Cấp cứu ngộ độc số 19 – BS Nguyễn Văn Thịnh

NGỘ ĐỘC CYANURE
(INTOXICATION AUX CYANURES)

                                                                                     JEAN-LOUIS VINCENT
                                                                                     Chef du Service de Soins Intensifs
                                                                                     Hôpital  Erasme, Bruxelles

              Cyanure d’ hydrogène (HCN) hiện diện dưới dạng chất lỏng bay hơi hay dưới dạng chất khí. Cyanure không màu và mùi của nó gợi ý mùi của quả hạnh (amande), mặc dầu, vì những lý do di truyền, không phải luôn luôn được ngửi thấy. Cyanure được sử dụng trong công nghiệp hóa học : các chất dẻo (matières plastiques), các hàng dệt tổng hợp (tissus synthétiques) và được sử dụng như thuốc trừ sâu (các động vật gặm nhấm). Các cyanogène halogéné, những chất kích thích và độc, đã được phát triển như các vũ khí hóa học. Các muối cyanure được sử dụng trong nhiếp anh (photographie), trong đánh bóng kim loại (polissage des métaux), các xưởng làm gương (miroiteries), nghề kim hoàn (bijouterie), phép đúc điện (galvanoplastie), các phòng thí nghiệm nghiên cứu. Nhiều vật liệu tổng hợp (polyuréthane, acrylonitrile, Nylon…), nhưng cũng những vải dệt tự nhiên (textiles naturels) (lụa, len..) phóng thích cyanure trong khi bị cháy hay bị pyrolyse. Ngộ độc cyanure phải được nghĩ đến một cách hệ thống ở những bệnh nhân là nạn nhân của khói hỏa hoạn. Cyanure có thể làm nhiễm vài loại thuốc (đặc biệt phéncyclidine). Sử dụng kéo dài nitroprussiate de sodium với liều lượng cao, đặc biệt là nếu chức năng thận bị thay đổi, có thể dẫn đến một ngộ độc đáng kể.

I/ CƠ CHẾ TÁC DỤNG.
            Độc tính của cyanure cao. Nhiều cơ chế góp phần gây nên một tình trạng giảm oxy tế bào (hypoxie cellulaire), đặc biệt là não bộ :
               – sự suy giảm hô hấp trung ương sinh ra giảm oxy-huyết (hypoxémie) ;
               – sự ức chế các enzyme chứa các kim loại (sắt, đồng), như cytochrome oxydase. Hậu quả là sự hô hấp tế bào bị phong bế.
              – đường cong phân ly của hémoglobine chuyển về phía trái ;
              – sự giảm áp tim mạch phát triển nhanh chóng làm biến đổi sự vận chuyển oxy.
            Kết quả là nhiễm toan chuyển hóa lactic (acidose métabolique lactique).
            Sự ngộ độc với mức độ lớn tối cấp dĩ nhiên được thể hiện bởi một cái chết tức thời. Trong trường hợp tiếp xúc có mức độ hơn, ta quan sát thấy bệnh nhân kích động, đau đầu, chóng mặt, nôn, liên kết với một vị đắng và những cảm giác bỏng ở hầu. Hơi thở có thể có một mùi hạnh nhân (amande). Bệnh nhân khó thở và lo âu, nhưng bì phu vẫn có thể được nhuộm màu đúng đắn, chừng nào huyết động vẫn thỏa mãn. Trong thì hai, sự sững sờ (instuporation) nhường chỗ cho sự kích động. Bệnh nhân co giật, trở nên bị bại liệt và đi vào hôn mê sâu trước khi ngừng tim-hô hấp. Tất cả chỉ có thể kéo dài 10 đến 15 phút. Trong trường hợp phục hồi, những di chứng thần kinh (những rối loạn trí nhớ, những rối loạn hành vi, bại liệt Parkinson…) có thể xảy ra. Những thể bán cấp có thể có những triệu chứng phù du và it đặc hiệu : đau đầu, chóng mặt, lo âu, tình trạng say, mất ngủ, khó thở, tim nhịp nhanh… Ta cũng mô tả một ngộ độc mãn tính với sự xuất hiện bệnh của dây thần kinh thị giác và ngoại biên (neuropathie optique và périphérique) và những rối loạn tuyến giáp.

II/ ĐIỀU TRỊ
             Trước hết, cần đảm bảo một oxygénarion tối đa (100% bằng non-rebreathing mask) và nếu cần hỗ trợ thông khí. Nhiễm toan phải được điều chỉnh bằng bicarbonate sodique. Việc cho các chất đối kháng ưu tiên hơn những biện pháp loại bỏ, vì lẽ tính chất trầm trọng và nhanh chóng của tiến triển. Có thể có những phương pháp khác nhau. Việc tạo nên một méthémogloninémie không còn được áp dụng nữa. Nói chung ta ưa thích cho hydroxocobalamine hơn. Chất này được biến đổi thành cyanocobalamine (vitamine B12 không độc). Liều lượng là 5 g ở người lớn (Cyanovit chứa hai flacon de 2,5g). Tuy nhiên điều trị này, mặc dầu phí tổn cao, tỏ ra đơn giản nhất và an toàn nhất. Hydroxocobalamine có thể được cho phối hợp với thiosulfate sodique.
           Rửa dạ dày có thể được thực hiện trong trường hợp uống, nhưng không được làm trì hoãn việc thực hiện một điều trị bằng chất đối kháng (traitement antidotique). Nói chung ta cho rằng than hoạt hóa hấp thụ kém các muối cyanure.

Réference : LE MANUEL DE REANIMATION,SOINS INTENSIFS ET MEDECINE D’URGENCE

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(28/8/2011)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu ngộ độc, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s