tiêm chủng đại trà chồng lại bệnh thủy đậu để tránh sự lão hóa của các trường hợp và một nguy cơ gia tăng bị bệnh thủy đậu biến chứng (varicelle compliquée). ”
Khía cạnh khác cần được xét đến trong quyết định này, đó là ảnh hưởng của việc tiêm chủng mở rộng này lên bệnh zona. Bệnh zona xảy ra do một sự tái hoạt động (réactivation) của virus ở một người vốn đã từng bị bệnh thủy đậu, chủ yếu là do sự kiềm chế không đủ bởi miễn dịch tự nhiên thụ đắc chống lại nó. Đó là lý do tại sao bệnh zona xuất hiện khi bị giảm miễn dịch và ở những người lớn tuổi (ngay 60-70 tuổi) có hệ miễn dịch trở nên ít hiệu quả hơn. “ Bằng cách làm giảm sự lưu hành của virus bằng một tiêm chủng mở rộng, ta làm giảm những cuộc gặp gỡ tình cờ với virus trong suốt cuộc sống, những tiếp xúc này là những rappel bảo vệ tự nhiên và giải thích tại sao các thầy thuốc chuyên khoa Nhi ít bị zona như vậy. Thế mà, những người già, do ít tiếp xúc với virus hơn, nên ít có rappel tự nhiên hơn. Vì ta không biết chất lượng và thời gian bảo vệ do thuốc chủng mang lại so với bảo vệ do bệnh thủy đậu gây nên, nên ta sợ một sự gia tăng những trường hợp zona hiện nay xuất hiện sớm hơn. Vài chỉ dấu từ những nước đã theo chính sách tiêm chủng mở rộng gợi ý rằng quả đúng là như vậy.”
NHỮNG NGƯỜI TRÊN 12 TUỔI.
Những lý do này giải thích tại sao việc tiêm chủng chỉ được chỉ định đối với những nhóm có nguy cơ : những trẻ trên 12 tuổi nhưng không bị bệnh thủy đậu (hay những trẻ không nhớ có bị bệnh hay không), những người hành nghề y tế và những trẻ thuộc lứa tuổi ấu thơ. Những người chờ đợi để được ghép, và do đó nhận điều trị làm suy giảm miễn dịch, được tiêm chủng để phòng ngừa. Ngược lại, ta không thể tiêm chủng những người bị suy giảm miễn dịch bằng một thuốc chủng sống được làm giảm độc lực (vaccin atténué vivant), nhưng ta chủng những người chung quanh trong gia đình để hạn chế nguy cơ. “ Sau cùng, thời kỳ cuối của thai nghén là một thời kỳ nguy cơ đối với bệnh thủy đậu. Trong trường hợp huyết thanh âm tính, tiêm chủng phải được đề nghị một cách hệ thống đối với những phụ nữ dự định có thai ”, GS Chidiac đã nhấn mạnh như vậy. Mọi tiêm chủng chống lại bệnh thủy đậu ở một phụ nữ ở tuổi sinh sản phải được thực hiện xét nghiệm huyết thanh (sérologie) trước đó và kèm theo một biện pháp ngừa thai ít nhất 3 tháng.
(LE FIGARO 31/10/2011)

3/ ZONA : SỰ THỨC DẬY GÂY ĐAU CỦA VIRUS VZV
Chấm dứt bệnh thủy đậu không có nghĩa là chấm dứt những thù địch giữa virus (VZV) và ký chủ của nó. Ở tất cả những người bị nhiễm, VZV vẫn tồn tại ở trạng thái tiềm ẩn trong cơ thể. “ Trong thời kỳ bệnh thủy đậu, virus “ cousin ” của virus de l’herpès này nằm trong những thương tổn da, tiếp xúc với những tận cùng thần kinh cảm giác. Từ đó, virus đi ngược lên đến tận các hạch cảm giác (ganglions sensoriels), ở đây nó vẫn ở trong trạng thái tiềm ẩn dưới dạng ADN circulaire, BS Catherine Sadzot, virologue của đại học Liège đã giải thích như vậy. Những cơ chế tiềm ẩn (mécanisme de latence) này không được biết rõ. Nhưng chúng ta đã chứng minh rằng sự tổng hợp bình thường, gồm 3 giai đoạn, của các protéine virus, khi đó bị phong bế ở cuối giai đoạn đầu tiên ” Những cơ chế tái hoạt hóa (réactivation) của VZV (sẽ tiếp tục trở lại chu kỳ và tái xuất hiện dưới dạng zona) vẫn không được biết rõ. “ Nhưng hệ miễn dịch của ký chủ đóng một vai trò quan trọng. Sự tái hoạt động (réactivation) này thường xảy ra hơn ở những người có hệ miễn dịch trở nên ít hiệu quả hơn, hay những người bị suy giảm miễn dịch bởi một nhiễm trùng hay sau một phẫu thuật ghép, nhà nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Đôi khi chỉ cần cảm cúm hay một stress cũng đủ. Có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, sau 60 tuổi, zona xảy ra theo tỷ lệ ½. “ Một kích thích không được biết rõ gây nên sự tái hoạt động của virus, và hệ miễn dịch suy yếu cho phép mang virus trở lại đến da của vùng được phân bố bởi dây thần kinh liên hệ. ” Sự xuất hiện cùng một bên những cụm mụn nước (bouquet de vésicules) đối diện với đường thần kinh này, điển hình của bệnh zona, cũng đủ để chẩn đoán. Sau một tuần, những thương tổn được phủ bởi những vảy kết và chúng sẽ rơi đi trong 3 đến 4 tuần. Đi trước sự nổi ban thường là những triệu chứng đau như “ dao đâm ”, cảm giác bỏng hay điện chạy.
ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC KHÁNG VIRUS.
Ở Pháp khoảng 270.000 zona được chẩn đoán mỗi năm. Điều trị zona “ thông thường ” này dựa trên một thuốc kháng virus, valaciclovir. “ Thuốc này phải được cho bằng đường miệng trong 48 giờ sau khi bắt đầu các triệu chứng, GS Christian Chidiac, thầy thuốc chuyên khoa bệnh truyền nhiễm (CHU Lyon) đã giải thích như vậy. Đối với ông phải điều trị các bệnh nhân càng nhanh càng tốt và phải nhờ đến các thuốc kháng virus một cách hệ thống hơn ”.
Vì lẽ bệnh zona kèm theo đau đớn đôi khi nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều lên chất lượng sống và có thể trở nên mãn tính. “ Công trình nghiên cứu của Pháp Arizona trên 1.300 bệnh nhan bị bệnh zona được theo dõi đã cho thấy rằng 12% (15% sau 70 tuổi) bị triệu chứng đau sau khi bị bệnh (douleurs post-zostériennes) kéo dài hơn 3 tháng. Tuổi tác, cường độ và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng đau ban đầu, những đặc điểm của nó là những yếu tố nguy cơ của di chứng đau sau khi bị bệnh zona, BS Didier Bouhassira, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh (Inserm U792) đã giải thích như vậy…Những triệu chứng đau thần kinh do những thương tổn thần kinh gây nên bởi virus này (douleurs neuropathiques) có những đặc điểm riêng (cảm giác bỏng, chỉ cần sờ cũng gây đau…). Những triệu chứng đau thần kinh này không đáp ứng với những thuốc giảm đau thông thường và được điều trị bởi vài thuốc chống trầm cảm (cũng có một tác dụng đặc hiệu lên đau), và bởi những thuốc chống động kinh có tác dụng làm giảm tính kích thích của neurone. ” Khả năng nhận biết rất sớm những triệu chứng đau thần kinh (douleurs neuropathiques) phải khiến thực hiện ngay một điều trị bằng những thuốc chống trầm cảm và những thuốc chống động kinh ở những bệnh nhân này. Những patch d’anesthésique hay capsaicine và kích thích điện (électrostimulation) cũng có thể giúp làm thuyên giảm.
Những điều trị này chỉ có hiệu quả đối với 50% các bệnh nhân, trong đó chúng làm giảm đau chỉ 30 đến 50% những trường hợp. Một vaccin phòng ngừa bệnh zona, đã có từ 3 năm nay ở Hoa kỳ, có thể hữu ích đối với những người già. Nhưng vacccin này không được khuyến nghị ở Pháp, do thiếu những dữ kiện đầy đủ về tính hiệu quả và mức độ dung nạp.
(LE FIGARO 31/10/2011)

4/ BỆNH LAO SẼ TÌM THẤY MỘT VACCIN MỚI.
Được biến đổi về mặt di truyền, một vi khuẩn “ bà con ” của trực khuẩn lao, Mycobacterium smegmatis, có thể được dùng để tạo một vaccin mới chống lại căn bệnh vẫn tiếp tục giết chết 1,7 triệu người mỗi năm. Steven Porcelli và William Jacobs, thuộc Collège de médecine Albert-Einstein (Nữu Ước), đã nhận diện một nhóm gène (vùng esx-3), chịu trách nhiệm tính độc lực của trực khuẩn , rồi đã thay thế nó bởi cùng nhóm gène, nhưng phát xuất từ trực khuẩn lao. Kết quả, không những việc tiêm cho các con chuột vi khuẩn được biến đổi về mặt di truyền này không còn gây tử vong nữa, mà việc tiêm này đã chủng chúng chống lại bệnh lao. “ Các con chuột được tiêm chủng bằng phương cách này đã sống 135 ngày sau khi nhiễm trực khuẩn lao, so với 54 ngày đối với những con chuột đã không được tiêm chủng và 65 ngày đối với những con chuột được chủng bởi BCG ” , Steven Porcelli đã giải thích như vậy. Vaccin mới này có thể được tiêm đơn độc hay được thêm vào BCG, mà hiệu quả, đặc biệt ở người lớn, không được tối ưu. Đó cũng là một hy vọng lớn đối với những trẻ em huyết thanh dương tính ; ở những đối tượng này BCG bị cấm chỉ bởi vì vaccin này có thể gây nên những nhiễm trùng nghiêm trọng. Các tác giả đánh giá rằng còn cần phải nhiều năm nữa trước khi dự kiến những thử nghiệm lâm sàng, nhất là để hiểu hệ miễn dịch phản ứng như thế nào đối với sự tiêm chủng.
(SCIENCE ET VIE 11/2011)

5/ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG ĐƯỢC GÂY NÊN BỞI VI KHUẨN ?
Những công trình nghiên cứu mới dường như chỉ rõ rằng các fusobactéries hiện diện với lượng rõ rệt quan trọng hơn trong ruột của những bệnh nhân bị ung thư đại tràng. Tuy nhiên câu hỏi là muốn biết đó là nguyên nhân hay hậu quả của căn bệnh. Hai nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã phân tích, bằng séquençage ARN và ADN, các vi khuẩn hiện diện trong mô khối u của khoảng 100 bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng. Cứ mỗi lần như vậy, họ đã tìm thấy các fusobactérie trong mô khối u, đôi khi ở những nồng độ đến 100 lần cao hơn những nồng độ được quan sát trong những tế bào lành mạnh. Những công trình nghiên cứu trước đã cho thấy rằng những vi khuẩn này được liên kết với một nguy co gia tăng bị viêm loét đại tràng (colite ulcéreuse). Lần đầu tiên những vi khuẩn này được đặt trong mối liên quan với ung thư đại tràng. Vấn đề bây giờ là phải biết xem những vi khuẩn này là nguyên nhân hay hậu quả của ung thư.
“ Chúng ta phải xác định chính nhiễm trùng hay khối u đã xuất hiện đầu tiên ”, Robert Holt, nhà nghiên cứu chính đã tuyên bố như vậy. Theo những tác giả của công trình nghiên cứu này, sự hiện diện hay vắng mặt của vài loại vi khuẩn có thể được sử dụng như là trắc nghiệm phát hiện (test de dépistage) không xâm nhập và đáng tin cậy của ung thư tụy tạng.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 8/11/2011)

6/ CHẤN THƯƠNG SỌ NHẸ : CHẨN ĐOÁN SỚM NHỜ ĐỊNH LƯỢNG MỘT PROTEINE ?
Các nhà nghiên cứu của trung tâm bệnh viện Bordeaux (kíp của BS Emmanuel Lagarde, giám đốc của unité Inserm) đề nghị, trong trường hợp một chấn thương sọ nhẹ (trauma cranien mineur), định lượng một protéine (S-100b), có nồng độ gia tăng một cách hằng định sau một stress não bộ. Protéine này được sản xuất bởi những tế bào bao quanh và nuôi dưỡng các neurone. Định lượng này có thể được thực hiện trong 1 giờ. Mức độ đáng tin cậy của phương thức này để xác lập chẩn đoán mức độ nghiêm trọng của chấn thương sọ và biện minh hay không một scanner, vừa được chứng minh bởi công trình nghiên cứu Bordeaux. Công trình này được thực hiện trên 1560 bệnh nhân được làm scanner, đồng thời được định lượng sinh học. Ở 111 bệnh nhân mà những hình ảnh scanner đã cho thấy những thương tổn trong sọ, nồng độ trung bình của protéine trong máu là 0,46mg/l. Ở những người khác (không có di chứng), nồng độ này thấp hơn một nửa.
(PARIS MATCH 27/10 – 2/11/2011)

7/ VACCIN HỨA HẸN CHỐNG BỆNH SỐT RÉT
Được trắc nghiệm ở Burkina Faso, một vaccin mang lại đến 77% khả năng bảo vệ chống lại bệnh sốt rét. Những kết quả đáng phấn khởi này xác nhận một chiến lược vaccin được tưởng tượng cách nay hơn 20 năm.
“ Trong số khoảng 100 vaccin chống bệnh sốt rét được trắc nghiệm trên người trên thế giới, MSP3 là một trong hai vaccin duy nhất đã bảo vệ được người chống lại căn bệnh này trong vùng sốt rét.” Qua lời phát biểu này, Dominique Mazier, chuyên gia bệnh sốt rét thuộc bệnh viện Pitié-Salpêtrière, tóm tắt những kết quả thu được bởi vaccin MSP3, trong khung cảnh một thử nghiệm được tiến hành trên 45 trẻ em từ 12 đến 24 tháng của Burkina Faso.
Chiến lược vaccin phòng ngừa này đã được tưởng tượng cách này hơn 20 năm bởi Pierre Druilhe, khi đó là giám đốc của laboratoire de paludo-vaccinologie của viện Pasteur và équipe của ông. “ Trong vùng dịch bệnh, ông đã giải thích như vậy, những người trưởng thành châu Phi bị nhiễm ký sinh trùng gây bệnh sốt rét, Plasmodium falciparum, đã phát triển sau 20 năm một cơ chế miễn dịch bảo vệ họ một cách tự nhiên : do đó tôi có ý tưởng tạo một vaccin có khả năng phát khởi cơ chế miễn dịch này ngay từ tuổi ấu thơ.”
Vào năm 1987, nhóm nghiên cứu đã truyền vài protéine máu của những người trưởng thành Phi châu này cho những người trẻ Thái Lan bị nhiễm bởi Plasmodium : sự tăng sinh của ký sinh trùng đã được thu giảm và những triệu chứng của bệnh sốt rét đã biến mất. Các nhà sinh học khi đó đã khám phá rằng những protéine trong máu này hợp tác với vài bạch cầu để giết chết ký sinh trùng khi nó xâm chiếm các hồng cầu. Sau cùng, trong số 5800 protéine cấu tạo plasmodium, các nhà nghiên cứu đã nhận diện protéine làm phát khởi cơ chế miễn dịch này. Được đặt tên là MSP3, protéine này đã được đưa vào dưới dạng tổng hợp trong một vaccin candidat. Vaccin này không có khả năng phong bế nhiễm trùng cơ thể do ký sinh trùng. Ngược lại, nó ngăn cản ký sinh trùng xâm chiếm các hồng cầu. Thế mà, chính giai đoạn này chịu trách nhiệm những triệu chứng của bệnh.
CƠN SỐT RÉT. MSP3 đã được trắc nghiệm vào năm 2007, ở Burkina-Faso. 45 em bé được chia thành 3 nhóm. Nhóm đầu tiên nhận 15 mcg MSP3, nhóm thứ hai một liều gấp đôi và nhóm thứ ba một placebo. Vaccin đã được dung nạp tốt và đã kích thích hệ miễn dịch : đó là mục tiêu được nhắm đến bởi trắc nghiệm quy mô nhỏ này. Nhưng các nhà làm thí nghiệm dầu sao cũng lợi dụng kết quả này để xem MSP3 có làm giảm nguy cơ phát triển một cơn sốt rét hay không, nói một cách khc là giai đoạn lâm sàng của bệnh, được đặc trưng bởi một nhiệt độ ít nhất 37, 5 độ C và bởi một nồng độ ít nhất 5000 Plasmodium đối với một microlitre máu. Kết quả : “ Trung bình, ta đã ghi nhận 1,2 cơn sốt rét mỗi 100 ngày đối với nhóm thứ nhất (những đứa trẻ được tiêm chủng) và 1,9 trong nhóm thứ hai, đối với 5,3 đối với nhóm đã nhận placebo : hoặc một khả năng bảo vệ do vaccin MSP3 mang lại từ 64 đến 77% ”, Pierre Druilhe lấy làm hoan hỉ như vậy.
Vấn đề là còn phải hợp thức hóa những kết quả này trên một số lượng những người tình nguyện lớn hơn. Một thử nghiệm trên 800 trẻ em nước Mali từ 12 đến 36 tháng đã được phát động vào tháng tư vừa qua.
(LA RECHERCHE 11/2011)

8 / SUY TIM ĐỀ KHÁNG VỚI ĐIỀU TRỊ : MỘT SYSTEME IMPLANTABLE MỚI.
BS Philippe Ritter, thầy thuốc chuyên khoa tim, chuyên gia về những rối loạn nhịp ở CHU de Bordeaux, giải thích cơ chế tác dụng của “công cụ ” mới nhất để cải thiện những co bóp của tim.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi những đặc điểm của căn bệnh suy tim thường xảy ra này ?
BS Philippe Ritter : Bệnh lý này là do sự kiện sức co bóp toàn bộ của cơ tim đã trở nên bất túc. Lưu lượng máu do “ bơm tim ” (pompe) phát ra bị giảm, do đó sự tưới máu đến các cơ quan ít tốt hơn ; những cơ quan này không còn nhận oxy nữa, vốn cần thiết cho sự hoạt động tốt của chúng. Ở Pháp, ta thống kê trung bình 500.000 trường hợp suy tim, trong đó 1/3 chịu một phế tật bổ sung : ở những người này, những thành của các tâm thất không co bóp đồng thời ; chúng bị mất đồng bộ (désynchronisé). Do đó lưu lượng tim lại càng thấp hơn.
Hỏi : Những hậu quả của căn bệnh này là gì ?
BS Philippe Ritter : Các triệu chứng sẽ tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh. Ở giai đoạn 1, các triệu chứng được thể hiện bởi khó thở lúc thực hiện một gắng sức rất quan trọng. Ở giai đoạn 2, những triệu chứng khó thở này xuất hiện lúc thực hiện những gắng sức trong cuộc sống hàng ngày như bước lên vài tầng của một cầu thang, và phù xuất hiện, làm sưng, thí dụ, những mắt cá chân. Ở giai đoạn 3, bệnh lý trở nên gây phế tật : bệnh nhân khó thở rất nhanh, lúc mặc quần áo, lúc tắm rửa, lúc bước đi… Ở giai đoạn 4, nghiêm trọng nhất, khó thở liên tục buộc bệnh nhân nằm liệt giường và phải nhập viện. Sự nhập viện cũng cần thiết khi khó thở nguồn gốc do tim xảy ra đột ngột và quan trọng.
Hỏi : Ta điều trị những trường hợp suy tim này như thế nào ?
BS Philippe Ritter : Khởi đầu, phải điều trị nguyên nhân : thí dụ, nong các động mạch bị hẹp lại. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại, ta có thể cho những thuốc như các thuốc lợi tiểu, các betabloquant..(mà ta có thể thay đổi tùy theo các kết quả). Trong trường hợp thất bại, trong nhóm những bệnh nhân có các tấm thất không có bóp đồng thời (bị mất đồng bộ : désynchronisé), ta thiết đặt một stimulateur (được gọi là “ pacemaker ”). Máy tạo nhịp này cung cấp cho tim những xung động điện để đảm bảo tính đều đặn của các nhịp đập cửa tim. Và làm gia tăng lực bóp của các tấm thất (một resynchroniseur).
Hỏi : Với hệ thống này những kết quả thu được là gì ?
BS Philippe Ritter : Ta chứng thực rằng một sự cải thiện rõ rệt ở khoảng 60 đến 70% những bệnh nhân, nhưng không có sự cải thiện nào ở 1/3 còn lại.
Hỏi : Tại sao ta không cải thiện được 100% những bệnh nhân này ?
BS Philippe Ritter : Nhà chế tạo đã được lên chương trình trước cho những stimulateur được đặt. Nhưng sự điều chỉnh này, mặc dầu phù hợp với đại đa số các bệnh nhân, nhưng không được tính toán theo từng trường hợp. Nghĩa là không được “ cá thể hóa ” (sur mesure). Thế mà mỗi người không có cùng những nhu cầu như nhau. Những nhu cầu này đặc biệt tùy thuộc vào tuổi tác, kích thước của tim, bản chất của bệnh tim. Những yếu tố này giải thích sự không đáp ứng của vài bệnh nhân đối với kỹ thuật này (1/3). Ta buộc phải thay đổi những điều chỉnh này bằng một ordinateur được mang bên ngoài, nhưng mất thời gian, khó khăn và không luôn luôn được thích ứng. Do đó cần hiệu chính một hệ thống mới.
Hỏi : Phương pháp mới là gì ?
BS Philippe Ritter : Đó là một hệ thống được hội nhập vào stimulateur-resynchroniseur, cho phép đánh giá chất lượng của sự hoạt động của tim và điều hòa nó một cách tự động, không cần sự can thiệp của người thầy thuốc. Một capteur nhỏ xíu, được gọi là “ SonR ” (cylindre đường kính 2mm), được đưa vào một trong những ống thông (sonde) ; những ống thông này nối stimulateur với tim, để cho phép stimulateur thay đổi những điều chỉnh và như thế có được lực bóp tim quan trọng nhất có thể được. Phương thức này được thực hiện một cách tự động một lần mỗi tuần. Nó có thể được thực hiện với gây mê tại chỗ hay tổng quát, và cần nhập viện trong thời gian ngắn từ 3 đến 4 ngày.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã được thực hiện với hệ thống mới này ?
BS Philippe Ritter : Một công trình nghiên cứu rộng lớn của châu Âu được tiến hành từ hai năm nay bởi các nhóm nghiên cứu Đức, Anh, Hòa Lan, Ý và Pháp, trong đó có kíp của chúng tôi, ở CHU de Bordeaux, trên 268 bệnh nhân. Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm : một nhóm được điều trị với hệ thống mới ; nhóm kia được thiết đặt một resynchroniseur chuẩn. Cho đến nay, ta đã ghi nhận được 78% những người đáp ứng tốt trong nhóm đầu tiên, so với 62% trong nhóm không có capteur. Hệ thống này đã có sẵn để sử dụng và có thể được dùng ở tất cả những bệnh nhân bị suy tim với sự co bóp không đồng bộ (désynchronisation de contraction).
(PARIS MATCH 27/10 – 2/11/2011)

9/ DYSTROPHIE MUSCULAIRE DE DUCHENNE
Vào tháng 3 năm 2011, một chất chỉ dấu (marqueur) mới về mức độ nghiêm trọng của bệnh Dystrophie musculaire de Duchenne đã được loan báo bởi một nhóm nghiên cứu Ý : nồng độ micro ARN trong huyết thanh. Một bước tiến quan trọng, 135 năm sau khi nhà khám phá qua đời, một người giàu trí tưởng tượng và có nhiều sáng kiến mới.
Guillaume Duchenne sinh năm 1806 ở Boulogne-sur-Mer trong một ngôi làng mà ở đấy biển là thiên hướng bắt buộc. Guillaume chống lại và sau khi đỗ tú tài, lên Paris để học y khoa, vào một thời kỳ có những giáo sự như Laenec, Dupuytren, Magendie. Ông tốt nghiệp lúc 25 tuổi và, sau khi bố qua đời, ông trở lại ngôi làng sinh quán, ở đấy ông hành nghề khoảng 10 năm, đồng thời theo đuổi những thí nghiệm sinh lý và vật lý y khoa. Ông thử nghiệm ở vài bệnh nhân một điều trị mới bằng phép điện châm (électropuncture); kỹ thuật này vừa mới được biểu dương trong thời gian gần đây. Ông cưới vợ lúc còn trẻ và vợ ông qua đời vì sốt hậu sản. Mẹ vợ cố làm lu mờ thanh danh ông và chiếm đoạt đứa con trai của ông. Guillaume tái giá nhưng cặp vợ chồng chẳng trụ được bao lâu. Không còn gì có thể giữ ông lại ở quê ông.
NHÀ GIẢI MÃ NHỮNG CẢM XÚC
Duchenne lập nghiệp ở Paris được 4 năm thì ông trình bày ở Viện Hàn lâm Khoa Học một báo cáo khoa học gây chấn động. Chính người thầy thuốc tỉnh lẻ bị chế giễu này đã có công áp dụng một cách hệ thống điện học vào sinh lý học và vào bệnh lý của hệ cơ. Ông mô tả một cách đổi mới và độc đáo tác dụng riêng rẻ hay cộng lực của các cơ. Những công trình nghiên cứu của ông về hệ cơ của mặt và những ảnh hưởng của nó lên nét mặt (physionomie) của con người gây sự tò mò, ngay cả ở những người ngoài y giới. Ông giải thích trong “ Cơ chế gây nên diện mạo con người ” (Le mécanisme de la physionomie humaine) : “ Mọi cử động tự ý hay bản năng đều do sự co đồng thời của một số lượng cơ ít hay nhiều. Được trang bị bởi các rhéophore (những sợi dây kim loại dẫn hai dòng điện trong một chiếc pile), ta có thể, như chính thiên nhiên, vẽ trên mặt của người những đường biểu hiện các cảm xúc của tâm hồn. Nguồn những quan sát mới ! ”. Những ảnh các gương mặt do ông chụp cho thấy cả một loạt đủ mọi sắc thái những cảm xúc, dịu dàng ou âu yếm nhưng cũng hung bạo và dữ tợn, gây ra bởi máy điện và ý chí của người thí nghiệm.
TỪ SINH LÝ HỌC ĐẾN BỆNH LÝ HỌC
Mặc dầu còn vô danh và bị chỉ trích, ông thăm viếng tất cả các khoa phòng của các bệnh viện Paris, nhằm tìm kiếm những bệnh hiếm. Để đạt được điều đó, ông chế tạo một thiết bị điện mang theo người, nhằm cho phép ông lập bản đồ chức năng của các cơ và khảo sát sự điều hợp của chúng. Chính những tìm tòi này đã gợi cho ông những mô tả chính xác về nhiều rối loạn thần kinh cơ, gồm cả myopathie primitive progressive pseudohypertrophique và thất điều vận động (ataxie locomotrice) mang tên ông (Dystrophie de Duchenne và Maladie de Duchenne). Ông cũng phát minh một giùi chọc (trocart), “ harpon histologique de Duchenne ” để lấy mẫu nghiệm mô cơ qua da mà không cần gây mê, tiền thân của thủ thuật sinh thiết ngày nay. Guillaume Duchenne tóm tắt công trình của ông trong hai chuyên luận quan trọng, nhưng phải thêm vào đó rất nhiều báo cáo khoa học, những ghi chép, những quan sát, trong đó được ghi vào những sự kiện mới, những nghiên cứu độc đáo, những áp dụng tài tình và những phương cách thăm dò. Ông cũng khảo sát 3 khám phá quan trọng của thế kỷ XIX : điện học, sinh lý học và nhiếp ảnh.
MỘT SỰ SẢN XUẤT PHONG PHÚ.
Những công trình của ông, đặc sắc do tính độc đáo và những hậu quả thực hành của chúng, sau cùng được giới y khoa hoan nghênh. Ông dành hai ngày mỗi tuần để thăm khám những người nghèo và gởi phụ tá của mình đến mổ miễn phí tại nhà. Cho đến những ngày cuối của cuộc đời, ông vẫn làm việc, tìm tòi, hoàn thiện. Đối với ông, lâm sàng bên cạnh giường người bệnh là chìa khóa của y khoa và trong khi những thăm dò và kết luận của ông đều chính xác, thì những bài giảng của ông không luôn luôn được sáng tỏ lắm và phủ nhận ngạn ngữ “ điều gì được hiểu tốt, được phát biểu rõ ràng ”. Rất nhẫn nại và khoan dung, ông là người của phòng thí nghiệm (homme de laboratoire) hơn là nhà thông thái (homme d’érudition) và có lần ông mô tả một điều mới lạ nhưng đã được báo cáo bởi những kẻ khác. Ở tuổi 52 ông dự thi áp dụng hữu ích nhất của pile de Volta và được phong chevalier de la Légion d’honneur. Cả châu Âu tôn vinh ông, kể cả Hiệp hội y khoa Gand. Ông qua đời quá sớm, vì xuất huyết não, ở tuổi 69.
(LE GENERALISTE 20/10/2011)

10/ NHỮNG TẾ BÀO TỬ CUNG ĐÃ SẢN XUẤT INSULINE !
Ở những phụ nữ bị bệnh đái đường, tử cung có thể thay cho tụy tạng ? Điều đó không phải là không có thể, theo những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc đại học Yale. Các nhà nghiên cứu này đã thành công điều trị, ở chuột, dạng nghiêm trọng nhất của bệnh đái đường, bằng những tế bào gốc người trưởng thành (cellules souches humaines adultes) phát xuất từ niêm mạc tử cung (nội mạc tử cung). Như thế, lợi ích của một phương pháp này là ở chỗ, ngày nay, để điều trị lâu dài bệnh đái đường, các thầy thuốc đã phải nhờ đến kỹ thuật ghép những tế bào của tụy tạng : những tế bào này tiết insuline (hormone thiết yếu trong sự điều hòa glucose trong máu) và bị tấn công bởi hệ miễn dịch của những người bị bệnh đái đường loại 1. Nhưng thiếu người cho (donneur) và những trường hợp thải bỏ (rejet) mẫu ghép xảy ra nhiều. Thế mà, các nhà nghiên cứu của đại học Yale đã tái tạo in vitro những tế bào trưởng thành của tụy tạng từ những tế bào gốc nội mạc tử cung, được cấy trong 3 tuần trong một môi trường các chất dinh dưỡng (bain de nutriments) và các yếu tố tăng trưởng. Trước hết họ đã quan sát thấy rằng insuline người được sản xuất in vitro khi cho tiếp xúc với glucose những tế bào đã được cấy. Họ đã ghép những tế bào này ở những con chuột bị bệnh đái đường. 5 tuần sau, đường huyết của chúng được ổn định. Nếu các nhà nghiên cứu thành công áp dụng những kết quả này cho phụ nữ, khi đó họ sẽ có sẵn những tế bào để sử dụng (nội mạc tử cung) và có thể lập lại để trị bệnh đái đường.
(SCIENCE ET VIE 11/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(15/11/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s