Thời sự y học số 231 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ THỤ THAI NHÂN TẠO : 70% CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRỞ THÀNH CHA MẸ.
Phần lớn thành công sinh đẻ nhờ thụ thai trong ống nghiệm (fécondation in vitro), nhưng một vài cặp vợ chồng cuối cùng phải nhận con nuôi hay một hỗ trợ y khoa khác.

REPRODUCTION. Các cặp vợ chồng vô sinh se có những cơ may sinh một đứa con nào khi họ dấn thân vào đoạn đường chiến binh là thụ thai nhân tạo (FIV : fécondation in vitro) ? Hôm nay, bảng thông báo dịch tễ học hàng tuần (BEH : Bulletin épidémiologique hebdomadaire) dành một số rất nhiều tư liệu về tình trạng sinh đẻ được hỗ trợ y khoa (PMA : procréation médicalement assistée) ở Pháp và công bố một điều tra, lần đầu tiên trả lời vấn đề này một cách chính xác. Trên thực hành, từ nay các thầy thuốc có thể tham chiếu kết quả điều tra này khi một bệnh nhân, theo phương pháp thụ thai như thế, sẽ hỏi họ : “Thưa Bác Sĩ, những cơ may nào để điều đó có kết quả ? ” Viện nghiên cứu dân số học quốc gia (Ined : Institut national d’études démographiques), đơn vị 1018 của Inserm, đại học Paris-Sud và Institut mutualiste Montsouris đã phát động một cuộc điều tra từ các hồ sơ của 6507 cặp vợ chồng đã thực hiện một thụ thai nhân tạo lần đầu trong 8 trung tâm của Pháp giữa năm 2000 và 2002. Để biết phần tiếp của đoạn đường mà họ đã trải qua, các nhà nghiên cứu này đã thực hiện một cuộc điều tra giữa năm 2008-2010 để biết các cặp vợ chồng này, tám năm sau, đã đi đến đâu. Các kết quả được công bố hôm qua tiết lộ rằng 70% trong số các cặp vợ chồng này cuối cùng đã có đứa con mà họ mong muốn, mặc dầu không phải chỉ nhờ phương pháp thụ thai nhân tạo (FIV). Những tỷ lệ này làm an lòng đối với những kẻ nói chung rất đau khổ sống tình trạng vô sinh.
Các nhà nghiên cứu đã khảo sát 6502 cặp đã thực hiện một chọc dò noãn (ponction d’ovocytes) đầu tiên giữa năm 2000 và 2002 trong tám trung tâm tham gia vào công trình nghiên cứu. Khi đó các phụ nữ tuổi trung bình 33 tuổi và đàn ông 36 tuổi. Rốt cuộc, sau một số lần thử từ 1 đến 4, 41% các cặp vợ chồng này đã thành công sinh ra đời một em bé còn sống.
59% các cặp vợ chồng đã không có may mắn thực hiện được giấc mơ làm bố mẹ nhờ thụ thai nhân tạo giờ đã ra sao ? Để biết điều đó, giữa năm 2008 và 2010, các nhà nghiên cứu đã tìm lại được và hỏi bằng đường bưu điện, 1100 cặp vợ chồng đã không có con bằng thụ thai trong ống nghiệm giữa năm 2000 và 2002. Điều đó đã cho phép họ khám phá ra rằng 49% các cặp cuối cùng đã thực hiện giấc mơ làm bố mẹ của họ. Với một thời hạn 7 năm từ lúc bắt đầu dò tìm cho đến lúc thực hiện. Trong 19% các trường hợp, các cặp vợ chồng này đã có con nuôi, trong 18% trường hợp do thụ thai tự nhiên và trong 1% các trường hợp nhờ những điều trị sinh sản mới được khởi xướng ở thì hai.
“ Trong một cohorte rétrospective vạch lại hành trình của các cặp vợ chồng đã theo đuổi một điều trị nhờ thụ thai trong ống nghiệm (FIV), 70% trong số họ đã thực hiện được giấc mơ làm bố mẹ sau một thời hạn trung bình từ 5 đến 7 năm, các tác giả đã viết như vậy… Những kết quả này nhắc lại cho chúng ta rằng trong những đoạn đường dài lâu và đau khổ mà các cặp vợ chồng vô sinh đã trải qua, niềm hy vọng vẫn còn có thể. ”
Vào năm 2008, 2,4% các trẻ được sinh ra nhờ sinh đẻ hỗ trợ y khoa (procréation médicalement assistée) ở Pháp, hoặc 20.136 trường hợp sinh đẻ. Các trung tâm của Pháp phải chăng cũng hiệu năng về FIV bằng những trung tâm khác ở ngoại quốc ? Một điều tra, cũng được công bố trong BEH, tiết lộ rằng các kết quả của Pháp hơi thấp hơn các kết quả thu được ở Đan Mạch và Anh, nhưng tương đương với những kết quả của Đức. Ở Pháp, sau một chu kỳ thụ thai trong ống nghiệm, tỷ lệ có thai là 15% và 14,88% ở Đức. Ở Anh, tỷ lệ này là 20,85% và 18,68% ở Đan Mạch
(LE FIGARO 14/6/2011)

2/ VIÊM GAN C
Hai protéine nằm ở các tế bào gan, EGRF và EphA2, đóng một vai trò trong sự đi vào gan của virus viêm gan C. Bằng cách ức chế protéine EGRF bằng một kháng thể và một thứ thuốc được sử dụng trong điều trị ung thư phổi (hai phương pháp khác nhau nhưng bổ sung cho nhau), một nhóm nghiên cứu quốc tế thành công hạn chế sự tương tác giữa virus và gan. Điều đó đã làm giảm sự nhiễm trùng, bằng cách tác động ngay ở giai đoạn đầu. Hiện nay, bệnh viêm gan C được điều trị không tốt. Không có vaccin, và các bệnh nhân thường phát triển những đề kháng đối với các thuốc kháng virus (antiviraux). Khám phá này mở đường cho một dạng liệu pháp mới. Một nghiên cứu lâm sàng theo dự kiến sẽ được bắt đầu vào cuối năm nay.
(LA RECHERCHE 6/2011)

3/ UNG THƯ VÚ : BÉO PHÌ LÀ MỘT YẾU TỐ NGUY CƠ.
Catherine Muller-Staumont, ở Institut de pharmacologie et de biologie structurale de Toulouse, nghiên cứu vi môi trường (microenvironnement) của các khối u.
Hỏi : Tại sao ung thư vú hung dữ hơn ở các người béo phì ?
Catherine Muller-Staumont : Sau một ung thư đầu tiên, các phụ nữ bị tăng thể trọng có 50% nhiều nguy cơ hơn các phụ nữ khác, phát triển trong vòng 10 năm các di căn khuếch tán đến các cơ quan khác. Cùng với nhóm nghiên cứu của Philippe Valet, thuộc viện các bệnh chuyển hóa và tim mạch, chúng tôi vừa khám phá ra rằng, lúc tiếp xúc với mô mỡ, các tế bào ung thư vú trở nên xâm nhập hơn nhiều và do đó hung hãn hơn trong cơ thể.
Hỏi : Bà đã phát hiện điều đó như thế nào ?
Catherine Muller-Staumont : Chúng tôi đã nhận xét rằng các ung thư vú được bao quanh bởi nhiều tế bào mỡ mà ta gọi là adipocyte. Chúng tôi đã tự hỏi những tế bào mỡ này có đóng một vai trò trong sự phát tán cua ung thư vú hay không. Như thế, chúng tôi đã cấy những tế bào ung thư vú của người và chuột với những tế bào mỡ của hai loài. Sau 3 ngày, những tế bào ung thư đã tách rời nhau và đã xâm chiếm môi trường cấy của chúng. Điều đó không xảy ra nếu không có những tế bào mỡ. Rồi chúng tôi đã tiêm chúng vào các con chuột, và chúng đã tạo thành trong phổi những di căn lớn hơn và nhiều hon so với nếu ta đã tiêm những tế bào ung thư được cấy không có sự hiện diện của các tế bào mỡ.
Hỏi : Các khối u trở nên hung dữ hơn như thế nào ?
Catherine Muller-Staumont : Sau nhiều ngày cấy tiếp xúc với các khối u, các tế bào mỡ chịu những biến đổi quan trọng : chúng đánh mất lipide và tiết những protéine viêm, đặc biệt là interleukine 6. Điều đó cũng đúng nơi các bệnh nhân : chúng tôi đã tìm thấy các adipocyte có cùng những đặc điểm nơi các phụ nữ bị một ung thư vú. Mô mỡ của các phụ nữ có các khối u kích thước lớn tiết nhiều interleukine 6 hơn. Chúng tôi nghĩ rằng quá trình viêm tại chỗ này cho phép các khối u trở thành hung dữ hơn.
Hỏi : Vậy béo phì là một thế địa tốt đối với ung thư vú ?
Catherine Muller-Staumont : Ta còn phải xác nhận xem những biến đổi được quan sát đồng thời ở các adipocyte và trong các khối u có được khuếch đại nơi các bệnh nhân bị tăng thể trọng hay béo phì hay không. Ta biết rằng mô mỡ của những người béo phì có tính chất viêm hơn mô mỡ của những người có trọng lượng bình thường. Vậy thật là logic khi nghĩ rằng mô mỡ kích thích những năng lực xâm nhập của các tế bào ung thư còn nhiều hơn.Nhưng từ nay ta phải công nhận sự xuất hiện của các ung thư như là một trong những biến chứng của chứng béo phì, như ta đã làm như vậy đối với nguy cơ tim mạch hay đối với bệnh đái đường.
(LA RECHERCHE 6/2011)

4/ MỘT THUỐC CHỐNG UNG THƯ SỬA CHỮA TỦY SỐNG.
Nếu một thương tổn tủy sống có nguy cơ dẫn đến bại liệt, đó là bởi vì các sợi thần kinh không nối kết lại được. Bởi vì các sợi thần kinh không tìm ra đường đi của chúng và bởi vì mô sẹo tạo nên một hàng rào không thể vượt qua được. Chính trong lúc trắc nghiệm, nơi chuột, thuốc nổi tiếng nhất trong các loại thuốc chống ung thư, paclitaxel (Taxol), mà nhóm nghiên cứu của Farida Hellal, thuộc Institut Max-Planck de neurobologie ở Đức, đã thành công làm dễ sự tăng trưởng của các sợi thần kinh bị cắt đứt. Loại thuốc này tác động lên các microtubule, các protéine thiết yếu cho cấu trúc của các tế bào. Thuốc làm ổn định các microtubule bị làm rối loạn bởi thương tổn. Như thế các tế bào thần kinh tái tạo dễ dàng hơn theo chiều hướng đúng. Ngoài ra, tác dụng của thuốc chống ung thư làm chậm lại sự tăng trưởng của vết sẹo. Bây giờ các nhà khoa học muốn biết điều trị có hiệu quả nhiều tháng sau khi xuất hiện thương tổn hay không. Ngoài ra họ tin tưởng đối với những trắc nghiệm trên người bởi vì lượng paclitaxel cần thiết thấp và những tác dụng phụ ít hơn so với những tác dụng phụ lúc điều trị một ung thư.
(SCIENCE ET VIE 4/2011)

5/ HỘI CHỨNG DOWN.
Gần 100 năm trước khi khám phá trisomie 21, một người đàn ông đã mô tả những hậu quả của căn bệnh di truyền này và đã cống hiến cuộc đời mình cho việc làm sáng tỏ bệnh trisomie 21 của các trẻ em trong trại tâm thần. Lúc quan tài của ông đi qua, các hiệu buôn hạ các cánh cửa trập xuống và một sự im lặng bao trùm. Một người đàn ông làm điều tốt vừa mới qua đời.
John Langdon Down sinh vào năm 1828 ở Torpoint, trong vùng Cornouailles. Ông bố của ông, Joseph, mặc dầu bán đồ gia vị và buôn dạ, nhưng cũng bán dược phẩm (drogues médicales), đã thành công nhận được tước hiệu dược sĩ. John là một học sinh xuất sắc, nhưng bố ông khẩn khoản muốn ông tiếp tục sự nghiệp thương mãi của mình. Cửa tiệm được mở rộng và đa dạng hóa đến mức trở thành nơi bán hàng gia vị, rán cà phê, bán đồ ngũ kim (quincailllerie), cửa hàng giấy bút (papeterie), vải dệt, hàng bán thuốc (droguerie), cửa hàng dược, và ngay cả giay bảo hiểm ! Nhưng John chẳng có khiếu chút nào về thương mãi. Ở tuổi 18, sau lần gặp gỡ một cô bé gái bị tật nguyền khiến ông muốn biết tất cả về sự khuyết tật tâm thần. Do đó ông đã di Luân Đôn và ký giao kèo tập sự nơi BS Colemans. Ông này dạy ông sử dụng trích máu (saignée), đĩa (sangsues), ventouse và nhổ răng.
PHỤC VỤ GIA ĐÌNH.
Dưới áp lực của gia đình, ông chấp nhận hướng về dược khoa bởi vì hiệu buôn tuyệt đối cần phải có một hội vien (associé) có văn bằng để duy trì tính hợp lệ của tiệm. Trong số 3000 ứng viên, ông là người đầu tiên trong số 80 sinh viên được ủy nhiệm accrédité). Nhưng vi không ưa thích mấy với chiếc áo choàng sọc đứng sau quầy hàng nên ông vui vẻ chấp nhận trở thành phụ tá của một giáo sư hóa học. Bất hạnh thay, trước khi có thể hưởng được sự thăng chức này, ông mắc phải bệnh lao và trở nên gầy mòn.Thời kỳ dưỡng bệnh 3 năm buộc ông trở lại làm việc ở tiệm, như là một người ăn lương tầm thường. Vào lúc 25 tuổi, phải đợi cho đến khi cha chết ông mới dám cưỡng lại áp lực của gia đình, và ghi tên theo học ở một trường y.
HUÂN CHƯƠNG VÀ VINH QUANG.
Tất cả tiền tiết kiệm của ông được trang trải trong thời gian theo học tốn kém ở bệnh viện Luân Đôn. Vốn đã giỏi về hoá học, ông hăng say và thu thập các huy chương vàng hay bạc được trao cho sinh viên giỏi nhất của mỗi ngành. Ông xuất sắc không những trong thực vật học mà còn cả trong ngoại khoa hay sản khoa. Một học trình chắc chắn đã đưa ông đến, vào năm 30 tuổi, văn bằng y khoa, Société des Pharmaciens và ngay cả Collège Royal để . Tiếp theo ông nhận được nhiệm sở BS thường trú sản khoa và giáo sư tư. Sự nghiệp của ông được phát động. Và chính vào lúc đó mà cuộc đời của ông sẽ đổi hướng, bởi vì ông chấp nhận chiếm giữ chức vụ Superintendant médical ở trại tâm thần Earlswood dành cho những người ngu ngốc (idiots), một cơ sở đang trong thời kỳ khủng hoảng, cần phải sắp xếp lại toàn bộ.
Thách thức của ông : nhân đạo hóa bệnh viện tâm thần. Tìm ở đó cách phát biểu ý kiến, đó là thiên chức của chàng thanh niên. Ông tự bồi dưỡng tất cả các môn học cần thiết cho cơ sở, để vừa là thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, trợ tá xã hội (assistant social), giám thị, cố vấn và vừa là người quản lý. Ưu tiên đầu tiên của ông là dạy cho các nội trú sử dụng dao và nĩa ! Ông cấm các hình phạt, khuyến khích các trẻ em và cải tổ sâu rộng phương pháp tâm thần, kể cả đào tạo nhân viên. Vào năm 32 tuổi, ông cưới Mary. Từ lâu nàng động viên ông và chấp nhận đến sống với ông ở trại tâm thần. Nàng mang lại cho ông 4 người con và tham gia miễn phí và vui lòng giải trí các trẻ bị phế tật tâm thần. Mọi chuyện dường như đều tốt đẹp nhất nhưng những quan hệ căng thẳng với cấp lãnh đạo khiến Down phải từ chức vào năm 1868.
SỰ NGHIỆP CỦA CUỘC ĐỜI ÔNG
John và Mary không từ bỏ lý tưởng của họ. Họ mua một ngôi nhà trong vùng ngoại ô Luân Đôn và trong 20 năm đã không ngừng mở rộng ra, dần dần mua lại tất cả các đất đai lân cận. Cơ quan của họ (fondation Normansfield) tiếp nhận khoảng 20 thường trú nhưng lúc John qua đời, con số này là 160. Cơ sở trở nên một kiểu mẫu về tính hiện đại (modèle de modernité) đối với thời kỳ đó, đề nghị xưởng vẽ (ateliers), tennis, cricket, kịch và ngay cả đào tạo nghề nghiệp. Từ ít lâu nay ông đã nhận diện một nhóm bệnh nhân có vẻ người tương tự với dân Mông cổ, nhưng chỉ vào năm 1887 ông mới công bố những đặc điểm chi tiết nhất của những người mà ông mệnh danh là “ những thằng ngốc Mông Cổ ” (idiots mongolien). Down đột ngột qua đời lúc ông 68 tuổi. Vợ ông chỉ còn sống được 5 năm nữa nhưng con trai ông tiếp tục làm sống cơ quan Normansfield. Chỉ vào năm 1961, hai năm sau khi bệnh trisomie 21 được khám phá, các chuyên gia (trong đó có cháu trai của ông) đã đề nghị nên dùng từ ngữ “ hội chứng Down ” thay vì trisomie 21. Vào năm 1965, OMS chuẩn nhận một cách quốc tế tên gọi này.
. (LE GENERALISTE 9/6/2011)

6/ TRISOMIE 21 :THỬ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ ĐÁNG PHẤN KHỞI ĐẦU TIÊN.
Một loại thuốc được trắc nghiệm ở Tây ban Nha có một tác dụng dương tính trên trí nhớ và chức năng vận động tâm thần (psychomotricité).
GENETIQUE. Là một trong những nguyên nhân đầu tiên của phế tật tâm thần nguồn gốc di truyền, benh trisomie 21 (hay hội chứng Down), chẳng bao nữa có thể được chữa trị một phần nào, các chuyên gia của căn bệnh trisomie 21, hội họp nhân Journées internationales Jéromes Lejeune, được tổ chức ở Viện Pasteur từ ngày 24 đến 26 tháng ba năm 2011, đã chỉ rõ như vậy. “ Cách nay 10 năm, đó vẫn còn là điều không thể tưởng được ”, BS Henri Bléhaut, người tổ chức khoa hoc của hội nghị dành cho các bệnh di truyền ve trí thông minh và cũng là người đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về trisomie 21 đã làm chứng vậy.
Hơn 50.000 người bị bệnh trisomie 21 ở Pháp và sống càng ngày càng lâu. Những tiến bộ của y khoa đã chuyển hy vọng sống dưới 30 tuổi trong những năm 1990 lên hơn 60 tuổi hôm nay. Việc phát hiện tiền sinh (dépistage prénatal) của căn bệnh này đã đạt đến giới hạn của nó bởi vì mỗi ngày trong đất nước chúng ta (Pháp) vẫn còn sinh ra một đứa bé bị bệnh trisomie 21, thường nhất là từ một người mẹ trẻ không được xét nghiệm bởi vì ít có nguy cơ. Trisomie 21 có tên như vậy là do sự hiện hữu trong các tế bào của cơ thể của các người bệnh một nhiễm sắc thể bổ sung, nhiễm sắc thể thứ 21, thường được thừa hưởng từ một người mẹ, vì một lý do vẫn còn chưa được giải thích. Các gène dư thừa do nhiễm sắc thể này mang lại gây nên nhiều bất thường về sự phát triển và vận hành chức năng của cơ thể, đặc biệt là sự chậm phát triển trí tuệ (retard mental),
Về mặt điều trị, nhiều tiến bộ mới đây đã mở ra những hy vọng mới biến đổi tiến triển của bệnh. Vào năm 2000, séquençage của nhiễm sắc thể 21 đã cho phép nhận diện phần lớn các gène (khoảng 300), đuợc mang bởi nhiễm sắc thể. Phương pháp này giờ đây tạo khả năng nhắm đích nhiều nguyên nhân di truyền khả dĩ của bệnh và trắc nghiệm tác dụng điều trị nơi động vật.
Vào năm 2009, nhóm nghiên cứu của Jean-Maurice Delabar của đại học Paris-Diderot đã cho thấy rằng ngay lúc sinh, sự ức chế một enzyme dư thừa hiện diện trên nhiễm sắc thể 21 (Dyrkla) điều chỉnh các triệu chứng về nhận thức của bệnh nơi chuột. Các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng để được như vậy, họ có thể sử dụng một chất ức chế tự nhiên của enzyme, một chất chống oxy hóa mạnh trích từ trà xanh, gallate d’épigallocatéchine hay EGCC. Chất có trong thiên nhiên này có ưu điểm bổ sung là không hề có tác dụng phụ và có thể được cho bằng đường miệng.
Vào năm 2010, nhóm nghiên cứu của GS Mara Dierssen, thuộc Centre sur la régulation génomique ở Barcelone (Tây Ban Nha), đã phát động một thử nghiệm lâm sàng, hoàn toàn được tài trợ bởi Fondation Jerome Lejeune. Trắc nghiệm đầu tiên nơi người này đã có vẻ rất dương tính. “ 3 tháng sau khi bắt đầu điều trị, phần lớn các gia đình đã đoán được là đứa con bị trisomie 21 của họ đã nhận EGCG hay một placebo, Mara Dierssen đã xác nhận như vậy, và một tháng điều trị dường như đủ để quan sát thấy một hiệu quả dương tính lên trí nhớ và chức năng vận động tâm thần (psychomotricité). Hiệu quả này biến mất lúc ngừng điều trị. ”
Tác dụng mạnh của EGCG được giải thích bởi vai trò của enzyme Dyrkla trong nhiều quá trình tế bào và điều đó ở tất cả các mức của cơ thể. Sau thử nghiệm tiền phong này, các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha sẽ phát động một công trình nghiên cứu quốc tế trong khoảng một chục trung tâm bệnh viện. “ Các kết quả đáng phấn khởi với EGCG, có được nhưng không bị một tác dụng phụ nào, trái lại là khác, thúc đẩy chúng tôi trắc nghiệm những tham số khác như liều lượng và thời gian điều trị ”, Mara Dierssen đã nói thêm như vậy.
NHỮNG TÁC DỤNG PHỤ.
Những phương thức khác được trình bày trong hội nghị, nhằm một cách đặc hiệu hơn sự thiếu hụt của trí nhớ và của khả năng học tập nơi những người bị bệnh trisomie 21, cũng cho thấy các kết quả đáng phấn khởi nơi động vật. Vài loại thuốc, như mémantine hay fluoxétine, đã có mặt trong thương trường và chẳng bao lâu có thể được trắc nghiệm nơi người. Ngay cả mặc dầu chúng không phải là không có những tác dụng phụ và chỉ điều trị một khía cạnh của bệnh, các loại thuốc này, từ ít lâu nay, mang lại viễn ảnh làm giảm sự chậm phát triển trí tuệ của những người bị bệnh trisomie 21.
(LE FIGARO 5/4/2011)

7/ NÃO BỘ CỦA NHỮNG NGƯỜI MẮC BỆNH TỰ KỶ ĐƯỢC TỔ CHỨC RẤT TỐT.
Những bệnh nhân tự kỷ (autiste) phát triển những năng lực đặc biệt bằng cách sử dụng não bộ một cách khác. Thí dụ họ sử dụng nhiều hơn dân thường vài vùng của não bộ : “ Dầu cho công tác được thực hiện là gì, những người bị bệnh tự kỷ làm hoạt động quá mức (suractiver) những vùng thị giác (aire visuelle) dành cho việc xử lý thị giác đặc hiệu ”, Laurent Mottron, thuộc đại học Montréal (Canada) đã giải thích như vậy. Ông đã phân tích 26 công trình nghiên cứu chụp hình ảnh, được tiến hành từ 15 năm qua. Những người tình nguyện, bị bệnh tự kỷ hay là không, được cho đối diện với các gương mặt, tiếp xúc với các đồ vật và các chữ, phải phát hiện chúng, nhận diện chúng hay sờ mó chúng. Những người tự kỷ đã thu được những hiệu năng y hệt với các hiệu năng của những người tham gia khác. Nhưng các kích thích trong não bộ lại khác nhau : những người tự kỷ sử dụng nhiều hơn những vùng thái dương và chẩm, chuyên về xử lý thị giác, dùng ít hơn vỏ não vùng trán, chịu trách nhiệm về sự quyết định, sự kế hoạch hóa và sự thực hiện. “ Những người tự kỷ thực hiện công tác với cái giá ít hơn bằng cách sử dụng các vùng tri giác (zone perceptive) không dành cho những công việc được yêu cầu ”, nhà nghiên cứu đã chứng thực như vậy. Ông ưa nói “ sự tái tổ chức ” (réorganisation) hơn là “ sự rối loạn tổ chức ” (désorganisation) não bộ. “ Não bộ của họ thích ứng bằng cách tái phân bố những vùng não bộ cho tri giác thị giác (perception visuelle), ông đánh giá như vậy. Điều này mang lại cho họ những năng lực thị giác đặc biệt, nhất là theo 3 chiều không gian. ”
(SCIENCE ET VIE 6/2011)

8/ MỘT VÕNG MẠC ĐIỆN TỬ MANG LẠI THỊ GIÁC CHO 3 NGƯỜI.
Mang lại thị giác cho các người mù nhờ một võng mạc nhân tạo (rétine artificielle) : đó là mục tiêu được theo đuổi bởi nhiều nhà nghiên cứu, đang gia tăng những thử nghiệm lâm sàng. Chiến công mới nhất ? Thành tích của một nhóm nghiên cứu người Đức của đại học Tubingen, đã phục hồi một phần thị giác (une vision partielle) ở 3 người bị bệnh thoái hóa võng mạc (viêm võng mạc sắc tố : rétinite pigmentaire), nhờ một võng mạc điện tử de haute résolution. Những người mù này hôm nay thấy đủ rõ để có thể nhận biết những đồ vật thông thường và đọc những chữ lớn. “ Phép nhiệm màu ” này dựa trên một puce gồm 1500 điện cực, được cắm dưới võng mạc của các bệnh nhân. Cũng như một võng mạc tự nhiên, võng mạc điện tử bắt trực tiếp ánh sáng và truyền các thông tin đến các neurone thị giác, vẫn còn nguyên vẹn. Ưu điểm của implant này là không cần đến caméra bên ngoài nữa. “ Ngoài việc mang lại một số lượng pixel lớn hơn, implant của chúng tôi là implant đầu tiên theo các cử động nhãn cầu của bệnh nhân ”. Kết quả tốt của chiến lược “ sinh-điện tử ” (bioélectronique) này khiến võng mạc điện tử là một cạnh tranh thật sự với hướng tìm tòi khác do José-Alain Sahel (Viện thị giác Paris) phát triển. Giáo sư này đang tìm cách “ sửa chữa ” những tế bào võng mạc bằng liệu pháp gène (thérapie génique), nhằm chữa lành thật sự bệnh viêm võng mạc sắc tố)
(SCIENCE ET VIE 1/2011)

9/ NGHỆ CÓ THỂ PHÒNG NGỪA ỈA CHẢY.
Clostridium difficile là một vi khuẩn chịu trách nhiệm ỉa chảy do dùng thuốc kháng sinh. Ỉa chảy do Clostridium difficile rất lây nhiễm trong môi trường bệnh viện. Do đó lợi ích của các kết quả thu được in vitro với các trích chất của nghệ (curcuma), được trình bày nhân hội nghị cua Collège américain de gastroentérologie. Được cho với những nồng độ 128 mcg/ml, hoạt chất của nghệ, curcumine, có khả năng ức chế sự tăng trưởng của vi trùng trong canh cấy. Một công trình nghiên cứu sắp bắt đầu để kiểm tra xem nghe có thể ngăn ngừa các bệnh ỉa chảy do Clostridium difficile hay không.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

10/ THAI NHI THIẾU OMEGA 3 CÓ NGUY CƠ TRỞ NÊN MỘT NGƯỜI LỚN BỊ BỆNH TRẦM CẢM
Trong thời kỳ mang thai, nếu thai nhi không nhận đủ oméga 3, một axít béo thiết yếu, thì cá thể đó khi đến tuổi trưởng thành sẽ có nhiều nguy cơ hơn bị bệnh trầm cảm. Thật vậy, một sự thiếu hụt oméga 3 trong não bộ làm rối loạn sự dẫn truyền thần kinh, và điều này ngay lúc thai nhi phát triển trong tử cung. Sophie Layé và Olivier Manzoni (Inra và Inserm, Bordeaux) đã quan sát hiện tượng này trên chuột. Điều này cho phép giải thích sự tương quan được quan sát giữa những chế độ ăn uống nghèo oméga 3, rất phổ biến trong thế giới công nghiệp, và những rối loạn khí chất như bệnh trầm cảm.
(SCIENCE ET VIE 4/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(16/06/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s