Thời sự y học số 243 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ HÁNG : CÁC KHỚP GIẢ ĐƯỢC THÍCH ỨNG HƠN.
Sự kiện làm ngừng đau đớn khiến càng ngày càng có nhiều bệnh nhân trẻ muốn được thay khớp háng giả (prothèse de la hanche).
CHIRURGIE. Mặc dầu 140.000 khớp háng giả toàn bộ (PTH : prothèse totale de hanche) được đặt mỗi năm ở Pháp mang lại lợi ích chủ yếu cho những người vượt qua 60 tuổi và đôi khi những người 90 tuổi, nhưng càng ngày càng nhiều những người trưởng thành còn trẻ thích được mổ không phải đợi chờ hơn là phải chịu giảm hoạt động vì lý do đau đớn.
Là nguồn cung cấp chủ yếu các ứng viên cho phẫu thuật, bệnh hư khớp háng (arthrose de la hanche) hay coxarthrose, là do sự hao mòn của các sụn của chỏm xương đùi và của ổ cối (cotyle), xoang khớp háng trong đó chỏm xương đùi được đưa vào. “ Hư khớp háng có thể là do những đặc điểm cơ thể học, những dị tật nhỏ xíu, những rối loạn tăng trưởng xương trong thời kỳ thơ ấu hay là hậu quả của một tai nạn, GS Philippe Massin, thầy thuốc giải phẫu chỉnh hình (CHU Bichet, Paris) đã giải thích như vậy. Vài người bị béo phì và việc luyện tập tích cực nhiều loại thể thao (bóng đá, karaté) cũng có thể gây nên hư khớp háng. Ngày xưa là nguyên nhân chính của hư khớp háng, bệnh trật khớp háng bẩm sinh (luxation congénitale de la hanche) đã thoái triển nhiều từ khi ta biết điều tra phát hiện nó lúc trẻ sinh ra đời, mặc dầu chứng bệnh này vẫn còn được thấy ở những người già.

“ NHỒI MÁU XƯƠNG ”
Một chỉ định khác của khớp háng giả toàn phần là hoại tử chỏm xương đùi (nécrose de la tête du fémur). Mặc dầu có nguồn gốc mạch máu, nhồi máu xương này có thể có nguyên nhân là chứng nghiện rượu, dùng thuốc corticoides, một tai biến lúc lặn (accident de plongée) hay một tăng triglycéride-huyết.
Mặc dầu từ lâu khớp háng giả toàn phần là quy tắc trong vài bệnh mãn tính, nhưng nó cũng được sử dụng trong chấn thương xương chậu, và càng ngày càng nhiều trong những trường hợp gãy cổ xương đùi bởi vì nó cho phép một sự phục hồi nhanh hơn so với một khớp giả không hoàn toàn và tránh được các hoại tử xương.
Khớp giả thay thế phần trên của xương đùi (cổ và đầu xương đùi được cắt bỏ), và ổ cối (cotyle), xoang khớp háng của khung chậu. Trục đứng (pivot), được đẩy vào trong ống tủy cửa xương đùi, được cấu tạo bằng chất titane nếu nó chạm vào trong xương và xương được tái tạo chung quanh, hay bằng thép inoxidable nếu nó được gắn bằng chất ciment. Được đưa lên thân trục này, một đau khớp giả đến khớp vào trong một cupule được gắn vào trên ổ cối (cotyle). Thành phần của hai mặt khớp (couple de frottement), thay đổi tùy theo các khớp giả : kim loại trên polyéthylène, gốm (céramique) trên polyéthylène, kim loại trên kim loại hay gốm trên gốm…
“ Can thiệp kéo dài khoảng 1giờ 30, dưới gây tê tại chỗ-vùng (anesthésie loco-régionale), tương tự một péridurale, hay với gây mê tổng quát. Gây mê tại chỗ vùng hủy bỏ đau đớn, nhưng không hủy bỏ những tension mécanique và những tiếng ồn, và vài bệnh nhân thích được gây mê hoàn toàn hơn, GS Migaud, thầy thuốc ngoại chỉnh hình (CHU Lille) đã xác nhận như vậy. Lúc mở đường vào khớp cửa hàng không phải dễ. “ Mỗi phẫu thuật viên có lối vào (voie d’abord) ưa thích của mình, trước, trước-ngoài, sau-ngoài…tất cả đều có ưu điểm và khuyết điểm, và bắt buộc một đường vào nào cả, GS Massin đã chỉ rõ như vậy. Điều chủ yếu là phẫu thuật viên nắm vững kỹ thuật của mình, nghĩa là kỹ thuật thường áp dụng khi mổ. ”
TUỔI THỌ 20 NĂM
Nhập viện kéo dài 4 đến 5 ngày nếu mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Nhờ điều trị giảm đau, người được mổ thường thực hiện những bước đầu tiên với đôi cannes ngay ngày hôm sau của giải phẫu, và sự tái tục hoạt động hoàn toàn trong 3 tháng, một trên hai không cần những buổi phục hồi chức năng (rééducation). “ Nhưng ngoại khoa gần như ngoại trú (chirurgie ambulatoire) như ở Hoa kỳ, ở đây người ta có cho bệnh nhân xuất viện ngay hôm mổ, đã là một thất bại, GS Philippe Anract, thầy thuốc ngoại khoa chỉnh hình (CHU Cochin, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Tất cả chúng tôi tìm cách ưu tiên động tác ít xâm nhập nhất. Nhưng như thế không có nghĩa là càng ngày càng phải làm giảm đường mổ vào khớp, bằng mọi giá làm cho vết sẹo nhỏ nhất, để rồi không thể đặt khớp giả vào khớp một cách đúng đắn và sau đó phải mổ lại.” Nếu được thích ứng và đặt tốt, một khớp háng giả kéo dài ít nhất 20 năm.
Mặc dầu rất được tiêu chuẩn hóa, mặc dầu được thực hiện trong những điều kiện vô trùng nghiêm túc, phẫu thuật này vẫn có những biến chứng, mặc dầu tỷ lệ ở mức tối thiểu đối với những kíp mổ tốt nhất : viêm tĩnh mạch (phlébite) (dưới 0,4%), mà ta hạn chế bằng cách cho bệnh nhân bước trở lại tức thì và điều trị kháng đông, trật khớp giả (luxation sur prothèse) (dưới 1%) và nhiễm trùng (dưới 0,3%), được ngăn ngừa bởi kháng sinh và thay đổi nhiều tùy theo năng lực của các kíp mổ. Chứng béo phì, bệnh đái đường là những yếu tố nguy cơ.
CÁC TIẾN BỘ
Đối với GS Migaud, khớp háng giả toàn bộ đã trải qua nhiều tiến triển trong những năm qua. “ Khớp giả không ciment đã làm giảm thời gian mổ. Sự phát triển khớp giả với khả năng chuyển động kép (prothèse à double mobilité) (chỏm xương đùi đến khớp vào trong một cupule trung gian còn cupule này di động trong cupule được gắn vào ổ cối của khung chậu) đã làm giảm rất nhiều nguy cơ trật khớp. Tiến triển thứ ba, còn ít phổ biến ở Pháp, đó là resurfaçage, trong đó xương đùi được bảo tồn toàn bộ, và khớp giả toàn bộ được gắn như một capuchon lên đầu xương. Rất kỹ thuật, phương pháp này chỉ áp dụng cho những người có xương bị hao mòn nhưng vẫn lành mạnh và cho phép một sự phục hồi nhanh hơn đồng thời gìn giữ vốn xương (capital osseux), dành cho những phẫu thuật trong tương lai nếu xảy ra. ”
(LE FIGARO 19/9/2011)

2/ CÁC KHỚP HÁNG GIẢ : NHỮNG VẬT LIỆU THƯỜNG XUYÊN TIẾN TRIỂN
Mặc dầu những toan tính thiết đặt khớp háng giả đã bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, nhưng phải đợi đến đầu những năm 60 để chúng thật sự trở nên có có chức năng. Từ đó các tiến bộ đã diễn ra thường xuyên, nhất là những tiến triển trong lãnh vực các vật liệu tạo các mặt khớp. Ngày nay, các khớp háng giả sử dụng 3 loại “cặp cọ sát ”(couple de frottement) khác nhau.
CERAMIQUE (GOM), VẬT LIỆU CHUẨN
Một trong những cặp cọ sát xưa nhất là cặp “ cứng-mềm (couple dur-mou), với chỏm xương đùi bằng thép ionxydable, bằng cobalt hay céramique, khớp với, về phía khung chậu, trong một cupule bằng polyéthylène được gắn ciment vào ổ cối (cotyle). “ Đó là cặp quy chiếu, với một thời gian nhìn lại 25 năm ”, GS Moussa Hammadouche (CHU Cochin) đã nhấn mạnh như vậy. Những hạn chế chủ yếu, polyéthylène hao mòn, do đó cần phải mổ lại sau một khoảng thời gian khoảng 15 năm, và phóng thích những mảnh vỡ có khả năng tạo một tình trạng tiêu xương (ostéolyse). Để tránh tình trạng tiêu xương này người ta đã chế tạo polyéthylène rất nối kết (hautement réticulé) : bằng cách làm lan tỏa (irradier) vật liệu này, để làm cho nó đề kháng với sự hao mòn. “ Với một thời gian nhìn lại 10 năm, tình trạng hao mòn đã giảm bớt một cách rõ rệt, và không còn tình trạng tiêu xương nữa ”, thầy thuốc ngoại chỉnh hình đã xác nhận như thế.
Cặp gốm-gốm (couple céramique-céramiqe) cũng đã mang lại nhiều tiến bộ. Đó là cặp được sử dụng nhất hiện nay. “ Cặp này hầu như không bị mòn và những mảnh vỡ hiếm hoi là những chất trơ (inerte), GS Migaud đã chỉ rõ như vậy. Những trường hợp bị vỡ, ngoại lệ, chủ yếu tùy thuộc vào phẫu thuật viên. Trong 1 đến 2% cac trường hợp có thể xuất hiện một tiếng kêu cọt kẹt dai dẳng của khớp giả, đôi khi rất khó chịu và cân phải mổ lại. ”
KIM LOẠI GÂY THẤT VỌNG.
Cặp kim loại-kim loại (couple métal-métal), sau một thời kỳ rất được hâm mộ, đã biến mất trong những năm 1975, bởi vì chất lượng của vài khớp giả gây thất vọng. “ Ngoài ra hợp kim chrome-cobalt phóng thích một ít chrome và cobalt trong máu. Nhưng registre scandinave đã cho thấy rằng không có một nguy cơ sinh ung thư nào ”, GS Migaud đã giải thích như vậy. Cặp kim loại-kim loại đã được đưa vào sử dụng lại 20 năm sau.
Trong những năm qua, một khớp giả kim loại-kim loại, ASR hiệu DePuy (chi nhánh Johnson & johnson) đã bị nhiều biến chứng, nguyên nhân của một tỷ lệ cao những trường hợp phải mổ lại (12%). Những biến chứng đã khiến nhà chế tạo phải rút những khớp giả này ra khỏi thị trường vào năm 2010. Nhiều vụ kiện đang được tiến hành, nhất là ở Hoa Kỳ và Đức. Ở Pháp lúc những khớp giả thuộc loại này được rút ra khỏi thị trường, vào tháng 7 năm 2010, giới hữu trách y tế chỉ được biết 5 trường hợp báo cáo của cơ quan cảnh báo vật liệu (matériovigilance) đối với 379 khớp giả thuộc loại này. “ Rất được sử dụng làm khớp háng giả cổ điển và resurfaçage ở Hoa Kỳ và Anh Quốc nhưng ít được dùng ở Pháp, các khớp giả kim loại-kim loại có đầu to (prothèse métal-métal à grosse tête) đã cho những kết quả đầy tai họa, với nhiều trường hợp phải mổ lại sớm, GS Hammadouche đã xác nhận như vậy. Những hậu quả khác được quan sát thấy với nhiều cặp kim loại-kim loại, “ những phản ứng dị ứng nhất à ở những phụ nữ trẻ và những u giả hiền tính nhưng gây hủy hoại, GS Massin đã nói thêm như vậy.
Trong việc chế tạo các khớp giả cũng đã đạt nhiều tiến bộ. Khớp giả được gắn bằng xi măng vẫn giữ vị trí ưu tiên. Đối với GS Hammadouche, “ theo các registre scandinave, kỹ thuật gắn vào xương đùi bằng chất xi măng là kỹ thuật đáng tin cậy nhất về lâu về dài, mặc dầu kỹ thuật này đang thụt lùi ở Hoa Kỳ và Pháp.”. Về mặt xương háng, xi măng cũng được ưa thích hơn ở những bệnh nhân già có xương quá mảnh đến độ không thể gắn cupule bằng một cách nào khác. Ưu điểm của gắn khớp giả vào xương đùi không cần chất xi măng (fixation sans ciment) làm thu giảm thời gian giải phẫu và có được một độ cứng rất lớn: trục đứng (pivot), được đẩy vào trong ông tủy xương đùi (canal fémoral), được làm bằng hợp kim titane được bọc bởi hydroxyapatite rất thích xương (ostéophyle). Quá trình tạo xương trong ba tuần sau cùng gắn chặt khớp giả vào xương đùi. Khuyết điểm : đau dai dẳng ở đùi ở vài bệnh nhân.
(LE FIGARO 19/9/2011)

3/ VÒI FALLOPE
Fallope đã mô tả những cấu trúc đa dạng như corde du tympan, những dây thần kinh của nhãn cầu, cơ vòng bàng quang (sphincter vésical), sự phân bố mạch (vascularisation) của dương vật hay mầm răng (germe dentaire). Được mệnh danh là “ Esculape của thế kỷ của ông ”, Fallope nổi tiếng chủ yếu qua những phát hiện về tính chất sâu kín của phụ nữ và của lứa đôi.
Đó là lời bình luận mà ta tìm thấy trong “ Đại tự điển lịch sử hay sự pha trộn kỳ lạ của lịch sử thiêng liêng và phàm tục ” xuất bản năm 1740, cho thấy rằng, rất nhanh chóng, vòi trứng (trompe) và Fallope đã không tách rời nhau : “ Fallopio (Gabriel), thầy thuốc nổi tiếng sinh ở Modène năm 1523, đã theo học thực vật học, thiên văn học, triết học và nhất là cơ thể học, mà ông đã làm phong phú với những quan sát lỗi lạc… Ông đi khắp một phần lớn châu Âu, và bằng công trình của mình ông đã len lỏi vào trong những bí mật sâu kín nhất của thiên nhiên. Ông đã hành nghề y khoa với nhiều danh tiếng, và được tiếng là một trong những thầy thuốc khéo léo nhất của thời đại mình. Ta chịu ơn ông về sự khám phá các vòi (tubes) hay sừng (cornes) của dạ con, qua đó trứng, mà bây giờ phần lớn các thầy thuốc tin rằng con người được tạo nên, đi xuống từ các buồng trứng để vào tử cung, và ta gọi, vì ông, là các vòi Fallope.
THẦY THUỐC NGOẠI KHOA THẤT BẠI, NHÀ CƠ THỂ HỌC THÀNH CÔNG.
Con trai của Geronimo và Caterina Fallopio, Gabriel trước hết đã được dạy dỗ một cách cổ điển, nhưng vào lúc cha ông qua đời, mẹ ông gặp khó khăn lớn về tài chánh và lối thoát duy nhất là phải hành nghề trong giới tăng lữ. Do đó ông trở thành linh mục trong thành phố quê ông, Modène (Y), vào năm 1542, lúc mới 19 tuổi. Nhờ một bước ngoặc nhỏ của số mệnh, ông có thể tài trợ dự định của mình, học y khoa ở thầy Niccolo Machella. Ông này cho phép ông phẫu tích tử thi đầu tiên của mình hai năm sau đó. Tuy nhiên ông sống trong một tình trạng hết sức khốn cùng và chỉ kiếm đủ sống nhờ hành nghề y khoa. Bất hạnh thay cho các bệnh nhân của ông, ông ít có thiên khiếu đến độ nhiều trong số các bệnh nhân của ông bị chết. Ông quyết định bỏ khoa ngoại để theo cơ thể học (anatomie) và các phẫu tích (dissection), mặc dầu ông rất quan tâm đến phát minh những kỹ thuật ngoại khoa mới. Ông được bổ nhiệm làm trưởng bộ môn dược học ở Ferrare rồi bộ môn cơ thể học ở Đại học Pise trong khi ông chỉ mới 26 tuổi. Ở Florence, ông phẫu tích các xác chết của các con sư tử của vườn bách thú Medici và ông nói ngược lại Aristote, vốn mô tả xương là hoàn toàn rắn và không có tủy.
NHỮNG PHÁT HIỆN CỦA CƠ THỂ CON NGƯỜI.
Năng khiếu về cơ thể học của ông khiến người ta nghĩ rằng ông thực hiện giải phẫu sống (vivisection) trên người, nhưng dầu những lời cáo buộc này, ông vẫn được bổ nhiệm làm trưởng bộ môn cơ thể học, lần này ở Padoue, lúc ông được 27 tuổi. Những bài giảng của ông thành công đến độ chúng thu hút những sinh viên ưu tú, ngay cả các nhà cơ thể học. Giới hữu trách đại học lại tin tưởng ông và danh tiếng của ông không những được các ông hoàng biết đến mà ngay cả giáo hoàng Jules III. Gabriel Fallopio được gọi là “ Fallopius ”, là nhà phẫu tích (dissecteur) tỉ mỉ, không những nghiên cứu trên người mà còn cả các trẻ em, nhũ nhi và thai nhi. Ông mô tả những nếp gấp của ruột non, sự phát triển của xương và răng còn giỏi hơn điều mà André Vésale đã từng làm và đua tranh với Eustachi trong những mô tả của ông về bộ máy tiết niệu và tai. Nhưng chính trong lãnh vực phụ khoa mà ông là người đổi mới nhất lúc mô tả những vòi nổi tiếng mà ông gọi là “ vel tubae ” do hình dáng loe ra của loa vòi (pavillon), âm vật (clitoris), và ngay cả màng trinh của các trinh nữ, bị tranh cãi hơn nhiều. Chính ông cũng phát minh ra chữ âm đạo (vagin) và bác bỏ quan niệm cho rằng dương vật đi vào trong tử cung trong lúc giao hợp.
MỘT TRỰC GIÁC THIÊN TÀI.
Ông xuất bản cuốn sách duy nhất của ông lúc còn sinh thời, “ Observationes anatomicae ” và phải cần đúng 10 năm để tập hợp sau đó những điều ghi chép và gìn giữ tư tưởng của ông. Tất các các vấn đề đều được đề cập đến, chủ yếu trong cơ thể học, nhưng cũng về bệnh giang mai, balnéologie (nghệ thuật điều trị bằng nước nguồn y khoa), ngoại khoa, thành phần của các loại thuốc… sự quan tâm của ông đối với bệnh giang mai, trở thành dịch bệnh ở Âu Châu thời đó, đã thúc đẩy ông chế tạo một hệ thống bảo vệ. Bao dương vật (préservatif) sau đó được thử trên 1000 người đàn ông nhưng không gây nên sự lây nhiễm. Đó là một bao vải (fourreau d’étoffe), được đo theo từng cá thể, và được thắt dưới bao quy đầu bằng một dải hồng, để làm tình. Vì ít kín, nên bao dương vật này đã không được thành công lắm và cho đến mãi thế kỷ XIX mới biến mất. Lúc này bá tước Condom đề nghị nó với vua Charles II nhưng người ta không biết có phải là Fallopius đã gợi ý hay không. Gabriel Fallopio chết ở Padoue năm 1562 vì bệnh tràn dịch màng phổi do lao, lúc ôngchỉ mới 39 tuổi.
(LE GENERALISTE 8/9/2011)

4/ GIẾT CHẾT BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT TRONG TRỨNG NƯỚC

Sử dụng một vi khuẩn để đẩy lùi sự tăng sinh của muỗi truyền virus của bệnh dengue, đó là điều mà những nhà khoa học người Úc vừa thực hiện. Và họ đã không những thực hiện điều này ở phòng thí nghiệm, mà còn cả trong thiên nhiên bằng cách thả hàng ngàn con muỗi trong tỉnh Queensland. Những con muỗi này đã phát triển lấn át những con muỗi truyền thống. Bằng cách sử dụng những con muỗi này, mà khả năng truyền bệnh bị hủy bỏ, các nhà khoa học hy vọng đẩy lùi một căn bệnh gây nhiễm cho hơn 50 triệu người.
Ngoài việc sử dụng mùng và các chất đuổi muỗi (répulsifs), ta không chống lại được muỗi Aedes aegypti bao nhiêu. Loại muỗi này bị nhiễm virus bệnh sốt xuất huyết đồng thời được nuôi dưỡng nhờ máu người và sau đó tại gây nhiễm cho một người khác.
MỘT PEMIERE MONDIALE
Các nhà khoa học, công bố hôm nay trong Nature các kết quả của nghiên cứu, đã có ý tưởng sử dụng một vi khuẩn, Wolbachia, để gây nhiễm con muỗi. Trước hết họ đã sử dụng một giống gốc được biến đổi, chia đôi thời gian sống của các con muỗi, đi từ 30 xuống còn 15 ngày, điều này có nghĩa là một sự giảm các nguy cơ lan truyền của bệnh.
Nhưng điều đó không đủ : do đó các nhà nghiên cứu đã nhận diện một biến thể của vi khuẩn, có tính chất tuyệt vời làm giảm rất nhiều lượng virus của bệnh dengue mà các côn trùng mang trong các tuyến nước bọt. Ngoài ra, loại vi khuẩn này còn có đặc điểm ngăn cản sự sản xuất trứng khi một con đực bị nhiễm giao cấu với một con cái không bị nhiễm. Đó là điều giải thích sự tăng sinh của dân số các con muỗi bị nhiễm bởi Wolbacteria khi các nhà khoa học thực hiện những thử nghiệm trong vùng Cairns, là nơi mỗi năm những trường hợp bệnh sốt xuất huyết được nhập cảng từ tiểu lục địa châu Á được chứng thực, GS Yves Van Laethem, thầy thuốc chuyên khoa các bệnh nhiễm trùng thuộc bệnh viện Saint-Pierre (Bruxelles) đã giải thích như vậy. Các con muỗi được đưa vào trong môi trường đã phát triển đến độ chiếm 100% dân số muỗi ở một nơi và 80% ở một nơi khác. “ Thoạt đầu, việc dùng vi khuẩn này không gây nguy cơ đối với người hay những côn trùng khác, nhưng dĩ nhiên điều này cần được kiểm tra. Cũng phải đảm bảo rằng kết quả là không có sự lan truyền bệnh sốt xuất huyết, nhưng đó là điều khả dĩ, vì lẽ virus không hiện diện trong nước bọt. Loại biến đổi này có thể được sử dụng để chống lại những virus khác, như virus của sông Nil, hiện diện ở vùng đông nam châu Âu.” Công trình này là trường hợp đầu tiên biến hóa một côn trùng hoang dã để làm giảm khả năng là một vecteur truyền bệnh cho người.
(LE SOIR 26/8/2011)

5/ CHỨNG CHÁN ĂN TÂM THẦN (ANOREXIE MENTALE)

+ Chứng chán ăn tâm thần là gì ?
Chán ăn (anorexie) là một rối loạn về hành vi ăn uống (trouble du comportement alimentaire). Chẩn đoán được xác lập khi được phối hợp : mất cân dưới 85% thể trọng tối thiểu bình thường ; một sự sợ bị béo phì quá mức ; chối là không phải gầy gò ; sự mất kinh nơi một cô thiếu nữ, và một trong những yếu tố sau đây : hoặc là một chế độ ăn uống hạn chế (régime restrictif), hoặc những cơn ăn vô độ (boulimie) rồi gây mửa hay sử dụng các thuốc xổ. Tình trạng suy dinh dưỡng tiếp theo sau nói chung được biểu hiện bởi rụng tóc, mệt mãn tính, tình trạng khó ở, các rối loạn đường ruột, sự mất nước, một nồng độ cholestérol tăng cao, sự mất canxi (décalcification), sụt huyết áp. Và tiên lượng thật là nghiêm trọng : Trong khi 40% bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh lành lặn, 40% vẫn giữ những triệu chứng đôi khi gây phế tật, và 20% vẫn chán ăn kinh niên, với những biến chứng có thể gây chết người.
+ Những ai bị liên hệ bởi chứng bệnh này ?
Tần số bệnh trong dân chúng thay đổi tùy theo các phương pháp được sử dụng để phát hiện (trắc nghiệm, ngưỡng trọng lượng). Nhưng các con số cho thấy rằng tần số quan trọng hơn ở các phụ nữ (9 đến 10 lần nhiều hơn). Ở các phụ nữ ta ước tính tỷ lệ lưu hành là từ 0,9 đến 2,2% với hai đỉnh cao từ 14 đến 18 tuổi. Tỷ lệ này có thể rất trầm trọng : theo các công trình nghiên cứu, tỷ lệ tử vong là từ 6 đến 9 lần quan trọng hơn đối với những người khác cùng lứa tuổi. Và, như Nathalie Godart, thầy thuốc tâm thần thuộc khoa tâm thần của Institut mutualiste Montsouris (Paris) đã nhấn mạnh, “ mặc dầu từ lâu ta hằng nghĩ rằng bệnh này chỉ liên quan đến các tầng lớp xã hội khá giả, nhưng bây giờ ta cũng biết rằng bệnh chán ăn tâm thần cũng có thể ảnh hưởng tất cả mọi người, ở Pháp cũng như những nơi khác. ”
+ Những nguyên nhân là gì ?
“ Không có sự giải thích đồng nhất ”, thầy thuốc tâm thần Nathalie Godart đã nhấn mạnh như thế. Tuy vậy, mặc dầu nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành, nhưng những nguồn gốc của chứng chán ăn tâm thần vẫn không được biết rõ. “ Ngay khi chứng chán ăn tâm thần được nhận diện vào thế kỷ XIX, các bố mẹ đã bị đánh giá là chịu trách nhiệm đã gây căn bệnh này cho con gái mình, trước khi thế kỷ XX chứng kiến sự xuất hiện của các lý thuyết mà đặc điểm chủ yếu là đưa ra một cái nhìn bệnh lý về gia đình hay vài thành viên trong gia đình ”, Cook-Darzens, thầy thuốc trị liệu gia đình thuộc khoa bệnh lý tâm thần của trẻ em và thiếu niên thuộc bệnh viện Robert René (Paris) đã viết như vậy. Nhưng lý thuyết này ngày nay đã hết thời, mặc dầu, như Nathalie Godart đã giải thích, trong các gia đình của những bệnh nhân chán ăn tâm thần (anorexique) có những người có những khó khăn tâm lý, dầu đó là trầm cảm (dépression), lo âu (anxiété), thậm chí cả chán ăn tâm thần. Nhưng ta không biết đó là nguyên nhân hay hậu quả. “Lý thuyết được nhất trí nhất từ nay, đó là chứng chán ăn tâm thần, cũng như chứng ăn vô độ (boulimie) có những nguyên nhân do nhiều yếu tố ”, thầy thuốc tâm thần nói tiếp.
Đó là những yếu tố di truyền, sinh-thần kinh (neurobiologique), gia đình và văn hóa. Như thế, mặc dầu rối loạn này thường xảy ra hơn ở phụ nữ, nhưng tính chất di truyền của chứng bệnh được ước tính là 70%, mặc dầu không có một công trình nghiên cứu nào liên kết được một cách chắc chắn một gène chính xác với căn bệnh chán ăn này. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã đưa ra vai trò khả dĩ của sérotonine và dopamine, hai messager hóa học của não bộ có can dự trong những hành vi nghiện ngập.
Cũng vậy, vài nhà nghiên cứu tiếp tục nhấn mạnh ảnh hưởng của môi trường gia đình (tình trạng sinh non, cha mẹ ly dị sớm, được bảo vệ quá mức, quá mong chờ sự thành công, các rối loạn tâm thần) hay sự tác động của việc làm tăng giá trị của tình trạng mảnh khảnh trong giới truyền thông. Nhưng nhiên hậu, theo Nathalie Godart, chính tất cả tổng thể những yếu tố này, được liên kết một cách thay đổi, sẽ làm xáo trộn sự phát triển tâm thần (développement psychique) của trẻ em và dẫn đến bệnh chán ăn. Chứng chán ăn tâm thần này thường phát khởi vào tuổi dậy thì, thời kỳ của những đảo lộn sinh học và xã hội, như một toan tính nhằm đáp ứng để tái lập một sự quân bình tâm thần (un équilibre psychique) : thật vậy sự gầy ốm cho phép thoái lui về một giai đoạn phát triển trước và lấy lại sự kiểm soát bản thân mình và các mối quan hệ đối với kẻ khác. Do đó, các vòng tăng cường sinh học và tâm lý (boucles de renforcement biologique et psychologique) có thể duy trì rối loạn này. Nói một cách khác, bệnh chán ăn tâm thần tiến triển cho riêng nó. “ Điều đó phong bế các thanh thiếu niên trong những biểu hiện rất tương tự nhau, trong khi các đoạn đường đời và các lịch sử lại rất khác nhau đối với mỗi người ”, Nathalie Godart đã bình luận như vậy. Bà nhấn mạnh : Nhiên hậu, cái cách mà ta ra khỏi căn bệnh chán ăn tâm thần tùy thuộc cách mà ta đã đi vào nó.” Một điều chứng thực chủ yếu để điều trị, “ đã tiến triển nhiều và phải tiếp tục như thế trong một chiều hướng là chiều hưởng của nhiều chuyên khoa ” (multidisciplinarité)
+ Điều trị như thế nào ?
Từ nay việc xử trí được khuyến nghị liên kết với những professionnel de santé và gia đình như là partenaire thérapeutique. Với, tùy theo mức độ trầm trọng, những điều trị ở hopital de jour hay nhập viện, ở trung tâm chuyên khoa. Ở đây một thầy thuốc tâm thần hay một nhà tâm lý học sẽ can thiệp để làm giảm bớt nỗi đau khổ tâm thần, và một thầy thuốc để điều trị những biến chứng của suy dinh dưỡng. Có hai mục tiêu : giúp đỡ bệnh nhân hiểu và thay đổi hành vi mình, nhưng đồng thời thúc đẩy bệnh nhân cải thiện những quan hệ xã hội và tìm lại sự tự tin.
(SCIENCE ET VIE, HORS SERIE 6/2011)

6/ KHÓI THUỐC ĐỂ LẠI DẤU VẾT.
Một nhóm nghiên cứu Canada cho thấy nơi chuột rằng những tác dụng sinh biến dị (effets mutagènes) của khói thuốc lá tác động lên những tế bào sinh sản và do đó có thể ảnh hưởng lên con cháu sau này.
Ta đã biết rằng thở đều đặn khói thuốc có thể gây nên ung thư và nhồi muá cơ tim. Một công trình nghiên cứu được công bố trong Pnas (Comptes rendus de l’académie des sciences américaines) cho thấy rằng điều đó cũng có thể gây những biến đổi trong hậu duệ, ít nhất là ở chuột. Một nhóm nghiên cứu của đại học Ottawa (Canada) do Carole Yauk điều khiển, đã cho các con chuột tiếp xúc với khói thuốc lá trong 15 ngày, rồi 6 tuần sau đó đã thu nhận các tinh trùng ở giai đoạn cuối của sự phát triển. Sự xem xét một đoạn ADN đã cho thấy rằng nó bị biến dị 4 lần nhiều hơn so với những con chuột đã không thở khói thuốc. Và điều đó xảy ra ngay cả với những liều tiếp xúc thấp, như trường hợp đối với vài chất hóa học hay những rayons ionisants của radioactivité.
Các tác dụng sinh biến dị của nhiễm độc thuốc lá thụ động (tabagisme passif), đã được biết trên những tế bào của cơ thể hay trên em bé trong tử cung, lần đầu tiên được nhận thấy trên những tế bào sinh sản. “ Điều đó xác nhận tính độc hại của thuốc lá trên các tinh trùng, vốn đã được nhận thấy ở những người hút thuốc ”, BS Dominique Lafon, chuyên gia về độc chất học của INRS (Institut national de recherche et de sécurité) để phòng ngừa các tai nạn lao động và những bệnh nghề nghiệp và tác giả của Thai nghén và lao động, những nguy cơ đối với trẻ se sinh ra đời là gì ?, đã nói như vậy. Thật vậy, những người hút thuốc có những bất thường di truyền của các tinh trùng hay của các noãn bào. Điều này giải thích không những khả năng sinh sản kém hơn, mà còn số trường hợp cao hơn bị các ung thư gan, và có lẽ ung thư bạch cầu (leucémie), được quan sát ở các đứa con của họ, điều này đã được chỉ rõ bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư ở Lyon. INRS đã liệt kê hơn 30 chất hóa học làm biến đổi về mặt di truyền các con cháu hậu duệ ở động vật, nhưng không ở người, do khó tiến hành loại nghiên cứu này. Một hậu quả của nhiễm độc thuốc lá thụ động lên hậu duệ cũng có thể xảy ra nơi chúng ta không ? Đối với Carole Yank và kíp nghiên cứu nghi ngờ có vẻ được loại bỏ, và họ kết luận rằng “ sự tiếp xúc với nhiễm độc thuốc lá thụ động nơi người trước khi thụ tinh có lẽ có những hậu quả vượt quá phạm vi của bản thân mình ”.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2011)

7/ SIÊU ÂM ĐỂ QUAN SÁT HOẠT ĐỘNG NÃO BỘ.
Philippe Ryvlin là giáo sư của bệnh viện thần kinh học Lyon và là giám đốc của nhóm nghiên cứu Inserm và CNRS Tiger, chuyên môn trong điều trị bệnh động kinh.
Hỏi : Một kỹ thuật chụp hình ảnh não bộ (imagerie cérébrale) vừa được hiệu chính. Nó cho phép thực hiện điều gì ?
Philippe Ryvlin : Nó cho phép phát hiện điều xảy ra trong não bộ (hiện nay là của chuột) với một độ chính xac chưa từng có và với một échelle de temps 200 mili giây. Điều này cho phép kỹ thuật mới này trở thành một kỹ thuật nhanh hơn nhiều so với chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ chức năng (IRMf : imagerie par résonance magnétique fonctionnelle), hiện nay là référence để nghiên cứu sự vận hành chức năng của não bộ. Với sự gia tăng lưu lượng máu như là chứng cớ của hoạt động não, kỹ thuật mới này cho phép thăm dò sự vận hành chức năng của não.
Hỏi : Nguyên tắc của nó là gì?
Philippe Ryvlin : Ta sử dụng một sonde phát ra trong não bộ những làn sóng siêu âm đặc biệt. Những làn sóng này “ nảy lên ” trên các tế bào máu và được thu hồi bởi ống thăm dò. Phân tích cho phép tạo một hình ảnh các huyết quản và đo lưu lượng máu với một thang tỷ lệ gần như bé xíu (100 micromètre). Đó là một sự cải thiện rất đáng kể của siêu âm doppler, đã được sử dụng từ nhiều năm qua để thăm dò các huyết quản lớn nơi người.
Hỏi : Những hạn chế của kỹ thuật này là gì ?
Philippe Ryvlin : Các trắc nghiệm trên chuột là đáng phấn khởi nhưng não bộ người lớn hơn và nằm sâu hơn. Sẽ phải chế tạo những công cụ mạnh hơn. Nhất là, ta vấp phải cùng vấn đề như đối với siêu âm doppler cổ điển : các siêu âm gặp khó khăn khi phải đi xuyên qua xương, quá dày đặc.
Hỏi : Thế thì ta sẽ có thể sử dụng kỹ thuật này trong y khoa không ?
Philippe Ryvlin : Sự kiện não bộ bi khép kín trong một hộp sọ là một trở ngại. Nhưng hai áp dụng y khoa có thể được dự kiến ngay khi dụng cụ được thích ứng với con người. Trước hết là sự sử dụng trong ngoại thần kinh. Thí dụ các cơn động kinh là do những phóng điện bất thường sinh ra một cách ngẫu nhiên và lan tràn trong não bộ. Đôi khi việc lấy đi vùng phát xuất của các phóng điện này là cách duy nhất để làm ngừng các cơn. Ta càng giới hạn vùng này thì ta càng ít tạo bại liệt lúc làm thương tổn một vùng chức năng nằm kế cận. Lúc phẫu thuật, thầy thuốc ngoại khoa mở một cửa sổ nhỏ vào trong hộp sọ. Nhờ cửa sổ này, ông ta sẽ có thể đặt sonde tiếp xúc trực tiếp với não bộ và xác định những vùng của não bộ gây các cơn động kinh. Ta cũng dự kiến sử dụng kỹ thuật này ở các nhũ nhi bằng cách đặt sonde lên thóp (fontanelle) để xem não bộ làm việc. Nhưng phải khảo sát sự vận hành chức năng bình thường của não bộ trước khi phân tích các loạn năng (dysfonctionnements). Việc thăm dò ở nhũ nhi hiện nay có thể được thực hiện bằng IRMf, nhưng trong những điều kiện khó khăn, bởi vì sự thăm khám gây căng thẳng, và cần phải nằm bất động.
(LA RECHERCHE 9/2011)

8/ VITAMINE D LÀM GIẢM VIÊM TRONG PSORIASIS.
Denis Julien, chuyên gia về bệnh vẩy nến (psoriasis), là thầy thuốc chuyên khoa bệnh ngoài da của bệnh viện Edouard-Herriot của CHU de Lyon.
Hỏi : Một nhóm nghiên cứu người Đức vừa làm sáng tỏ một cơ chế có khả năng chống lại bệnh vẩy nến, căn bệnh kinh niên và mãn tính của da. Đó là gì vậy ?
Denis Julien : Trong bệnh vẩy nến, một phản ứng viêm dẫn đến sự tạo thành những mảng đỏ (plaques rouges) làm ngứa ngáy ở da. Jurgen Schauver, thuộc đại học Munich và nhóm nghiên cứu vủa khám phá rằng một protéine hiện diện trong da, được mệnh danh là cathélicidine LL-37, có khả năng phong bế quá trình viêm này. Thế mà ta biết rằng sự tổng hợp protéine này được kích thích bởi vitamine D. Vậy điều đó giải thích tại sao vitamine D có hiệu quả để làm giảm bớt quá trình viêm trong bệnh vẩy nến. Vitamine D hiện nay được sử dụng trong điều trị bệnh vẩy nến duới dạng crème để đắp tại chỗ
Hỏi : Chất cathélicidine này phong bế quá trình viêm như thế nào ?
Denis Julien : Cathélicidine trung hòa các phân tử ADN tự do trong các kératinocyte, những tế bào chính của da. Phân tử ADN này hiện diện trong tế bào chất của các tế bào này, thay vì được chứa trong nhân hay trong các ty lạp thể như trường hợp bình thường. ADN tự do này xuất phát hoặc từ những tế bào lân cận, hoặc sau khi thoát ra từ nhân tế bào. Và chính ADN tự do này là một trong những yếu tố gây nên quá trình viêm ; sự hiện diện của nó được cảm nhận như là một tín hiệu nguy hiểm đối với hệ miễn dịch. Khi đó hệ này phát động một phản ứng viêm trong da. Đó là điều được chứng tỏ bởi các nhà nghiên cứu người Đức sau khi lần đầu tiên đã quan sát thấy sự hiện diện dồi dào của ADN tự do trong các tế bào da ở các mảng vẩy nến (plaques de psoriasis), trong khi họ đã không phát hiện chúng trong những tế bào da lành mạnh. Sau đó các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ rằng ADN tự do này không hoạt hóa quá trình viêm nếu protéine cathélicidine LL-37 gắn vào chúng.
Hỏi : Các nhà nghiên cứu đã khám phá quá trình viêm này như thế nào ?
Denis Julien : Họ đã lấy bệnh phẩm da ở các mảng vẩy nến của các bệnh nhân và những bệnh phẩm da ở những người tình nguyện lành mạnh. Sau đó họ đã so sánh những biểu hiện của các gène để cố khám phá quá trình viêm được hoạt hóa như thế nào và có thể được phong bế ra làm sao.
Hỏi : Công trình nghiên cứu này có mang lại những hướng điều trị mới không ?
Denis Julien : Nhằm một cách đặc hiệu vào sự sản xuất cathélicidine LL-37 đồng thời tìm cách khuếch đại nó hẳn không phải là một hướng hay để điều trị các mảng vảy nến. Bởi vì trái lại protéine này có thể làm phát khởi những phản ứng viêm qua những cơ chế khác. Bù lại, công trình nghiên cứu này đề nghị một cơ chế tác dụng mới của vitamine D trong điều trị bệnh vẩy nến và mang lại những hướng mới để hiểu nhưng cơ chế viêm của căn bệnh.
(LA RECHERCHE 7-8/2011)

9/ VITAMINE D, THUỐC CHỮA BÁ BỆNH MỚI ?
Từ lâu vốn chỉ có vai trò lợi ích đối với sức khỏe xương, vitamine D cũng có thể làm giảm sự xuất hiện của vài ung thư và ngay cả bảo vệ tim và não bộ.
+ Vitamine D tùy thuộc vào hai nguồn, thực phẩm và da. Ở da, một phân tử précurseur được biến đổi, nhờ các tia tử ngoại B của ánh mặt trời, thành vitamine D3. Do đó, cho tiếp xúc mặt và các cánh tay với ánh sáng mặt trời đủ mạnh khoảng 15 phút mỗi ngày (ở Pháp giữa tháng 6 và tháng 10) cũng đủ trang trải 50 đến 70% những nhu cầu hàng năm về vitamine D. Đối với phần còn lại, ta tìm thấy trong các loại cá mỡ (saumon, sardine), trứng, ngũ cốc, gan và trong một chừng mực ít hơn, các sản phẩm sữa. Toàn bộ, những người trưởng thành mỗi ngày cần một cung cấp trung bình 10 mcg vitamine D. Một con số có vẻ cao hơn đối với các phụ nữ có thai và những trẻ em dưới 3 tuổi, do các nhu cầu khoáng hóa xương (minéralisation osseuse). Cũng vậy, những người già có nhu cầu gia tăng để bù lại một sự đề kháng sinh lý bị suy giảm (sản xuất ở da ít hơn, hiệu quả lên xương bị thu giảm) cũng như tiếp xúc với ánh nắng mặt trời ít hơn.
+ Vitamine D thiết yếu để duy trì tính chất cứng của khung xương và kích thích, ở trẻ em, sự khoáng hóa (minéralisation) và sự tăng trưởng của xương. Đôi khi ta gọi vitamine D là vitamine của calcium bởi vì nó làm dễ sự hấp thụ của calcium ở ruột, sự tái hấp thụ của nó ở ruột cũng như sự sử dụng của calcium bởi các đại cốt bào (ostéoblaste). Đến độ một sự thiếu hụt vitamine D (dưới 30ng/ml mau), ngay cả với sự cung cấp tốt calcium trong thức ăn, được công nhận làm dễ bệnh loãng xương (ostéoporose) và do đó làm gia tăng nguy cơ gãy xương. Thế mà, gần 2/3 những phụ nữ sau tuổi mãn kinh mắc bệnh loãng xương vốn bị thiếu vitamine D, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện trên gần 8600 phụ nữ châu Âu. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, “ một sự cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống có vẻ như càng ngày càng hợp lý, bởi vì lượng cung cấp hàng ngày được khuyến nghị hiện nay là quá thấp đối với lứa tuổi này ” BS Bernard Cortet, thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp, thuộc CHU de Lille đã giải thích như vậy.
+ Vitamine D làm giảm nguy cơ bị ung thư, bởi vì vài tế bào ung thư có những thụ thể đặc hiệu đối với vitamine D. Lúc gắn vào những thụ thể này, vitamine D phong bế sự tăng sinh của khối u. Ở các động vật chịu những liều cao vitamine D, ta đã có thể quan sát thấy một sự giảm ít nhất 20% thể tích của các u ung thư của vú, của đại tràng, của gan. Ở phụ nữ, nhiều công trình điều tra gợi ý một vai trò phòng ngừa của vitamine D.Ví dụ công trình nghiên cứu 3N, được thực hiện trên 100.000 phụ nữ Pháp chứng thực rằng một sự giảm 25% nguy cơ ung thư vú đối với những phụ nữ có nồng độ vitamine D trong máu cao nhất. Tuy nhiên, “ những thử nghiệm lâm sàng với những liều lượng vitamine D khác nhau còn cần thiết để xác nhận lợi ích này ”, Françoise Clavel-Chapelon (Inserm-Institut Gustave-Roussy), người phụ trách công trình nghiên cứu này, đã xác nhận như vậy.
+ Một sự thặng dư có thể gây nên sự xuất hiện những vôi hóa trong các mô mềm nhất là thận. Tuy nhiên trên lý thuyết phải uống vào hơn 10 lần những liều hàng ngày được khuyến nghị, hoặc 250 mcg/ngày (tương đương với 10 muỗng dầu gan cá thu !). Tuy nhiên trong nhiều công trình nghiên cứu, những liều như thế đã không cho thấy độc hại lên sức khỏe con người. Điều đó gợi ý rằng sự cung cấp những lượng vitamine D bổ sung cao hơn những liều được khuyến nghị có thể vẫn còn có lợi..Nhưng cần phải cẩn thận.
+ Vitamine D bảo vệ tim, như được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ, dựa trên sự phân tích những hồ sơ y khoa của hơn 40.000 bệnh nhân : 2/3 những bệnh nhân này bị thiếu hụt vitamine D trong máu và, ngoài ra, bị nhiều bệnh cao huyết áp, đái đường, tăng lipide-huyết (3 yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch) nhiều hơn những bệnh nhân khác. Ngoài ra, những bệnh nhân có một nồng độ vitamine D bình thường trong máu cho thấy một nguy cơ hai lần thấp hơn là nạn nhân của bệnh động mạch vành (coronaropathie), của bệnh động mạch (artériopathie), của nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não.
+ Vitamine D ló lợi đối với những bệnh lý thoái hóa thần kinh (pathologies neuro-dégénératives), đứng đầu là những bệnh Parkinson và Alzheimer. Lại nữa các công trình nghiên cứu gợi ý một mối liên hệ giữa nồng độ vitamine D và tỷ lệ mắc phải những bệnh này. “ Nhưng các công trình nghiên cứu này tự thân không thể xác nhận là một sự thiếu hụt vitamine là nguyên nhân hay hậu quả của căn bệnh ”. BS Laure Esterle (Inserm U 986, Centre de référence des maladies rares du métabolisme de phosphore et du calcium,bệnh viện saint-Vincent-de-Paul, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Các kết quả lại cần phải được xác nhận.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

10/ BỆNH ĐỘNG KINH : GENE CHỦ CHỐT ĐƯỢC KHÁM PHÁ.
GS Christophe Bernard, Giám đốc nghiên cứu của Inserm (Marseille), giải thích tiến bộ quan trọng này (được tài trợ bởi Neurodon và Fondation française pour la recherche sur l’ épilepsie) mở đường cho những điều trị phòng ngừa.
Hỏi : Ông hãy nhắc lại cho chúng tôi những dạng động kinh khác nhau.
GS Christophe Bernard. Sau bệnh migraine, căn bệnh não này thường xảy ra nhất. Ở Pháp, có từ 500.000 đến 750.000 người bị bệnh, trong đó đa số là trẻ em. Có hai dạng lớn : động kinh toàn thể (épilepsie généralisée) (được gọi là động kinh lớn, “ grand mal ”), xâm chiếm toàn thể não bộ, là dạng thường gặp nhất (70% các trường hợp) ; động kinh một phần (épilepsie partielle) được giới hạn vào vài vùng tế bào thần kinh. Nhưng ta cũng có thể lên cơn mà không bị động kinh : cứ mười bảy người thì có một lên cơn động kinh một lần trong suốt đời mình.
Hỏi : Những triệu chứng nào làm bệnh nhân tàn tật ?
GS Christophe Bernard. Các triệu chứng phụ thuộc vào vị trí của ổ động kinh (foyer épileptique). Nếu vùng não bị thương tổn kiểm soát vận động của các chi, cơn động kinh gây nên những cử động co giật bất thường. Nếu vùng bị thương tổn liên quan đến cơ chế thị giác, bệnh nhân có những ảo giác thị giác (hallucinations visuelles). Cơn động kinh toàn thể (crise généralisée) gây nên sự mất tri giác.
Hỏi : Ta có biết những nguyên nhân của sự rối loạn não bộ này không ?
GS Christophe Bernard. Có thể có nhiều nguyên nhân : một chấn thương sọ, những di chứng của một tai biến mạch máu não, của một bệnh viêm màng não, viêm não, của một tai biến lúc sinh. Cũng có thể có một thành phần di truyền.
Hỏi : Cơ chế nào làm phát khởi một cơn động kinh ?
GS Christophe Bernard : Một tập hợp rất nhiều tế bào thần kinh sẽ cùng nhau phát ra một tần số quá cao các tín hiệu điện. Đó là lý do ta gọi là “ cơn giông tố điện trong não bộ ” (orage électrique dans le cerveau), mà vài yếu tố như stress, sự lo âu, làm dễ sự xuất hiện.
Hỏi : Hiện nay ta có những thuốc điều trị nào ?
GS Christophe Bernard : Ta kê đơn vài loại thuốc nhằm ngăn cản sự xuất hiện của các cơn. Đó là những loại thuốc làm giảm tình trạng tăng hưng phấn (hyperexcitabilité) của các tế bào thần kinh nhưng không chữa lành căn bệnh. Số lượng những loại thuốc chống động kinh không ngừng gia tăng từ những năm 1950.
Hỏi : những kết quả thu được là gì ?
GS Christophe Bernard : Trong 70% các trường hợp, bệnh động kinh được kiểm soát. Các cơn trở nên rất hiếm hay biến mất. Nhưng mặc dầu các loại thuốc chống động kinh mới, nhưng tỷ lệ đề kháng vẫn không thay đổi : ở 30% các bệnh nhân, các thầy thuốc vấp phải một sự thất bại. Họ không thể ngăn ngừa được các cơn.
Hỏi : Đối với những bệnh nhân đề kháng với thuốc này, ta phải làm gì ?
GS Christophe Bernard : Một phẫu thuật ngoại thần kinh nhằm lấy đi vùng não trách nhiệm động kinh. Tỷ lệ thành công quan trọng : từ 70% đến 80% các bệnh nhân được chữa lành. Nhưng có một chống chỉ định không thể tránh được : khi ổ gây động kinh chứa một vùng chức năng chủ yếu, thí dụ kiểm soát ngôn ngữ.
Hỏi : Kíp nghiên cứu của ông đã đạt được một bước tiến quan trọng trong phòng ngừa các cơn giông não bộ này. Chiến lược mới là gì ?
GS Christophe Bernard : Các nhóm nghiên cứu đều đã biết rằng sự tấn công ban đầu trong não bộ (ngay trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên) làm biến đổi sự vận hành chức năng (“sự biểu hiện ”) của hàng ngàn gène trong các tế bào. Sự rối loạn gène (désorganisation génétique) này sẽ dẫn đến, đôi khi sau nhiều năm trời, sự tạo thành những ổ gây nên các cơn động kinh. Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, người ta đã tự nếu nghi vấn : tại sao lại có sự loạn năng (dysfonctionnement) như thế ? Những cơ chế nào là nguồn gốc của những loạn năng này ? Các công trình nghiên cứu của chúng tôi đã đưa đến sự khám phá một “ gène chìa khóa ” (gène clé), một loại ngắt điện (interrupteur) (NRSF), có nhiệm vụ thắp sáng vài gène và làm tắt những gène khác, tạo nên những loại court-circuit quan trọng.
Hỏi : Công cuộc khám phá này có dẫn đến việc hiệu chính một điều trị phòng ngừa mới không ?
GS Christophe Bernard : Vâng. Ta đã tìm cách vô hiệu hóa tác dụng có hại của gène NRSF bằng những phân tử nhỏ (ODN), giống như những leurres chimiques bắt giữ gène này. Những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi đã được thực hiện ở động vật : một công trình nghiên cứu được tiến hành trên 12 con chuột, trong đó 6 con đã được điều trị. Ở những con chuột sau cùng này, chiến thuật phóng ngừa mới đã giảm 2/3 số các con. Những kết luận đầu tiên này, rất thỏa mãn, mang nhiều hy vọng
Hỏi : Ông có dự định nghiên cứu trên người hay không ?
GS Christophe Bernard : Hiện nay, protocole đòi hỏi tiêm thuốc trực tiếp vào trong não bộ, điều này, ở người, hàm chứa nhiều nguy cơ. Vậy sẽ phải hiệu chính một liệu pháp bằng đường miệng. Từ nay chúng tôi có một phương hướng nghiên cứu sẽ cho phép loại bỏ được bệnh động kinh.
(PARIS MATCH 8/9-14/9/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(26/9/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s