Thời sự y học số 240 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ 11 RỐI LOẠN TÂM THẦN : HỘI CHỨNG TĂNG ĐỘNG (HYPERACTIVITE HAY HYPERKINETIC SYNDROME)

            + Tính tăng động (hyperactivité) là gì ?

                   Đó là một rối loạn liên kết những triệu chứng khác nhau về sự không chú ý (inattention) (sai lầm khi làm bài tập, thiếu tổ chức, lơ đễnh, quên lãng, mất đồ vật…) với những triệu chứng khác nhau của tình trạng xung động (impulsivité)/tăng động (hyperactivité) : đứa trẻ không đứng yên một chỗ, leo trèo khắp nơi, nói quá nhiều, v.v (tình trạng tăng động : hyperactivité) ; nó khó chờ đợi đến phiên mình, quấy phá những kẻ khác,…(tình trạng xung động : impulsivité). Trong Manuel diagnostique et statistique des troubles mentaux IV (DSM-IV), một khi đã loại bỏ những rối loạn khác (loạn tâm thần, tâm thần phân liệt), chỉ cần có, từ hơn 6 tháng qua, (và với sự xuất hiện của vài dấu hiệu trước năm 7 tuổi), 6 trong số nhung triệu chứng khác nhau đối với một trong hai tình trạng này (tính tăng động và tính xung động) ta đã có thể chẩn đoán TDAH.

           + Ai bị liên hệ bởi bệnh này ?

                     Vì lẽ danh sách các triệu chứng khá nhiều đối với sự lơ đãng và cũng vậy đối với tính tăng hoạt động/tính xung động, nên số lượng các trẻ em có thể bị TDAH là quan trọng. Và thật vậy, lúc so sánh tỷ lệ lưu hành của rối loạn này, theo định nghĩa của DSM-IV hay theo định nghĩa của OMS (đòi hỏi đồng thời dấu hiệu lơ đãng và tính tăng hoạt động), nhà xã hội học người Mỹ Manuel Vallée, thuộc đại học Berkeley (Californie) cho thấy rằng những con số thay đổi từ 5% (ở Hoa Kỳ, vốn theo định nghĩa DSM) xuống 1% (ở châu Âu, với định nghĩa của OMS). Các nhà nghiên cứu nhất trí nói rằng rối loạn này thường xảy ra ở con trai hơn con gái và rằng ở 30 đến 80% các trường hợp vẫn còn tồn tại khi trở thành người lớn.

            + Những nguyên nhân của chứng tăng động là gì ?

                      Lý thuyết nổi bật nhất, ở Hoa Kỳ cũng như ở châu Âu, là lý thuyết về một sự thiếu sót dopamine (chat dan truyen than kinh). Phân tử này, cho phép vài loại neurone liên lạc với nhau, tham dự vào trong nhiều chức năng của não bộ. Thế mà, vào năm 1937, thầy thuốc Hoa Kỳ Charles Bradley nhận xét rằng các trẻ nghịch ngợm lúc được điều trị bởi một thuốc kích thích tâm thần (psychostimulant) được gọi là benzédrine thì trở nên chú ý hơn. Trong những năm 1960, nhiều nhà nghiên cứu đề xuất vai trò của những dược phẩm thuộc loại này lên dopamine vì chúng làm gia tăng sự dẫn truyền thần kinh. Do đó, nhiều nhà khoa học theo lý thuyết này : vì lẽ benzédrine, và sau nó là méthylphénidate (được thương mại hóa ở Pháp dưới tên Ritaline), làm yên những trẻ bị hội chứng tăng động, nên có lẽ những trẻ này bị thiếu dopamine.

            Từ đó đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu. “ Hôm nay, tổng số các bài báo khoa học liên quan đến TDAH vượt quá 18.000 ”, nhà sinh-thần kinh (neurobiologiste) Pháp François Ganon đã bình luận như vậy. Nhưng, đối với chuyên gia về dopamine này, mặc dầu không thể tranh cãi rằng méthylphénidate  “ làm gia tăng sự chú ý của các trẻ em bị chứng tăng động, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng thiếu dopamine. Đó là một lập luận có vẻ đơn giản và vững chắc, ông nói tiếp như vậy, nhưng khuyết điểm của nó được biết đến từ lâu ” Ngay năm 1978 như một bài báo được công bố trong Science đã giải thích, chứng minh rằng một chất kích thích tâm thần có cùng tác dụng ở các trẻ bình thường.
           Và nhà nghiên cứu không cạn hết lý lẽ. Vào năm 1999, một kíp nghiên cứu khác loan báo trong The Lancet rằng họ giữ bằng cớ về nguồn gốc sinh học của TDAH : chất vận chuyển (transporteur) cua dopamine, một phân tử đảm bảo sự bắt giữ lại (recapture) dopamine bởi các tận cùng thần kinh, có số lượng dồi dào hơn ở những người bị chứng TDAH, với hậu quả là một nồng độ dopamine trong máu ít hơn. Lời loan báo được công bố ngay trong báo chí và các hiệp hội phụ huynh. Vấn đề : bằng cớ này chỉ dựa trên… 6 trường hợp. Nhưng chủ yếu các kết quả của công trình nghiên cứu này đã được cải chính sau đó. Ngoài ra những yếu tố di truyền, việc thiếu sắt hay việc tiếp xúc với chì cũng có thể bị quy kết. Lại nữa, nhà sinh-thần kinh học (neurobiologiste) người Pháp tỏ ra hoài nghi, vì lẽ những kết quả mâu thuẫn cho đến hôm nay : mặc dầu rõ ràng là TDAH thường xảy ra hơn trong vài gia đình (các nhà di truyền nói căn bệnh này di truyền 80%), nhưng điều đó không có nghĩa là nguyên nhân thuần túy di truyền, những tương tác giữa gène và môi trường có lẽ có tính chất quyết định. Theo François Gonon, hướng phát triển của bệnh sau một tiếp xúc với chì dường như là một hướng vững chắc, ít nhất trong những nước ít phát triển, ở đây dân chúng không được bảo vệ. Nhưng cũng phải xét đến nhiều yếu tố nguy cơ khác như trình độ xã hội của bố mẹ, sự sinh non, chứng nghiện rượu và nghiện thuốc lá trong thời kỳ thai nghén, sự ngược đãi và cũng đừng quên rằng TDAH rất thường được liên kết với những rối loạn khác : trouble d’opposition (rối loạn chống đối), rối loạn học tập (trouble des apprentissages) (dyslexie : chứng loạn đọc hay những “ dys ” khác), trouble des conduites, trạng thái lo âu, trầm cảm… vậy không những có một TDAH, mà là những TDAH.

             + Làm sao điều trị ?

                      Cần điều trị theo từng trường hợp. Ở Pháp, phương thức tâm lý trị liệu (démarche psychothérapeutique) được đặt ưu tiên, nhưng điều này không loại trừ một điều trị với Ritaline. “ Đó là một loại thuốc mà ta đã có nhiều thời gian nhìn lại và dường như không nguy hiểm. Nhưng phải đảm bảo rằng không có một vấn đề tiềm tàng, và chỉ sử dụng nó như là biện pháp cuối cùng. Bởi vì, nếu việc kê đơn trở nên quá đại trà, điều đó sẽ tạo nên, như ở Hoa Kỳ, một vấn đề xã hội ”, François Gonon đã phát biểu như vậy. Hiện nay ở Pháp việc sử dụng Ritaline rất được quy chế hóa, trong khi những người Mỹ ít dè xẻn hơn : từ 3 đến 10% những trẻ em dưới 10 tuổi đều sử dụng Ritaline.

(SCIENCE ET VIE, HORS SERIE 6/2011)

2/ ĐIỀU TRỊ CÁC TRẺ EM TĂNG ĐỘNG (ENFANT HYPERACTIF) : COI CHỪNG NHỮNG SAI LẦM.

         La Journée pour la recherche về rối loạn này đã cho phép BS Eric Konofal, thầy thuốc thực hành của bệnh viện Robert-Debré, nhà nghiên cứu lâm sàng thuộc Inserm, chứng minh tính hiệu quả của một điều trị theo từng trường hợp.

            Hỏi : Ở trẻ em, những triệu chứng gây nên bởi rối loạn tăng hoạt (trouble d’hyperactivité) nào phải báo động bố mẹ ?

            BS Eric Konofal. Theo một công trình nghiên cứu của Pháp, người ta ước tính rằng 3,5 đến 5,6 % các học sinh bị chứng tăng động (hyperactivité). Tất cả đều có 3 triệu chứng phối hợp nhau :

                1. Một sự không chú ý (inattention) : không ngừng lơ đãng, tâm trí của chúng luôn luôn ở một nơi nào khác (trong lớp, ở nhà hay khi vui chơi giải trí). Chúng không nghe những điều mà người ta nói với chúng.

                2. Một tình trạng xung động (impulsivité), chứng tỏ hoàn toàn không có khả năng suy nghĩ trước khi hành động, và điều đó trên bình diện vận động cũng như trí tuệ.

                3. Một tình trạng tăng động (hyperactivité) : bị kích động thường trực, chúng không đứng yên một chỗ.

           Hỏi : Làm sao đảm bảo chẩn đoán ?

           BS Eric Konofal. Bằng cách thăm khám một thầy thuốc chuyên khoa bệnh viện để loại bỏ mọi nguyên nhân khác (bệnh thần kinh nhi đồng hay mãn tính, những vấn đề tâm thần thoáng qua…). Sau đó đứa trẻ sẽ được phó thác cho một kíp nhiều chuyên khoa (équipe pluridisciplinaire) gồm orthophoniste, psychologue, psychomotricien). Kíp này sẽ đánh giá tầm quan trọng của rối loạn và chiến lược điều trị cần phải theo.

           Hỏi : Những hậu quả của tình trạng tăng động (hay TDAH) này ở các trẻ em là gì ?

           BS Eric Konofal. 1. Trước hết, các kết quả học đường làm thất vọng vì thường bị hỏng ở các kỳ thi. Bị phạt bởi các giáo viên, các trẻ cảm thấy bị giảm giá trị (dévalorisé).

                                         2. Những xung đột trong gia đình và với các bạn trong lớp. Trong giờ chơi chúng rất thường bị cô lập. Bởi vì đó là một rối loạn kéo dài suốt đời, nên nếu không có những biện pháp kèm cặp nghiêm túc, những trẻ này đến tuổi trưởng thành sẽ có nguy cơ ở trong một tình huống bấp bênh bởi vì không có nghề nghiệp cố định, và bị cô lập về mặt xã hội.

           Hỏi : Những trung tâm nào có những kíp chuyên môn cho những trẻ em này ?

           BS Eric Konofal. Các service đã được thiết lập trong nhiều bệnh viện : ở Paris, tại bệnh viện Robert-Debré, nhưng cũng có ở tỉnh, trong những CHU khác nhau, trong đó có CHU de Lyon, Montpellier hay cả Bordeaux.

          Hỏi : Cho mãi đến nay, những sai lầm trong điều trị là gì ?

          BS Eric Konofal. Đã quá lâu rồi ta thường xem triệu chứng tăng động (hyperactivité), như là yếu tố chủ yếu, trong khi tình trạng tăng hoạt này là một hậu quả của sự không chú ý (inattention) và sự lơ đãng này cũng sinh ra tính xung động (impulsivité). Vậy trước hết ta đã muốn điều trị tình trạng kích động (agitation) này, và ta đã làm điều đó với các thuốc an thần kinh (neuroleptique), điều này làm gia trọng tình trạng sức khỏe của những đứa trẻ vì làm cho chúng lo âu và ngay cả trầm cảm. Rồi ta đã cứ tiếp tục trong sai lầm khi kê đơn cho chúng những thuốc chống trầm cảm (antidépresseur) và những thuốc giải ưu (anxiolytiques). Kết quả : những trẻ em này ở lâu trong tình trạng sai lầm điều trị, điều này gây nên một cảm giác phạm tội (sentiment de culpabilité) ở bố mẹ. Ngày nay lúc  khám bệnh, ta thường tiếp những người trưởng thành bị bệnh ngay từ thời bé thơ và họ đưa cho chúng ta những đơn thuốc không bình thường ! Vài người trong tình trạng hoàn toàn hoảng sợ, và đôi khi sau khi đã rơi vào tình trạng nghiện rượu hay nghiện ma túy.

             Hỏi : Ngày nay chiến lược phải theo để điều trị là gì ?

             BS Eric Konofal. 

                      1.Giải thích cho bố mẹ rằng từ nay ta có thể chữa được vấn đề của con em họ.

                      2. Điều trị TDAH bằng những chất kích thích hệ thần kinh trung ương và những chất kích thích sự thức tỉnh khác (thí dụ : méthylphénidate), mà liều lượng được thích ứng với tuổi và trọng lượng.Ở trẻ em, những thuốc này phục hồi khả năng hướng sự chú ý thích hợp vào mỗi tình huống và cho phép chúng tập trung. Trong vài trường hợp, cần phối hợp protocole này với những buổi liệu pháp hành vi (thérapie comportementale) với một nhà tâm lý học.

            Hỏi : Có những điều trị nào khác không ?

             BS Eric Konofal. Ở bệnh viện Robert-Debré, người ta đã cho thấy rằng những trẻ tăng động (hyperactif) này thiếu sắt, do đó ta đã kê đơn cho chúng một điều trị dựa trên muối sắt. Các công trình nghiên cứu đang được tiến hành với những loại thuốc mới. Những kết quả đáng phấn khởi sẽ được thông báo vào hội nghị sắp đến ở Berlin.

(PARIS MATCH 26/5 – 31/5/2011)

3/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM LÀM MỌC LẠI CÁC NEURONE.

          Nhờ những công trình nghiên cứu trên chuột, một nhóm nghiên cứu Pháp-Mỹ đã cho thấy rằng fluoxétine (Prozac) làm gia tăng sự sản xuất những neurone mới trong một vùng não bộ được gọi là hải mã (hippocampe). Những tế bào thần kinh này cho phép điều hòa những kích thích tố của sự căng thẳng (hormone de stress) và như thế tác động lên chứng trầm cảm.
(SCIENCE ET VIE 8/2011)

4/ CHỨNG KHÓ PHỐI HỢP ĐỘNG TÁC (DYSPRAXIA) : PHẾ TẬT BỊ CHE DẤU CỦA CÁC TRẺ EM “ QUÁ VỤNG VỀ ”.

           Chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie) gây phế tật cho khoảng 250.000 trẻ em ở Pháp, bắt đầu được các nhà nghiên cứu khảo sát.

           PEDIATRIE. Chúng làm đổ tất cả những gì chúng đụng đến, cần giúp đỡ để mặc quần áo, khó khăn khi vẽ và viết. Tuy nhiên, mặc dầu bề ngoài như vậy, những trẻ em này không những chỉ vụng về hay lơ đãng. Chúng còn bị một rối loạn thật sự về sự điều hòa vận động (coordination motrice), được gọi là chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie), có thể rất gây phế tật cho chúng trong cuộc sống hàng ngày và ở trường học.  

         Cũng như chứng loạn đọc (dyslexie), chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie) là một bệnh lý đặc hiệu của sự học tập, xảy ra ở những trẻ có trình độ thông minh bình thường. Nhưng trái với những khó khăn khi đọc của chứng loạn đọc (càng ngày càng được xác định và nghiên cứu), chứng khó phối hợp động tác vẫn còn không được biết rõ, kể cả bởi những nhà nghiên cứu. Có lẽ còn dài lâu hơn. Nhóm nghiên cứu của BS Ghislaine Dehaene, trưởng kíp chụp hình ảnh thần kinh (neuroimagerie) của sự phát triển, thuộc unité Inserm U562, đang lao mình vào một dự án nghiên cứu để nhận diện những cơ chế gây nên phế tật này, nhất là nhờ chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ (IRM). Sự thăm dò não bộ của các trẻ sơ sinh và các trẻ em là một địa hạt tương đối mới. “ Thần kinh học (neurologie) trước hết đã phát triển nhiều ở người lớn. Ở trẻ em, đã phải chờ sự xuất hiện của các kỹ thuật không xâm nhập, như chụp hình ảnh bằng cộng hưởng từ, để có thể chứng kiến một sự bùng nổ của các nghiên cứu ”, BS Dehaene đã giải thích như vậy nhân một cuộc viếng thăm phòng thí nghiệm của ông, được tổ chức bởi Fondation pour la recherche médicale. Cơ quan này đã cấp một kinh phí 240.000 euro cho dự án nghiên cứu về chứng khó phối hợp động tác (dyspraxie).

         Được phát hiện thường nhất lúc học tiểu học, bệnh lý của sự phát triển não bộ này thường xảy ra : 5 đến 7% những trẻ từ 5 đến 11 tuổi bị liên hệ, theo những công trình nghiên cứu dịch tễ học. Hoặc tiềm tàng có “ 250.000 trẻ em ở Pháp, một em ở mỗi lớp học ”, BS Caroline Huron, nhà nghiên cứu nữ cùng nhóm Inserm/CEA đã diễn đạt như vậy. Những rối loạn điều hòa, có thể cũng ảnh hưởng lên hệ mắt, trở nên đặc biệt gây tro ngại vào lúc học viết. Và để làm hiểu những điều mà các trẻ em này chịu đựng, nhà nghiên cứu đề nghị cử tọa tham gia vào một thí nghiệm nhỏ bằng cách nhìn một vidéo trong vài phút. Trong vidéo này hai đội cầu thủ basket (một mang số hiệu trắng, còn đội kia mang số hiệu đen) chuyền bóng cho nhau. Trong thời kỳ đầu, Caroline Huron yêu cầu những người tham dự đếm số lần giao bóng của đội cầu thủ mang số hiệu trắng và tất cả đều nhận thấy sự đáp ứng tốt. Nhưng vào thời kỳ hai khi bà bảo xem cùng phim, mà không phải đếm gì cả, toàn thể cử tọa nhận thức rằng một vận động viên đã đi xuyên qua sân chơi.“ Suốt cả cuộc đời, những người bị chứng khó phối hợp động tác (dyspraxique) phải chú ý quá mức điều họ làm, do đó bị các khó khăn khi phải làm hai việc cùng một lúc, thí dụ vừa nghe cô giáo vừa viết ”, Caroline Huron đã nhấn mạnh như vậy.

         Để giúp những trẻ này trong học trình, Caroline Huron, cùng với những nhà nghiên cứu khác, đã tạo nên một hội nhằm giúp các trẻ trong tình huống phế tật có thể hội nhập học đường, và đặc biệt là những trẻ bị chứng khó phối hợp động tác. Bây giờ thách thức của kíp của BS Dehaene là phải nhận biết những cơ chế não bộ gây nên những rối loạn điều hòa này để đề nghị những buổi tái huấn luyện thích hợp. Trong giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu sẽ đánh giá một cách chính xác các năng lực số (compétence numérique) (tính toán, so sánh lượng) so với năng lực của những trẻ bình thường cùng lứa tuổi. Sau đó sẽ nghiên cứu khả năng viết và những hiệu năng thị giác. Song song, những thăm khám chụp hình ảnh cộng hưởng từ hạt nhân (IRM) sẽ cho phép xác định vị trí những bất thường não bộ liên kết với chứng khó phối hợp động tác. Những kết quả sẽ được chờ đợi trong 3 năm đến.

(LE FIGARO 16/2/2011)

5/ QUÁ NHIỀU ALBUMINE TRONG NƯỚC TIỂU CÓ HẠI CHO CHỨC NĂNG NHẬN THỨC CỦA CÁC LÃO NIÊN.

          Sự hiện diện của albumine trong nước tiểu với những nồng đó quá mức ở những người trên 65 tuổi chứng tỏ một sự biến đổi của chức năng thận, liên kết với những bất thường vi huyết quản. Nhưng những biến đổi này cũng có thể ảnh hưởng lên não bộ. Đó ít nhất là điều được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu. Thật vậy, những trắc nghiệm về hiệu năng nhận thức (test cognitif) càng thoái biến khi tỷ suất những nồng độ albumine/créatinine trong nước tiểu càng cao. Trị số ngưỡng bệnh lý (valeur seuil pathologique) là 30mg albumine/24 giờ.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

6/ MỘT GIỌT MÁU TIÊN ĐOÁN GIỚI TÍNH.

            Biết giới tính của em bé sẽ được sinh ra đời. Hôm nay đó là một thông tin xuất phát từ siêu âm được thực hiện ở các bà mẹ tương lai vào khoảng giữa tuần lễ 20 và 22 của thai nghén. Nhưng có những lý do quan trọng hơn để xác định sớm hơn giới tính của đứa trẻ : khi đứa trẻ này bị một căn bệnh chỉ xảy đến cho những trẻ em thuộc một giới tính nhất định, như bệnh hémophilie hay bệnh Duchenne, chỉ ảnh hưởng lên các cháu trai. Thông tin cho bố mẹ kịp thời có thể giúp quyết định thực hiện sẩy thai điều trị (avortement thérapeutique) rất sớm để làm giảm thiểu hậu quả sinh lý hay đạo đức.

          Trong khi thăm dò phát hiện được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới nhằm mục đích này luôn luôn là chọc màng ối qua bụng (amniocentèse), thì hôm nay một kỹ thuật cải tiến nhằm xác định giới tính nhưng chỉ cần lấy máu ở người mẹ đang được đánh giá bởi một công trình nghiên cứu rộng rãi nhất từng được thực hiện.

NGÀY TUẦN LỄ THAI NGHÉN THỨ 7.

         Các kết quả được công bố hôm nay bởi tờ báo quy chiếu Jama : các nhà nghiên cứu đã xác định rằng các xét nghiệm máu, căn cứ trên một sự khuếch đại của mật mã di truyền (amplification du code génétique) của những tế bào phôi thai lưu thông trong máu của người mẹ, đáng tin cậy từ 95 đến 99% để xác định giới tính của trẻ em. Về phương diện kỹ thuật, trắc nghiệm này phát hiện những mảnh của nhiễm sắc thế Y trong máu, mặc dầu người mẹ không có chúng trong mật mã di truyền của chính mình. Các nhà nghiên cứu cũng xác định rằng các trắc nghiệm có mức độ đáng tin cậy ngay tuần lễ thứ bảy của thai nghén, trong khi những trắc nghiệm khác, mặc dầu muốn xác định giới tính ngay tuần lễ thứ 5 nhưng không mang lại đủ mức độ đáng tin cậy. Các nhà nghiên cứu sử dụng phản ứng dây chuyền (réaction en chaine) bởi polymérase en temps réel, có tính chất tiên đoán tốt hơn về giới tính của đứa trẻ so với những kỹ thuật cũ hơn.
            Kết luận của các nhà nghiên cứu: “ Kỹ thuật này hữu ích trong lâm sàng để phát hiện những thai nhi có nguy cơ bị những bệnh liên kết với giới tính và đòi hỏi những trắc nghiệm theo dõi sâu.”

             Công trình nghiên cứu này sẽ hợp thức hóa về mặt khoa học một việc làm đã rất phổ biến trong các bệnh viện mũi nhọn. “ Chúng tôi sử dụng trắc nghiệm này trong tất cả những trường hợp trong đó chúng ta nghi ngờ rằng một trẻ em có thể bị một bệnh di truyền liên kết với giới tính, GS Corinne Hubinont, thầy thuốc chuyên khoa sản thuộc Cliniques Universitaires Saint-Luc (UCL, Bỉ) đã giải thích như vậy. Hoặc là bởi vì bố mẹ đã có một đứa con bị bệnh, hoặc là bởi vì một bệnh sử gia đình gợi nguy cơ này. Lợi ích chủ yếu là trắc nghiệm này đáng tin cậy và không xâm nhập. Trong khi chọc dò màng ối qua bụng (amniocentèse), mặc dầu mang lại cùng thông tin, nhưng được liên kết với một tỷ lệ sẩy thai tu 0,5 đến 3%. Vậy đó là một nguy cơ vô ích trong khi ta có được một trắc nghiệm máu không tạo nên những nguy cơ này. Điều đó cho phép làm an lòng các bà mẹ. Nếu kết quả dương tính, khi đó chúng ta sẽ tiến hành những thăm khám bổ sung.”

             Tuy nhiên, kỹ thuật cải tiến này không phải được áp dụng cho mọi trường hợp : “ Rõ ràng có những yêu cầu muốn thực hiện loại xét nghiệm này để chọn giới tính của đứa con tương lai của mình, mà không có một lý do điều trị nào cả. Một yêu cầu nhu vậy bị cấm chỉ bởi luật pháp và chúng tôi theo dõi để loại bỏ một cách hệ thống những yêu cầu thuộc loại này.”
(LE SOIR 10/8/2011)

7/ VÒI EUSTACHE

           Thuật ngữ rất quen thuộc này không phải do Saint Eustache mà đúng hơn là do Bartholomeo Eustachi, nhà cơ thể học người Ý của thế kỷ XIV.

           Bartholomeo sinh ra đời ở San Severino, có lẽ vào năm 1513. Là con trai của Mariano Eustachi, một thầy thuốc nổi tiếng và thuộc gia đình quý tộc, ông theo học trung học (enseignement humaniste) và thụ đắc một kiến thức tuyệt vời về tiếng Hy Lạp, Hébreu và Ả rập, đến độ có thể tự mình viết những bản dịch của Avicenne và đọc những bản văn của Hippocrate. Ông học y khoa ở Rome tại Viện triết lý Archiginnasio della Sapienza và bắt đầu hành nghề vào khoảng năm 1540. Tài năng của ông sớm được chú y bởi duc d’Urbino, chọn ông làm thầy thuốc riêng, rồi sau đó nhanh chóng đến lượt anh của công tước, đức hồng y Giulio della Rovere. Ông hội nhập vào giáo sư đoàn (élite professorale) của Collegia della Sapienza, đại học tương lai của Rome, và trở thành giáo sư cơ thể học. Chức vụ này cho phép ông thực hiện các phẫu tích trên những người chết thuộc hai bệnh viện chủ yếu, Santo Spirito và Consolazione. Những tác phẩm đầu tiên của ông chỉ có từ năm 1561, lúc ông gần 50 tuổi, và một phần những tác phẩm nhằm bảo vệ những tác phẩm của Galien (thầy thuốc Hy lạp của thế kỷ II), mặc dầu sau đó ông chấp nhận là đã bảo vệ  nhiều sai lầm của thầy mình. 

MỘT NHÀ CƠ THỂ HỌC NGOẠI HẠNG

           Chuyên luận của ông về thận chứng tỏ một kiến thức đầy chi tiết về cơ quan, hơn nhiều kiến thức của những nhà cơ thể học đã đi trước ông. Chuyên luận của ông gồm một bài mô tả đầu tiên hết về tuyến thượng thận và một sự xác định đúng đắn về cấu trúc thận và những biến đổi cơ thể học của nó, đã được đề cập một cách ngắn ngủi bởi Vésale, người cùng thời với ông. Trong Opuscula anatomica, Eustachi lấy căn cứ của công trình mình trên sự phẫu tích thai nhi và những trẻ em rất nhỏ tuổi, và có điểm độc đáo là nghiên cứu những loại mô cho đến khi đó không được chú ý đến : các chiếc răng. Chuyên luận của ông mô tả các răng sữa và các răng thứ phát (deuxième dentition) cũng như thành phần của men răng và ngà răng. Ông cũng có đưa ra một giải thích đầu tiên về sự nhạy cảm của cấu trúc cứng của răng. Sau đó là chuyên luận của ông về thính giác và sự mô tả nổi tiếng của ông về màng nhĩ, về các cơ và dây thần kinh của xương bàn đạp (étrier) và…của “ vòi ”(trompe) mang tên ông (vòi Eustache) (thật hợp lý vì sự mô tả chính xác của ông), mặc dầu sự đề cập đầu tiên hết đã có từ Almaceon de Sparte, 4 thế kỷ trước thiên chúa giáng sinh.Vào thời kỳ đó, Almaceon đã cho rằng các con dê  thở không những bằng mũi mà bằng cả vòi Eustache. Một lý thuyết cho rằng Shakespeare đã dựa vào sự thông thương giữa tai giữa (oreille moyenne) và hầu, được khám phá bởi Eustachi, để tạo ra cái chết của cha của Hamlet, bị đổ thuốc độc vào trong tai, nhất là sự hấp thụ trực tiếp của vài chất trong ống tai đã từng được biết đến. Eustachi cũng mô tả những tĩnh mạch azygos và đặt tên mình cho một valvule, van ngăn cách tâm thất phải với tĩnh mạch chủ dưới, điều này chứng tỏ rằng ông có một kiến thức rất to lớn về cấu trúc tim.

NHỮNG TRANH MINH HỌA ĐẦU TIÊN BỊ ĐÁNH MẤT.

         Vào năm 1552, lúc 39 tuổi, Eustachi đã nghĩ ra 47 bức tranh khắc cơ thể học (planche anatomique) và được thực hiện bởi một nghệ nhân, Pier Matteo Pini, vài bức được khắc trên đồng và được chuẩn bị cho một cuốn sách về những tranh luận cơ thể học không bao giờ được công bố. Chỉ có 8 tranh minh họa được dùng cho Opuscula anatomica và 39 hình vẽ bị biến mất trong những năm dài. Chúng được tìm thấy lại 162 năm sau trong tài sản của một hậu duệ của một người thừa kế của Eustachi ở viện hàn lâm y khoa, Giovanni Lancisi. Được xuất bản vào năm 1714 kèm theo những bản văn hiện đại, các bức tranh vẽ chứng tỏ Eustachi đã là một nhà cơ thể học chuyên sâu đến mức độ nào. Các cơ, xương, ngực, bụng, các cấu trúc huyết quản, nhưng cả não bộ và hệ thần kinh giao cảm, tất cả được vẽ với một mức độ chính xác không thể tin được, bằng những lớp kế tiếp nhau và theo ba chiều không gian ! Eustachi được xem như là nhà cơ thể học so sánh (anatomiste comparatif) đầu tiên, đánh giá những khác nhau giữa động vật và con người, nhưng vì không công bố, nên nhiều trong số những khám phá của ông đã được gán cho những người khác sau này. Bị bệnh thống phong (goutte), ông từ bỏ giảng dạy nhưng tiếp tục phục vụ hồng y. Chính vì vội đến Fossombrone theo lời yêu cầu của hồng y mà ông bị chết ở dọc đường trên Via Flamina vào năm 1574 lúc ông được 61 tuổi. Vào năm 1913, để kỷ niệm lần sinh nhật lần thứ 400 của ông, một đài kỷ niệm để vinh danh ông được dựng lên ở Rome. Hiện nay, cuốn Opuscula anatomica của ông đáng giá 30.000 euros.                                           
(LE GENERALISTE 11/8/2011)

8/ NGUY CƠ BỊ BỆNH PARKINSON ĐƯỢC LÀM GIA TĂNG BỞI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG.

           Bệnh đái đường làm gia tăng nguy cơ mắc phải bệnh Parkinson. Sau nhiều công trình nghiên cứu, một điều tra rộng lớn tái xác nhận điều đó. Gần 2.000 người bị bệnh Parkinson đã được so sánh, mỗi người với những người chứng (những người lành mạnh). Nhìn toàn bộ, nguy cơ gia tăng 1/3 trong trường hợp bị bệnh đái đường, được chứng tỏ bởi nhập viện, thăm khám ngoại trú hay điều trị với thuốc chống bệnh đái đường. Sự tương quan này có thể được giải thích bởi những bất thường chuyển hóa của insuline, chung cho cả hai bệnh này.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2011)

9/ NHỮNG THUỐC TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG ACTOS VÀ COMPETACT BỊ RÚT RA KHỎI THỊ TRƯỜNG.

              Afssaps đã đồng ý đình chỉ những loại thuốc này vì lý do nguy cơ gia tăng gây ung thư.

              SANTE PUBLIQUE. Sau cùng, Cơ quan an toàn y tế của các sản phẩm y tế của Pháp (Afssaps) đã quyết định đình chỉ sự thương mãi hóa các thuốc chống bệnh đái đường Actos và Competact. Pioglitazone, được thương mãi hóa dưới tên Actos và Competact, có mặt trên thị trường từ những năm 2000. Ủy ban cảnh giác dược của Afssaps đã đánh giá rằng, xét vì nguy cơ ung thư bàng quan có thể quy cho loại dược phẩm này, ngoài những tác dụng phụ khác đã được biết (lên cân, suy tim, phù, gãy xương…), phải tức thời đình chỉ sự thương mại hóa nó.  

           Từ nhiều tháng nay, số phận của Actos và Competact (có hoạt chất được gọi là pioglitazone) đang còn được tranh cãi vì những thuốc này bị buộc tội làm dễ ung thư bàng quang. Hai thuốc này của hãng bào chế Nhật Bản Takeda là những thuốc còn lại cuối cùng của một classe pharmaco-thérapeutique (glitazone) vì Avandia đã được rút ra khỏi thị trường vào tháng 9/2010. Những thuốc này làm hạ đường huyết và hémoglobine glyquée, nhưng chúng không được công nhận bởi giới hữu trách y tế như là một thuốc chống bệnh đái đường đúng nghĩa. Actos và Competact đã thuộc vào danh sách 77 loại thuốc được theo dõi bởi Afssaps vào cuối tháng giêng vừa qua. 

            Vào năm 2003, FDA đã thực hiện một công trình nghiên cứu về những tác dụng phụ của pioglitazone. Nhưng những kết quả không đáng kể. Vào tháng 9/2010 : FDA đưa ra một lời báo động bởi vì cơ quan này đánh giá rằng pioglitazone làm dễ sự xuất hiện các ung thư của bàng quang. Vào tháng 10/ 2010 tạp chí y khoa Prescrire báo cáo cho Caisse nationale d’assurance-maladie về những mối lo ngại đối với Actos và Competact. Kết luận : phân tích tình hình của 1.491.060 bệnh nhân đái đường được theo dõi từ năm 2006 đến 2009 “ củng cố lý thuyết về sự hiện hữu của một mối liên hệ đáng kể về mặt thống kê giữa việc sử dụng pioglitazone và tỷ lệ ung thư bàng quan ”, công trình nghiên cứu của Cnam đã đánh giá như vậy. Nhóm bệnh nhân đã sử dụng pioglitazone ghi được một sự gia tăng 22% những trường hợp ung thư.

            Pioglitazone, được dùng để điều trị bệnh đái đường loại 2, thuộc họ các glitazones được khám phá trong những năm 1980-1990 và có một cách tác dụng hoàn toàn mới. Những loại thuốc này đã được bán ở châu Âu từ năm 2002.         “ Những loại thuốc thuộc họ glitazone này làm di chuyển mỡ của cơ và gan về phía mô mỡ và do đó làm gia tăng tính nhạy cảm đối với insuline và làm kềm hãm tiến triển của bệnh. Lúc đầu các loại thuốc này rất được ưa thích do cách tác dụng độc đáo vì thuốc tác động trực tiếp lên cơ chế của bệnh, sự đề kháng đối với insuline gây nên sự giảm tiết insulin ”. Thuốc đầu tiên thuộc họ này, troglitazone, đã được rút ra khỏi thị trường ở Hoa Kỳ vào đầu những năm 1990 do sự gia tăng những trường hợp viêm gan chết người. Thuốc thứ hai, rosiglitazone (Avandia) chịu chung số phận vào năm 2010 đó nguy cơ tim mạch gia tăng. Pioglitazone (được thương mãi hóa dưới tên Actos và competact), đã được đưa ra thị trường vào năm 2000, ngày nay bị lên đoạn đầu dài. Những kết quả của một công trình nghiên cứu, được công bố năm 2005 phát hiện nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Tạp chí Hoa Kỳ Diabetes Care đã công bố vào 22/4 năm nay những kết quả của một công trình nghiên cứu phát hiện một nguy cơ gia tăng bị ung thư bàng quan ở những bệnh nhân được điều trị bởi pioglitazone từ hơn 2 năm. Công trình nghiên cứu này đã so sánh nguy cơ bị ung thư bàng quan đối với những bệnh nhân nhận pioglitazone và những bệnh nhân nhận những loại thuốc chống đái đường khác. “ Công trình này kết luận một nguy cơ hơn 80 trường hợp ung thư bàng quan đối với 100.000 bệnh nhân được điều trị bởi pioglitazone, so với dưới 70 trường hợp đối với 100.000 người bệnh được điều trị bởi những loại thuốc chống đái đường khác ”, giáo sư André Grimaldi, trưởng khoa diabétologie của bệnh viện Pitié- Salpetrière (Paris) đã tóm tắt như vậy. Giáo sư Jean-Louis Montastruc (Pharmacologue, Toulouse) thì dứt khoát hơn : “ Bây giờ có đủ dữ kiện để rút loại thuốc này không chậm trễ, ông đã xác nhận như vậy. Vả lại, đáng lý ra loại thuốc này không bao giờ được cho phép.” một quan điểm được chia sẻ bởi GS Daniel Marzin (Pharmacologue, Lille). Theo ông, pioglitazone đúng là một                  “ promoteur ” của ung thư bàng quan.

 (LE FIGARO 3/5 &10/6/2011)

10/ CAFEINE ĐỂ BẢO VỆ CHỐNG UNG THƯ DA.

           Từ vài thập niên qua, ta đã quan sát thấy một mối liên hệ giữa việc tiêu thụ cà phê và sự thu giảm của vài ung thư. Thí dụ một công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy rằng những người đàn ông uống ít nhất 6 tách cà phê mỗi ngày thấy nguy cơ phát triển loại ung thư tiền liệt tuyến gây chết người nhất giảm 60%. Ta cũng đã chứng thực cùng cơ chế bảo vệ đối với vài ung thư da, nhưng không hiểu được cơ chế phân tử làm phát sinh những ung thư này. Chính đúng cơ chế này mà các tác giả của một công trình nghiên cứu được công bố tuần này trong Annales de l’Académie nationale américaine des sciences (PNAS) vừa khám phá.

           Các kết quả cho thấy rằng những tác dụng bảo vệ của caféine chống lại các tia tử ngoại, có thể được giải thích bởi sự trung hòa của một enzyme trong thời kỳ tiền ung thư, trước khi khối u đã phát triển hoàn toàn.

            Khám phá này nhiên hậu có thể cho phép chống lại tốt hơn ung thư da, loại ung thư thường xảy ra nhất trên hành tinh, mặc dầu phần lớn không phải là các u hắc tố (mélanome) (thể nặng nhất) và thường có thể chữa lành nếu được chẩn đoán khá sớm.

            Nhưng phải sử dụng caféine dưới dạng nào ? Bằng cách uống ? Đắp lên da ? Và với những lượng nào ?

           “ Chắc chắn rằng công trình nghiên cứu rất chuyên sâu này sẽ dẫn đến những triễn vọng quan trọng không những về mặt phòng ngừa các ung thư mà còn là giải pháp khả dĩ để điều trị các ung thư đã phát ra ”, GS Pierre Vereecken, trưởng khoa Dermatologie của Cliniques universitaires Saint-Luc (UCL) đã phát biểu như vậy.

           “ Cứ 75 người Bỉ thì có một sẽ bị u hắc tố vào một ngày nào đó trong cuộc đời mình, nhưng tính dễ mắc bệnh rất là thay đổi tùy theo loại da, mà ta xếp thành 6 loại. Vậy ít có khả năng phát triển một công cụ phòng ngừa dựa trên caféine cho toàn thể dân chúng. Sự ngăn ngừa nguyên phát của ung thư da trước hết phải dựa trên việc giảm tiếp xúc với ánh nắng. Nhưng sử dụng tại chỗ caféine, nếu sự hữu ích được xác nhận, sẽ hữu ích hơn ở những bệnh nhân có nguy cơ phát triển một carcinome da. Như là trường hợp những bệnh nhân có một thương tổn quan trọng gây nên bởi ánh nắng, những bệnh nhân đã lưu trú trong vùng nhiều ánh nắng trong những thời kỳ kéo dài. Hay là những bệnh nhân với tình trạng suy giảm miễn dịch (immuno-suppression) do một căn bệnh hay do ghép cơ quan.”

NHIỀU ĐIỀU TRỊ KHÔNG CẦN PHẢI MỔ HƠN

           Nhưng caféine cũng có thể được sử dụng như là thuốc : “ Việc bào chế sẽ đặc biệt hữu ích vì lẽ loại thuốc chứa caféine này sẽ được thêm vào kho vũ khí gồm những điều trị không cần phải mổ của các carcinome, càng ngày càng nhiều thêm từ nhiều năm qua, như việc sử dụng imiquinol, một thuốc có tác dụng kích thích khả năng miễn dịch chống lại những tế bào khối u. Hay quang liệu pháp động (photothérapie dynamique), liên kết acide delta-aminolevulinique và các làn sóng ánh sáng được phân cỡ. Nhưng việc phát triển một công cụ mới chắc chắn đòi hỏi nhiều năm phát triển và trắc nghiệm. Đặc biệt phải kiểm tra tính chất không độc hại của nó đối với con người.

CAFEINE TÁC DỤNG NHƯ MÀN CHẮN ÁNH NẮNG MẶT TRỜI

        Các nhà nghiên cứu của Đại Học của tiểu bang Washington đã biến đổi về mặt di truyền các con chuột để làm giảm trong da của chúng chức năng của protéine ATR. Men này đóng một vai trò chủ chốt trong sự tăng sinh nguy hiểm của các tế bào đã bị thương tổn bởi các tia tử ngoại (rayon ultraviolet). Các nghiên cứu đã cho thấy rằng caféine ức chế ATR. Ở đây vì ATR được ức chế một cách nhân tạo, nên ta làm gia tăng sự phá hủy các tế bào mà ADN bị hư hỏng hay đã trở nên ác tính.

       Kết quả : ở các con chuột bị tiếp xúc với những tia tử ngoại khiến tác dụng của protéine ATR bị giảm, nên các khối u da đã phát triển 3 tuần sau đó. Sau 19 tuần tiếp xuất với các tia tử ngoại, các con chuột đuợc biến đổi về mặt di truyền (để làm giảm chức năng của protéine ATR) có 69% các u da ít hơn, và 4 lần ít hơn những khối u ác tính. Sự tiếp tục rọi các tia tử ngoại sau cùng (sau 34 tuần) đã làm thương tổn những tế bào da của các con chuột được biến đổi về mặt di truyền. Theo các nhà nghiên cứu, bôi crème chứa caféine lên da có thể góp phần ngăn cản sự xuất hiện của các ung thư. Ngoài ra, caféine hấp thụ các tia tử ngoại, tác dụng như một màn ngăn ánh nắng mặt trời (écran solaire).
(LE SOIR 18/8/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH

(27/8/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s