Thời sự y học số 233 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÔN TRÙNG CHÍCH HAY RẮN CẮN (PIQÛRES D’INSECTE OU DE SERPENTS)
Một thông tin tốt làm giảm nguy cơ dị ứng đối với các nọc độc (venin)
ALLERGIE. Với hè và tiết trời nóng bức sắp đến, lại xuất hiện các con ong bầu (frelon) đầu tiên, ong vò vẽ (guêpe), ong mật (abeille) hay đủ loại rắn lục (vipère) với nguy cơ bị chích, bị cắn và bị dị ứng nghiêm trọng. Phải làm gì ? “ Trước hết cần trầm tỉnh, BS Catherine Quequet (allergologue) đã giải thích như vậy, bởi vì, để một phản ứng dị ứng đối với các nọc độc này có thể xảy ra trước hết ta đã phải đã được mẫn cảm trước, nghĩa là trước đó đã bị chích hay bị cắn ít nhất một lần. »
Ngoài ra, khi ta làm trắc nghiệm đối với nọc độc của bộ cánh màng (venin d’hyménoptères) trong dân chúng, ta thấy rằng khoảng 20% những nguời Pháp được cảm ứng trong khi rất ít có nguy cơ bị một phản ứng dị ứng nghiêm trọng. Tuy vậy ta ghi nhận khoảng hai mươi trường hợp tử vong mỗi năm do phản ứng dị ứng nghiêm trọng đối với nọc độc của bộ cánh màng (venin d’ hyménoptères).
“ Nhiều người nghĩ là mình bị dị ứng và do đó ở trong tình trạng nguy hiểm, bởi vì họ phản ứng lại bằng một phù nề khu trú, đôi khi quan trọng, đối với một vết chích của muỗi hay ruồi trâu (taon) hay bởi vì nơi bị chích hay bị cắn sưng lên nhiều cm. Nhưng chừng nào điều đó vẫn được khu trú, thì không có gì phải thật sự lo lắng cả, BS François Lavand, thầy thuốc chuyên về bệnh phổi và dị ứng (pneumo-allergologue) của CHU de Reims, đã trấn an như vậy. Phản ứng gây quan tâm hơn khi lan rộng trên hơn 10 cm và ảnh hưởng lên khớp gần nhất (khi đó ta nói phản ứng tại chỗ lan rộng) Hay,dĩ nhiên, khi đó là một phản ứng toàn thân với nổi mày đay khổng lồ, phù nề ở xa chỗ chích, co thắt phế quản, thậm chí choáng phản vệ (choc anaphylactique) với khó ở (malaise), gia tăng tần số tim, hạ huyết áp và mất tri giác, điều này cần gọi điện thoại số 15 kêu Samu đến.
“ Trong trường hợp phản ứng tại chỗ lan rộng, ta kê đơn một crème dermocorticoide và bôi tức thời lên chỗ bị chích cũng như một loại antihistaminique dùng bằng đường miệng trong vài ngày ”, BS Lavaud đã xác nhận điều đó. “ Nhưng sau một phản ứng toàn thân, cần phải có một bilan allergologique ”, BS Ponvert đã nhấn mạnh như vậy.
Những trắc nghiệm da với các trích chất của nọc độc (venin) và, nếu cần, một định lượng máu các kháng thể đặc hiệu cho phép xác nhận chẩn đoán. “ Ngoài những lời khuyên thông thường để phòng ngừa bị côn trùng chích, trong trường hợp phản ứng toàn thân, ta kê đơn adrénaline chích (Anapen) cần mang theo mình 24 giờ trên 24 giờ. Phải sử dụng nó ngay khi xuất hiện những dấu hiệu hô hấp và/hoặc ngay khi cảm thấy khó ở, bằng cách chích vào mặt ngoài của đùi, đồng thời giữ stylo tại chỗ trong khoảng 10 giây, rồi xoa nhẹ trong khoảng 10 giây sau khi rút ra.
NHỜ ĐẾN GIẢI CẢM ỨNG (DESENSIBILISATION)
“ Một stylo mới với liều lượng mạnh hơn những liều lượng hiện nay trên thị trường (0,50mg thay vì 0,15mg đối với các nhũ nhi và 0,30 mg đối với các trẻ em và người lớn) được dự kiến. Như thế làm cho điều trị cấp cứu hiệu quả hơn ”, BS Claude Ponvert (khoa nhi và dị ứng học của hopital Necker-Enfants malades, Paris) đã nhấn mạnh như vậy.
“ Chú ý, ngay cả khi ta thấy khỏe hơn sau đó, cũng vẫn phải báo cho secours d’urgence, bởi vì loại tai biến nghiêm trọng này cần nhập viện ít nhất 12 đến 24 giờ. Và ở giai đoạn hai, một giải mẫn cảm (désensibilisation) trong một khoa chuyên môn phải được dự kiến, BS Quequet đã nhận xét như vậy. “ Tức thời, adrénaline cứa mạng sống. Nhưng sau đó, chính sự giải mẫn cảm tránh bị nguy cơ như thế lần nữa. Điều trị giải mẫn cảm kéo dài 3 đến 5 năm và những mũi tiêm ban đầu phải được thực hiện ở bệnh viện. Hơi bị bó buộc nhưng những kết quả là tốt : tính hiệu quả đến 98% đối với dị ứng ong vò vẽ và ong bầu và khoảng 90% đối với những dị ứng với ong mật, BS Lavaud đã kết luận như thế.
Ở Srilanka là nơi rắn cắn thường xảy ra và cac huyết thanh kháng nọc độc (sérum antivenin) có chất lượng trung bình, một công trình nghiên cứu mới được thực hiện trên 1000 bệnh nhân, đã kết luận về lợi ích của việc cho adrénaline phòng ngừa, bằng tiêm dưới da và với liều thấp, đúng sau khi bị rắn cắn để làm giảm những nguy cơ phản ứng dị ứng nghiêm trọng do huyết thanh kháng nọc độc gây ra.
Một biện pháp như thế phải chăng có thể áp dụng ở Pháp, là nơi adrénaline chỉ được dùng để điều trị ? “ Nhất thiết là không ! ”, Các BS Ponvert, Lavaud và Quequet đồng loạt trả lời như vậy. Hai lý do để giải thích điều đó : “ Trái với những quốc gia như Sri Lanka, những phản ứng dị ứng với các vết cắn của rắn vipère là ngoại lẽ ở nước chúng ta. Trường hợp sau cùng ở Châu Âu đã được báo cáo trong tư liệu ở Ba Lan năm 2007 , BS Ponvert đã nhấn mạnh như vậy. Sau đó, về các phản ứng dị ứng đối với các mũi chích của sâu bọ cánh màng (hyménoptères), các lợi ich mong chờ của adrénaline tiêm để phòng ngừa (tránh khoảng 20 trường hợp tử vong mỗi năm) dưới các nguy cơ gặp phải : thật vậy, adrénaline có thể làm gia trọng một bệnh lý tim mạch tiềm tàng và, trong số nhiều người bi chích bởi sâu bọ cánh màng mỗi năm, nhiều người có những vấn đề về tim mạch.
(LE FIGARO 23/5/2011)

2/ CÁC KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG CHỐNG LẠI CƠN THỐNG PHONG.
Trong cơn thống phong (crise de goutte), các kháng thể đơn dòng (anticorps monoclonaux) có thể là một giải pháp thay thế cho các điều trị chuẩn đôi khi không có hiệu quả hay bị dung nạp kém hay bị chống chỉ định. Đó là điều cho thấy của một công trình nghiên cứu trên 200 bệnh nhân được điều trị bởi một kháng thể đơn dòng mới, anti-interleukine-1-beta với thời gian tác dụng kéo dài : canakinumab. So sánh với cortisone, loại thuốc này, lúc được cho bằng một mũi tiêm duy nhất, chống đau tốt hơn và phòng ngừa nhiều hơn nguy cơ tái phát của các cơn thống phong.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

3/ NHỮNG NGƯỜI HÚT THUỐC BỊ ĐAU HẬU PHẪU NHIỀU HƠN
Những người hút thuốc kêu đau nhiều hơn những người không hút thuốc sau một can thiệp ngoại khoa dưới gây mê tổng quát, theo một công trình nghiên cứu tập hợp 2150 người trưởng thành. Tần số của những trường hợp đau đớn nghiêm trọng đạt 39% ở những người hút thuốc so với 22% ở những người không hút thuốc trong phòng hồi sức, và 54% thay vì 30% sau khi xuất viện. Nguy cơ đau càng cao khi người bệnh càng trẻ hay bị tăng thể trọng và khi thời gian mổ quan trọng.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

4/ THUỐC LÁ CÓ HẠI CHO ĐIỀU TRỊ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP
Một cuộc điều tra được tiến hành trên 1500 bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp, tuổi từ 18 đến 70, cho thấy rằng các cơ may đáp ứng với điều trị bị giảm trong trường hợp nghiện thuốc lá. Trong 5 năm theo dõi, tỷ lệ đáp ứng với méthotrexate hay với một loại thuốc thuộc lớp inhibiteur du facteur de nécrose tumorale (TNF) ít hơn một nửa so với đáp ứng của những người không hút thuốc nếu ta xét đến những tham số khác (thể địa di truyền, tình trạng lâm sàng, những dữ kiện sérologie).
(SCIENCES ET AVENIR 4/2011)

5/ PROZAC CÓ THỂ GIÚP PHỤC HỒI SAU MỘT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Điều trị một bệnh nhân với Prozac sau một tai biến mạch máu não có thể giúp phục hồi khả năng vận động. Đó là kết luận của một công trình của các nhà nghiên cứu của Inserm, được công bố trong tạp chí The Lancet Neurology. Công trình nghiên cứu chứng minh lợi ích của việc cho sớm trong 3 tháng fluoxétine hay một loại thuốc thuộc họ được gọi là ISRS (inhibiteurs sélectifs de la recapture de la sérotonine). Trong số 130.000 trường hợp tai biến mạch máu não mỗi năm ở Pháp, 30.000 người vẫn giữ những di chứng nghiêm trọng.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2011)

6/ NICOTINE LÀM DỄ UNG THƯ.
Là chất kích thích thần kinh, nicotine của thuốc lá cũng làm dễ sự tạo thành của các tế bào ung thư, theo một công trình nghiên cứu của Hoa kỳ (Trường y Havard), được công bố trên PloSONE. Thật vậy nicotine ngăn cản sự phân chia tế bào bình thường xảy ra tiếp theo sau sự tan vỡ của ADN, được gây nên bởi benzopyrène, một trong 66 chất gây ung thư mà những người hút thuốc hấp thụ vào mỗi lần hít khói thuốc vào. Do đó các tế bào phổi mà ADN đã bị biến đổi bởi benzopyrène có thể tiếp tục tăng sinh và tiến triển thành những tế bào ung thư.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2011)

7/ NICOTINE, NGÓN CHÂN VÀ UNG THƯ PHỔI.
Ta có thể tiên đoán ung thư phổi bằng cách đó những nồng độ của nicotine trong các móng của các ngón chân. Và so sánh nguy cơ này với nguy cơ được ước tính căn cứ trên sự tiêu thụ thuốc lá được khai báo bởi bệnh nhân. Đó là điều được cho thấy bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ nơi hơn 800 người đàn ông tuổi từ 40 đến 75, trong đó 1/3 bị ung thư phổi. So sánh với những người chứng mạnh khỏe, và sau khi điều chỉnh theo những yếu tố nguy cơ khác (tuổi tác, trọng lượng, tiêu thụ), ta chứng thực rằng nguy cơ ung thư phổi tỷ lệ với nồng độ nicotine được đo ở các móng chân bchromatographie liquide haute performance.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2011)

8/ TẠI SAO MUỒI THÍCH ĐÀN ÔNG HƠN ?
Các con muỗi thuộc giống Anopheles và Aedes, những vecteur truyền những bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết hay sốt vàng, nhạy cảm với những chất được tiết ra bởi các tuyến bã và flore cutané như ammoniac, acide lactique, hay CO. Nhưng nếu nói chung đàn ông thường bị chích hơn đàn bà, điều đó là do nồng độ và cường độ của mùi hơn là do tính chất của các hợp chất mà họ phát ra.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2011)

9/ COI CHỪNG NHỮNG THIẾU HỤT Ở NHỮNG NGƯỜI ĂN CHAY
Những người ăn chay nghiêm chỉnh (không có một sản phẩm động vật nào) có thể có nguy cơ bị huyết khối, thậm chí xơ mỡ động mạch. Đó và kết luận của một phân tích của nhiều bài báo được thực hiện về sinh hóa học của những người có nồng độ rất thấp của oméga 3 và vitamine B12, so sánh với những người ăn thịt. Với hậu quả, nhất là một sự giảm nồng độ cholestérol HDL, yếu tố nguy cơ của xơ mỡ động mạch
(SCIENCES ET AVENIR 4/2011)

10/ ĐÀN BÀ KHI NGỦ LÀM NHIỀU ÁC MỘNG HƠN
Ác mộng có thể được định nghĩa như là một giấc mơ có gánh lo âu mạnh, xảy ra trong giấc ngủ với các cử động nhanh của nhãn cầu (giấc ngủ nghịch lý) và nói chung đánh thức người đang ngủ. Theo kết quả phân tích của một trăm công trình nghiên cứu thì các phụ nữ thường làm nhiều ác mộng hơn đàn ông. Sự khác nhau này được quan sát bắt đầu từ thời kỳ thiếu niên (10-15 tuổi) và trong thời kỳ trưởng thành ( 18-60 tuổi). Sự khác nhau này biến mất ở người già. Trong thời thơ ấu, không có sự khác nhau giữa trai và gái, nhưng bố mẹ có khuynh hướng đánh giá thấp tần số các ác mộng của trẻ em, ít nhất giữa 7 và 12 tuổi.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(4/7/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s