Thời sự y học số 229 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : SỰ ĐỔI MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ

NHỮNG ĐIỂM MỐC

VIÊM. Bệnh viêm đa khớp dạng thấp không phải là một bệnh hiếm. Bệnh ảnh hưởng lên 30 triệu người trên thế giới, và từ 0,25 đến 0,50% dân chúng Pháp. Không được điều trị, bệnh gây nên mất năng lực chức năng trong 20% các trường hợp. Bệnh gây thương tổn chủ yếu các bàn tay và các đầu gối nhưng ảnh hưởng hiếm hơn những khớp khác và đôi khi những cơ quan khác : mắt, tim, phổi, các dây thần kinh hay các huyết quản.
DI TRUYỀN. Bệnh viêm đa khớp dạng thấp không phải là một bệnh di truyền : với một người bà con thuộc thế hệ thứ nhất bị bệnh này, nguy cơ bị bệnh chỉ 4%. Đối với một người chị (em) sinh đôi, nguy cơ là 12%.
THỂ THAO. Điều quan trọng là hoạt động vật lý phải được duy trì khi không có đợt viêm. Thật vậy, sự bất hoạt động và sự bất động làm giảm lực cơ và do đó làm giảm khả năng cử động và sự cân bằng. Trái lại trong những thời kỳ xảy ra những đợt viêm, phải tránh cử động các khớp. Khi đó phải tránh đòi hỏi chúng cử động trong ngày và đôi khi cần bất động chúng, ở tư thế tốt, trong đêm.
NGHIÊN CỨU. Trong số nhiều hướng nghiên cứu, ta có thể kể hướng của Jean-Luc Davignon, giám đốc nghiên cứu của CNRS, cùng với Rémy Poupot nghiên cứu về việc sử dụng các dendrimètre phosphoré, các phân tử khổng lồ mà những tính chất điều trị đang được đánh giá trong nhiều lãnh vực. Một khi được tiêm vào, chúng có thể ức chế sự phá hủy xương trong các khớp bị thương tổn.
THAI NGHÉN. Bị viêm đa khớp dạng thấp không chống chỉ định việc có thai. Trong 75% các trường hợp thai nghén dẫn đến một giai đoạn thuyên giảm của bệnh lý này. Phải những thầy thuốc chuyên khoa thấp khớp thăm khám để biết là có phải ngừng vài loại thuốc trước khi thụ thai hay trong thai nghén hay không.

Căn bệnh rất gây đau đớn này, mà các nguyên nhân vẫn còn bí ẩn, được điều trị tốt hơn nếu được chẩn đoán sớm hơn.
ARTICULATIONS. “ Với một điều trị nền (traitement de fond) được thực hiện trong vòng ba tháng sau những dấu hiệu đầu tiên, từ nay ta có thể có được một sự thuyên giảm của bệnh viêm đa khớp dạng thấp ”, GS François Rannou, trưởng khoa phục hồi chức năng của Institut de rhumatologie thuộc bệnh viện Cochin (Paris) đã nhắc lại như vậy. Thật vậy, cũng như đối với những bệnh viêm mãn tính khác, sự xuất hiện của sinh liệu pháp (biothérapie) đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện đối với một phần lớn các bệnh nhân.
Căn bệnh thấp khớp này gây bệnh cho 300.000 người ở Pháp và nói chung xuất hiện trong lứa tuổi từ 40 đến 60, với một dạng thanh niên (forme juvénile) gây bệnh cho 3000 trẻ em. Bệnh viêm đa khớp dạng thấp được đặc trưng bởi một quá trình viêm của màng hoạt dịch các khớp của các chi, có thể dẫn đến một cách nhanh chóng ít hay nhiều, sự thoái hóa xương và sụn.
Bệnh viêm đa khớp dạng thấp gây đau và sưng một cách đối xứng, chủ yếu ở các khớp của bàn tay, cổ tay. Những đau đớn này đặc biệt dữ dội vào ban đêm và vào buổi sáng, phải cần ít nhất nửa giờ để “ khởi động ” các khớp bị thương tổn. Ngay khi những dấu hiệu này xuất hiện, phải thăm khám thầy thuốc gia đình càng nhanh càng tốt để xác lập, với sự hợp tác của một thầy thuốc chuyên khoa, chiến lược can thiệp điều trị tốt nhất. Chẩn đoán dựa trên thăm khám lâm sàng các khớp và các phân tích sinh học (analyses biologiques). Những thăm khám X quang cũng có thể được thực hiện để định vị những xói mòn xuong (érosion osseuses).
YẾU TỐ PHÁT KHỞI.
Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn dịch, trong đó hệ miễn dịch phản ứng chống lại vài protéine bị biến đổi trong cơ thể. “ Những biến đổi là tự nhiên, chúng xảy ra thường hơn trong vài cơ quan như phổi, nhưng trong vài trường hợp mà ta vẫn không hiểu được, hệ miễn dịch phát động một phản ứng chống lại những phân tử protéine này ”, GS Rannou xác nhận như vậy. Vậy những yếu tố khởi động không luôn luôn được làm sáng tỏ, nhưng vài gène tố bẩm dường như có liên hệ trong 30% các trường hợp.
Mặt khác, vì 3 trường hợp trên 4 xảy ra ở phụ nữ ở khoảng lứa tuổi 40, và như vậy quanh thời kỳ mãn kinh, nên các kích thích tố có thể đóng một vai trò. Những yếu tố môi trường cũng đã được nhận diện, và nhất là thuốc lá đóng một vai trò quan trọng. Một công trình nghiên cứu mới đây đã chứng minh rằng, ở những bệnh nhân có một profil di truyền hơi thuận lợi cho sự phát triển bệnh viêm đa khớp dạng thấp, những người nhịn hút thuốc giảm 2 lần nguy cơ thấy bệnh phát triển.
“ Ta cũng biết rằng thuốc lá làm bệnh trầm trọng, rằng sự phát triển của bệnh khi đó nhanh hơn và sự điều trị khó khăn hơn ”, GS Marie-Christophe Boissier, trưởng khoa bệnh thấp khớp của bệnh viện Avicenne, Bobigny, đã nói như vậy. Trong 20 đến 30% các trườrng hợp, một choc tâm lý (tang chế, đoạn tuyệt…) cũng là nguồn gốc của sự phát khởi bệnh.
Viêm đa khớp dạng thấp được biểu hiện không giống nhau ở tất cả các bệnh nhân và tiến triển của nó rất thay đổi tùy theo mỗi profil di truyền. Điều trị gồm hai vế : các thuốc giảm đau, nói chung là các thuốc chống viêm không phải stéroide (AINS : anti-inflammatoire non stéroidien) để chống lại sự đau đớn, phối hợp với các tiêm ngấm (infiltration) và đôi khi với những corticoides với liều thấp trong giai đoạn cấp tính. Song hành, một điều trị duy trì từ nay được thực hiện một cách hệ thống để làm gián đoạn quá trình viêm, một chiến lược càng hiệu quả khi được bắt đầu càng sớm.
PHONG BẾ VIÊM
Khi bệnh được nhận diện sớm, thầy thuốc kê đơn méthotrexate, vẫn là thuốc chuẩn để phong bế viêm. Nếu bệnh đã tiến triển hay nếu, sau 3 tháng, điều trị không đủ, thầy thuốc có thể sử dụng trong số 4 loại thuốc (chẳng bao lâu nữa là 5) của sinh liệu pháp, loại thuốc mà bệnh nhân sẽ đáp ứng tốt nhất.
“ Không phải tất cả các bệnh nhân sẽ đáp ứng giống nhau đối với các điều trị, do đó cần nhận diện những chỉ dấu sinh học cho phép tiên đoán một bệnh nhân có sẽ đáp ứng tốt hơn với một điều trị nào đó hay không ” , GS Boissier đã chỉ rõ như vậy. Nếu điều trị được thực hiện một cách nhanh chóng và nếu nó có hiệu quả, khi đó bệnh sẽ hoàn toàn được dập tắt, mà không có hậu quả đối với bệnh nhân.
Tuy nhiên viêm đa khớp dạng thấp vẫn là một bệnh mãn tính, và những người bị bệnh vẫn tiếp tục cảnh giác : bệnh tái phát ngay khi ngừng điều trị.
(LE FIGARO 30/5/2011)

2/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : MỘT TRONG NHỮNG HƯỚNG TIỀN BỘ NHẤT LÀ MỘT VACCIN.
Viêm đa khớp dạng thấp gồm nhiều thành phần, miễn dịch và viêm. Các cố gắng nghiên cứu được tập trung vào những thành phần này, để hiểu nhưng cơ chế của bệnh, những yếu tố làm phát khởi nó và nhận diện những hướng điều trị. Thành phần thụ đắc (composante acquise) của viêm đa khớp dạng thấp tương ứng với sự khởi động của một đáp ứng tự miễn dịch hướng chống lại màng hoạt dịch của vài loại khớp. Kháng nguyên chịu trách nhiệm phản ứng này chưa được nhận diện, mặc dầu vài công trình dường như chỉ ra một hướng nhiễm trùng.
Giáo sư François Rannou đặc biệt quan tâm đến giai đoạn cấp tính của viêm, tương ứng với sự xâm nhập khớp bởi các tế bào viêm. “ Chiến lược tốt nhất là tránh giai đoạn này, nhờ những điều trị nền (traitements de fond), nhưng đứng trước những cơn cấp tính, hiện nay ta chỉ có các corticoides, nhưng loại thuốc này lại có nhiều bất tiện.” Nhóm nghiên cứu Inserm, ở bệnh viện Cochin (Paris), nơi ông làm việc, thăm dò vai trò cua hème oxygénase-1, dường như có một vai trò làm hủy giai đoạn viêm và cũng nghiên cứu sự điều hòa của cái chết được chương trình hóa (mort programmée) của các bạch cầu đa nhân, tập hợp trong khớp và phóng thích các chất làm dễ sự phá hủy khớp.
Những chiến lược khác đặc biệt hơn nhắm thành phần miễn dịch của bệnh và những tế bào tham gia vào đó. Nhóm nghiên cứu ở Montpellier, do Christian Jorgensen lãnh đạo, nghiên cứu lợi ích của một liệu pháp tế bào bắt đầu từ những tế bào gốc trung mô (cellules souches mésenchymateuses), nguồn gốc của xương và sụn và cũng đóng một vai trò trong sự điều hoà miễn dịch. Nhiều nhóm nghiên cứu cũng đánh giá lợi ích của việc tiêm vào trong khớp những tế bào lympho T được gọi là “ điều hòa ” làm giới hạn quá trình viêm.
Những sinh liệu pháp đầu tiên hết đã được phát triển là những kháng thể chống TNF alpha. Một trong những hướng tiến triển nhất trong tương lai là gây nên sự sản xuất của những kháng thể này bởi chính cơ thể. Mặc dầu phải tiêm lập lại một cách đều đặn, nhưng các nhà nghiên cứu hy vọng rằng đáp ứng miễn dịch sẽ được điều hòa tốt hơn bằng cách này. Fondation Arthritis, có mặt bên cạnh nhiều dự án nghiên cứu về bệnh viêm đa khớp dạng thấp, hỗ trợ một thử nghiệm quốc tế nhiều trung tâm giai đoạn II, sử dụng một ứng viên vaccin của công ty Néovacs. Những kết quả đầu tiên được chờ đợi từ nay đến cuối năm.
Trong lúc chờ đợi sự xuất hiện của những liệu pháp đổi mới này, chẳng bao lâu nữa một loại thuốc mới sẽ được thêm vào những sinh liệu pháp hiện có : tofacitinib, có tác dụng ức chế vài chất trung gian trong tế bào của phản ứng viêm. Pfizer, hãng bào chế loại thuốc mới này, vừa loan báo những kết quả đầy hứa hẹn của một thử nghiệm giai đoạn III, mới được thực hiện nửa đường. Thử nghiệm này sẽ chấm dứt vào năm 2012.
(LE FIGARO 30/5/2011)

3/ TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP CÓ THỂ LÀM CHẬM LẠI
Progranuline, một yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance) có liên hệ trong sự phát triển phôi thai và sự sửa chữa các mô, cũng cho phép làm giảm các triệu chứng của bệnh viêm đa khớp dạng thấp nơi chuột, và ngay cả ngăn cản bệnh xuất hiện. Đó là điều vừa được chứng tỏ bởi một nhóm các thầy thuốc Trung-Mỹ, do Chuan-ju Liu, đại học Nữu Ước lãnh đạo. Các nhà nghiên cứu cũng đã khám phá protéine tác động như thế nào : khi gắn trên một thụ thể tế bào được gọi là TNFR, protéine này làm rối loạn sự tương tác giữa thụ thể này với cytokine, được biết là nguồn gốc của quá trình viêm. Chuan-ju Liu và các đồng nghiệp sau đó đã nghĩ ra một dạng biến đổi của progranuline, được mệnh danh là Atsttrin, đã tỏ ra là còn có hiệu quả hơn progranuline tự nhiên.
(SCIENCE ET VIE 5/2011)

4/ NHỮNG BÍ ẨN CỦA VI KHUẨN GIẾT NGƯỜI LÀM CHÂU ÂU HOẢNG SỢ.
Những điểm chủ yếu
– Escherichia coli của Đức đã gây nên nạn nhân thứ 18 hôm thứ năm 2/6. Các quả dưa chuột của Tây Ban Nha được giải oan
– Nguồn gốc của sự lây nhiễm vẫn chưa được biết rõ.
– Ta vẫn chưa tìm ra dấu vết của vi khuẩn trong thức ăn và vi khuẩn Escherichia coli gây dịch bị lẩn lộn với vi khuẩn E.coli hiện diện trong cơ thể người.
18 người đã chết sau khi bị lây nhiễm bởi vi khuẩn Eceh (Escherichia coli entérohémorragique), xuất hiện ở Đức vào đầu tháng năm. Nhưng hơn 2000 người đã bị lây nhiễm, nhất là ở miền Bắc nước Đức, nhưng cũng trong những nước khác của châu Âu và Hoa Kỳ. Vi khuẩn dường như đặc biệt gây bệnh cho phụ nữ và các trẻ em. Nước Bỉ hiện tại đã không ghi nhận một trường hợp lây nhiễm nào cũng như không có những trường hợp bệnh hay tử vong. Sau khi các quả dưa chuột của Tây Ban Nha được giải oan (trước đó đã bị chỉ mặt bởi giới hữu trách Đức và Ủy ban châu Âu) giờ đây bí mật vẫn là bí mật.
1. Eceh là ai ?
Mặc dầu ta chưa biết vi khuẩn đến từ đâu, nhưng ta đã biết tên của nó : “ O104 : H4 ” . Căn cước của giống gốc giết người này đã được xác nhận bởi Trung tâm châu Âu phòng ngừa và kiểm soát các bệnh. Theo ECDC, vi khuẩn vô cùng hiếm. Một trường hợp duy nhất đã được xác nhận trong văn liệu khoa học. Đó là một phụ nữ Triều Tiên vào năm 2005. Điều này giải thích tính độc lực của giống gốc Đức và sự đề kháng của nó đối với vài loại điều trị cổ điển như thẩm tách máu, nhưng cũng giải thích tại sao dịch bệnh lan rộng như vậy. Theo OMS, vi khuẩn này trước đây đã chưa bao giờ gây dịch bệnh cả.
2. Hội chứng dung huyết và urée-huyết (SHU : syndrome hémolytique et urémique) là gi?
Hội chứng SHU là một biến chứng nghiêm trọng, đôi khi gây chết người, của các nhiễm trùng tiêu hóa do các vi khuẩn Escherichia coli entérohémorragique (ECEH), các loại colibacille sản sing shigellatoxine. Sau một thời kỳ tiềm phục 3 đến 7 ngày, các nhiễm trung này được thể hiện bởi triệu chứng ỉa chảy, đôi khi ra máu. Cứ mười bệnh nhân thì chín được chữa lành trong khoảng 10 ngày. Hội chứng SHU xảy ra trong 10% các trường hợp, do sự khuếch tán của độc tố. Hội chứng được đặc trưng bởi một suy thận cấp tính, thiếu máu và giảm tiểu cầu trong máu (thrombocytopénie). Biến chứng này gây chết người trong 3 đến 5% các trường hợp, cứ hai bệnh nhân thì một còn giữ các di chứng trên thận. Khoảng một 100 trường hợp được ghi nhận ở Pháp, chủ yếu ở các trẻ em dưới 15 tuổi.
3. Sự lây nhiễm đến từ đâu ?
Ta đã tiến triển trong việc nhận diện căn bệnh và trong sự hiểu biết về những tác dụng của nó (sự phá hủy những tế bào máu và những thương tổn ở thận), nhưng ta vẫn không biết được nguồn gốc của nó. Quả dưa chuột Tây Ban Nha không có tội, đó là điều rõ ràng. Và theo các chuyên gia thì không gì cho thấy rằng sữa hay thịt là nguồn gốc của vấn đề, cũng như cũng không chứng minh được rằng nguồn gốc là do thức ăn.
Tuy nhiên, ta biết rằng vi khuẩn tập trung trong ống tiêu hóa của những động vật nhai lại (bò, dê). Vậy sự lây nhiễm có thể xảy ra qua những sản phẩm sữa sống, thịt nấu không đủ chín, và rau sống. Thật vậy, sự lây nhiễm có thể xảy ra lúc tưới đất trồng rau hay khi rải phân bón. Đó là lý do tại sao các quả dưa chuột sinh học (concombres bio) bị chỉ đích danh là thủ phạm, nhà chuyên gia đã nói như vậy. Như thế rau (légumes) vẫn nằm trong đường nhắm. Giới hữu trách Đức đã đi đến kết luận này, nhất là dựa trên cơ sở phân tích những gì các bệnh nhân đã tiêu thụ. Các sở y tế luôn luôn khuyến nghị tránh cà chua sống, dưa chuột và rau diếp (laitue), trừ phi rau được nấu ở nhiệt độ 70 độ trong 10 phút.
Dầu sao, điểm trung tâm của dịch bệnh không chối cãi được là ở miền Bắc nước Đức, về phía Hambourg. Chính ở đó tập trung phần lớn những trường hợp lây nhiễm. Và ngay cả những người bệnh được nhận diện ở ngoại quốc, tất cả dường như có một liên hệ (thường đi du lịch) với thành phố cảng của Đức. Ngoài điều đó ra, bí mật vẫn hoàn toàn bao trùm. “ Cái khó, Georges Daube, trưởng phòng xét nghiệm vi trùng học các thực phẩm của Đại học Liège đã giải thích như vậy, đó là vi khuẩn không những độc lực mà nó còn được ngụy trang trong số 100 đến 500 loài E.coli khác, hoàn toàn thông thường, hiện diện trong hệ tiêu hóa của chúng ta ”. Mặt khác, ta vẫn chưa tìm ra dấu vết của Eceh trong thức ăn, vì như vậy ta có thể truy ra nguồn bệnh. Sự lây nhiễm phải chăng là do người ? Đó là giả thuyết hay nhất. Nếu sự lây nhiễm là do động vật thì có nguy cơ lớn sự lây nhiễm lan tràn còn rộng lớn hơn.
4. Những trận dịch trước đây là gì ?
Hai trận dịch đầu tiên do colibacille sản xuất shigatoxine đã được báo cáo vào năm 1982 ở Hoa Kỳ. Tổng cộng, khoảng 50 người đã bị nhiễm trùng bởi các colibacille O157 : H7 qua steak thái nhỏ. Vào năm 1996, ở Ecosse, hơn 500 người đã là nạn nhân của cùng sérotype này, cũng do ăn thịt bò. Trận dịch quan trọng nhất được ghi nhận ở Nhật bản vào năm 1996. Hơn 9.400 trường hợp, trong đó 12 tử vong, đã được báo cáo, bị lây nhiễm bởi các mầm bệnh phát xuất từ củ cải (radis). Vào năm 2000, ở Canada, 2000 trường hợp đã được xác nhận trong số 4600 dân thành phố Walkerton. Trong vùng chăn nuôi bò này, nhiễm trùng được lan truyền qua nước uống.
5. Những đặc điểm của trận dịch hiện nay ?
Đặc điểm đầu tiên là sérotype gây bệnh : O104.“ Đó là trường hợp ngoại lệ, tôi đã chỉ có một trường hợp cách nay vài năm, GS Edouard Bingen (bệnh viện Robert Debré, Paris) đã chỉ rõ như vậy. Sérotype O104 này đã là nguồn gốc của một trận dịch ở Hoa Kỳ, vào năm 1994.“ Thật lạ là có một giống gốc vi khuẩn rất độc lực và tức thời đề kháng với các kháng sinh mạnh như các céphalosporines thế hệ thứ ba ”, GS Berche đã nói thêm như vậy. Ngoài ra, trận dịch hiện nay ảnh hưởng phần lớn các phụ nữ, trong khi hội chứng dung huyết và urée-huyết (SHU) thường liên quan đến các trẻ em. Một sự khác nhau, theo GS Bingen, có lẽ do nguồn gốc của nhiễm trùng : thường nhất là steak thái nhỏ, các đồ ăn sống trong trường hợp hiện nay.
6. Làm sao phòng ngừa
Nhiều người tránh tiêu thụ các quả dưa chuột Tây ban Nha, hay các quả dưa chuột nói chung, thậm chí toàn bộ các loại rau. Cũng cần nhắc lại rằng những trường hợp lây nhiễm E.coli cũng thường xảy ra ở Bỉ. Nếu không có sự rõ ràng về nguồn gốc của sự lây nhiễm, những biện pháp tốt nhất là theo những lời khuyến nghị vệ sinh thực phẩm. E.coli thật ra không phải là nguy cơ duy nhất gây lây nhiễm thực phẩm. Cơ quan kiểm tra thực phẩm liên bang (Afsca) tiếp tục khuyến nghị những biện pháp thận trọng cổ điển : rửa và/hoặc bóc vỏ sạch trái cây và rau trước khi ăn, nấu chín thịt đối với trẻ em và người già, và chú ý việc chế biến thức ăn nói chung được thực hiện một cách đúng đắn, nhất là về vệ sinh các bàn tay.
(LE SOIR 3/6/2011) (LE FIGARO 1/6/2011)

5/ LÀM SAO TRÁNH NHIỄM ĐỘC-NHIỄM TRÙNG THỨC ĂN ?
Professeur Charles Pilet
Président honoraire de l’Académie nationale de médecine
Directeur honoraire de l’Ecole nationale vétérinaire d’Alfort

Nhiều bệnh có thể được truyền do ăn uống. May mắn lắm thay, những bệnh này thường nhất chỉ được giới hạn vào những rối loạn tiêu hóa không trầm trọng. Tuy nhiên vài bệnh có thể nghiêm trọng hơn và gây chết người. Theo một điều tra của viện theo dõi y tế quốc gia năm 2003, tổng số của những trường hợp nhiễm độc-nhiễm trùng thức ăn (toxi-infection alimentaire) (tập thể và cá nhân) vào thời kỳ đó vượt quá 238.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp, trong số đó ít nhất : 51.000 do vi khuẩn, 70.000 do virus, 116.000 do ký sinh trùng.
Trong số các vi khuẩn, Salmonella là nguyên nhân thông thường nhất gây nhiễm trùng, tiếp theo sau là Campylobacter. Các Listeria mặc dầu ít xảy ra hơn nhưng đưa đến một bệnh lý nặng nề hơn và là nguồn gốc của nhiều trường hợp nhập viện, thậm chí tử vong. Trong số những trường hợp nhiễm kỳ sinh trùng : Toxoplasma gondii, gây bệnh toxoplasma (toxoplasmose), và Taenia saginata (ver solitaire), gây bệnh teniasis, là nổi bật nhất. Về các nhiễm trùng siêu vi, thì norovirus, chủ yếu hiện diện trong sò ốc (coquillages), là nguyên nhân thường gặp nhất.
Các nhiễm độc-nhiễm trùng thức ăn tập thể (toxi-infection alimentaire collective) phải được khai báo bắt buộc và vì lẽ này được đánh giá dễ dàng hơn. Năm 2009, ta đã đếm được 1256 ổ bệnh (foyers), chiếm 13.925 trường hợp, đã dẫn đến 739 trường hợp nhập viện. Trước hết những con số này có thể gây ấn tượng, nhưng cần phải so chúng với 67 tỷ bữa ăn được tiêu thụ mỗi năm ở Pháp.
Hai đường hướng khả dĩ để làm giảm số các trường hợp nhiễm độc-nhiễm trùng thức ăn, một liên quan đến chính quyền, một liên quan đến những người tiêu thụ.
Nếu đó là chính quyền, sự cảnh giác về những toan tính gian lận phải được tăng cường : bị phạm phải do lý do kinh tế, những toan tính này dẫn đến những vi phạm quy tắc y tế. Phải tỏ lòng cảm phục về sự cảnh giác của các sở thú y ở Pháp và các sở chống gian lận vì nếu không có chúng thì những gian lận và các vi phạm sẽ nhiều hơn nhiều. Các tiến bộ đáng kể cũng đã được thực hiện bởi công nghệ thực phẩm về vệ sinh. Công chúng sẽ ngạc nhiên khi chứng thực sự áp dụng chặt chẽ vài nguyên tắc rất gò bó trong loại công nghiệp này.
RUPTURE DE LA CHAINE DU FROID.
Còn về người tiêu thụ, sự thông tin phải được bổ sung và sự cảnh giác phải được thực hiện để loại bỏ những nguy cơ nhiễm độc-nhiễm trùng thức ăn. Các nguyên nhân thường gặp nhất là do tiêu thụ trứng và những sản phẩm phát xuất từ trứng, thịt thái nhỏ, sò ốc, bánh ngọt, crème và nước đá. Một trong những sai lầm thông thường nhất là rupture de la chaine du froid. Điều quan trọng là không để những thức ăn tươi mà ta vừa mới mua trong coffre xe, dưới ánh nắng mặt trời trong một parking. Điều cần thiết là phải đặt chúng càng nhanh càng tốt vào tủ lạnh hay congélateur.
Tuy nhiên tủ lạnh cần được điều chỉnh ở một nhiệt độ đúng đắn, 2 đến 4 độ C. Ta cũng sẽ không được quên lau chùi và khử khuẩn các tủ lạnh càng thường xuyên càng tốt và cũng cần nhớ rằng lạnh không giết chết vi trùng nhưng trái lại bảo tồn chúng. Một biện pháp thiết yếu liên quan đến việc rửa tay ; điều đó đúng trong mọi trường hợp và đặc biệt hơn đối với các phụ nữ có thai sau khi đã sờ mó thịt sống (để tránh mọi sự lây nhiễm bởi bệnh toxoplasma).
Trên bình diện tổng quát, việc tiêu thụ thịt và cac sản phẩm trứng (ovoproduits) được nấu chín hơn là sống, luôn luôn được ưa thích hơn. Nấu chín là một yếu tố an toàn quan trọng. Thế mà, những thói quen ăn uống mới và những mode xuất phát từ nơi khác thúc đẩy tiêu thụ các thức ăn sống hay ít được nấu chín, do đó dễ bị lây nhiễm hơn. Nói chung, các vi khuẩn hiện diện trên bề mặt, vậy chính sự nấu chín cho phép tiêu diệt chúng. Việc thái thịt đẩy các vi khuẩn vào bên trong, ở đây chúng vẫn có thể sống được nếu sự nấu chín ở trung tâm không đủ. Đối với sữa cũng vậy.
RỬA TRÁI CÂY VÀ RAU.
Vào thời kỳ mà bệnh brucellose bò ở Pháp là một bệnh thông thường, nhiều trẻ em thị thành đi nghỉ hè ở thôn quê đã bị lây nhiễm khi uống sữa sống nơi vú của bò cái, theo lời yêu cầu của bố mẹ vui thích, nhưng không ý thức về sự nguy hiểm.
Ở nhà cũng cần phải rửa một cách đúng đắn trái cây và rau trước khi tiêu thụ chúng, thậm chí trước khi bóc vỏ các trái cây. Cũng đừng quên là không bao giờ được làm đông lạnh lại một thức ăn sau khi đã làm tan đông nó (décongelation). Các người tiêu thụ từ nay được đả thông tốt về mối nguy hiểm tiềm tàng của bệnh botulisme do các thức ăn chế biến để dành.
(LE FIGARO 7/2/2011)

6/ SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC EM BÉ : TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIẤC NGỦ.
Ngạn ngữ dân gian có câu : “ Các trẻ em lớn lên là nhờ ngủ ”, điều này không đi ngược lại với sinh lý. Các nồng độ tiết của kích thích tố tăng trưởng (hormone để croissance) tăng cao sau giai đoạn thiu thiu ngủ (endormissement) và trong các giai đoạn ngủ sâu (sommeil profond). Nhưng điều đó đã không bao giờ được chứng minh trên phương diện lâm sàng. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ (BS Michelle Lampl ở Atlanta và Bs Michael Johnson ở Charlottesville) đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên 23 em bé, được theo dõi trong 4 đến 17 tháng. Các em bé được đo mỗi ngày bằng kỹ thuật đươc gọi là “ étirement maximum ” và bao gồm tất cả những tiêu chuẩn có thể được nhận diện (trọng lượng, chế độ ăn uống, giới tính,…). Kết quả : Các phân tích thống kê cho thấy một sự liên hệ trực tiếp giữa đợt tăng trưởng (poussée de croissance) và số giờ ngủ hay số các giấc ngủ nhỏ. Điều chứng thực khác : các giai đoạn ngủ dài nhất được kèm theo sự lên cân và sự biến đổi của khối mỡ (masse grasse). Những đợt ngủ trong ngày dưới dạng những giấc ngủ trưa nhỏ không nên làm quan ngại bởi vì chúng tương ứng với một nhu cầu. Các bé trai thường ngủ hơn nhưng các bé gái ngủ lâu hơn.
(PARIS MATCH 19/5-25/5/2011)

7/ TA CÓ THỂ PHÒNG NGỪA VÀ CHỮA LÀNH BỆNH LOÃNG XƯƠNG NHƯ THẾ NÀO ?
Professeur Charles-Joel Menkès
Rhumatologue
Membre de l’Académie nationale de médecine

Bệnh loãng xương là một bệnh không có triệu chứng cũng không gây đau đớn cho đến khi xuất hiện một gãy xương, chủ yếu của cổ tay, của cổ xương đùi hay đốt sống, do tính dễ vỡ bất thường của xương. Nhưng, mặc dầu thầm lặng, đó là một dịch bệnh thật sự có thể có những hậu quả nghiêm trọng nơi những người già và những phụ nữ bắt đầu từ thời kỳ mãn kinh. Đó là một căn bệnh đôi khi do di truyền ; vậy những tiền sử gia đình đã làm báo động. Nguy cơ cũng gia tăng trong trường hợp dậy thì muộn (puberté tardive) và mãn kinh sớm (ménopause précoce). Bệnh xảy ra khi thì do quá thừa : nhất là tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie), hay đó thiếu hụt : thiếu oestrogène tự nhiên, vào thời kỳ mãn kinh, sau khi cắt bỏ buồng trứng, sau hóa học liệu pháp và mới đây hơn sau điều trị ung thư vú với antiaromatase ; từ 10 đến 20% các phụ nữ, nhưng cũng từ 5 đến 6% đàn ông trên 50 tuổi, thuờng do một sự thiếu hụt testostérone, bị bệnh loãng xương. Trong tất cả các trường hợp, sự dễ vỡ của xương (fragilisation de l’os) đáng ra có thể tránh hay hạn chế được.
MỘT VỀ SINH TỐT
Ngay khi sinh ra đời, khối xương (masse osseuse) gia tăng dần dần, rồi ổn dịnh vào cuối thời kỳ thanh niên (adolescence) và trong tuổi trưởng thành. Sau thời kỳ mãn kinh, khối xương giảm từ 1% đến 5% mỗi năm, và nơi người đàn ông sau 50 tuổi, từ 0,5% đến 1% mỗi năm. Khi sự mất xương này xảy ra càng nhanh, thì nguy cơ càng cao, nhưng khi ta đã tích lũy khối xương ở tuổi thanh niên càng nhiều, thì càng có ít nguy cơ bị bệnh loãng xương. Thật vậy, vì xương đổi mới một cách thường trực, chất lượng mô xương trước hết tùy thuộc vào một vệ sinh đời sống tốt. Không rượu, không thuốc lá, không quá nhiều muối cũng như không quá nhiều cà phê. Không theo régime quá nghiêm ngặt : sự gầy gò làm dễ sự loãng xương. Sau cùng, sự nhàn rổi không hoạt động kềm hãm sự tái tạo xương, trong khi thể dục làm giảm tỷ lệ mất xương. Nơi người già, một thể lực tốt ngăn ngừa té ngã và giảm nguy cơ gãy xương. Vậy không phải vì xương dễ vỡ mà không nên động đậy, trái lại là đằng khác. Nhưng chỉ có những cử động có một contrainte lên xương mới có hiệu quả : bước nhanh và lên cầu thang hơn là bước bình thường, đạp xe đạp hay bơi lội. Xương cũng phải có dung lượng calcium của nó. Sữa, các sản phẩm sữa, fromage đều cần thiết. Nhưng chú ý sữa đậu nành chỉ mang tên là sữa. Và vì calcium chỉ được hấp thụ với sự cung cấp của vitamine D, nên dầu gan cá và vài loại gan mỡ, lòng vàng trứng gà, beurre, gan bê và bò cái tơ đều được khuyên dùng, cũng như tiếp xúc đều đặn với ánh nắng mặt trời. Chỉ có sự phơi nắng mới cho phép vitamine D được da tổng hợp.
Nhờ đo mật độ khoáng của xương (DMO : densité minérale de l’os), ostéodensitométrie cho phép đo T-score, hoặc hiệu số giữa trị số đo được thực hiện và trị số trung bình trong quần thể những người trưởng thành trẻ. Có loãng xương khi dưới 2,5 écart-type. Đó là một xét nghiệm X quang đơn giản và không gay đau, không cần tiêm chất cản quang cũng chẳng cần lấy máu, và không có nguy cơ bị phát xạ (irradiation). Thăm khám này phải được thực hiện ở tuổi mãn kinh, nhất là trong trường hợp có những yếu tố nguy cơ được xác nhận.
Nếu T-score dưới 2,5 và nhất là nếu có gãy xương, cần phải được điều trị, sau khi đảm bảo không có một bệnh nào khác. Sự thiếu hụt vitamine D thường xảy ra, đặc biệt nơi người già, phải được điều chỉnh bằng cung cấp calcium ít nhất 1g mỗi ngày. Còn về những người có mật độ khoáng của xương ít bị giảm, đó không phải là một lý do để thực hiện một điều trị đối với loãng xương, nếu không có một yếu tố nguy cơ làm xương dễ vỡ.
Chỉ vài loại thuốc có thể làm ngừng sự mất xương và/hoặc kích thích sự tạo thành xương. Điều trị kích thích tố thay thế (traitement hormonal substitutif) có tác dụng trong thời kỳ mãn kinh, trong những giới hạn rất được kiểm soát và với điều kiện những rối loạn khác là do sự thiếu hormone. Các biphosphonate, được biết đến nhất, ức chế sự tiêu xương (résortion osseuse). Mặc dầu không hủy, nhung chúng có thể làm giảm 40% nguy cơ, nhất là đối với những gãy xương đốt sống. Nhưng những điều kiện sử dụng và tuân thủ điều trị vẫn còn quá gò bó. Những loại thuốc mới khác như ranélate de strontium (Protelos) tác dụng đồng thời lên sự tiêu hủy xương và sự tạo xương. Cũng trong những thể nặng ta dùng Denosumab, thuốc mới ức chế sự tiêu hủy xương, được tiêm dưới da mỗi 6 tháng, nhưng cũng như các biphosphonate, có thể gây nên một cách ngoại lệ sự hoại tử trầm trọng xương hàm.
Bệnh loãng xương gây bệnh cho một phụ nữ trên 4 và một người đàn ông trên 8. Là bệnh của tuổi già, bệnh loãng xương tien trien theo sự kéo dài của tuổi thọ ; là bệnh xã hội, nó tố cáo lối sống nhàn rổi không hoạt động của chúng ta và chế độ ăn uống kém quân bình của chúng ta. Nhưng, bệnh loãng xương, ngay cả do di truyền, không phải là một định mệnh, bởi vì mọi người, ở bất cứ lứa tuổi nào, đều có thể quản lý vốn xương của mình. Bệnh loãng xương ngay cả có thể làm phát khởi những phản xạ mới về vệ sinh đời sống…và khiến chúng ta thu giảm các yếu tố nguy cơ (bất thường kích thích tố, thuốc lá, rượu).Về sự lựa chọn điều trị, trước hết không nên phối hợp các loại thuốc mà không có lý do và cần phải nhờ đến các thầy thuốc chuyên khoa vì họ biết dựa vào những chất chỉ dấu sinh học phức tạp.
(LE FIGARO 30/5/2011)

8/ TA BIẾT NÃO CẦU KHUẨN LAN TRÀN NHƯ THẾ NÀO
Não cầu khuẩn là một vi khuẩn thường là vô hại, nhưng đôi khi mà ta không biết bằng cách nào và tại sao lại lan tràn trong máu hay não bộ, gây nên nhiễm trùng máu hay viêm màng não. Vi trùng này vừa không tiên đoán được lại vừa thông thường, vì lẽ cứ ba người thì một người có vi khuẩn này trong họng. Một nhóm nghiên cứu của Inserm vừa làm sáng tỏ phương cách phát tán của các não cầu trùng lúc chăm chú xem xét các lông nhỏ của các vi khuẩn, các “ pili ” mà chúng dùng để bám vào nhau và dính vào các tế bào của họng. “ Sự hoạt hóa của gène pptB có hiệu lực như là một tín hiệu phát tán (un signal de diisémination), Guillaume Duménil, người phụ trách công trình nghiên cứu đã giải thích như vậy. Tín hiệu này gây nên một sự biến đổi hoá học của piline, protéine cấu thành của các pili. Vi khuẩn liên hệ tách ra khỏi colonie và đi trinh sát để thăm dò môi trường. “ Chiến lược này làm dễ khả năng của màng não cầu trùng coloniser những ký chủ khác. Những chiến lược này cũng cho phép vi khuẩn tìm ra khe hở về phía các huyết quản gần nhất và chuyển từ tình trạng vi trùng hiền tính sang trạng thái vi trùng gây bệnh chết người…gây lâm nguy cho đời sống của 800 người mỗi năm ở Pháp.
(SCIENCE ET VIE 5/2011)

9/ CÓ THAI SAU 40 TUỔI.
Cần một sự theo dõi sát hơn, nhưng không nên bi thảm hóa các nguy cơ.
GYNECOLOGIE. Khi ta mong muốn có thai sau 40 tuổi thì nguy cơ đầu tiên đó là không thụ thai được. Khả năng sinh sản của phụ nữ giảm ngay ở tuổi 30 và hạ một cách đáng kể sau 40 tuổi, để trở nên gần như số không sau tuổi 50. Tổng cộng, 80% các phụ nữ 45 tuổi muốn có con không thụ thai được. Tuy nhiên, một số càng ngày càng nhiều các phụ nữ, như Carla Bruni-Sarkozy, 43 tuổi, mong muốn có một em bé sau tuổi 40.
Hiện nay, mỗi năm, khoảng 30.000 phụ nữ trở thành mẹ sau 40 tuổi (so sánh với 8600 vào năm 1980) và 1500 phụ nữ hơn 45 tuổi sinh con (so với 687 năm 1980). Những thai nghén muộn này được giải thích bởi một loạt các dữ kiện : tính hiệu quả của biện pháp ngừa thai, các phụ nữ càng ngày càng bận tâm đến con đường nghề nghiệp, các gia đình được tái tạo (familles recomposées) muốn có con…Theo Viện nghiên cứu dân số quốc gia (Institut national d’études démographiques) (Ined), 25% các trường hợp sinh đẻ khi người mẹ có hơn 40 tuổi xảy ra trong bối cảnh của một sự kết hợp thứ hai.
Một khi đã có thai, vài biện pháp thận trọng bổ sung cần phải được thực hiện. Sự de dọa sẩy thai tự nhiên (fausse couche spontanée) quan trọng hơn sau 40 tuổi và gia tăng với tuổi tác. Các nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể (anomalies chromosomiques) và đặc biệt là của trisomie 21 nơi thai nhi xảy ra hiếm hơn : một trường hợp trên 900 lúc 25 tuổi, một trên 28 lúc 45 tuổi. Việc phát hiện các bất thường nhiễm sắc thể, được đề nghị vào tam cá nguyệt thứ nhất, nhờ đến định lượng các chất chỉ dấu trong máu (marqueur sanguin) và siêu âm. Sự thực hiện một chọc dò màng ối đối với các phụ nữ trên 38 tuổi không được biện minh. Ngoài ra, nguy cơ sinh non quan trọng hơn và những trường hợp mổ lấy thai hai lần thường xảy ra hơn.
THEO DÕI Y KHOA NHIỀU HƠN.
Trong khi thai nghén muộn, người mẹ có một nguy cơ gia tăng bị cao huyết áp, bệnh đái đường hay u xơ tử cung. Tỷ lệ tử vong của người mẹ cũng gia tăng một ít, chuyển từ 7,8 trên 100.000 ở tuổi 27 lên 27 trên 100.000 từ 40 đến 44 tuổi. Sau khi sinh cũng vậy, nguy cơ viêm tĩnh mạch (phlébite) hay nghẽn mạch phổi (embolie pulmonaire) hơi gia tăng.
Tuy nhiên không nên bi thảm hóa mọi chuyện, theo G René Frydman, trưởng khoa sản phụ khoa của bệnh viện Antoine-Béclère. Đối với ông, “ phải theo dõi hơi nhiều hơn cũng như phải médicalisation, nhưng trên bình diện y khoa, đó là điều có thể làm chủ được. Mặc dầu ở lứa tuổi này có thai là khó hơn, nhưng đó là vấn đề càng ngày càng thông thường : ở lứa tuổi đó, các phụ nữ thật sự muốn có thai, họ biết điều họ làm và họ theo dõi tốt các lời khuyến nghị. Cách nay vài năm, GS Michel Tournaire, trong một tác phẩm dựa vào nhiều tư liệu nhan đề “ Hạnh phúc làm mẹ. Có thai sau 35 tuổi ”, đã làm mất hoàn toàn tính chất bi thảm của những trường hợp thai nghén muộn : “ Phải thích ứng và thực hiện các phát hiện trước và trong lúc mang thai và bằng một điều trị nếu cần, ông đã đánh giá như vậy. Cần ngưng lan truyền những lo âu không ích lợi và đừng gây mặc cảm tội lỗi các phụ nữ muốn có một đứa con sau 35 hay 40 tuổi.”
(LE FIGARO 23/5/2011)

10/ CHỨNG LÙN BẢO VỆ CHỒNG UNG THƯ
Họ có khoảng hơn 100 người và không hề biết đến bệnh đái đường lẫn bệnh ung thư. Những thành viên của một cộng đồng Equator này bị hội chứng Laron, một dạng của chứng bệnh lùn (nanisme) do một sự biến dị di truyền trên nhiễm sắc thể số 5. Bệnh rất hiếm hoi này tác động đến họ, đặc biệt do sự cùng huyết thống (consanguinité) mạnh trong cộng đồng. Được theo dõi trong 22 năm, những người này không bị bệnh đái đường cũng như ung thư, trong khi đó cũng những bệnh này chịu trách nhiệm gần ¼ những trường hợp tử vong trong phần còn lại của dân chúng. Để hiểu những lý do của tác dụng bảo vệ này, phải nghiên cứu các cơ chế của hội chứng Laron. Hội chứng này do một gène bị hỏng : gène GHR. Không có gène này sự sản xuất của một kích thích tố tăng trưởng (hormone de croissance) không thể thực hiện. Thế mà kích thích tố này có can dự trong sự phát triển của những tế bào đặc hiệu : sụn, xương… Vậy người bị hội chứng Laron lớn lên một cách chậm chạp. Nhưng bù lại những tế bào này trở nên rất nhạy cảm đối với insuline, điều này bảo vệ cá thể khỏi bị bệnh đái đường. Ngoài ra, những tế bào này cũng nhanh chóng tự tiêu huỷ khi xuất hiện những thương tổn ung thư trong ADN. Sự biến dị trên nhiễm sắc thể số 5 phải chăng sẽ mở ra một hướng điều trị mới ?
(SCIENCE ET VIE 5/2011)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(6/6/2011)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s