Thời sự y học số 239 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ 11 RỐI LOẠN TẤM THÂN : LOẠN NĂNG ĐỌC (DYSPLEXIE)

            Đứa trẻ chỉ được xem là bị loạn năng đọc (dysplexique) khi nó rất khó khăn trong việc tập đọc : có nghĩa là nó bị chậm hai năm so với lứa tuổi của nó. Nhưng trước hết phải kiểm tra rằng nó không phải chỉ là một kẻ đọc tồi. Đặc biệt phải đảm bảo bằng những trắc nghiệm không dựa trên đọc, rằng trẻ không bị suy sut trí tuệ (déficience intellectuelle) (hoặc một thương số thông minh dưới 70). Cũng phải chắc chắn rằng trẻ lui tới trường một cách đầy đủ, và không bị những rối loạn nghiêm trọng về giác quan (trouble sensoriel) (đặc biệt là thị giác), thần kinh hay tâm lý

          + Ai bị liên hệ ?
                   Các nhà nghiên cứu ước tính rằng 3 đến 5% các trẻ em ở lứa tuổi học đường bị chứng loạn năng đọc (dyslexie). Nhưng như một báo cáo của Inserm được công bố năm 2007 nhấn mạnh, ở Pháp ta không có một công trình nghiên cứu dịch tễ học nào có tầm cỡ để đưa ra một con số.

                   Thế mà, như Franck Ramus, phụ trách về nghiên cứu ở CNRS, đã ghi nhận, ngôn ngữ và hệ thống chữ viết của nó có một ảnh hưởng lên tỷ lệ lưu hành của chứng loạn đọc : chứng bệnh này gia tăng với số các chữ không theo quy tắc (mots irréguliers), và với sự phức tạp của các tương ứng giữa các âm vị (phonème) (đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói) và những tự vị (graphème)  (tương đương chữ viết của chúng). Như thế, sau một cuộc điều tra được tiến hành ở Hoa Kỳ và ở Ý, người Mỹ Scott Lindgren của đại học Iowa và nhóm nghiên cứu của ông đã thu được những tỷ lệ lưu hành từ 4,5 đến 12% so với 3,6 đến 8,5% ở Ý. Tiếng Anh có những đặc điểm gần với tiếng Pháp, chính dựa trên những công trình nghiên cứu dịch tễ học nói tiếng Anh mà những đánh giá Pháp được thực hiện.                                                          

          + Những nguyên nhân của chứng loạn đọc ?
                      “ Mãi cho đến những năm 1970-1980, ta vẫn cho rằng chứng loạn đọc là một rối loạn thị giác. Nhưng từ 30 năm nay, có một sự nhất trí rộng rãi cho rằng đó trước hết là một vấn đề âm vị học (problème phonologique) ”, Franck Ramus đã giải thích như vậy. Thật vậy ta biết rằng sự học đọc là một quá trình tạo mối liên hệ giữa các chữ (lettre) và âm thanh. Theo lý thuyết “ âm vị học ” (théorie phonologique), chứng loạn đọc do đó phát xuất từ sự khiếm khuyết của hệ thống biểu tượng tâm thần (représentation mentale) và xử lý các âm của lời nói, làm rối loạn sự thụ đắc đọc.

                     Trong những năm qua, nhiều công trình chụp hình ảnh não đã hỗ trợ cho ý tưởng này. Ví dụ người ta đã chứng tỏ rằng trong khi đọc, một vùng thị giác nằm ở bán cầu đại não trái, vỏ não của phần dưới thùy thái dương (cortex temporal inférieur), đặc biệt có nhiệm vụ xử lý sự nhận biết bất biến các chữ (hình dạng của các chữ, sự liên kết giữa các chữ nhỏ và những chữ viết hoa, các thống kê về ngôn ngữ), nối kết với những vùng chuyên biệt trong sự xử lý âm vị học  phonologie) của ngôn ngữ và của ngữ vựng tinh thần (lexique mental). Thế mà sự tổ chức của các mạng giữa các vùng dường như bị biến đổi ở những người bị chứng loạn đọc.

             Những công trình nghiên cứu khác đã nhấn mạnh một sự giảm thể tích chất xám trong hai trong vùng này : vùng trán (aire frontale) và vùng đỉnh-thái dương (aire pariéto-temporale). Sau cùng, ngay năm 1985, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã quan sát trong lúc giải phẫu tử thi ở những người loạn đọc những bất thường trong sự di chuyển của các neurone tại những vùng này trong thời kỳ phát triển bào thai. Mặt khác, từ ít lâu nay, di truyền học đã cho phép nhận diện nhiều gène tạo nên những yếu tố nguy cơ đối với chứng loạn đọc. Thế mà tất cả những gène này dường như có liên hệ vào trong sự di chuyển của các neurone (migration neuronale).Vậy nguyên nhân của rối loạn cần phải được tìm về phía đó. Sau cùng, đối với một số các trường hợp, dường như rối loạn có nguyên nhân thị giác hay…một loại nguyên nhân khác. “ Có nhiều giả thuyết về vấn đề này, vẫn còn phải được xác nhận ”, Frank Ramus đã ghi nhận như vậy.

             + Làm sao dieu trị ?
                     Những trẻ bị chứng loạn đọc thường nhất được điều trị bởi các chuyên viên chỉnh âm (orthophoniste). Những chuyên gia này sẽ thiết đặt những phương tiện để bù phế tật đồng thời dạy đọc một cách khác, bởi vì một trẻ bị loạn đọc sẽ vẫn như vậy suốt đời, ta không thể chữa lành rối loạn này. Tuy nhiên vài công trình nghiên cứu về chủ đề này cho thấy rằng việc điều trị phải tích cực và ngắn ngủi : 4 đến 5 buổi mỗi tuần, trong hai tháng. Thế mà, đó không phải là những khuyến nghị của Cơ quan an toàn y tế của các sản phẩm y tế Pháp (Afssaps).  

                  Có phải vì thế mà phải cho rằng điều đó không có một hiệu quả nào ? “ Hiện nay, ta vẫn còn mù tịt, nhưng thật sự có một vấn đề to lớn về việc không có sự đánh giá.” Ngoài ra các thực hành không phải luôn luôn giống nhau đối với mọi chuyên viên chỉnh âm. Đó là chưa kể đến những trẻ bị chứng loạn đọc hầu như luôn luôn bị những rối loạn liên kết khác như chứng tính toán khó (dyscalculie), dysorthographie, chứng mất thực dụng (dyspraxie), những rối loạn về sự chú ý, nhưng rối loạn lo âu…), việc điều trị hoàn chỉnh nói chung đòi hỏi sự can thiệp của những nghề nghiệp khác : nhà tâm lý liệu pháp, psychomotricien…

                     Về chứng loạn đọc do một rối loạn thị giác, những điều trị khác đã được đề nghị, từ nặng nề nhất (bịt một mắt lại) cho đến nhẹ nhàng nhất : lentilles hay lunettes teintées, lunettes à prismes, kích thích thính giác, kích thích bán cầu đại não, phục hồi các phản xạ cổ (réflexe archaique), các chất bổ sung dinh dưỡng…)
                             Phần lớn những phương pháp này, vì chưa được đánh giá về mặt khoa học, nên không được sự nhất trí của các chuyên gia. Kết quả, mặc dầu những kiến thức được tích luỹ, chứng loạn đọc vẫn là một casse tete thật sự đối với trẻ em cũng như bố mẹ.                       (SCIENCE ET VIE, HORS SERIE 6/2011)

2/ CHẨN ĐOÁN LOẠN NĂNG ĐỌC NHỜ CHỤP HÌNH ẢNH.

            Chụp hình ảnh não bộ những thiếu niên bị chứng loạn đọc (dyslexie) là phương tiện tốt nhất hiện nay để phát hiện những trẻ sẽ có thể sửa được phế tật của chúng, các nhà nghiên cứu của Ecole de médecine de Stanford ở Californie (PNAS, 4/1/201) đã loan báo như vậy.

           Các nhà nghiên cứu trước hết đã ghi bằng cộng hưởng từ chức năng (IRM fonctionnelle) sự hoạt hóa, trong khi đọc, của não bộ của những thiếu niên 14 tuổi bị chứng loạn đọc, rồi đo lại 2 năm rưởi sau đó. Những trẻ đã tiến bộ nhất trong việc đọc là những trẻ sử dụng nhiều nhất một vùng của não bộ bên phải, hồi trán dưới (gyrus frontal infeieur), và cũng có những nối kết (connexions) tốt nhất giữa vùng này và những vùng của thính giác. Khi đã hội đủ những tiêu chuẩn này, Fumiko Hoeft và các đồng nghiệp của mình tiên đoán được một sự cải thiện đọc ở hơn 70% các thiếu niên bị loạn đọc, và ngay cả ở 90% những trẻ này nếu tổng thể những dữ kiện não được xét đến..

NHỮNG BÀI TẬP ĐẶC HIỆU.
             Hồi trán dưới (gyrus frontal inférieur) phải đã được biết là được sử dụng bởi những trẻ loạn đọc vào lúc đọc, và điều này càng nhiều khi khi chúng càng lớn tuổi, trong khi hoạt động của bán cầu đại não trái có tính chất quyết định với với những người đọc bình thường. Như thế công trình nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của bán cầu đại não phải trong những cơ chế bù được thiết đặt với các trẻ bị chứng loạn đọc. Những kết quả này cũng xác nhận rằng một chiến lược não bộ thay thế đọc có thể được phát triển ở vài trẻ em bị loạn đọc và các tác giả gợi ý rằng những phương pháp học đọc khác có thể có lợi hơn cho chúng.
             Phải chăng từ nay có thể phân tích mọi trẻ bị chứng loạn đọc bằng cộng hưởng từ của não bộ ? “ Không, Ghislaine Dehaene, thầy thuốc nhi khoa và chuyên gia của đơn vị neuro-imagerie cognitive à Sarlay đã nói như thế. Công trình nghiên cứu này không được làm quên rằng mỗi trẻ em là mỗi cá biệt duy nhất và chứng loạn đọc là một hiện tượng phức tạp do nhiều yếu tố. Tuy nhiên một sự khó khăn trong sự phân biệt vài âm thanh dường như là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với sự xuất hiện sau này của chứng loạn đọc và có thể được phát hiện ngay khi sinh trong những gia đình đặc biệt bị ảnh hưởng. Loại nghiên cứu dựa trên chụp hình ảnh não bộ này cũng có thể cho chúng ta những hướng thăm dò nhằm giúp các trẻ em bù lại những thiếu sót của chúng.
            Ở Pháp, chứng loạn đọc ảnh hưởng khoảng 5% các trẻ em và được thể hiện bởi một sự khó khăn trong việc liên kết các chữ và âm thanh, nhất là đối với những âm ngắn như p,t,b. Chẩn đoán, được thực hiện bởi thầy thuốc gia đình, có thể dẫn đến những bài tập đặc biệt nhằm cho phép điều chỉnh một phần khuyết tật này. Rối loạn học đọc này có một yếu tố di truyền, cac tiền sử gia đình hiện diện trong gần 70% các trường hợp. Chứng loạn đọc có thể bị làm gia trọng do một sự luyện tập đọc kém, điều này giải thích một phần tại sao các trẻ trong những gia đình nghèo thường bị ảnh hưởng nhất. Có nhiều phương pháp để điều chỉnh chứng loạn đọc này ở trẻ em, nhưng “ trong phần lớn các trường hợp, Ghislaine Dehaene đã xác nhận như vậy, phương pháp giáo dục tốt nhất vẫn luôn luôn là sự thực hành đọc ngay tuổi nhỏ nhất, dầu chỉ bằng các bande dessinée hay internet ”.
(LE FIGARO 16/1/2011)

3/ TA BIẾT TẠI SAO NICOTINE LÀM MẤT CẢM GIÁC ĐÓI.

           Những người hút thuốc ăn ít hơn những người khác…và họ nhận thấy như thế, nhất là khi họ ngừng hút thuốc ! Marina Picciotto và các cộng sự của trường y Yale, Hoa Kỳ, vừa chọc thủng màn bí mật của tác dụng này của điếu thuốc lá. Nguyên nhân : nicotine gắn vào các neurone POMC của não bộ. Trong vùng dưới đồi, các neurone này là thành phần của circuit điều hòa chuyển hóa, Marina Picciotto đã giải thích như vậy. Sau một bữa ăn những neurone này được hoạt hóa, báo hiệu cảm giác no nê và khiến ngừng ăn uống. Nicotine lai còn làm cho những tê bào này hoạt động hơn. ” Các nhà nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng cytisine, một loại thuốc được kê đơn ở Đông Âu để giúp những người nghiện ngừng hút, hoạt động cùng cách y hệt. Đây là một hướng nghiên cứu cần đào sâu để giúp những người hút thuốc không bị lên cân khi ngừng hút.
(SCIENCE ET VIE 8/2011)

4/ PHÌNH MẠCH (ANEVRISME) : 8 THÁI ĐỘ CẦN PHẢI TRÁNH.
     

    Điểm chủ yếu :

             – Sự tiêu thụ cà phê, cola, hoạt động vật lý mạnh, những giao hợp.

             – BS Vlak, ở Hòa Lan, đã nhận diện 8 thái độ khả dĩ làm gia tăng nguy
               cơ vỡ một phình động mạch não (anévrisme cérébral).

             – Những thói quen này đều có một điểm chung : tất cả chúng đều làm
                tăng huyết áp.

           Monique Vlak là thầy thuốc chuyên khoa thần kinh. Bà làm việc tại centre médical universitaire Utrecht, ở Hòa lan. Tuần này, bà vừa công bố một bài báo nói về những tiền sử của khoảng 250 trường hợp vỡ phình mạch (rupture d’anévrisme) được thống kê ở Hòa lan trong 3 năm qua. Một công trình nghiên cứu dài lâu, được công bố trong tạp chí Hoa Kỳ Stroke, mang lại nhiều điều bổ ích.
         “ Chúng tôi đã hỏi những bệnh nhân này về các thói quen trong cuộc sống của họ từ 3 tuần đến 1 giờ trước khi tai biến mạch máu não xảy ra, bà đã giải thích như vậy. Chúng tôi đã trắc nghiệm khoảng 30 tham số (paramètre). Chính như thế mà chúng tôi đã có thể nhận diện 8 hành vi có nguy cơ (comportements à risques). Hay ít nhất 8 hành vi khả dĩ làm gia tăng nguy cơ phình động mạch.”
          Những hành vi này là gì ? “ Chúng đều có một điểm chung. Chúng có tính chất làm gia tăng một cách nhanh chóng và tạm thời sức căng thành động mạch (tension artérielle) của các bệnh nhân, Monique Vlak đã xác nhận như vậy.

          Nguy cơ được thêm vào quan trọng nhất là do tiêu thụ cà phê (+ 10,6% nguy cơ), bà nói rõ như vậy. Sau đó là tập thể dục kéo dài (+ 7,9%), sự việc hỉ mũi mạnh (+ 5,4%), các giao hợp (+ 4,3%) hay cả việc đi cầu khó khăn (+ 3,6%). Sự tiêu thụ soda và cola làm gia tăng nguy cơ vỡ khoảng 3,5% trong khi sự việc bị trái ý hay giận dữ làm gia tăng nguy cơ lần lượt 2,7% và 1,3%. Còn về rượu, nó cũng làm gia tăng, nhưng vì quá ngắn ngủi nên không được xem là một yếu tố nguy cơ thật sự, các nhà nghiên cứu đã đánh giá như vậy.
            Công trình nghiên cứu tiết lộ rằng tuổi trung bình của những bệnh nhân này là 54,7 tuổi khi tai biến. Trong số những người này, ta ghi nhận tỷ lệ ở phụ nữ 3 lần nhiều hơn đàn ông.

           Điều đó cho ta những hướng để khuyên tốt hơn những bệnh nhân được chẩn đoán phình mạch, Monique Vlak đã xác nhận như vậy. Dĩ nhiên ta có thể khó ngăn cản người ta hỉ mũi khi họ bị cảm cúm. Trái lại ta có thể tác động lên những yếu tố khác, như sự tiêu thụ cà phê hay điều trị chứng táo bón.”

(LE SOIR 6/5/2011)

5/ QUANG TUYẾN CAN THIỆP LÀ GÌ ?
                                 
Professeur Jean-Michel-Bartoli
                                      Chef du pôle imagerie au CHU de la Timone (Marseille)

              Nếu chụp X quang là cần thiết để chẩn đoán phần lớn những bệnh y khoa, nó cũng cho phép đảm bảo sự hướng dẫn các can thiệp y khoa trong những điều kiện chính xác và an toàn tối ưu. Tài liệu thu thập về hoạt động của các thầy thuốc Pháp bởi Hiệp hội quang tuyến Pháp (SFR : Société française de radiologie) đã cho thấy rằng vào năm 2009 có hơn 530.000 động tác quang tuyến can thiệp (radiologie interventionnelle) đã được thực hiện và con số này đang gia tăng một cách hằng định.
             2/3 của những động tác này là nhằm chẩn đoán : đó là những chọc dò (ponctions), những sinh thiết (biopsies) mà nguyên tắc là, bằng đường qua da (par voie percutanée), hướng dẫn một chiếc kim đến một thương tổn nhằm lấy một mẫu nghiệm để phân tích. Việc hướng dẫn bằng hình ảnh cho phép đảm bảo đầu kim được đặt ở vị trí tốt trong lòng thương tổn và tránh những cơ quan nguy hiểm. Các sinh thiết rất được bệnh nhân dung nạp tốt, được thực hiện ngoại trú và nói chung chỉ cần một gây tê tại chỗ đơn giản bởi vì đường kính của kim hiếm khi vượt quá 2 hay 3 mm. Chất lượng lấy mẫu nghiệm mô rất tốt và trong phần lớn các trường hợp khỏi phải nhờ đến mổ sinh thiết. Tất cả các vùng của cơ thể, đặc biệt là những vùng sâu nhất, có thể hưởng được một chọc dò sinh thiết (ponction biopsie) và những cơ quan thường liên quan nhất bởi những động tác này là vú, tuyến giáp trạng, gan, thận, phổi và xương.
              Gần 1/3 các động tác quang tuyến cần thiết liên quan đến những can thiệp nhằm điều trị (intervention à visée thérapeutique), đuợc hướng dẫn bởi chụp hình ảnh. Một tổ chức đặc biệt cho hoạt động này được dự kiến trong các phòng khám và các khoa quang tuyến.

              Tính chất xâm nhập ít hơn của quang tuyến can thiệp (trước hết thực hiện qua da, giảm thời gian nhập viện và nằm ở phòng hồi sức sau can thiệp) là một điểm thuận lợi khác nhưng không được quên rằng tất cả các can thiệp trước hết phải được xét đến qua tính hiệu quả của chúng và rằng ngoại khoa trong nhiều trường hợp vẫn là điều trị chuẩn. Ngoài những thủ thuật tiêm ngấm được hướng dẫn bởi tia X(infiltrations radioguidées), những kỹ thuật củng cố xương (consolidation osseuse) bằng cimentoplastie và các chuyển đạo (dérivation)  (đường tiểu, mật) mà tính hiệu quả đã được biết rõ, phải nhấn mạnh về những tiến bộ trong hai lãnh vực : quang tuyến can thiệp huyết quản (radiographie interventionnelle vasculaire) và điều trị các ung thư bằng đường qua da.  Những thủ thuật khai thông các động mạch ngoại biên bị hẹp trong những năm 1980 đã nhanh chóng chứng tỏ tính hiệu quả của chúng (angioplasties, endoprothèses-stents, stent-graft hay endoprothèse couverte) và những thầy thuốc chuyên khoa khác như các nhà ngoại khoa mạch máu cũng đã sử dụng chúng để điều trị.
EMBOLISATION
         Lợi dụng kiến thức về navigation endovasculaire này, các nhà tiền phong, và trong số họ có nhiều thầy thuốc người Pháp rất có đầu óc phát minh, trong những năm 1970 đã nghĩ ra việc làm tắc toàn thể hay một phần một mạch máu bệnh lý. Embolisation ra đời và, từ đó, được phát triển thường trực với những matériel de navigation và d’occlusion càng ngày càng an toàn về mặt largage và tính hiệu quả : các vòng xoắn kim loại (spires métalliques), hay coils, rồi microcoils à largage controlé, colles bio-compatibles, produits sclérosants và polymères, các particules rồi microparticules có thể tiêu đi hay không và bây giờ chứa các thuốc hóa học trị liệu). Gây nghẽn mạch nhằm cầm máu (embolisation à visée thérapeutique) để làm ngưng hay phòng ngừa một xuất huyết, ngoại hay nội, được chỉ định ưu tiên một đối với các xuất huyết do chấn thương, các xuất huyết sau khi bong nhau (hémorragie de délivrance) xảy ra sau khi sinh hay xuất huyết màng não do vỡ phình mạch trong sọ.
             Trong tất cả các trường hợp, nguyên tắc đều giống nhau : xác định vùng chảy máu bằng siêu âm và scanner, rồi tiếp cận nhờ navigation endovasculaire qua chọc dò động mạch ở nếp gấp vùng bẹn và làm bít lại thương tổn động mạch để làm ngừng chảy máu, đồng thời bảo tồn khả năng sống của cơ quan bị thương tổn (thí dụ tử cung trong hémorragie de délivrance).

             Những kỹ thuật phá hủy khối u qua da là cải tiến mới nhất của quang tuyến can thiệp. Có nhiều kỹ thuật, và trong khi vài kỹ thuật đang còn được đánh giá như các siêu âm hội tụ (ultrasons focalisés) hay các “ micro-ondes ”, những kỹ thuật cắt bỏ bằng nhiệt (technique de thermoablation) như tần số phóng xạ (radiofréquence) hay liệu pháp đông lạnh (cryopthérapie) được sử dụng thông thường trong lâm sàng.                      
(LE FIGARO 4/4/2011)

6/ MỘT ANTIRETROVIRAL CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG.

         Lopinavir, một antirétroviral được sử dụng rộng rãi để chống lại HIV, cũng tác dụng lên các tế bào bị nhiễm bởi HPV (papillomavirus humain), một virus chịu trách nhiệm 500.000 trường hợp mới ung thư cổ tử cung trên thế giới mỗi năm. Theo Ian Hampson (thuộc đại học Manchester, Anh), “ antirétroviral này tái hoạt hóa một quá trình phòng vệ tế bào chống lại virus đã được biết rõ, nhung bị phong bế bởi HPV ”. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu phải tấn công vào một chướng ngại đáng kể trước khi hy vọng áp dụng trực tiếp : những liều lượng hiệu quả trong thí nghiệm in vitro 10 đến 15 lần lớn hơn những liều lượng được sử dụng chống lại HIV.
(SCIENCE ET VIE 8/2011)

7/ MARIE CURIE ĐÃ MỞ RA MỘT LÃNH VỰC KHOA HỌC.
         
Soraya Boudia là maitre de conférences en histoire et sociologie des sciences et techniques. Là chuyên gia về lịch sử khoa học hạt nhân, bà tiến hành các nghiên cứu ở Viện nghiên cứu liên ngành về khoa học và công nghiệp ở Strasbourg. Bà đã từng là giám đốc của viện bảo tàng Curie Paris.

           La Recherche : Tại sao Marie Curie đã đến Paris ?

           Soraya Boudia : Quyết định của Manya Sklodowska (tên khai sinh của Marie Curie ) đến Paris vừa có tính chất cá nhân đồng thời có tính chất thế hệ.Về mặt cá nhân, quyết định này phát xuất từ một thỏa thuận với người chị cả, Bronya. Người chị này đã quyết định theo học y khoa, điều mà bà không thể thực hiện trong một nước Ba lan dưới sự chiếm đóng của Nga, ở đó các phụ nữ không được theo học đại học. Hai chị em đã ký kết một hiệp ước : Manya ở lại Ba lan để làm việc và tài trợ một phần cho việc theo học của Bronya và, khi người chị đã an cư lập nghiệp, bà này đến lượt sẽ tài trợ phí tổn học đại học cho Manya. Ngoài ra, vào thời kỳ đó, Paris đã tạo một lực hút đối với nhiều sinh viên, đặc biệt là những sinh viên của các nước Đông Âu. Khi đó Paris là đỉnh cao trí thức và không gian tự do mà mọi giới trẻ mong muốn tìm kiếm. Đối với các phụ nữ, dầu sao những người cùng chung tham vọng trí thức như bà, Paris có lẽ có một sức quyến rũ còn lớn hơn, bởi vì đại học mở cửa đối với họ.

           Hỏi : Trong những điều kiện nào, Marie Curie đã đến Paris ?
           Soraya Boudia : Nhu thế sau khi đã nôn nóng nhiều năm trời, Marie Curie đến Paris vào năm 1891. Khi đó bà được 24 tuổi. Sau cùng bà tiếp xúc được cái cội nguồn khoa học mà bà đã không ngừng mơ tưởng, ông bố của bà trong một lá thư gởi cho Bronya đã viết như vậy. Trước hết cư trú ở nhà chị mình, bà tìm được một căn phòng tuy bé nhỏ nhưng tốt. Đó là những điều kiện sống tương đối đơn giản, nhưng những hoàn cảnh này làm bà vui lòng. Bà sung sướng, bởi vì bà tiếp cận được với một kiến thức và tận hưởng sự tự do to lớn của mình. Cái cảm giác tự do khác biệt với thời kỳ chờ đợi trong đó bà làm cô giáo trong một tỉnh của Ba Lan. Ngay cả trong những điều kiện vật chất bấp bênh này, Paris vẫn biểu hiện một sự cởi mở to lớn, đáp ứng với những nguyện vọng của bà. Bà ghi tên vào phân khoa khoa học, vào thời kỳ đó là Sorbonne. Một cách nhanh chóng, bà tỏ ra là một sinh viên xuất sắc, có một đam mê thật sự đối với khoa học và một năng lực làm việc to lớn. Nghiêm trang và quyết tâm, bà có được văn bằng cử nhân vật lý vào năm 1893. Năm sau, bà lấy được văn bằng cử nhân toán.

          Hỏi : Cuộc gặp gỡ với Pierre Curie diễn ra như thế nào ?
          Soraya Boudia : Vào đầu năm 1894, với bằng cử nhân vật lý trong tay, Marie Curie được Société pour l’encouragement de l’industrie nationale giao nhiệm vụ nghiên cứu một công trình về những tính chất từ học của thép, điều này chứng tỏ sự công nhận mà bà bắt đầu có được trong thế giới bé nhỏ những nhà vật lý. Để tìm kiếm một phòng thí nghiệm được trang bị tốt để thực hiện công trình này, bà đã nhờ đến một người bạn Ba lần. Anh ta vừa mới quen một nhà vật lý đang nghiên cứu từ học ở Trường vật lý và hóa học công nghiệp (EPCI : Ecole de physique et chimie industrielle). Đó là Pierre Curie. Người bạn này giới thiệu họ với nhau nhân một buổi dạ vũ. Ngay tức thì, như có một lực hút họ lại với nhau.

           Đó là cuộc gặp gỡ của hai con người vốn đã có cái gì tuyệt đối, rất đòi hỏi ở những kẻ khác và ngay với chính mình, và chia sẻ một đam mê chung đối với khoa học, đặc biệt là vật lý. Sự trao đổi thư từ giữa họ với nhau và những hồi ký của Marie Curie sau đó chứng tỏ một quan hệ rất sâu đậm giữa hai tâm hồn. Vào lúc cuộc gặp gỡ này, bà có ý định trở lại Ba lan để giảng dạy ở đó. Là người có tinh thần dân tộc, bà tôn thờ đất nước Ba lan và mong muốn giúp đỡ những người đồng hương bị áp bức bởi chế độ Nga sa hoàng. Nhưng “ giấc mơ khoa học chung ” (rêve scientifique commun) đã thắng giấc mơ ái quốc (rêve patriotique) : bà quyết định ở lại và họ cưới nhau vào tháng 7 năm 1895. Như thế bà trở thành Marie Curie. 

           Hỏi : Bà đã chọn chủ đề của luận án của bà như thế nào ?
           Soraya Boudia : Marie Curie dự kiến chuẩn bị một luận án, đó là giai đoạn hợp lý để xây dựng một sự nghiệp khoa học. Những công trình của bà về những tính chất từ của thép đã được chú ý, nhưng chính về một chủ đề hoàn toàn mới mà bà đã hướng về từ cuối năm 1897, đó là sự khảo sát các tia uranium (rayon uranique).

           Các tia uranium, một bức xạ (rayonnement) không thấy được và có khả năng đi xuyên cơ thể, được sinh ra từ muối uranium, vốn đã được khám phá bởi Henri Becquerel vào năm 1896. Tia bức xạ này kích thích sự tò mò của cộng đồng khoa học. Bức xạ uranium này dường như khác với các tia X được phát hiện bởi Rontgen một năm trước đó. Phải chăng bà đã chọn nghiên cứu chủ đề này cùng với Pierre Curie ? Khó mà nói được. Pierre cho phép bà sử dụng một khoảng khiêm tốn dành cho nghiên cứu của ông ở Trường vật lý và hóa học kỹ nghệ (EPCI). Ông cũng đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc thiết đặt một hệ thống thực nghiệm chính xác, sẽ có tính chất quyết định sau này đối với các công trình nghiên cứu của họ. Marie có lẽ đã quan tâm đến các tia uranium bởi vì bà có một kỹ thuật đo lường có thể thực hiện trong sự thăm dò một hiện tượng mà ta khó hiểu được. Phương thức của bà là so sánh những loại quặng khác nhau, để biết xem những loại quặng khác với những quặng của uranium có phát ra những tia nổi tiếng này hay không. Ý tưởng này không phải của bà, bởi vì Lord Kelvin, nhà vật lý người Anh nổi tiếng, đã thử một phương thức tương tự vài tháng trước đó nhưng không thành công.

           Hỏi : Bà đã thu được những kết quả nào ?
           Soraya Boudia : Chỉ sau vài tháng, bà thu được những kết quả mở ra những hướng đáng lưu ý. Với một hệ đo lường  chính xác và sử dụng những kiến thức của nhà hóa học, bà nhận thấy rằng trong những quặng uranium có một nguyên tố mà ta không biết và phát ra một bức xạ mạnh hơn bức xạ của uranium. Rất thích thú, Pierre tham gia vào công trình của vợ mình và họ loan báo đã khám phá một nguyên tố 400 lần hoạt tính hơn uranium, mà Marie đề nghị đặt tên là polonium. Vào cơ hội này, họ phát minh ra chữ “ radioactivité ” (tính phóng xạ), hoạt động ở xa. Tiếp tục công trình, họ loan báo sự khám phá một nguyên tố thứ hai 900 lần hoạt tính hơn uranium và họ đặt tên là radium.

            Sau đó họ mất nhiều năm tháng để làm tinh khiết những yếu tố này để có thể phân tích chúng. Khám phá này đặt ra một nghi vấn : đâu là nguồn gốc của bức xạ phát ra từ vài nguyên tố, nhưng khong có một nguồn bên ngoài ? Câu hỏi này là điểm bắt đầu của một tìm kiếm mà nhiều nhà vật lý và hóa học theo đuổi, và sẽ làm đảo lộn các quan niệm của chúng ta về bản chất của vật chất và những điều xảy ra trong đó. Pierre và Marie Curie đã góp phần mở ra một lãnh vực nghiên cứu mới trong vật lý và hóa học và đó là lý do tại sao sự khám phá những nguyên tố mới này rất là được chú ý. Marie Curie được giải thưởng Nobel vật lý vào năm 1903, chính là năm bà bảo vệ luận án. Bà chia sẽ giải thưởng này với Pierre Curie và Henri Becquerel.

          Hỏi : Những dụng cụ khoa học nào họ đã sử dụng trong cuộc tìm kiếm này ?
          Soraya Boudia : Điều đặc trưng công tác của Marie và Pierre Curie là hiệu chính một phương pháp đo lường radioactivité dựa trên sự đo lường một dòng điện. Hệ thống thí nghiệm của họ gồm 3 dụng cụ : một chambre d’ionisation, một điện kế và một thạch anh áp điện (quartz piézoélectrique). Thạch anh áp điện này đã được hiệu chính bởi Pierre và em ông là Jacques khi họ khám phá ra áp điện (piézoélectricité), tức là khả năng của vài tinh thể sản xuất điện khi ta nén ép chúng. Ông tìm ra một sự sử dụng mới trong lãnh vực radioactivité.

          Để phát hiện tính phóng xạ (radioactivité) trên thị trường, Pierre Curie, rồi một vài trong số các học trò của ông như Albert Laborde sẽ chế tạo một dụng cụ mới ít mỏng manh hơn và dễ sử dụng hơn thạch anh áp điện và điện kế, đặc biệt là máy nghiệm điện xách tay (électroscope portatif). Là máy được tiêu chuẩn hóa, cần ít sự khéo léo hơn là những dụng cụ phòng thí nghiệm, máy áp nghiệm sẽ được sử dụng đại trà, để thăm dò mìn và trong kỹ nghệ uranium. Bắt đầu từ những năm 1930, dụng cụ được biến đổi, nhưng Marie Curie vẫn gắn bó cho đến cuối đời bà hệ thống đo lường được hiệu chính bởi Pierre. Chính con gái bà Irène và con rể bà Frédéric Joliot sẽ thực hiện một chuyển tiếp về một dụng cụ mới gồm những chambre à brouillard, những máy đếm hạt (compteur de particules) và sau này những máy gia tốc (accélérateur).

             Hỏi : Bằng cách nào vợ chồng Curie đã cung cấp cho mình quặng, cần thiết cho công trình nghiên cứu của họ.          
             Soraya Boudia : Trong lúc phát triển rất sớm những mối quan hệ với công nghiệp. Ta thường có trong đầu hình ảnh của cặp vợ chồng Curie, làm việc đơn độc trong một nhà kho hư nát trong cái lạnh băng giá. Vợ chồng Curie là những nhà khoa học rất “ lý tính ” (rationnel). Rất nhanh chóng họ đã hiểu rằng họ không thể tiến hành nghiêm chỉnh các công trình của họ nếu không có nhiều cộng tác. Khi phải xử lý những lượng lớn quặng để trích ra từ đó polonium và radium, họ đã tìm cách thành lập một xưởng xử lý bán công nghiệp.Để được điều đó, họ đã nhờ đến Société centrale des produits chimiques, mà trước đây Pierre đã từng tiếp xúc, bởi vì công ty này chế tạo và thương mãi hóa các dụng cụ đo lường. Mối liên hệ với công nghiệp này đã luôn luôn mang hai ý nghĩa. Vợ chồng Curie sử dụng công nghệ để xử lý quặng với quy mô lớn. Và công nghiệp thì hưởng được các năng lực chuyên môn của Marie Curie để thực hiện những thủ thuật xử lý hóa học.
            Hỏi : Người ta đã tìm thấy một cách nhanh chóng những áp dụng đối với radium ?

             Soraya Boudia : Vợ chồng Curie rất quan tâm đến những áp dụng trong y khoa. Trước hết Pierre, con trai và cháu trai là thầy thuốc, ngay năm 1900 đã thí nghiệm những tác dụng của radium lên chính cơ thể của mình, đã kể lại trong một báo cáo cho Viện Hàn lâm Khoa Học một thương tổn trên cánh tay mình ! Ngay những năm đầu của thế kỷ XX, nhiều thầy thuốc đã công nhận lợi ích của radium trong điều trị một căn bệnh được xem là nan y, bệnh ung thư. Khi đó người ta bắt đầu điều trị các ung thư bằng những bức xạ được tập trung (rayonnements concentrés). Curiethérapie, nhằm đặt trực tiếp vật liệu phóng xạ (matériau radioactif) lên khối u, như đang được thực hiện ngày nay, phát xuất từ những công trình này. Các nhà khoa học không nắm được những áp dụng khác của radium. Marie Curie sinh ra một nguyên tố sẽ có một thành công vô tiền khoáng hậu. Nguyên tố này tỏa sáng trong bóng tối. Vì radium phát ra năng lượng, nên ý tưởng sử dụng năng lượng này trở nên một phương tiện thương mãi với các thuốc làm đẹp, đồ hóa trang,, nước, các sản phẩm dành cho em bé  : radium  “ élixir de vie ”.. Sự phát triển của radium trong lãnh vực thương mại lên cao điểm trong những năm 1930.

              Hỏi : Phải chăng bà đã huy động để chống lại những mối hiểm nguy của các bức xạ ?

              Soraya Boudia : Marie Curie lên án việc sử dụng rộng rãi radium trong lãnh vực thương mại. Bà cũng cho rằng công nghiệp radium đã không có những biện pháp bảo vệ các nhân viên của mình. Bà tham gia vào một ban giám định (commission d’expertise) của Viện hàn lâm Y học năm 1925 để yêu cầu phải thực hiện một sự kiểm tra tối thiểu đối với các nhà máy (chứ không phải các phòng thí nghiệm). Bà cũng công khai ủng hộ chiến dịch đòi công nhận các bệnh nghề nghiệp do các bức xạ gây nên, sau cái chết của hai trong số các nhà nghiên cứu cũ của bà làm việc cho công nghiệp radium. Tuy nhiên, Marie từ chối cấm chỉ việc sử dụng radium và đánh giá thấp các nguy hiểm của radioactivité, kể cả đối với bà, cho đến cuối đời mình.

               Hỏi : Sự huy động này có lan rộng đến những lãnh vực khác ?
               Soraya Boudia : Marie Curie đã sử dụng sự nổi danh của mình cho vài sự nghiệp, nhưng ta cảm thấy nơi bà một sự nghi kỵ sâu xa đối với vài giới truyền thông. Sự dấn thân đầu tiên thường xuyên và không lay chuyển là đối với khoa học và nghiên cứu. Ví dụ bà đã không do dự sử dụng tiếng tăm của mình để giúp phát triển một nghiên cứu được tài trợ bởi quốc gia. Trong những năm sau chiến tranh bà đã dành nhiều nghị lực, cùng với Jean Perrin, Paul Langevin và Emile Borl, để bảo vệ một cách công khai sự cần thiết tạo một nghiên cứu khoa học, được tài trợ bởi công quyền. Cuộc đấu tranh cua họ chủ yếu đã đưa đến một sự công nhận thật sự nhà nghiên cứu là một nghề nghiệp và đưa đến sự thành lập CNRS. Về những vấn đề chính trị và xã hội, bà đã tỏ ra thận trọng nhiều hơn, mong muốn người ta không sử dụng với mục đích xấu sự nổi tiếng của mình. Thí dụ, mặc dầu Marie là một biểu tượng của tư tưởng bình quyền từ con người bà, từ cách giảng dạy và lãnh đạo phòng thí nghiệm của bà, nhưng bà đã luôn luôn từ chối giữ vai trò phát ngôn viên của phong trào đòi bình quyền. Về chính trị, Marie Curie, mặc dầu cùng chung những giá trị tả khuynh, nhưng đã không bao giờ dấn thân một cách công khai, trái với những người bạn của bà như Paul Langevin, thân cận với đảng cộng sản, hay như Jean Perrin. Có lẽ đó không phải là do sợ dấn thân nhưng đúng hơn là một sự ngờ vực đối với giới truyền thông đã từng hô hào chống lại bà trong những năm 1910 và đã để lại nơi bà một dư vị cay đắng.

               Hỏi : Bà đã ảnh hưởng những nhà khoa học kế nghiệp bà như thế nào ?

               Soraya Boudia : Marie Curie là một nhà khoa học quốc tế với một sự nổi tiếng không chối cãi được mặc dầu đôi khi bà vấp phải sự thù địch hay sự châm chọc của vài trong số những đồng nghiệp nam giới của bà. Sự kiện các cánh cửa đưa vào Viện hàn lâm khoa học đã khép kín đối với bà chỉ là một trong những thí dụ về những khó khăn mà bà đã gặp phải. Tính bền bỉ của bà đã đóng một vai trò trong việc bà được coi trọng trong thế giới khoa học. Sự thành công xây dựng một kíp nghiên cứu, điều khiển một phòng thí nghiệm, là một tấm gương đối với những nhà khoa học đến từ nước ngoài làm việc với bà. Einstein đã nói rằng bà là nhà khoa học lớn nhất mà ông đã biết đến. Mặt khác, vào thời đại bà, bà có một kiến thức về vật lý khiến người ta thường xuyên tham khảo ý kiến bà. Bà đã tham gia các hội đồng Solvay, quy tụ đều đặn tinh hoa của những nhà vật lý và hóa học trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến thế giới, và đã đóng một vai trò đáng kể trong các ủy ban quốc tế về những đơn vị đo lường. Bà vẫn là một mô hình và một nguồn cảm hứng đối với các thế hệ những nhà khoa học, nam hay nữ.
(Les Dossiers de la Recherche, 2/2011)

8/ TRUYỀN MÁU : MỘT LOẠI SÂU BIỂN VẬN CHUYỂN OXY

            Hémoglobine mang oxy đến các cơ quan và các mô qua trung gian các hồng cầu, vì vậy trong trường hợp xuất huyết cần phải truyền máu. Những chất dẫn xuất khác nhau của hémoglobine người đã được chế tạo, nhưng điều bất tiện của những dẫn chất này là gây co thắt các mạch máu và nhiên hậu gây nên cao huyết áp. Một công ty sinh công nghệ học của Pháp, Hermarina, được BS Franck Zal thành lập, đề nghị sử dụng hémoglobine của một con sâu biển (ver marin) nhỏ, Arenicola marina, có khả năng mang một cách tự nhiên oxy đến các tế bào. Các nhà nghiên cứu đã hiệu chính một kỹ thuật trích và thanh lọc hémoglobine phát xuất từ con sâu biển này, được cấy bằng thụ tinh nhân tạo. Được trắc nghiệm trên chuột bị choáng xuất huyết, hémoglobine biển này đã được dung nạp rất tốt trên phương diện miễn dịch học và đã không gây cao huyết áp. Hémoglobine của sâu biển này cũng rất ổn định và có năng lực oxygénateur mạnh. Ta đang chờ những kết quả thử nghiệm nơi người. Trung tâm nghiên cứu y khoa của Hải Quân Hoa kỳ vừa ký một hợp đồng hợp tác với Hermarina
                          (PARIS MATCH 28/7 – 3/8/2011)
9/ U HẮC TỐ : MỘT BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG.
         
BS Christina Mateus và BS Caroline, trưởng khoa bệnh ngoài da thuộc viện Gustave-Roussy (Villejuif) và phụ tá, giải thích tác dụng của những loại thuốc điều trị mới mà các kết quả đã được trình bày ở Hội nghị quốc tế ung thư học ở Chicago.

           Hỏi : Tại sao u hắc tố (mélanome), loại ung thư da này, lại đáng sợ như thế ?

           BS Caroline Robert : Bởi vì các di căn phát triển ở 20% các bệnh nhân trong đó ung thư rất hung dữ hay được phát hiện quá chậm. Ở Pháp hiện nay ta thống kê khoảng 8000 trường hợp mới mỗi năm và 1.500 trường hợp tử vong. Tỷ lệ mắc bệnh của u hắc tố ác tính  đã không ngừng gia tăng.
          Hỏi : Những đặc điểm nào khiến ta phải nghi ngờ u hắc tố ?

          BS Christina Mateus : Một vài u hắc tố phát triển từ một mụt ruồi duyên (grain de beauté) đậm màu, những u hắc tố khác xuất hiện dưới dạng một vết sắc tố (une tache pigmentée) giống chúng. Trong những trường hợp hiếm hơn, những ung thư này có thể không hề được nhuộm sắc tố, điều này làm cho chẩn đoán khó khăn hơn. Nhưng đặc điểm quan trọng nhất là một tính chất tiến triển trong thời gian (une évolutivité dans le temps). Tùy theo những trường hợp, vết sắc tố lan ra theo bề mặt hoặc nổi cộm lên, thay đổi màu sắc …những đường viền không đều cũng là một dấu hiệu.   
          Hỏi : Ta có biết những yếu tố làm dễ không ?

          BS Christina Mateus : Vâng, một sự tiếp xúc quá quan trọng với ánh sáng mặt trời, những yếu tố di truyền như da có màu nhạt, những tiền sử gia đình có u ác tính, nhiều mụt ruồi duyên..
          Hỏi : Làm sao đảm bảo chẩn đoán ?

          BS Christina Mateus : Khi ta nghi ngờ một u hắc tố, thi phải lấy nó đi và gởi mẫu nghiệm này đến một phòng xét nghiệm để thăm dò.

           Hỏi : Cho đến hôm nay, tùy theo những giai đoạn, những điều trị quy ước là gì ?

           BS Caroline Robert : Khi u hắc tố được chẩn đoán ở một giai đoạn sớm, nó được lấy đi bằng phẫu thuật. Khi ung thư này được khám phá ở một giai đoạn di căn, ta thực hiện một hóa học liệu pháp với các thuốc như dacarbazine, fotémustine (Muphoran)…Nhưng các kết quả đều tồi.

          Hỏi : Sau cùng, hai loại thuốc mới đối với những trường hợp u hắc tố di căn này đã tỏ ra có hiệu quả, tác dụng của chúng là gì ?
           BS Caroline Robert : Với loại thuốc thứ nhất, ipilimumab, đó là một điều trị miễn dịch liệu pháp (immunothérapie) nhằm kích thích hệ phòng ngự miễn dịch (các tế bào lympho “ sát nhân ”). Những loại thuốc này ức chế một thụ thể (CTLA-4) bình thường có nhiệm vụ điều hòa sự tấn công của những tế bào miễn dịch để ngăn không cho chúng lồng lên (s’emballer) (do đó tạo nguy cơ xảy ra những vấn đề tự miễn dịch). Bằng cách kềm hãm tác dụng của thụ thể này, ipilimumab làm gia tăng tính hiệu quả của các “ chiến sĩ ” của hệ phòng vệ.

           Hỏi : Thuốc của điều trị thứ hai là gì ?

           BS Caroline Robert : Thuốc thứ hai này, vermurafenib, tấn công trực tiếp những tế bào ung thư. Phải biết rằng khoảng 50% các u hắc tố mang  một gène bất thường được gọi là “ BRAF ”. Gène này chế tạo (mã hóa) một protéine trở nên rất nguy hiểm bởi vì nó gây nên một sự tăng sinh vô tổ chức của các tế bào ung thư. Vermurafenib tác động bằng cách phong bế một cách hiệu quả protéine có hại này.
            Hỏi : Những kết quả nào ta thu được với hai liệu pháp mới này ?

            BS Caroline Robert : Đối với các u hắc tố di căn (mélanome métastasé), chúng ta đã chờ đợi 50 năm và sau cùng mới có một điều trị có hiệu quả ! Các công trình nghiên cứu được thực hiện với ipilimumab trên 502 bệnh nhân. Ngày nay với một thời gian nhìn lại 4 năm, ta đã thống kê được những trường hợp thuyên giảm kéo dài ở khoảng 15% trong số những bệnh nhân này. Trong khi đó, với hóa học liệu pháp, tiên lượng nói chung u tối ở những giai đoạn tiến triển này. Với vemurafenib, thời gian nhìn lại ngắn hơn : trung bình một năm. Công trình nghiên cứu được thực hiện ở 675 bệnh nhân đã chứng tỏ một tính hiệu quả nhanh chóng của điều trị (ngay những tuần lễ đầu tiên) ở hơn 50% các bệnh nhân. Tuy nhiên tính hiệu quả này đã tỏ ra ít dài lâu hơn so với miễn dịch học liệu pháp.
           Hỏi : Những tác dụng phụ của những điều trị này là gì ?

           BS Christina Mateus : Ipilimumab, vì kích thích mạnh mạnh tác dụng cua những tế bào miễn dịch, nên có thể gây nên những biểu hiện tự miễn dịch (da bị mất sắc tố, những rối loạn tiêu hóa, viêm gan…) nhưng thường nhất, ta có thể điều trị những phản ứng này bằng các corticoides. Vemurafenib có khả năng làm xuất hiện những loại ung thư khác ít nguy hiểm hơn u hắc tố và có thể chữa lành bằng phẫu thuật. Những tác dụng phụ khác có thể xảy ra như sự gây nhạy cảm ánh sáng (photosensibilisation) của da đối với ánh nắng và những triệu chứng đau khớp.

          Hỏi : Ở Pháp khi nào các bệnh nhân có thể hưởng được những điều trị mới này ?
          BS Caroline Robert : Những loại thuốc này có sẵn trong những trung tâm chuyên khoa nhờ một giấy phép tạm thời do Afssaps cấp. Trong những tháng đến chúng sẽ được sử dụng một cách thông thường.
(PARIS MATCH 4/7-12/7/2011)

10/ NHIỆT : CHÚ Ý NHỮNG BIẾN CHỨNG TĨNH MẠCH

            Ở những người có tố bẩm với các bệnh giãn tĩnh mạch (maladies variqueuses) (18 triệu ở Pháp), những kỳ nghỉ hè dưới ánh nắng mặt trời, nếu không có biện pháp thận trọng đặc biệt, có thể bị hỏng do sự xuất hiện của các giãn tĩnh mạch (varices), những varicosités… thậm chí nghiêm trọng hơn, những trường hợp viêm tĩnh mạch (phlébite) (ở Pháp hơn 700.000 trường hợp mỗi năm). Vì tình trạng mất nước (déshydratation) làm dễ phản ứng viêm của các huyết quản, nên cần phải uống ít nhất 1,5 đến 2 lít nước mỗi ngày. Đối với những người bị bất túc tĩnh mạch (insuffisant veineux), BS Jean-Pierre Titon, thầy thuốc chuyên khoa mạch máu (angiologue) đưa ra 4 lời khuyến nghị chính.

            – Mỗi ngày sử dụng một thuốc tăng trương lực tĩnh mạch (tonifiant veineux), do tác dụng chống lại giãn tĩnh mạch gây nên bởi nhiệt, nên hạn chế sự tạo phù nề ở các mắc cá chân.

            – Ở biển, hãy bơi thường xuyên và bước đi trong nước, để hưởng một hydromassage của các cẳng chân (rất tốt đối với hồi lưu tĩnh mạch).

            – Nhất thiết tránh phơi nắng giữa ngọ và 16 giờ vì khi đó tia nắng quá mạnh làm dễ sự xuất hiện các varices và varicosités.

            – Mang chaussettes hay các bas de contetion để đi du lịch (máy bay, xe hơi, tàu hỏa), thời gian hơn 3 giờ.

            Nếu mặc dầu với những biện pháp thận trọng này nhưng varices và varicosités vẫn xuất hiện, khi đó chúng sẽ có thể được loại bỏ bởi các điều trị khác nhau : scléro-laser phối hợp với lạnh, vi phẫu thuật…
(PARIS MATCH 21/7-27/7/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/8/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s