Thời sự y học số 247 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : NHỮNG GIẢI PHÁP MỚI THAY THẾ NGOẠI KHOA.
Những điều trị phối hợp chống đau và chống phế tật.
RHUMATOLOGIE. Hư khớp (arthrose) không còn được xem như là một sự hao mòn (usure) đơn thuần của sụn khớp do quá trình lão hóa, mà như là một hội chứng ảnh hưởng lên toàn bộ các mô của khớp, và ngay cả những dây gân và các cơ bám vào khớp, François Rannou, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp và giám đốc nghiên cứu Inserm thuộc bệnh viện Cochin (Paris) đã nhắc lại như vậy. Vậy việc điều trị hư khớp phải mutimodal, phải tính đến tất cả những yếu tố góp phần vào quá trình này.”
Mặc dầu tuổi tác là một yếu tố nguy cơ của bệnh hư khớp, nhưng bệnh này có thể phát triển rất sớm và cần nhiều năm trước khi có những triệu chứng lâm sàng có thể thấy được. Hiện nay, căn bệnh này xảy ra ở 16% những người trên 55 tuổi và gây bệnh cho 70% những người trên 65 tuổi, một con số gia tăng một cách đều đặn từ 20 năm nay. Vào năm 2030, bệnh hư khớp có thể ảnh hưởng lên 20% dân chúng Pháp.

Hư khớp được biểu hiện bởi triệu chứng đau ở các khớp ; những khớp này có thể cứng, sưng, đỏ và nóng, nhất là trong những đợt viêm. Chẩn đoán có thể được xác nhận dễ dàng bởi X quang, phát hiện một hay nhiều dấu hiệu : tăng mật độ xương (densification), khoang liên khớp bi hẹp lại và sự hiện diện của những cục u xương (excroissances osseuses) nhỏ, những chồi xương (ostéophytes).
Hiện nay không có điều trị chữa lành bệnh hư khớp : không có một loại thuốc nào đã cho thấy hiệu quả lên sự tiến triển của bệnh. Vậy sự điều trị dựa trên điều trị giảm đau nhưng cũng dựa trên sự cải thiện phế tật cơ năng (handicap fonctionnel) mà hư khớp gây nên, nhất là đối với các khớp của bàn tay, đầu gối và của háng.
TĂNG THỂ TRỌNG LÀ MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ.
“ Điều trị đầu tiên được xét đến là nội khoa, và không chỉ dùng thuốc không thôi. Mặc dầu sụn hoàn toàn bị phá hủy, ngoại khoa không nhất thiết là phương pháp tốt nhất ”, GS Francis Berenbaum, trưởng khoa bệnh thấp khớp thuộc bệnh viện Saint-Antoine (Paris) đã giải thích như vậy.
Đối với hư khớp gối và cổ tay, yếu tố nguy cơ đầu tiên là sự tăng thể trọng. Chỉ cần giảm vài kilo thường cũng đủ làm thuyên giảm những triệu chứng, nhất là ở các đầu gối. Nếu một hoạt động vật lý gây chấn thương có thể làm dễ sự xuất hiện căn bệnh, tình trạng nhàn rỗi không hoạt động là một yếu tố làm gia trọng những triệu chứng đối với tất cả các hư khớp. Vậy cần duy trì hay thiết lập một hoạt động vật lý ở mức độ vừa phải và đều đặn.
Vật lý trị liệu (kinésithérapie), nhằm huy động các khớp, đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó. Các prothèse, cho phép điều chỉnh một khiếm khuyết trong sự định hướng (orientation) trong khớp, đặc biệt có hiệu quả đối với hư khớp ngón cái và cả đầu gối. Việc xử dụng canne không được xem nhẹ, nhất là trong những đợt bộc phát.
TIÊM NGẤM CORTICOIDES.
Ngoài những phương thức cơ học này, thường được thêm vào, ngay lúc đầu, một điều trị thuốc giảm đau bởi paracétamol, vẫn là điều trị chuẩn. Những thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) cũng được kê đơn với một tính hiệu quả tương tự với paracétamol nhưng có nhiều tác dụng phụ hơn.
Nếu những điều trị này không đủ, thầy thuốc có thể kê đơn những dẫn xuất codéine hay tramadol, mà những tác dụng phụ và sự dung nạp kém cần một sự theo dõi sát. “ Có thể thêm những điều trị triệu chứng có tác dụng chậm như glucosamine hay những dẫn xuất avocat và đậu nành, GS Berenbaum đã chỉ rõ như vậy. Trái với những điều mà vài quảng cáo đã đưa ra (từ nay đã bị rút đi), những điều trị này không có một tác dụng cấu trúc nào lên khớp, nhưng vài thử nghiệm đã cho thấy một tác dụng lên triệu chứng hơi cao hơn placebo. ”
Mặt khác có những loại thuốc có thể được cho tại chỗ. Những mũi tiêm ngấm corticoides cho phép làm thuyên giảm một cách nhanh chóng sự đau đớn và làm giảm thời gian của các đợt bộc phát. Acide hyaluronique cũng có thể được tiêm vào đầu gối, khớp duy nhất trong đó tác dụng của nó đã được chứng minh, với một hiệu quả tạm thời chỉ được quan sát ở vài bệnh nhân. Sau cùng những pommade kháng viêm càng đáng lưu ý khi chúng chỉ gây rất ít tác dụng phụ.
Trong tất cả các trường hợp, các triệu chứng càng được điều trị tốt nếu bệnh càng được phát hiện sớm, với một sự giảm phế tật rõ rệt hơn. Sự nghiên cứu, mặc dầu tiến triển chậm, một phần do thiếu kinh phí và thiếu sự quan tâm của giới hữu trách, đã bắt đầu phát triển những công cụ chẩn đoán sớm, có thể cho phép vượt một bước lớn nhằm hạn chế những hậu quả của bệnh, trong lúc chờ đợi sự hiệu chính những điều trị chữa lành.
(LE FIGARO 17/10/2011)

2/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : SỬA CHỮA SỤN VÀ NHỮNG CHỨC NĂNG CỦA NÓ.
Mặc dầu nghiên cứu cơ bản đã cho phép hiểu rằng sụn không phải là mô duy nhất bị liên hệ trong bệnh hư khớp, nhưng nó vẫn ở trung tâm của những hiện tượng xảy ra trong khớp bị thoái biến (articulation arthrosique). Do đó nhiều kíp nghiên cứu tìm cách làm sáng tỏ những lý do của sự thoái hóa sụn và nhận diện những đích điều trị (cibles thérapeutiques). Các nhà nghiên cứu khác khảo sát những phương cách khác nhau nhằm sửa chữa sụn hay ngay cả làm tái sinh nó.
Trong một khớp bình thường của người trưởng thành, sụn được cấu tạo bởi những tế bào sụn (chondrocytes). Những tế bào này được bao quanh bởi một chất cơ bản chủ yếu được cấu tạo bởi các sợi collagène và polysaccharides có khả năng giữ nước. Sụn người trưởng thành không chứa các mạch máu, những yếu tố, cần thiết cho các tế bào sụn, được truyền nhờ hiện tượng mao dẫn (capillarité) vào trong các mô, có tác dụng gần như một bọt biển (éponge).
VÒNG LUẨN QUẨN
Trong hư khớp, sự vận hành chức năng của các tế bào sụn dường như bị rối loạn và đi vào trong một vòng luẩn quẩn, trong đó sự thoái hóa sụn gây nên sự sản xuất những phân tử, và những chất này lại còn làm gia tăng hơn sự thoái hóa. Bằng cách so sánh sụn của những plaque de croissance với sụn của khớp bị hư biến, các nhà nghiên cứu đã tìm ra những điểm chung. Dường như các tế bào sụn trở nên phì đại và gây một sự vôi hóa (calcification) khớp, cũng y như khi plaque de croissance của xương bị đóng lại.”, Jerome Guicheux, giám đốc nghiên cứu Inserm thuộc CHU de Nantes đã giải thích như vậy.
Như thế, các huyết quản xâm nhập sụn dần dần, mang theo với chúng nhiều phân tử làm thoái hóa chất cơ bản ngoài tế bào (matrice extracellulaire) của sụn ; chất cơ bản này bị nứt ra và thoái hóa dần dần trong khi quá trình vôi hóa được khởi động. Những công trình nghiên cứu trong lãnh vực này có thể cho phép nhận diện nhiều đích điều trị nhằm làm sinh huyết quản (angiogenèse), những yếu tố làm cho các tế bào sụn lấy lại chức năng mà chúng đã bỏ rơi hay nhắm vào những vi tinh thể canxi (microcristaux de calcium) trong khớp bị thoái hóa.
Những phương pháp ghép tế bào sụn (greffes de chondrocytes) cũng đã được xét đến, nhưng những thử nghiệm đầu tiên cho thấy rằng đáp ứng của các bệnh nhân rất thay đổi và sụn mới không luôn luôn cho phép một quá trình sửa chữa hiệu quả.
Vì sụn chủ yếu có một chức năng cơ học hấp thụ các sốc (absorption de chocs), nên nhiều nhóm nghiên cứu đã khảo sát những phương pháp khác nhau để tái tạo nó nhờ các sinh-vật liệu (biomatériaux) để chế tạo một sụn bán nhân tạo (cartilage semi-artificiel). Thế thì mục đích nhắm đến là thiết kế một giàn (échafaudage) rắn chắc bằng một vật liệu tương hợp với cơ thể, trên đó có thể gắn những tế bào có khả năng làm đầy dần dần tất cả espace trong lòng của cái giàn này.
NHỮNG THỬ NGHIỆM LIỆU PHÁP TẾ BÀO.
Nhiều vật liệu đang được đánh giá, nhưng việc lựa chọn tốt những tế bào để ghép cũng quan trọng. Những tế bào này phải có khả nag tăng sinh nhanh nhưng cũng làm tròn các chức năng của mô nguyên thủy. Các tế bào sụn, mặc dầu có vẻ thích ứng, nhưng không tăng sinh một cách dễ dàng trong môi trường cấy và có khuynh hướng mất đi chức năng của chúng sau nhiều thế hệ.
Nhóm nghiên cứu Inserm do GS Christian Jorgensen (Marseille) điều khiển, hôm nay thăm dò hướng của những tế bào gốc và nhất là những tế bào gốc trung mô (cellules souches mésenchymateuses) ; những tế bào này, khi chúng được hướng theo chiều hướng đúng bằng nhiều yếu tố khác nhau, có thể tăng sinh trước khi biệt hóa thành những tế bào sụn.
Những thử nghiệm liệu pháp gène trên động vật dường như đầy hứa hẹn, nhưng những thử nghiệm trên người chỉ mới ở một giai đoạn rất sơ khởi.
(LE FIGARO 17/10/2011)

3/ BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE) : NHỮNG VI TINH THỂ GIẾT CÁC TẾ BÀO SỤN
“ Stress microcristallin dường như là một yếu tố quyết định trong sự phá hủy sụn ”, GS Frédéric Lioté, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp và trưởng đơn vị nghiên cứu Inserm ở bệnh viện Lariboisière (Paris) đã chỉ rõ như vậy. Các phim X quang cho phép quan sát, trong các khớp bị thoái hóa (articulation arthrosique), sự hiện diện của các vi tinh thể canxi (microcristaux de calcium) gây nên những cơn viêm được gọi là “ giả thống phong ” (psedo-goutte) nhưng cũng dường như chịu trách nhiệm sự hủy hoại sụn và sự viêm của các mô chung quanh.
Các nhà nghiên cứu ngày nay biết rằng các vi tinh thể canxi này là hậu quả của một sự sản xuất quá mức các muối canxi, bởi chính các tế bào sụn (chondrocytes) (những tế bào hình tròn và khá lớn, là những tác nhân chính trong sự tổng hợp và bảo trì mô sụn).
PHẢN ỨNG VIÊM
Những công trình nghiên cứu in vitro đã cho phép nhận xét rằng sự hiện diện của những vi tinh thể canxi dẫn đến sự sản xuất những phân tử chịu trách nhiệm về lâu về dài phản ứng viêm, sự chết của các tế bào sụn. Khi sụn bị nứt, các vi tinh thể canxi lan tỏa vào trong xoang khớp. Khi đó chúng có thể được hấp thụ bởi màng hoạt dịch (membrane synoviale). Ở đây chúng có thể gây nên viêm màng hoạt dịch (synovite), từ nay được xác nhận rõ trong bệnh hư khớp.
Những thử nghiệm trên động vật đã cho phép xác nhận rằng việc tiêm những vi tinh thể này vào các khớp dẫn đến một cách nhanh chóng sự phá hủy sụn, với một phản ứng viêm giống với phản ứng viêm do sự hiện diện của một vật lạ trong cơ thể gây nên.
Hành vi gần như tự sát này của các tế bào sụn có thể do sự kiện là những vi tinh thể canxi làm cứng sụn lại và gây nên một phản ứng bất thường của những tế bào, bình thường vốn được bao quanh bởi một mô khá mềm. Nhiên hậu, toàn bộ khớp bị canxi hóa.
“ Dường như rằng sự sản xuất quá mức pyrophosphate de calcium và apatite là do sự biểu hiện bất thường của vài bơm màng tế bào (pompe membranaire) của các tế bào sụn, Frédéric Lioté đã xác nhận như vậy. Từ nay những bơm này sẽ được sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong lãnh vực này. Đặc biệt họ hướng về một enzyme có can dự vào trong sự rối loạn của các tế bào sụn và tìm cách hiểu điều gì có thể khởi động sự sản xuất enzyme này.
Nhiều mục tiêu khác có thể được nhận diện nhằm phong bế, ở người, hiện tượng canxi hóa bất thuờng này.Thật vậy trên nhiều mô hình động vật, các nhà nghiên cứu đã thành công làm giảm bệnh hư khớp bằng cách ngăn cản sự canxi hóa.
(LE FIGARO 17/10/2011)

4/ ASPIRINE PHÒNG NGỪA UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG.
Những bệnh nhân có nguy cơ di truyền rất cao (patients à très haut risque génétique) có thể hưởng lợi nhờ điều trị này.
PREVENTION. Hy vọng có được một điều trị phòng ngừa ung thư làm sôi nỗi không những các nhà nghiên cứu mà còn cả những người có những nguy cơ cao. Đó là trường hợp những người bị hội chứng Lynch, một bất thường di truyền làm gia tăng một cách đáng kể nguy cơ ung thư, nhất là ung thư đại-trực tràng nhưng cũng những cơ quan khác như nội mạc tử cung. Trong hội chứng hiếm hoi này, nhưng vẫn là nguyên nhân thường gặp nhất của các ung thư đại- trực tràng di truyền (cancers colo-rectaux héréditaires), các bệnh nhân đặc biệt phải chịu những nội soi đại tràng (colonoscopie) tối đa mỗi 2 năm ngay ở lứa tuổi 20. Dĩ nhiên mục tiêu là phát hiện sớm ung thư đại-trực tràng mà ta biết gây bệnh cho hơn một trường hợp đối với 3 trong số những bệnh nhân này.
Công trình nghiên cứu, được công bố hôm nay trong tạp chí quốc tế The Lancet, hẳn sẽ mang lại một ít hy vọng cho những bệnh nhân mà tuổi trung bình lúc được khám phá một ung thư đại-trực tràng là 42 tuổi (đôi khi ngay cả trước 25 tuổi). Thật vậy công trình này cho thấy vai trò phòng ngừa của aspirine. Trên hơn 850 người, một nửa dùng aspirine còn nửa kia dùng một placebo (thuốc không có tác dụng), kết quả cho thấy rằng những bệnh nhân đã uống mỗi ngày 600 mg aspirine trong hai năm đã có nguy cơ ung thư đại-trực tràng giảm 1/3 so với những người dùng placebo. Và có được kết quả này nhưng không chịu những tác dụng phụ đặc biệt nào. Các tác giả đã quan sát thấy 18 ung thư đối với 427 bệnh nhân trong nhóm sử dụng aspirine, so với 30 trên 434 bệnh nhân dùng placebo.
Vào năm 2008, cũng chính những nhà nghiên cứu này đã không phát hiện tính hiệu quả của aspirine trong nghiên cứu này. Chính nhờ kéo dài thời gian theo dõi những bệnh nhân đã dùng aspirine trong hơn 2 năm mà họ đã nhận thức được tác dụng phòng ngừa của aspirine. Sau hai năm, sự dị biệt giữa hai nhóm bắt đầu xuất hiện nhưng vẫn còn chưa đủ về mặt thống kê để rút ra những kết luận.
BS David Malka, thầy thuốc chuyên về ung thư tiêu hóa thuộc Viện Gustave-Roussy (Villejuif) tỏ ra lạc quan thận trọng : “ Đó là một công trình nghiên cứu có thể cho phép thêm vào một vũ khí mới (aspirine) bên cạnh sự theo dõi các bệnh nhân nhờ soi đại tràng ”, ông đã giải thích như vậy. Lần này, GS John Burn (Viện y học di truyền, đại học Newcastle) và các đồng nghiệp tỏ ra dứt khoát hơn : “ Những kết quả của chúng tôi, đặt trong mối liên hệ với những nghiên cứu khác mới đây, mang lại một cơ sở chắc chắn để khuyến nghị dùng aspirine để phòng ngừa một cách hệ thống trong hội chứng Lynch ”, ông đã viết như vậy trong The Lancet. Theo họ, vấn đề còn lại là phải xác định liều lượng tốt và thời gian điều trị tốt.
Tuy nhiên các chuyên gia ngạc nhiên khi có được kết quả này mặc dầu số các polype được phát hiện bằng soi đại tràng đều y hệt dầu bệnh nhân uống aspirine hay không. Thật vậy lý thuyết muốn rằng các polype là giai đoạn đầu tiên trước khi biến đổi thành ung thư. Những kết quả thu được này ở những bệnh nhân với nguy cơ rất cao, do là bệnh di truyền (hội chứng Lynch), phải chăng có thể áp dụng cho những loại khác ? Đâu là tỷ suất lợi ích/nguy cơ của điều trị bằng aspirine trong những trường hợp này, nếu xét đến nguy cơ xuất huyết do aspirine ? Hiện nay những kết quả thu được với những liều lượng thấp aspirine (dưới 100 mg mỗi ngày), được sử dụng trong phòng ngừa những tái phát của các tai biến tim mạch nói chung, đã không cho thấy lợi ích để làm giảm nguy cơ ung thư đại-trực tràng. Ngược lại, đối với những bệnh nhân đã có một ung thư đại-trực tràng được điều trị, những công trình nghiên cứu lại cho thấy một tác dụng phòng ngừa nhưng mức độ vừa phải của aspirine. Vẫn còn quá sớm để có thể dám đưa ra một khuyến nghị chung, ngoài trường hợp hội chứng Lynch.
(LE FIGARO 28/10/2011)

5/ PHÁT HIỆN UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG : NỘI SOI TRỰC TRÀNG HAY TEST HEMOCCULT ?
Professeur Jean-Christophe Saurin
Hépato-Gastro-Entérologue
CHU de Lyon

Ung thư đại-trực tràng (cancer colorectal) thường xảy ra ở Pháp : 37.000 bệnh nhân mới (đàn ông và phụ nữ) bị bệnh mỗi năm và 17.000 người chết vì ung thư này. Cứ 20 người thì có một người sẽ bị ung thư đại-trực tràng vào một ngày nào đó trong cuộc đời mình. Vậy phải phát hiện ung thư này trước khi những dấu hiệu (đau, chảy máu) xảy ra, bởi vì một ung thư được phát hiện do thẳm dò là ít nguy hiểm hơn (ít tiến triển hơn) so với một ung thư đã cho các triệu chứng. Có hai cách phát hiện : tìm kiếm máu trên nhiều mẫu nghiệm phân liên tiếp (test Hemoccult) hay thực hiện một thăm dò đại tràng, nói chung dưới gây mê, với một camera được đặt ở đầu mút của một ông soi mềm (coloscopie). Trong trường hợp thứ nhất (test Hemoccult), ta chỉ soi đại tràng ở những người dương tính (có máu trong phân).
Khó khăn nhất trong công tác phát hiện ung thư đại-trực tràng không phải là việc thực hiện trắc nghiệm, mà làm thế nào để càng nhiều bệnh nhân càng tốt chấp nhận việc thực hiện bước điều tra phát hiện này. Ở Pháp, sự phát hiện được đề nghị bằng test Hemoccult mỗi 2 năm cho 15 triệu người, giữa 50 và 74 tuổi và không có yếu tố nguy cơ đặc biệt nào về ung thư đại trực tràng. Chiến lược này có nhiều ưu điểm : đơn giản mặc dầu tỷ lệ chấp thuận dưới 50% trong nhiều tỉnh ở Pháp ; chiến lược khá chính xác : một polype lớn hay một ung thư sẽ được phát hiện ở một người trên 10 người có một trắc nghiệm Hemoccult dương tính, hoặc 2% những người được xét nghiệm ; sau hết chiến lược này không quá tốn kém, bởi vì test Hemoccult có một phí tổn vừa phải (dưới 10 euro) và ít người cần đến một nội soi đại tràng.
Hiệu quả của chiến lược này đã được chứng tỏ : nó làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư đại-trực tràng. Test Hemoccult là trắc nghiệm tốt nhất trong nhóm 15 triệu người có mức nguy cơ ung thư đại-trực tràng được gọi là “ trung bình ” (không có yếu tố nguy cơ đặc biệt) : chủ yếu là bởi vì một bộ phận quan trọng những người này (50%) chấp nhận chịu trắc nghiệm này, vì ít “ xâm nhập ”. Trong nhóm người này, một thăm khám bằng nội soi đại tràng tức thì sẽ ít tốt hơn : kinh nghiệm trong các nước khác cho thấy rằng chỉ 10% những người được đề nghị nội soi đại tràng trong nhóm những người này, chấp nhận chịu thăm dò.
NHÓM “ CÓ NGUY CƠ CAO ”
Một nhóm khác, ít hơn nhiều, được gọi là “ có nguy cơ cao ” bị ung thư đại-trực tràng (gấp đôi nhóm có “ nguy cơ trung bình ”, hay một trên mười trong suốt cuộc đời mình) : trong trường hợp chảy máu trong phân, ỉa chảy hay táo bón xuất hiện sau 50 tuổi, trong trường hợp có tiền sử ung thư đại-trực tràng ở những người thân thuộc hay anh chị em (nhất là trước 60 tuổi), trong trường hợp tiền sử cá nhân bị ung thư hay thương tổn tiền ung thư (polype adénomateux) đại-trực tràng hay bệnh viêm mãn tính của ruột.Trong nhóm những người này, soi đại tràng là thăm dò tốt nhất : thăm khám này chính xác hơn bởi vì nó phát hiện gần như tất cả các ung thư đại-trực tràng, tốt hơn trắc nghiệm Hemoccult. Nguy cơ cao hơn bị một ung thư đại-trực tràng biện minh cho thăm dò mặc dầu nặng nề hơn, tốn kém hơn, nhưng phát hiện tốt hơn ung thư đại-trực tràng hay những thương tổn tiền ung thư.
Tóm tắt : ung thư đại-trực tràng thường xảy ra, phải phát hiện nó để làm giảm số những người bị giết chết mỗi năm bởi ung thư này (khoảng 17.000 người). Đối với phần lớn những người từ 50 đến 74 tuổi, không có triệu chứng lẩn tiền sử, trắc nghiệm tốt nhất là test Hemoccult. Đối với nhóm nhỏ hơn gồm những người có những triệu chứng hay tiền sử đặc biệt, soi đại tràng là thăm dò tốt nhất.. với điều kiện thực hiện nó !
(LE FIGARO 17/10/2011)

6/ NHỮNG TÁC DỤNG CHỐNG TRẦM CẢM CỦA CÀ PHÊ.
Một thử nghiệm, được thực hiện ở đàn ông, đã báo cáo một tác dụng chống trầm cảm của cà phê. Nhưng không gì tương tự như vậy đã được khảo sát ở phụ nữ, mặc dầu hai lần thường bị chứng trầm cảm hơn so với đàn ông (ở các nước phát triển, cứ 5 phụ nữ thì có một bị chứng trầm cảm). Các kết quả của một công trình nghiên cứu, được tiến hành ở hơn 51.000 phụ nữ thuộc công trình nghiên cứu Hoa Kỳ Nurse Health Study và được theo dõi trong 10 năm, mới đây đã được công bố. Những kết quả này cho thấy rằng, ở những phụ nữ uống 2 hay 3 tách cà phê mỗi ngày, nguy cơ bị chứng trầm cảm giảm 20% so với những phụ nữ uống ít hơn 1 tách mỗi ngày (hoặc 73mg caféine mỗi ngày). Nguy cơ giảm 25% ở những phụ nữ uống hơn 4 tách (550 mg caféine mỗi ngày hay hơn). Ngược lại, cà phê không có caféine (café décaféiné), soda có caféine (soda caféiné) và trà không có một ảnh hưởng nào lên chứng trầm cảm. Theo các tác giả, caféine điều hóa (moduler) một cách thuận lợi những tác dụng của dopamine, chất dẫn truyền thần kinh não bộ đóng một vai trò chủ chốt trong tính khí (humeur).
(PARIS MATCH 3/11-9/1/2011)

7/ MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG BẮT ĐẦU TỪ TUỔI 50 CÓ PHẢI KHÁM MỘT THẦY THUỐC CHUYÊN KHOA NIỆU KHÔNG ?
Professeur Pascal Rischmann
Chef de service d’urologie-andrologie-transplantation rénale
CHU Rangueil. Université Paul-Sabatier. Toulouse.

Bắt đầu từ 50 tuổi, nói chung, một người đàn ông dễ bị các bệnh lý hơn. Điều đó không chỉ phụ thuộc vào tuổi tác mà còn vào những tiền sử gia đình và cá nhân, sự hành nghề và những thói quen trong cuộc sống của người đàn ông này. Một kiểm tra huyết áp, một thăm khám ngoài da, sự tìm kiếm bệnh đái đường, và sự phát hiện ung thư đại tràng hiện được khuyến nghị và thầy thuốc gia đình là người đối thoại đầu tiên. Đối với những vấn đề đường tiểu, thầy thuốc điều trị có thể cần thiết thông báo bệnh nhân về những nguy cơ có thể xảy ra.
Về những ung thư thận và bàng quang, không có thăm dò phát hiện nào được khuyến nghị. Đối với một người nghiện thuốc lá, vào dịp thực hiện một check up, thầy thuốc gia đình nên thực hiện một trắc nghiệm nước tiểu nhờ một bandelette (có thể phát hiện máu trong nước tiểu). Nếu quả là như vậy, nên thăm khám một thầy thuốc chuyên về niệu khoa (urologue).
Về tuyến tiền liệt phải hiểu rõ rằng nhiều tình huống có thể xảy ra. Viêm cấp tính, thậm chí nhiễm trùng (viêm tuyến tiền liệt), mặc dầu khá hiếm nhưng triệu chứng ầm ỉ, khiến bệnh nhân nhanh chóng đi khám bệnh và thực hiện những thăm khám phụ cho phép hướng định việc điều trị.
Phì đại hiền tính tuyến tiền liệt (HBP : hypertrophie bénigne prostatique) hiện diện ở hầu hết tất cả những người đàn ông bắt đầu từ 40 tuổi, nhưng cứ mỗi 5 người đàn ông mới có 3 người có triệu chứng. Ngoài bệnh nhân có những triệu chứng, không nên thực hiện thăm dò phát hiện đối với những trường hợp khác. Sự kiện thường đi tiểu về đêm, trải qua những tình huống buồn tiểu khẩn trương hay đôi khi cảm giác bị bế tắc là những dấu hiệu cần phải thăm khám để thực hiện bilan. Chẩn đoán HBP được thực hiện bằng một thăm khám trực tràng đơn giản. Về điều trị HBP, có thể có nhiều thái độ khả dĩ : theo dõi đơn thuần không điều trị, các thuốc gồm 3 họ lớn với những cách tác dụng khác nhau hay, trong trường hợp thuốc không có hiệu quả, điều trị ngoại khoa, được chỉ định ở khoảng 1 bệnh nhân trên 10. Điều trị ngoại khoa nay đã tiến triển nhiều để trở nên ít xâm nhập hơn và thich ứng đối với mỗi bệnh nhân hơn : Có một sự khác nhau lớn về cách điều trị giữa một người đàn ông 55 tuổi từ chối dùng thuốc một cách thường trực, và một người đàn ông 85 tuổi bị bí tiểu, nhưng sức khỏe kém hơn và thường dùng nhiều loại thuốc : các điều trị được cá thể hóa.
CÓ PHẢI PHÁT HIỆN UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT KHÔNG ?
Có lẽ như các bạn đã biết, vấn đề này đang được tranh luận và tôi sẽ giải thích cho các bạn tại sao.
Ung thư tuyến tiền liệt xuất hiện ở phần ngoại biên của tuyến, khác với phì đại hiền tính tuyến tiền liệt (HBP), và vì lý do này chỉ sinh ra những triệu chứng đường tiểu trong giai đoạn muộn. Nếu ta chờ đợi cho những triệu chứng này xuất hiện rồi mới lo âu, ta sẽ gần như luôn luôn chứng thực rằng bệnh khi đó đã quá tiến triển để có thể được chữa lành và ta chịu một nguy cơ tăng gấp đôi bị những biến chứng tại chỗ và sự xuất hiện của các di căn.
Mặt khác ta biết rằng trong đa số các trường hợp, ung thư tuyến tiền liệt tiến triển chậm và có thể cần hơn 10 năm trước khi trở nên đe dọa tính mạng. Đó là lý do tại sao việc phát hiện không còn có lợi ích nữa ở những người đàn ông mà tuổi thọ trung bình về mặt thống kê không vượt quá 10 năm, nghĩa là trên 75 tuổi. Do đó có lợi ích nếu thực hiện công tác phát hiện ung thư tuyến tiền liệt trước lứa tuổi này.
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NÓI GÌ ?
Công trình nghiên cứu có quy mô lớn nhất là một công trình của châu Âu, được thực hiện trên hơn 180.000 người trong 8 nước, trong đó 40.000 ở Pháp. Nếu ta xét đến quan điểm tỷ lệ tử vong liên kết một cách trực tiếp với ung thư tiền liệt tuyến, công trình nghiên cứu này đã cho thấy một lợi ích không phải bàn cãi khi thăm dò phát hiện những đối tượng từ 55 đến 69 tuổi. Sự khác nhau được chứng minh hiện nay là rất quan trọng vì lẽ mức độ dị biệt là làm giảm 40% tỷ lệ tử vong khi chẩn đoán được thực hiện sớm. Trong lứa tuổi này, việc không điều tra phát hiện sẽ có nguy cơ ngoại trừ chấp nhận ý nghĩ rằng một bệnh khác sẽ làm ảnh hưởng tuổi thọ sớm hơn là ung thư tiền liệt tuyến. Thật vậy, kinh nghiệm cho thấy rằng trong những nước phát triển đa số các người đàn ông thích được thăm dò phát hiện (thăm khám trực tràng và thử máu, tiếp theo sau là làm sinh thiết theo tỷ lệ 1 trên 10) bởi vì họ hiểu rằng một khối u được phát hiện sớm có thể được điều trị dễ dàng hơn : điều đúng với những ung thư khác cũng đúng với ung thư tiền liệt tuyến, đó là một quy tắc chung trong ung thư học.
HƯỚNG VỀ NHỮNG ĐIỀU TRỊ CÁ THỂ HÓA.
Do thời gian tiến triển của ung thư, chính sách phát hiện có một mặt trái : đó là nguy cơ điều trị quá mức (surtraitement), nghĩa là điều trị bằng những phương tiện triệt để những ung thư có mức độ ác tinh vào lúc chẩn đoán không biện minh cho một phương pháp như vậy. Chính vì vậy, điều quan trọng là xác định những đặc điểm của các khối u vào lúc chẩn đoán để có thể áp dụng cho chúng những điều trị được thích ứng với thể tích và mức độ ác tính của chúng. Càng ngày ta càng thường n đề nghị hơn một điều trị nhằm làm trì hoãn (traitement différé) (theo dõi tích cực) hay một điều trị bảo tồn như curiethérapie hay siêu âm hội tụ (ultrasons focalisés) khi khối u ít ác tính hay bệnh nhân tương đối lớn tuổi. Điều trị triệt để được chỉ định khi khối u lớn và cho thấy (hay thụ đắc) những đặc điểm ác tính. Trong đại đa số các trường hợp, điều trị này là một can thiệp ngoại khoa mà ta gọi là cắt bỏ toàn bộ tuyến tiền liệt (prostatectome totale). Can thiệp này, cũng như những điều trị triệt để khác (radiothérapie), có một nguy cơ gây những di chứng cơ năng như són tiểu và rối loạn cương. Về chứng són tiểu xảy ra sau cắt bỏ tuyến tiền liệt, nguy cơ này được làm chủ tốt hơn và trong trường hợp chứng són tiểu nghiêm trọng kéo dài (dưới 2% các trường hợp), vẫn có thể điều trị. Về chức năng cương (fonction érectile), câu hỏi rất rộng bởi vì nó tùy thuộc vào tuổi tác, thể tích khối u, điều trị được thực hiện và, để đơn giản hóa, khó đặt ngang nhau một người đàn ông 55 tuổi với một khối u nhỏ và một người đàn ông 68 tuổi với một thể tích khối u lớn : người thứ nhất có tat cả cơ may phục hồi chức năng cương, trong khi người thứ hai ở trong tình huống ngược lại. Chính vì thế, các thống kê đưa ra một tỷ lệ trung bình 50% nguy cơ bị biến đổi chức năng cương.
Một bệnh nhân muốn được điều tra phát hiện phải được đả thông về tất cả điều đó : về những phương cách chẩn đoán, về những nguy cơ liên kết với sự tiến triển, cũng như về nguy cơ các di chứng do điều trị. Phải biết rằng các chiến lược càng ngày càng được cá thể hóa và có tính đến những mong muốn của bệnh nhân về mặt lựa chọn đời sống (choix de vie) với điều kiện những lựa chọn này có thể tương hợp với loại khối u được chẩn đoán. Sau cùng, những chỉ định điều trị và sự thực hiện chúng phải phù hợp với những khuyến nghị của Hiệp hội niệu học Pháp.
Các bạn thấy đó, chủ đề thật rộng lớn. Vào lúc đầu, sự thăm khám một thầy thuốc niệu khoa là không cần thiết. Ngược lại, việc thông tin bởi thầy thuốc gia đình rất là quan trọng.
(LE FIGARO 23/5/2011)

8/ BỆNH DUPUYTREN
Thầy thuốc độc đoán, nhà thuyết trình ngoại hạng, phương châm của ông : “ L’homme ne doit rien redouter tant que la médiocrité ”. Kiêu hãnh với các đồng nghiệp, dịu dàng với các bệnh nhân, ông để lại một cảm tưởng nhập nhằng, vừa được thán phục nhưng lại vừa bị ác cảm.
Guillaume Dupuytren sinh năm 1777 trong ngôi làng Pierre-Buffière, gần Limoges (Pháp), ở đây cha ông là một nhà luật sư ít tiếng tăm. Ở tuổi 12, một người láng giềng, sĩ quan kỵ binh, mang ông lên Paris và trả tiền cho ông ăn học. Lúc 16 tuổi, ông có ý định nhập ngũ nhưng bố ông muốn ông trở thành thầy thuốc ngoại khoa và ghi tên ông vào école médico-chirurgicale St Alexis de Limoges. Tuy vậy ông thích học ở Paris hơn, mặc dầu ông phải sống trong một tầng hầm mái (mansarde) và phải dùng mỡ của những tử thi đã được phẫu tích để thắp sáng chiếc đèn bàn của mình ! Bởi vì, ở tuổi 18, ông đã phụ trách tất cả các cuộc mổ tử thi và đã giảng dạy cơ thể học với tư cách phụ tá (assistant). Ông tốt nghiệp lúc 20 tuổi. Được bổ nhiệm chef des travaux anatomiques 4 năm sau, ông viết chuyên luận đầu tiên về cơ thể bệnh lý và giảng dạy cùng với một người phụ việc (adjoint) không ai khác hơn là Laenec, mặc dầu giữa hai người không được hòa thuận với nhau bao nhiêu.
MỘT GRAND PROFESSIONNEL NHIỀU THAM VỌNG.
Dupuytren rất say mê cơ thể học và đã cống hiến nhiều cho các thầy thuốc ngoại khoa, khi đó táo bạo hơn là thông thái. Ông được bổ nhiệm chirurgien-chef adjoint của bệnh viện Hôtel-Dieu. Lần này, chính với cấp trên mà một cuộc tranh đua đã diễn ra với kết cục ông là người thắng cuộc, thay thế thượng cấp sau 7 năm, ở tuổi 38. Nhờ ông, trong 20 năm, bệnh viện Hôtel Dieu đã có tiếng tăm không ai cạnh tranh nổi. Là người tỉ mỉ, thậm chí ám ảnh (obsessionnel), Dupuytren tỏ ra tàn nhẫn và cầu toàn. Ông dùng năng lực và tính nhanh nhẹn của trí tuệ để phục vụ cho tham vọng không giới hạn của ông. Khía cạnh ít gây thiện cảm này biến mất ngay khi ông ngỏ lời phát biểu, vì lẽ ông là nhà diễn thuyết làm mê hoặc, với một kiến thức y khoa gây thán phục và đa dạng. Khi đó người ta thường nói về ông “ ông ta là Napoléon của ngoại khoa, người đứng đầu trong số những nhà ngoại khoa, và người đứng chót trong số những người đàn ông ”. Ông thăm các bệnh nhân được mổ ngay lúc 7 giờ sáng và đặt tầm quan trọng vào động tác chữa lành bệnh ngang hàng với việc theo dõi hậu phẫu. Các bài thuyết trình của ông được trình bày vào những buổi tối, trước một cử tọa khoảng 100 thầy thuốc trẻ đến từ rất xa để nghe ông nói về những trường hợp bệnh trong ngày…và để nghe về sự khinh bỉ của ông đối với những đồng nghiệp.
MỘT NHÀ HÙNG BIỆN HƠN LÀ MỘT NHÀ VĂN
Dupuytren không thích dùng ngòi bút và chính các học trò của ông, vào năm 1832, đã viết và xuất bản những Leçons orales de clinique chirurgicale. Đối với các thầy thuốc ngoại khoa đương thời, cống hiến này rất quý giá bởi vì ông trình bày những trường hợp trong ngày từ bệnh sử, chẩn đoán phân biệt, cho đến cơ thể bệnh lý, điều trị, hậu phẫu và đôi khi giải phẫu tử thi. Các chủ đề rất đa dạng, từ ngoại khoa chỉnh hình (orthopédie) cho đến gastroentérologie, rồi điều trị bỏng, vào một thời kỳ gây mê chỉ dựa vào thuốc phiện (opium), các dây thừng vững chắn và những nhân viên bệnh viện vai u thịt bắp ! Dupuytren không những mô tả chứng co cứng (contracture) mang tên ông (contracture de Dupuytren) mà còn tạo ra một kỹ thuật mổ để hủy bỏ nó. Ông là người đầu tiên mổ lấy đi một cách thành công hàm dưới và mổ torticolis spasmodique. Bài mô tả bệnh Dupuytren được công bố lúc ông 55 tuổi và, mặc dầu đã được trình bày bởi những thầy thuốc khác, bệnh này vẫn đáng được mang tên ông bởi vì ông là người đầu tiên thấy ở đó một thương tổn cân mạc (lésion aponévrotique), chứ không phải một thương tổn gân cơ (lésion tendineuse). Được dịch ra tiếng Anh, sự khám phá của ông được công bố trong The Lancet. Ẩn bản lần thứ hai của Leçons orales de clinique chirurgicale, được công bố sau khi ông qua đời, chứa 17 trường hợp co cứng, gồm căn nguyên, triệu chứng học, chẩn đoán phân biệt và điều trị bằng aponévrotomie.
MỘT VINH QUANG QUÁ NGẮN NGỦI.
Vua Louis XVIII chọn ông làm thầy thuốc ngoại khoa riêng và phong ông làm nam tước (baron). Dupuytren sau đó là nhà giải phẫu của vua Charles X, được thể hiện trên một bức tranh ở viện bảo tàng Carnavalet, trong một cử tọa tham gia một cuộc mổ đục thủy tinh thể. Với khả năng thăm khám 10.000 bệnh nhân mỗi năm, ông trở thành người giàu có nhất trong thời đại ông. Nhưng vào lúc ông được 55 tuổi, Dupuytren bị một đột qụy ngay đang khi lên lớp và cố đứng vững cho đến cuối bài thuyết trình của mình. Từ đó ông bị giảm sức và một năm sau, ông vứt gant mổ và từ bỏ các chức vụ của mình. Ông còn đi du lịch đó đây và được nhiệt liệt hoan hô ở Ý. Lúc trở về, sức khỏe của ông kém dần và ông qua đời lúc được 58 tuổi. Ông để lại 200.000 franc cho đại học y khoa Paris để xây dựng viện bảo tàng cơ thể bệnh lý Dupuytren, luôn luôn mở cửa cho tất cả mọi người.
(LE GENERALISTE 6/10/2011)

9/ BENZODIAZEPINES VÀ ALZHEIMER : MỘT MỐI LIÊN HỆ KHÔNG ĐƯỢC XÁC LẬP.
GS Frédéric Rouillon, trưởng khoa Lâm sàng các bệnh tâm thần và não bộ của bệnh viện Sainte-Anne, trả lời những lo âu gây nên do sự quảng bá của giới truyền thông về một mối liên hệ khả dĩ giữa các thuốc hướng tâm thần (psychotropes) và bệnh Alzheimer.
Hỏi : Một công trình nghiên cứu của Bordeaux về những thuốc hướng tâm thần (psychotropes), rất được quảng bá trong giới truyền thông, làm lo âu các bệnh nhân đang được điều trị. Những loại thuốc nào bị lien hệ ?
GS Frédéric Rouillon. Đã có một sự lộn xộn, trong sự truyền đạt trực tiếp cho đại chúng, về những kết quả của công trình nghiên cứu này. Nhiều bệnh nhân đã nghĩ là hiểu được rằng tất cả các lớp thuốc được kê toa đối với những bệnh của não bộ (các thuốc chống trầm cảm, các thuốc chống loạn tâm thần) đều bị liên lụy. Phải xác định rõ ràng công trình nghiên cứu này không liên hệ đến tất cả các thuốc hướng tâm thần (psychotropes) nhưng chỉ một họ trong số những thuốc này mà thôi : các benzodiazépines. Đó chủ yếu là những thuốc ngủ (somnifères)và những thuốc an thần (tranquillisants) mà nước chúng ta là nước tiêu thụ số 1 của châu Âu !
Hỏi : Những kết quả của công trình nghiên cứu này có đề cập một sự gia tăng 50% nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer với benzodiazépines. Nhiều bệnh nhân, không hiểu ngôn ngữ khoa học, đã nghĩ rằng họ có 50% nguy cơ mắc phải bệnh này.
GS Frédéric Rouillon. Dĩ nhiên những kết quả thống kê này không có nghĩa là một nửa trong số những người được điều trị bởi benzodiazépine sẽ bị ảnh hưởng bởi bệnh lý này, nhưng nguy cơ mà những người này phải chịu được nhân lên 0,5 lần ! Hãy lấy thí dụ một căn bệnh mà tần số xuất hiện trong dân chúng là 2%. Nếu một công trình nghiên cứu cho thấy rằng một yếu tố gia trọng gây nên một sự gia tăng 50% nguy cơ, điều này muốn nói rằng tần số của bệnh này sẽ chuyển qua 3%.
Hỏi : Sự lẩn lộn này có lẽ là do sự kiện các kết quả của công trình nghiên cứu này đã được thông báo trực tiếp cho đại chúng. Thường thường, protocole cần tôn trọng bởi các nhà nghiên cứu là gì ?
GS Frédéric Rouillon. Khi những công trình của một nhóm nghiên cứu đưa đến những kết luận, thủ thuật cổ điển là đề nghị những kết luận này, trong thời gian đầu, cho một tạp chí khoa học, mà ủy ban đọc (comité de lecture) sẽ đánh giá chất lượng và khả năng chúng sẽ được công bố hay không. Chính sau khi được công bố cho giới y khoa các nhà báo của những tờ báo lớn mới có thể cho độc gia tiếp cận. Rồi, để cho những kết quả này được đánh giá là hoàn toàn có tính chất thuyết phục, chúng phải được xác nhận bởi những công trình nghiên cứu khác. Nhưng, vài nhà báo đã không tôn trọng lịch trình của các nhà nghiên cứu !
Hỏi : Trong những trường hợp nào ta kê đơn những benzodiazépines ?
GS Frédéric Rouillon. Những thuốc hiện đang được sử dụng nhất, như flunitrazépam (Rohypnol), bromazépam (Lexotan), lorazépam (Témesta) tác dụng lên vài thụ thể của não bộ trong mục đích hủy bỏ tình trạng lo âu (anxiété) và mất ngủ. Trong đại đa số các trường hợp, những điều trị này phải được cho trong một thời gian ngắn (một đến vài tuần). Việc tiếp tục phải được đánh giá lại bởi thầy thuốc.
Hỏi : Tại sao những thuốc benzodiazépine này phải được cho trong một thời gian ngắn ?
GS Frédéric Rouillon : Mặc dầu những loại thuốc này thường đuợc dung nạp tốt, chúng vẫn có thể gây nên ở vài bệnh nhân những tác dụng phụ : ngủ gà ban ngày, chóng mặt, sự mất điều hòa vận động, khó tập trung, rối loạn trí nho…và nhất là sự phụ thuộc thuốc. Vậy cần phải ngừng thuốc dần dần để tránh sự tái xuất hiện của các triệu chứng hay hội chứng cai thuốc (syndrome de sevrage) (tình trạng dễ bị kích thích, chảy mồ hôi, nôn) càng thường xảy ra nếu bệnh nhân đã tiêu thụ một loại benzodiazépine trong hơn 3 tháng. Trong trường các rối loạn vẫn tồn tại, ta có thể xét đến một loại thuốc hướng tâm thần khác (như các thuốc chống trầm cảm, một thuốc an thần không phải benzodiazépine…) hay một tâm lý liệu pháp.
Hỏi : Nhưng những thuốc chống trầm cảm cũng không phải là không có những tác dụng phụ.
GS Frédéric Rouillon : Về lâu về dài, những thuốc chống trầm cảm (antidépresseurs) đối với những bệnh nhân lo âu có hiệu quả hơn các benzodiazépines. Ta có thể so sánh các benzodiazepines với aspirine được cho trong trường hợp sốt và các thuốc chống trầm cảm với các thuốc kháng sinh, sẽ điều trị nguyên nhân. Không có thuốc nào là không có những nguy cơ : phải cân bằng những nguy cơ này với những lợi ích được mong chờ.
Hỏi : Hôm nay ý kiến của các thầy thuốc chuyên khoa thần kinh và tâm thần về mốỉ liên hệ giữa các benzodiazépines và nguy cơ bị bệnh Alzheimer là gì ?
GS Frédéric Rouillon : Các kết quả có được cho đến nay không cho phép xác lập một cách không bác được rằng một điều trị với benzodiazépines là một trong những nguyên nhân của bệnh Alzheimer. Nhưng, nếu cuộc luận chiến này có thể làm cho người Pháp sử dụng chúng một cách hợp lý hơn, thì điều đó quả là hữu ích !
(PARIS MATCH 20/10 – 26/10/2011)

10/ MIỄN DỊNH LIỆU PHÁP ĐẦY HỨA HẸN CHỐNG BỆNH BẠCH CẦU
CANCEROLOGIE. Một nhóm nghiên cứu Hoa Ky đã thành công biến đổi khả năng phòng vệ tự nhiên (défenses naturelles) của hai bệnh nhân để chúng có thể tiêu diệt các khối u. Một năm sau các bệnh nhân vẫn luôn luôn trong tình trạng thuyên giảm hoàn toàn.
Biến đổi về mặt di truyền các tế bào bạch cầu của các bệnh nhân ung thư để chúng tấn công các tế bào ung thư. Nhờ thích ứng kỹ thuật miễn dịch liệu pháp (immunothérapie) này, Michael Kalos và các đồng nghiệp của đại học Pennsylvanie vừa thu được những kết quả ngoạn mục lên bệnh bạch cầu lympho mãn tính (leucémie lymphoide chronique), dạng phổ biến nhất của các ung thư máu : đối với hai trong ba bệnh nhân được điều trị như thế, tất cả các dấu hiệu của bệnh đã biến mất. Một năm sau, những bệnh nhân này vẫn luôn luôn trong tình trạng thuyên giảm hoàn toàn.
Bệnh bạch cầu lympho mãn tính (LLC) được đặc trưng bởi một sự tăng sinh bất thường của vài bạch cầu, các tế bào lympho B. Để tấn công chúng một cách trúng đích chừng nào có thể được, các thầy thuốc trước hết đã trích trong cơ thể những bạch cầu khác, những tế bào lympho T. Sau đó, nhờ một virus vô hại, các thầy thuốc đã đưa vào trong génome của những tế bào lympho T này một cấu tạo di truyền đặc biệt : cấu tạo này cho phép các tế bào lympho T gắn vào một protéine được gọi là CD 19, hiện diện trên bề mặt của các tế bào lympho B. Sự gắn vào này có hai hậu quả : tế bào lympho T phá hủy tế bào lympho B và tăng sinh. Sau cùng, các tế bào lympho T bị biến đổi đã được tiêm vào trong cơ thể của ba bệnh nhân.
Coctail génétique đổi mới này đã tỏ ra rất có hiệu quả. Thật vậy, số các tế bào lympho T được biến đổi đã được nhân lên 1000 lần sau khi được tiêm vào cơ thể của các bệnh nhân và hoạt tính của chúng đã kéo dài trong máu và tủy xương hơn 6 tháng. Ngoài ra, mỗi trong những tế bào lympho này đã làm chết ít nhất 1000 tế bào ung thư. Sau cùng, gần 1 kg khối u đã bị phá hủy ở mỗi trong 3 người tình nguyện ! “ Từ lâu các nhà khoa học tìm cách khai thác sức mạnh của hệ miễn dịch để chống lại các ung thư, như ung thư bạch cầu (leucémie), Sébastien Maury, thầy thuốc chuyên khoa huyết học thuộc bệnh viện Henri-Mondor de Créteil và chuyên gia về miễn dịch liệu pháp của Inserm, đã xác nhận như vậy. Nhưng mãi cho đến nay, các nhà khoa học đã không thành công nhắm đích một cách đúng đắn khối u ung thư, và duy trì hoạt động của các tế bào lympho T được sử dụng trong cơ thể của các bệnh nhân.”
Bây giờ vấn đề còn lại là phải xác nhận sự thành công này trên một số lượng những bệnh nhân lớn hơn. Có lẽ cũng phải cải thiện phương thức để ngăn cản một sự phá hủy quá quan trọng những tế bào lympho B lành mạnh, cần thiết để chống lại các nhiễm trùng. “ Nhưng nhờ những kết quả gây ấn tượng này, kỹ thuật có thể được trắc nghiệm một cách nhanh chóng ở những giai đoạn ít tiến triển hơn của bệnh, Valérie Lapierre, thầy thuốc điều trị tế bào (thérapeute cellulaire) thuộc Viện Gustave-Roussy de Villejuif, đã đánh giá như vậy. Hiện nay kỹ thuật điều trị này trước hết là một hy vọng thật sự đối với những bệnh nhân đề kháng với hóa học liệu pháp ; trong trường hợp này ghép tủy xương từ một người cho tương hợp (donneur compatible) là điều trị duy nhất. ” Thế mà đây là một cuộc giải phẫu rất nhiều nguy cơ nhưng chỉ có hiệu quả trong 50% các trường hợp.
(LA RECHERCHE 10/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/11/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s