Thời sự y học số 234 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

BỆNH GIANG MAI. Được gây nên bởi một vi khuẩn, tréponème pâle (được nhận diện năm 1905), bệnh giang mai đã là bệnh rất gây chết người trong nhiều thế kỷ. Sự khám phá pénicilline vào giữa thế kỷ thứ XX đã cho phép làm bệnh lùi lại rất nhiều. Nhưng số các trường hợp đã lại bắt đầu gia tăng.
CÁC CON SỐ. Vào năm 2006 một công trình nghiên cứu được phối hợp bởi ORS (Obervatoire régional de la santé) ở Ile-de-France đã cho thấy rằng 37% các người đàn ông và 31% các phụ nữ đã không bao giờ được nghe nói về các chlamydiae. Cùng nhóm nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng các phụ nữ đã thay đổi dài lâu hành vi tình dục (comportement sexuel) của họ sau một chẩn đoán nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục (infection sexuellement transmissible) để đuổi kịp hành vi tình dục của các phụ nữ đã không bị nhiễm trùng này. Nhưng không phải như thế đối với các người đàn ông.
BỆNH NẤM (MYCOSE). Phần lớn những người khai đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục thật ra lại bị một bệnh do nấm (mycose), không được xem là bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục. Trên thực tế, 12% các người đàn ông và 15% các phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi khai là đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục, được công nhận như vậy, trong suốt 5 năm qua.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU. Một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh mới về những hành vi tình dục của những người Pháp đang được phân tích và sẽ được công bố vào mùa thu năm 2011 bởi ORS Ile-de-France. Những kết quả đầu tiên báo cáo một sự gia tăng trở lại của gián đoạn thai nghén tự ý (IVG : interruption volontaire de grossesse) và những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục ở những người trẻ, cho thấy việc bỏ không sử dụng túi dương vật.

Vài bệnh trong số những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục như bệnh lậu (blennorragie) hay chlamydiose có khuynh hướng gia tăng.
DEPISTAGE. “ Giữa năm 2008 và 2009, sự gia tăng các trường hợp bệnh lậu (gonocoocie) đã đạt đến 52% ở Pháp. Căn bệnh này không còn giới hạn vào các nhóm có nguy cơ nữa nhưng từ nay được quan sát trong toàn bộ dân chúng ” , BS Caroline Semaille, người phụ trách đơn vị VIH/IST/viêm gan B và C thuộc Viện quốc gia theo dõi y tế (INVS : Institut national de veille sanitaire), đã nhấn mạnh như vậy. Căn bệnh bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, gây nên bệnh lậu, có một thời gian tiềm phục rất ngắn và tỏ ra là một sentinelle thật sự đối với những hành vi có nguy cơ. Ngoài ra, những con số mới nhất mà IVNS nhận được vào năm 2009, cho thấy một sự gia tăng đáng kể các trường hợp nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia trachomatis, ảnh hưởng lên gần 10% các phụ nữ trẻ trong vài tỉnh.
Sau cùng, mặc dầu sự gia tăng trở lại của bệnh giang mai được quan sát từ năm 2000 (trong khi căn bệnh này vốn gần như đã biến mất trong những năm 1990), rốt cuộc dường như đã bị dập tắt, nhưng số các trường hợp giang mai tiềm tàng (syphilis latente), được phát hiện khi nó không gây nên những triệu chứng rõ rệt nữa, từ nay chiếm 35% những trường hợp được phát hiện.
“ Dầu sao cũng cần phải nhắc lại rằng, ta ở xa các con số của những năm 1980 và đó không phải là một sự bùng nổ của các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, GS Michel Janier, chủ tịch section MST thuộc Hiệp hội khoa Da Pháp, đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên điều này đặt ra vấn đề về tính hiệu quả của những biện pháp được thiết đặt nhằm ngăn ngừa chúng.”
Mặc dầu khó xác định đâu là nguyên nhân chính xác của những gia tăng này, hai yếu tố dường như đóng một vai trò. VIH đã cho phép tầm thường hóa việc sử dụng bao dương vật, dẫn đến một sự sụt giảm đột ngột các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục vào cuối những năm 1980, nhưng không đủ để ngăn ngừa những nhiễm trùng khác có những cách truyền bệnh khác nhau. Fellation, được thực hiện thường nhất không cần đến bao dương vật, như thế cho phép sự lan truyền của nhiều mầm bệnh. Do đó sự biến đổi của những hành vi tình dục đóng một vai trò quan trọng.
Ngoài ra, mặc dầu vài bệnh nhiễm trùng lây truyền bằng đường sinh dục được phát hiện nhờ những dấu hiệu hiển nhiên như các dịch chảy bất thường ở dương vật, các triệu chứng rát lúc tiểu tiện, các khí hư âm đạo hay sự xuất hiện của những thương tổn khu trú, dầu vậy những thương tổn này thường im lặng không gây triệu chứng. Do đó nhiều người mang bệnh mà không biết, với những hậu quả quan trọng vì lẽ các bệnh lậu hay các bệnh do Chlamydia có thể dẫn đến có thai ngoài tử cung hay vô sinh nơi phụ nữ hay dẫn đến viêm nghiêm trọng của tuyến tiền liệt, của các tinh hoàn và mào tinh hoàn ở đàn ông.
“ Sự điều tra phát hiện là công cụ đấu tranh hiệu quả nhất để nhận diện chúng và điều trị chúng sớm, BS Semaille đã nhắc lại như vậy. Đó là tránh những biến chứng đối với bệnh nhân nhưng cũng để phòng ngừa những lây nhiễm mới, nhất là các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục lại làm dễ sự lây nhiễm bởi VIH. ”
Sau một giao hợp với một bạn đường phối ngẫu mới hay khi mới đây ta đã có nhiều bạn đường tình dục, điều quan trọng là thực hiện một phát hiện bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, mỗi năm lập lại một lần nếu tình trạng nguy cơ kéo dài. Chỉ có sự phát hiện bệnh giang mai là cần phải lấy máu mặc đầu không có những thương tổn có thể thấy được, còn những bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác được phát hiện nhờ một phân tích nước tiểu hay lấy một bệnh phẩm tại chỗ.
Sự xuất hiện những xét nghiệm nhanh hẳn còn làm dễ hơn việc điều trị các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. “ Trong 5 năm nữa, việc xử trí điều trị các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục sẽ hoàn toàn khác. Đó sẽ là một cuộc cách mạng thật sự bởi vì, trong vòng một giờ, ta sẽ có thể có sự phát hiện, kết quả và điều trị ”, BS Chantal Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục-ung thư- chủng ngừa đã chỉ rõ như vậy.
Những traitement “ minute ”, dùng một liều cao duy nhất kháng sinh đã được khuyến nghị. Chúng cho phép tránh những điều trị lâu dài làm dễ sự xuất hiện các đề kháng đối với kháng sinh. Thí dụ các lậu cầu đã trở nên đề kháng với nhiều kháng sinh và từ nay điều trị phải là một mũi tiêm mông duy nhất 500 mg ceftriaxone.
Đối với những nhiễm trùng nguồn gốc virus (papillomavirus, herpès, viêm gan) không có điều trị có khả năng triệt trừ các virus, nhưng có một vaccin chống lại papillomavirus và các viêm gan A và B. “ Tiêm chủng là công cụ duy nhất hoàn toàn có hiệu quả. Tiếc thay việc tiêm chủng không được thực hiện rộng rãi nơi các người trẻ, là những đối tượng đặc biệt bị liên quan ”, BS Vernay-Vaidde đã nhắc lại như vậy. Sự tiêm chủng chống lại papillomavirus, hiện nay chỉ nhằm vào các phụ nữ trẻ, cũng có thể được đề nghị cho các người đàn ông.
(LE FIGARO 27/6/2011)

2/ “CHLAMYDIA”, THẦM LẶNG NHƯNG CÓ MẶT
“ Các nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia đang gia tăng một cách hằng định. Trong Boucles-du-Rhône, chúng tôi đã quan sát, vào năm 2010, một tỷ lệ lưu hành 9,3% ở các phụ nữ trẻ từ 20 đến 25 tuổi ”, BS Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa bệnh lây truyền bằng đường sinh dục-ung thư-tiêm chủng, đã chỉ rõ như vậy. Sự gia tăng hiện nay của Chlamydiae trachomatis ảnh hưởng chủ yếu các phụ nữ trẻ tuổi sau thời kỳ thiếu niên, nhưng cũng gây bệnh cho các người đàn ông. Ở quy mô quốc gia, các con số đạt đến 3,2% đối với các phụ nữ và 2,5% đối với những người đàn ông giữa 18 và 29 tuổi. Phần lớn nhưng nhiễm trùng đo Chlamydia vẫn thầm lặng không triệu chứng (giữa 60 và 70%) và thường được phát hiện lúc tìm kiếm một bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác hay nhân một thăm khám thường quy. Sự gia tăng được quan sát như thế có thể là hậu quả của một công tác điều tra phát hiện tốt hơn, được làm dễ bởi những xét nghiệm nhanh hơn và dễ đề nghị hơn. Theo INVS, số các trường hợp chẩn đoán đã gia tăng 19% ở đàn ông và 25% ở phụ nữ giữa năm 2008 và 2009.
“ Đó là căn bệnh của tất cả mọi người, không có nhóm người nào nguy cơ hơn một nhóm khác, BS Chantal Vernay-Vaisse đã cảnh cáo như vậy. Do đó chúng tôi đề nghị phát hiện một cách hệ thống cho tất cả các phụ nữ dưới 30 tuổi vì lẽ có một nguy cơ bị vô sinh.” Thật vậy, trong hầu hết các trường hợp, các bệnh gây nên bởi chlamydia vẫn không có triệu chứng nhưng những hậu quả về lâu về dài của chúng có thể rất là nghiêm trọng. Các bệnh do chlamydia có thể là nguyên nhân dẫn đầu gây nên có thai ngoài tử cung nơi 2% các phụ nữ bị nhiễm trùng và là nguyên nhân gây vô sinh do tắc vòi trứng đối với 3% trong số những phụ nữ này. Ở người đàn ông, trong 5% các trường hợp, nhiễm trùng gây nên bởi chlamydia có thể dẫn đến viêm các tinh hoàn hay mào tinh hoàn. Sự phát hiện bằng PCR, được thực hiện với bệnh phẩm là tia phóng nước tiểu đầu tiên ở đàn ông và bằng một autoprélèvement par écouvillon nơi phụ nữ, từ nay được làm dễ bởi vì nó cho phép một phát hiện rất sớm, không phải chờ đợi những thương tổn vòi trứng được phát hiện nhờ những phân tích máu. “ Sự dễ dàng trong việc sử dụng có thể cho phép một sự điều tra phát hiện đại trà, kể cả bởi những người không thuộc ngành y tế ”, GS Michel Janier, chủ tịch của section MST của hiệp hội khoa da của Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Việc điều trị cũng rất đơn giản và nhanh chóng : 1g azithromycine bằng một liều duy nhất.
Cũng như các bệnh gây nên bởi chlamydia, nhiều bệnh lây truyền bằng đường sinh dục có thể vẫn không gây triệu chứng và, chừng nào chẩn đoán không được xác lập và điều trị không được thực hiện, những người bị nhiễm trùng có thể tiếp tục truyền bệnh. Vậy điều thiết yếu là có khả năng nhận diện những bạn đường phối ngẫu ngay khi chẩn đoán được xác nhận, để phòng ngừa chúng và cho phép những người này tự điều trị lấy mình.
“ Vì ta đụng đến vấn đề tình dục, nên điều quan trọng là phải dùng thời gian để thảo luận với bệnh nhân, gây nơi họ lòng tin cậy và tránh mọi phán đoán để các thông tin thu được đúng là tương ứng với thực tế ”, BS Annie Vermersch-Langlin, trưởng khoa da liễu của bệnh viện Valenciennes đã đánh giá như vậy. Tính hiệu quả lớn nhất của chẩn đoán các bệnh gây nên bởi chlamydia có thể chỉ rõ rằng từ nay sự đối thoại được cởi mở hơn.
(LE FIGARO 27/6/2011)

3/ “ CHLAMYDIA ” VÀ THAI NGHÉN, CẶP ĐÔI NGUY CƠ
Vi khuẩn Chlamydia trachomatis là một nguyên nhân thường thấy của bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, nhất là ở phụ nữ. Nhiều công trình nghiên cứu đã đánh giá nguy cơ sinh non gây nên bởi nhiễm trùng do chlamydia này trong lúc thai nghén nhưng các kết quả không hòa hợp. Theo một điều tra mới đây và quy mô lớn, các bệnh gây nên bởi Chlamydia (chlamydiose) có thể có một vai trò quan trọng trong nguy cơ sinh non. Hơn 4000 phụ nữ có thai đã tham dự vào sự theo dõi này bằng bảng câu hỏi với lấy mẫu nghiệm nước tiểu và tìm kiếm C.trachomatis bằng sinh học phân tử (PCR). Toàn bộ, nhiễm trùng đã được tìm thấy ở 4% các phụ nữ. Mặc dầu có tính đến những yếu tố làm gia trọng khác (tuổi dưới 21, nhiều bạn đường phối ngẫu), nguy cơ sinh non, hoặc sinh con từ 35 tuần thai nghén, được nhân lên gấp đôi trong trường hợp nhiễm trùng do chlamydia. Vì vậy, một sự điều tra phát hiện tốt hơn các phụ nữ nguy cơ và sự kê đơn một thuốc kháng sinh thích hợp trong thời kỳ thai nghén sẽ cho phép làm giảm nguy cơ này.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

4/ TA BIẾT NHIỀU HƠN VỀ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ
Mối liên hệ giữa bệnh viêm cận răng (parodontite : viêm các mô nâng đỡ răng) và phình động mạch chủ bụng (anévrisme de l’aorte abdominale) (phần động mạch chủ nằm trong bụng) đã được biết đến, nhưng sự liên hệ nhân quả vẫn cần được xác lập. Một nhóm nghiên cứu người Pháp đã đạt được điều đó nhờ nhận diện những vi khuẩn hiện diện trong động mạch chủ bụng. Phình động mạch (anévrisme) là một sự giãn của động mạch, đôi khi đến độ gây vỡ, do thành huyết quản bị mỏng dần đi. Phình động mạch phát triển từ một chỗ ứ đọng mỡ (một mảng xơ mỡ), chẳng bao lâu được che phủ bởi một cục máu đông (huyết khối), lôi kéo các bạch cầu (các tế bào đa nhân) mà các chất tiết làm thoái hóa thành huyết quản. Những tế bào phòng ngự này đến đây làm gì ? Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy, trong huyết khối của các bệnh nhân được khảo sát, ADN của các vi khuẩn Porphyromonas gingivalis, một tác nhân gây nhiễm trùng của các bệnh viêm cận răng (parodontite). Vậy các tế bào đa nhân trung tính sẽ ở đó để chống lại chúng. Ngoài ra những nhiễm trùng liên tiếp của P.gingivalis ở chuột làm tăng nhanh tiến triển của bệnh phình động mạch.
“ Vi khuẩn này có lẽ chịu trách nhiệm duy trì quá trình, Olivier Meilhac thuộc Inserm, đã giải thích như vậy. Động tác nhai duy trì việc đi qua trong tuần hoàn, một cách kinh diễn, của các vi khuẩn đến gắn vào huyết khối và lôi kéo các bạch cầu đa nhân trung tính đến tiếp xúc với thành của động mạch chủ : thay vì hóa sẹo, thành động mạch chủ tiếp tục bị thoái hóa.” Giai đoạn kế tiếp : chứng tỏ bằng một thử nghiệm lâm sàng rằng điều trị bệnh viêm cận răng (parodontite) làm ngừng lại tiến triển của bệnh phình động mạch chủ.
(SCIENCE ET VIE 7/2011)

5/ CÁC KHÁNG SINH TRÁNH KHỎI PHẢI MỔ RUỘT THỪA.
Có phải luôn luôn cần đến dao mổ trong trường hợp viêm ruột thừa không biến chứng ? Có lẽ là không. Một công trình nghiên cứu của Pháp vừa cho thấy rằng các kháng sinh cho phép tránh phải mổ trong 68% các trường hợp : trong số 120 bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh, 81 đã không cần đến phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa trong năm tiếp theo sau đó, mặc dầu tỷ lệ bị biến chứng đã tỏ ra cao hơn : 8% đối với 2% ở những bệnh nhân được mổ. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ đã nghiên cứu khả năng điều trị viêm ruột thừa như ta đã làm đối với viêm túi cùng (diverticulite) (nhiễm trùng của những túi nhỏ được tạo thành trong ruột già) và đã kết luận rằng tất cả hai bệnh lý này đều có thể được điều trị với các kháng sinh. Tuy nhiên tính ưu việt của các kháng sinh còn phải được chứng minh một cách rõ ràng.
(SCIENCE ET VIE 7/2011)

6/ UNG THƯ VÚ : HÓA HỌC-PHÒNG NGỪA (CHIMIO-PREVENTION) GÂY TRANH CÃI.
Phòng ngừa ung thư vú ở các phụ nữ mãn kinh nhờ một loại thuốc ? Chủ đề vừa được đề cập ở hội nghị quốc tế quan trọng nhất tại Chicago (Hoa kỳ) từ 3 đến 7/6. Trung tâm của cuộc tranh luận, đó là những kết quả của một công trình nghiên cứu quốc tế được mệnh danh là MAP3 (Mammary Prevention trial). Đó là một thử nghiệm hóa học phòng ngừa (chimio-prévention), nghĩa là một chiến lược nhằm cho các phụ nữ không bị bệnh một loại thuốc. Trong ba năm, gần 2500 phụ nữ đã nhận hoặc là một loại thuốc nhằm ức chế sự sản xuất các oetrogène, exémestane (Aromasine), hoặc một placebo. Sau 5 năm dùng thuốc mỗi ngày, 11 trường hợp ung thư vú đã được chứng thực trong nhóm exémestane so với 32 trong nhóm placebo, hoặc một sự giảm 66% nguy cơ bị ung thư.
Profil của các phụ nữ này là đặc biệt. Tất cả đều trong thời kỳ mãn kinh và có ít nhất một yếu tố nguy cơ ung thư vú. Khái niệm hóa học- phòng ngừa (chimio-prévention) này (không được cho phép ở Pháp) không tạo nên sự nhất trí. Những tác dụng phụ cua exémestane như mệt mỏi, các cơn phừng mặt hay, nhất là, các đau khớp, khiến các chuyên gia hoài nghi. “ Công trình nghiên cứu này đặt ra một câu hỏi thật sự, GS Eric Lartigan, chuyên gia ung thư học thuộc bệnh viện Oscar-Lambret (Lille) đã giải thích như vậy. Nguy cơ của việc sử dụng exémestane trong 5 năm là gì ? Bất hạnh thay, chúng ta vẫn chưa có câu trả lời. Ta chỉ biết rằng phải điều trị khoảng 2500 phụ nữ để tránh khoảng 20 ung thư. Phải chăng điều đó biện minh cho việc dùng thuốc kéo dài đối với tất cả phụ nữ ? ” Ẩn số khác, thời gian để thực hiện một hóa học-phòng ngừa như thế, bởi vì thời gian nhìn lại của nghiên cứu chỉ mới 5 năm.
(SCIENCE ET AVENIR 7/2011)

7/ ĐƯỢC KÍCH THÍCH, NÃO BỘ CÓ THỂ LÀM GIẢM BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC.
Một ngày nào đó ta sẽ biết sửa chữa những tổn hại được gây nên trong não bộ bởi bệnh xơ cứng rải rác? Một nhóm nghiên cứu quốc tế (Anh, Pháp, Nhật Bản) mở ra một hướng nghiên cứu nghiêm túc. Đó là kích thích những năng lực tự nhiên tự sửa chữa của não bộ để tái tạo “ bao” myéline của các sợi thần kinh bị phá hủy bởi bệnh xơ cứng rải rác. Bao myéline này được chế tạo bởi những tế bào chuyên biệt : các oligodendrocyte. Nếu một thương tổn xuất hiện, các tế bào gốc của các oligodendrocyte sẽ di chuyển đến nơi bị thương tổn, biến hóa thành những oligodendrocyte trưởng thành và khởi động sự sản xuất myéline. Thế mà trong bệnh xơ cứng rải rác quá trình này không hoạt động nữa. “ Mục tiêu của chúng tôi là nhận diện những yếu tố nào phong bế quá trình sửa chữa này, Brahim Nait Oumesmar, thuộc nhóm nghiên cứu Paris đã giải thích như vậy. Khi đó RXRy xuất hiện như là một protéine chìa khóa ”. Một chiếc chìa khóa (“ clé ”) cũng cần thiết cho việc chế tạo myéline. Thế mà RXRy biến mất khi bệnh xơ cứng rải rác phát triển. “ Kinh nghiệm của chúng tôi cho phép nghĩ rằng đó là một cái đích dược lý (cible pharmacologique) tốt để đánh thức tiềm năng của những tế bào gốc của não bộ, theo Anne Baron-Van Evercooren, thuộc Viện não bộ và tủy sống. Những phân tử tổng hợp, các rétinoide, đã được biết có tác dụng tương tác với RXRy. Thay vì tránh làm phát khởi căn bệnh, những điều trị dựa trên rétinoides có thể làm dễ sự tái sinh và sửa chữa của các bao myéline.
(SCIENCE ET VIE 2/2011)

8/ NHỮNG NGƯỜI ĐI DẠO, COI CHỪNG TIQUE VÀ BỆNH LYME.
Cần một thăm khám da mỗi ngày và tốt nhất là có thiết bị thích đáng để trừ khử con acarien to lớn này.
INFECTION. Được truyền bởi vài loại tique, nhưng không phải tất cả, bệnh Lyme có thể dễ dàng được làm ngưng lại bởi vài khuyến nghị đơn giản mà mọi người đi dạo cần phải biết. Nếu không được xử trí sớm, những biểu hiện thấp khớp (viêm một khớp, chủ yếu là khớp gối), thần kinh, hiếm hơn là tim hay da, có thể xuất hiện sau nhiều tháng. Do đó, tầm quan trọng phát hiện sớm và điều trị bệnh vi khuẩn tương đối thường xảy ra này.
Để làm giảm các nguy cơ bị tique cắn khi đi dạo trong rừng, khuyến nghị của Bộ y tế đơn giản như sau : mang quần áo dài tay, che phủ và kín. Và bôi các répulsif lên quần áo. “ Nhưng trên thực tế, nhiều người đi dạo coi thường khuyến nghị thứ nhất khi nhiệt độ của mùa hè. Chính vì vậy, biện pháp quan trọng nhất, khi di dạo chơi trong rừng là kiểm tra rằng không một con tique nào đã nằm trên da của chúng ta, nhất là ở nách, ở các nếp của đầu gối và ở phần cao của đùi, hay ở da đầu, GS Stahl, trưởng khoa bệnh truyền nhiễm ở Grenoble và cựu chủ tịch của Hiệp Hội bệnh học nhiễm khuẩn nổi tiếng Pháp, đã nhấn mạnh như vậy. Nếu trường hợp xảy ra như vậy, phải lấy tique đi càng nhanh càng tốt, bởi vì con tique càng ở lâu trên da, thì nguy cơ truyền vi khuẩn càng gia tăng. Để rút con côn trùng không mong muốn này, chủ yếu trước hết đừng tìm cách làm ngủ chúng, như trước đây ta thường chủ trương như vậy, bởi vì người ta đã nhận thấy rằng điều đó làm gia tăng nguy cơ rằng con tique, khi bị gây mê, thả các túi nước bọt chứa các vi khuẩn gây bệnh. Tốt nhất là sử dụng một cái móc chống tique (crochet antitique) bán ở hiệu thuốc (nếu không có, dùng pince à épiler) và kéo tique ra với đầu của nó. Sau đó phải khử trùng với chất sát trùng trong suốt và không có cồn và nhất là theo dõi sự xuất hiện của những dấu hiệu báo một bệnh Lyme khởi đầu.
Đó là trường hợp của bệnh Lyme giai đoạn đầu nếu, trong những ngày tiếp theo sau đó xuất hiện sốt và một vòng đỏ có khuynh hướng lan rộng ra. Ở giai đoạn này, các kháng sinh cho bằng đường miệng cho phép triệt trừ vi khuẩn không được mong muốn. Khi bệnh cảnh trở nên điển hình và khi có ý niệm bị tique cắn, người thầy thuốc ngay cả không cần tìm sự xác nhận chẩn đoán bằng một xét nghiệm sinh học (thử máu). Các kháng sinh được kê toa tức thời và có tác dụng bởi vì không có vấn đề đề kháng của vi khuẩn.
Và nếu vẫn không có một điều trị thích đáng, thì một bệnh viêm não một ngày nào đó sẽ xuất hiện, khi đó cần được nhập viện, thậm chí một hồi sức trong những trường hợp nghiêm trọng nhất. Trong những năm về sau có thể xuất hiện một hội chứng sau khi mắc phải bệnh Lyme (syndrome post-Lyme), nguồn gốc của một sự mệt mỏi và các đau khớp mãn tính. Bấy nhiêu các biến chúng sẽ không còn hiện hữu nữa nếu các người dạo chơi trong rừng được thông tin tốt hơn, đồng thời cảnh giác hơn.
THĂM KHÁM KHI CÓ CHÚT ÍT NGHI NGỜ
Ở Hoa kỳ, là nơi bệnh Lyme có thể gây bệnh cho một người Mỹ trên 15 người, theo những thống kê bi quan nhất, những công trình nghiên cứu tìm kiếm một vaccin tiến triển tốt. Tuy nhiên, vaccin này không nhất thiết thích ứng ở Pháp, bởi vì các giống gốc vi khuẩn gây bệnh không phải giống nhau. Vì vậy tốt hơn là không nên quá cậy vào vaccin này để không phản ứng lại.
“ Dầu thế nào đi nữa, trong đất nước chúng ta, căn bệnh rõ rệt ít gặp hơn. Kể cả không có một nguy cơ nào ở vùng cao (trên 1500 m). Chỉ có những vùng như Alsace, Lorraine, Limousin và Auvergne là ghi nhận nhiều người bệnh hơn : con số lên đến một người Pháp đối với 500 người dân ở những vùng này, nhưng dưới một người dân đối với 10.000 trong phần còn lại của lãnh thổ. Cần biết những triệu chứng báo hiệu. Và thăm khám khi có chút ít nghi ngờ, bởi vì sự kê đơn các thuốc kháng sinh thích ứng trong một tuần rất có hiệu quả.
Sau cùng, các con tique còn có thể truyền cho chúng ta những vi khuẩn khác, đặc biệt là trong miền Nam nước Pháp. Trong hơn 90% các trường hợp, rickettsiose là hiền tính, với một hội chứng cúm xảy ra vào mùa hè. Lại nữa, ta hành động càng nhanh thì càng tốt hơn.
(LE FIGARO 9/8/2010)

9/ THUỐC LÁ VÀ CHỨNG BÉO PHÌ CÓ THỂ LÀM DỄ CHỨNG ĐAU DÂY THẦN KINH TỌA.
Chứng nghiện thuốc lá và bệnh béo phì là hai yếu tố có thể làm dễ sự xuất hiện của chứng đau lưng (lombalgie) hay chứng đau dây thần kinh tọa (sciatique), theo một công trình nghiên cứu trên 12.000 người tuổi trung bình là 14 tuổi, được theo dõi trong 28 năm. Nguy cơ phải nhập viện để điều trị nội khoa hay ngoại khoa một chứng đau lưng hay đau dây thần kinh tọa bị gia tăng đáng kể ở người đàn ông hút thuốc (2 đến 3 lần nhiều hơn những người không hút thuốc) và nơi phụ nữ béo phì (7 lần nhiều hơn những phụ nữ không béo phì).
(SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

10/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẮP : PHUƠNG PHÁP MỚI ĐỂ ĐƯỢC HIỆU QUẢ HƠN.
Một công trình nghiên cứu quốc gia quy mô rất lớn, được phối hợp bởi GS Maxime Dougados, trưởng khoa thấp khớp thuộc bệnh viện Cochin, mô tả sự điều trị đổi mới để loại bỏ các thất bại.
Hỏi : Viêm đa khớp dạng thấp gây thương tổn nhiều khớp bằng cách nào ?
GS Maxime : Đó là một bệnh thấp khớp viêm (rhumatisme inflammatoire) rất đau đớn, nếu không được điều trị thích ứng tốt, về lâu về dài gây nên sự phá hủy khớp. Hậu quả là những phế tật nghiêm trọng : không thể sử dụng các bàn tay, không thể bước…và, trong những trường hợp rất nghiêm trọng, một tình trạng tàn phế bắt bệnh nhân ở một chỗ trên ghế bành.Vấn đề khác : viêm đa khớp dạng thấp liên kết với những bệnh khác (thí dụ những bệnh lý tim-mạch, các nhiễm trùng, chứng loãng xương..) thường xảy ra hơn trong dân chúng nói chung.
Hỏi : Ngày nay, ta đạt đến đâu trong điều trị ?
GS Maxime : Với điều kiện được điều trị sớm và được theo dõi nghiêm chỉnh, từ 10 năm qua, các bệnh nhân hưởng được một cuộc cách mạng trị liệu thật sự với việc thương mãi hóa những loại thuốc mới, và nhất là các sinh liệu pháp (biothérapie). Nhất là, mức độ nghiêm trọng của bệnh phải được theo dõi rất sát để có thể thích ứng điều trị ngay khi căn bệnh được thể hiện.
Hỏi : Theo những điều tra khoa học mới đây, ta đã thu được những kết quả nào ?
GS Maxime : Tất cả các công trình nghiên cứu cho thấy rằng một sự theo dõi đều đặn căn bệnh, với sự thích nghi điều trị đối với mỗi dấu hiệu nghiêm trọng nhỏ nhất, có những kết quả rất tốt trong hầu hết các trường hợp. Vấn đề được đặt ra hiện nay liên quan đến cách đảm bảo sự theo dõi này.
Hỏi : Mục đích của công trình nghiên cứu quốc gia có quy mô rất lớn này, được thực hiện trong 20 trung tâm bệnh viện là gì ?
GS Maxime : Có hai mục tiêu. Một mặt, kiểm tra rằng bệnh nhân không bị những bệnh liên kết hay ít nhất rằng tất cả các biện pháp phòng ngừa được thực hiện (thí dụ, kiểm tra sổ tiêm chủng để tránh những nhiễm trùng như cúm và vài bệnh phổi ). Mặt khác, dạy cho các bệnh nhân tự mình đánh giá căn bệnh (như ta đã làm đối với bệnh đái đường hay cao huyết áp).
Hỏi : Bằng những phương tiện nào bệnh nhân có thể tự kiểm soát lấy mình ?
GS Maxime : Giai đoạn đầu tiên là một y tá được đào tạo vì mục đích này dạy cho bệnh nhân kỹ thuật đánh giá một số điểm (score) được gọi là “DAS”. Việc tính toán dựa trên 4 tiêu chuẩn. 1. Số lượng các khớp bị đau. 2. Số các khớp bị sưng. 3. Tốc độ trầm lắng. 4. Sự đánh giá cá nhân của bệnh nhân (mệt mỏi, các rối loạn về giấc ngủ hay tâm lý…). Số điểm được xác lập dựa trên các con số, khác nhau tùy theo các tiêu chuẩn. Thí dụ : đối với các khớp đau, thang đánh giá là từ 0 đến 28. Các con số được ghi nhận trên một máy tính đặc biệt, cho những kết quả cuối cùng của số điểm DAS. Nếu kết quả trên 5, điều này có nghĩ rằng căn bệnh rất hoạt động. Dưới 2,6, căn bệnh đang thuyên giảm. Để làm dễ việc giảng dạy, Hiệp hội khoa thấp khớp Pháp đã thực hiện một vidéo dành cho các bệnh nhân.
Hỏi : Ta tuyển mộ như thế nào những y tá có nhiệm vụ giúp đỡ trong việc kiểm soát bệnh viêm đa khớp dạng thấp ?
GS Maxime : Từ tháng giêng 2011, các y tá được đào tạo một cách chuyên biệt trong những trung tâm khoa thấp khớp. Vai trò của họ là dạy cho các bệnh nhân đánh giá căn bệnh của mình, nhưng cũng khiến tìm những bệnh liên kết. Công trình nghiên cứu quy mô lớn, hiện đang được tiến hành ở Pháp, sẽ đánh giá tầm quan trọng của những tác dụng dương tính của chiến lược mới này.
Hỏi : Nếu các kết quả tỏ ra thỏa mãn, ta sẽ thực hiện việc điều trị này như thế nào ?
GS Maxime : Ta sẽ phổ biến chiến lược này cho hàng trăm trung tâm khoa thấp khớp bằng cách đào tạo nhiều y tá mà vai trò là quan trọng và cần được xác định ở Pháp. Về điểm này, Hiệp hội châu Âu thấp khớp học vừa đưa ra những khuyến nghị về vai trò của các y tá trong việc điều trị các bệnh nhân thấp khớp nhất là trong lãnh vực giáo dục và theo dõi. Trong bối cảnh này, công trình nghiên cứu của Pháp hiện đang được theo dõi sát bởi cộng đồng khoa thấp khớp quốc tế.

(PARIS MATCH 9/6- 15/6/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/7/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s